Với lộ trình khá rõ ràng và hàng loạt những thỏa thuận đạt được nhằm thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư đã tạo ra môi trường thuận lợi để thúc đẩy hợp tác, liên k
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS PHẠM THÁI QUỐC
2 TS TRẦN THỊ NHUNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng
cá nhân tôi Các số liệu, kết quả được sử dụng minh họa trong luận án này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả
Đoàn Thị Thanh Nhàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện viết luận án, mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn về thời gian, thông tin, tư liệu Song, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam cũng như các đồng chí trong các Vụ, Viện của
Bộ Ngoại giao mà tác giả đã hoàn thành luận án: “Quan hệ thương mại ASEAN Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2010” theo đúng thời gian và yêu cầu của Học Viện Với lòng biết ơn trân trọng nhất, học viên xin gửi lời cảm ơn tới:
-Ban Giám đốc Học Viện Khoa Học Xã hội, các thầy cô giáo và các phòng khoa của Học Viện
Đặc biệt tác giả xin cám ơn PGS.TS Phạm Thái Quốc và TS Trần Thị Nhung
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận án đúng thời gian quy định Cảm ơn tất cả các đồng chí công tác tại Vụ ASEAN, Vụ Đông Nam Á - Nam Á - Nam Thái Bình Dương, Vụ chính sách Đối Ngoại, Vụ luật pháp và Điều ước Quốc tế, Báo Thế giới và Việt Nam, Trung tâm biên phiên dịch Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao, các đồng chí công tác tại Cục thống kê - Bộ kế hoạch
và Đầu tư đã nhiệt tình thu thập, cung cấp tài liệu, số liệu giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu này
Trong quá trình làm đề tài, bản thân tác giả đã cố gắng tìm hiểu tài liệu, học hỏi kinh nghiệm để tổng hợp, đánh giá Tuy nhiên, do sự hiểu biết còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và độc giả
Trân trọng!
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, các ký hiệu viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 6
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.3 Khoảng trống nghiên cứu 14
Tiểu kết chương 1 14
Chương 2: CƠ SỞ CHO SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ASEAN - TRUNG QUỐC 15
2.1 Cơ sở lý luận cho sự phát triển quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
Tiểu kết chương 2 51
Chương 3: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ASEAN - TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2001 - 2014 52
3.1 Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trước năm 2001 52
3.2 Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2001-2010 60
3.3 Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2011 - 2014 78
3.4 Đánh giá quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2001-2014 85
Tiểu kết chương 3 100
Chương 4: TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ASEAN - TRUNG QUỐC ĐẾN NĂM 2020 VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM TRONG MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI NÀY 101
4.1 Triển vọng của quan hệ thương mại giữa ASEAN - Trung Quốc đến năm 2020 101
4.2 Định hướng và một số giải pháp đối với Việt Nam nhằm đạt được lợi ích từ mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc 134
KẾT LUẬN 149
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
GATS Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các khu mậu dịch tự do lớn và sự tham gia của một số nước 26
Bảng 2.2 Dân số của Trung Quốc và các nước ASEAN năm 2013 37
Bảng 2.3 Một vài chỉ số kinh tế vĩ mô của Trung Quốc giai đoạn 1990-1998 39
Bảng 2.4 Tổng giá trị kim ngạch thương mại của ASEAN giai đoạn (1999 - 2000) 42
Bảng 2.5 Một số chỉ số về thương mại & đầu tư vào khu vực ASEAN năm 2009 44
Bảng 2.6 Tăng trưởng kinh tế ASEAN trong nền kinh tế thế giới năm 2012 48
Bảng 3.1 Cán cân thương mại ASEAN và Trung Quốc giai đoạn 1993-2002 55
Bảng 3.2 Giá trị hàng hóa thương mại của Trung Quốc các bạn hàng lớn Giai đoạn 1993-2002 56
Bảng 3.3 Đầu tư của từng nước ASEAN vào Trung Quốc 57
Bảng 3.4 Đầu tư của Trung Quốc vào từng nước ASEAN (Tính đến cuối năm 2000) 59
Bảng 3.5 Danh mục chủng loại nhóm hàng hóa trong chương trình thu hoạch sớm theo hiệp định Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc 62
Bảng 3.6 Danh mục các quốc gia tham gia Chương trình Thu hoạch sớm và danh mục hàng hóa loại trừ 63
Bảng 3.7 Biểu thuế với hàng hóa nằm trong “Chương trình Thu hoạch sớm” 64
Bảng 3.8 Biểu thuế với hàng hóa thông thường theo thỏa thuận ACFTA 64
Bảng 3.9 Mô hình Cắt giảm và Loại bỏ thuế quan đối với các Dòng thuế trong Danh mục thông thường giữa các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc 64
Bảng 3.10 Thương mại Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 2002-2010 67
Bảng 3.11 Mười bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc năm 2009 69
Bảng 3.12 Thương mại Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 2011-2014 79
Bảng 4.1 Tác động của ACFTA tới GDP thực tế theo mô hình GTAP 102
Bảng 4.2 Tác động của ACFTA tới xuất khẩu theo mô hình GTAP 104
Bảng 4.3 Các khả năng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN-5 108
Bảng 4.4 So sánh đơn giá nhân công giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN 123
Bảng 4.5 Chỉ số đặc thù của Trung Quốc và các nước ASEAN 5 trong một số ngành công nghiệp, Đơn vị % 124
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2002 của các nước ASEAN 43
Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2012 của các nước ASEAN 46
Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng của các nước ASEAN trong xuất khẩu thương mại dịch vụ toàn cầu năm 2011 47
Biểu đồ 3.1 Giá trị kim ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và ASEAN giai đoạn 1998-2002 53
Biểu đồ 3.2 Tỷ trọng và chủng loại hàng hóa của các nước ASEAN xuất khẩu vào Trung Quốc năm 2011 54
Biểu đồ 3.3 Đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc giai đoạn 1991 - 2001 57
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ FDI từ Trung Quốc trong tổng FDI vào ASEAN 58
Biểu đồ 3.5 Thương mại Trung Quốc - ASEAN, 2000-2011 (tỷ USD) 61
Biểu đồ 3.6 Giá trị xuất nhập khẩu và cán cân thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2002-2011 68
Trang 9MỞ ĐẦU
Trung Quốc và các nước ASEAN là láng giềng của nhau, hai bên có lịch sử giao lưu lâu đời Từ khi ASEAN thành lập năm 1967 đến năm 1991 Trung Quốc và ASEAN đã chính thức thiết lập quan hệ, mối quan hệ song phương này trải qua chặng đường phát triển từ đối lập, hoài nghi đến quan hệ đối tác chiến lược đối thoại và hợp tác lấy bình đẳng, láng giềng hữu nghị, tin cậy lẫn nhau làm nền tảng
Trước khi trở thành đối tác đầy đủ, Trung Quốc và ASEAN đã thành lập Uỷ ban Liên hiệp về kinh tế thương mại và khoa học kỹ thuật năm 1994 Năm 1997 đổi thành Uỷ ban hợp tác liên hợp Năm 2001 lập lên Hội đồng buôn bán ASEAN - Trung Quốc với chức năng thúc đẩy thương mại, đầu tư giữa hai bên Trung Quốc
đề xuất ý tưởng xây dựng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN trong vòng 10 năm Cùng năm, lãnh đạo hai bên xác định nông nghiệp, viễn thông - thông tin, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư và khai thác lưu vực sông Mê - Công là 5 lĩnh vực hợp tác trọng điểm trong đầu thế kỷ mới Năm 2002 hai bên ký Hiệp nghị khung về hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc-ASEAN , xác định đến năm 2010 hoàn thành Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN
Tháng 10 năm 2004, Uỷ ban đàm phán mậu dịch ASEAN - Trung Quốc họp nhóm tại Bắc Kinh đã nhất trí thông qua Hiệp định hàng hóa của CAFTA (TIG) Theo Hiệp định này, 6 thành viên ban đầu và Trung Quốc sẽ có Hiệp định tự do thương mại vào năm 2010
Với lộ trình khá rõ ràng và hàng loạt những thỏa thuận đạt được nhằm thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư đã tạo ra môi trường thuận lợi để thúc đẩy hợp tác, liên kết một cách năng động giữa các nước ASEAN và Trung Quốc Việc dỡ bỏ các rào cản thương mại theo các thỏa thuận đạt được giữa các bên sẽ góp phần làm giảm chi phí và tăng hiệu quả kinh tế, đồng thời tạo ra cơ chế hỗ trợ sự ổn định về kinh tế Điều đó không chỉ thúc đẩy kinh tế xã hội của mỗi bên mà còn làm tăng tiếng nói của ASEAN - Trung Quốc trong các vấn đề thương mại quốc tế cũng như trong các lĩnh vực khác nhau của quan hệ quốc tế
Trung Quốc là một nước đang phát triển lớn, trong khi hầu hết các thành viên ASEAN là những nước nhỏ Quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN cũng như Trung Quốc với các thành viên ASEAN có bình đẳng hay không, đặc biệt khi mà Trung Quốc hiện đã trở thành một cường quốc Điều này rất có ý nghĩa trong việc duy trì lâu dài, bền vững mối quan hệ Trung Quốc - ASEAN, đặc biệt trên khía cạnh thương mại
Trang 101 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thế giới hiện nay khu vực hoá và toàn cầu hoá đã trở thành
xu hướng chủ đạo cho sự phát triển Các quan hệ này diễn biến theo nhiều chiều hướng khác nhau, nhiều khía cạnh khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, Do vậy, để tự bảo vệ mình và tránh khỏi sự tụt hậu, các nền kinh tế ngày càng có xu hướng liên kết khăng khít chặt chẽ với nhau, cùng nhau phát triển và mở rộng thị trường kinh doanh Điều này dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, thị trường chung, Các tổ chức này xuất hiện ngày càng nhiều và chi phối mạnh mẽ nền kinh tế các nước cũng như toàn cầu Không nằm ngoài sự vận động đó, ASEAN và Trung Quốc đã xây dựng và phát triển quan hệ thương mại từ đầu những năm 1990 với mục đích hợp tác cùng phát triển, vươn tầm
ra thế giới Đông Á nói chung, Trung Quốc và ASEAN nói riêng là khu vực đang ngày càng khẳng định được vị thế trên thị trường châu Á, thu hút nhiều sự chú ý của các nhà phân tích và kinh doanh trên toàn cầu
Trong cơ chế hợp tác ASEAN+, quan hệ thương mại song phương ASEAN - Trung Quốc có tốc độ phát triển nhanh nhất, ngày càng khẳng định vai trò đối với thương mại giữa hai nền kinh tế Có thể nói, đây là thị trường có mức phát triển nóng nhất trên thế giới
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc là một vùng rộng lớn, một khu vực mậu dịch lớn nhất thế giới với thị trường hơn 1,88 tỷ dân, chiếm hơn 40% nguồn dự trữ toàn cầu với tổng GDP gần 10.000 tỷ USD (2011) Với tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề tham gia và phát triển thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, việc nghiên cứu đánh giá tác động của việc phát triển mối quan hệ này đối với Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp chính sách kinh tế - thương mại cũng như phương án đàm phán, cam kết phù hợp là một vấn đề bức thiết đặt ra đối với cả các cơ quan nghiên cứu cũng như các cơ quan hoạch định chính sách Tuy nhiên, cho tới nay, mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đánh giá và xem xét mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong đó Văn phòng Uỷ ban Quốc gia phối hợp với các Bộ, Ngành thành viên đã tiến hành trước đây đề tài về “Đánh giá tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với Việt Nam”, nhưng một nghiên cứu và đánh giá mang tính tổng quát về những tác động đối với Việt Nam trong bối cảnh một khu vực thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc là một vấn đề tương đối mới mẻ, chưa được nghiên cứu và giải quyết rõ
Trang 11Trong giai đoạn 2000-2010 Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ Từ đây trong quan hệ với bên ngoài, Trung Quốc luôn thể hiện họ là nước lớn Trung Quốc đã thay đổi cách ứng xử của họ với các nước ASEAN trong lĩnh vực thương mại như thế nào Đây là một khía cạnh mà đề tài muốn làm rõ
Đối với các nước ASEAN, việc nghiên cứu về khu vực thương mại tự do này hiện nay cũng còn nhiều hạn chế Trong khuôn khổ hợp tác giữa các nước ASEAN, một số nghiên cứu bước đầu về quan hệ kinh tế - thương mại ASEAN- Trung Quốc
cũng đã được bước đầu triển khai như nghiên cứu về “Hướng tới quan hệ kinh tế gần gũi ASEAN - Trung Quốc trong thế kỷ 21” của Nhóm chuyên gia ASEAN-
Trung Quốc về hợp tác kinh tế Tuy nhiên, một phần do tính mới mẻ của vấn đề, vẫn chưa có kết quả nghiên cứu nào tiến hành đánh giá khu vực thương mại tự do này một cách tổng thể, toàn diện Thêm vào đó năm 2015, Hiệp định về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2000 - 2010” làm luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Trong khuôn khổ một luận án, khi tiếp cận với đề tài nay tôi đặt ra các mục đích
và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Thứ nhất là dựa trên một số vấn đề lý luận như đưa ra khái niệm về thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế và giới thiệu một số lý thuyết về quan hệ thương mại quốc tế nhằm luận giải các cơ sở thực tiễn cho sự phát triển quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc
Thứ hai là phân tích thực trạng quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc qua các giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2014, đặc biệt đi sâu vào phân tích giai đoạn 2001-
2010 dựa trên 4 nội dung cơ bản là quan hệ thương mại hàng hóa, quan hệ thương mại dịch vụ, quan hệ thương mại biên giới và quan hệ đầu tư, từ đó đưa ra các đánh giá về mối quan hệ này Đồng thời làm rõ Trung Quốc có thay đổi/ đã thay đổi cách ứng xử của họ đối với ASEAN như thế nào khi trở thành một cường quốc
Thứ ba là phân tích đưa ra các cơ hội, thách thức, triển vọng quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc đến năm 2020 nhằm khẳng định vị trí, vai trò, và lợi ích từ
mối quan hệ này để đưa ra một số giải pháp giúp Việt Nam phát triển
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ thương
mại ASEAN - Trung Quốc và một số vấn đề liên quan tới Việt Nam
Trang 12Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Đề tài tập trung vào nghiên cứu quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2010, đồng thời mở rộng nghiên cứu đến năm 2014 nhằm đánh giá và đưa ra định hướng phát triển đến năm 2020
Sở dĩ tác giả chọn giai đoạn 2001 - 2010 và năm 2001 làm mốc nghiên cứu chính của luận án vì: Tháng 11 năm 2001, ASEAN - Trung Quốc đã đi đến thỏa thuận về nguyên tắc đối với việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong vòng 10 năm Năm 2010 là mốc theo đó ACFTA, một hiệp định quan trọng trong quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc
có hiệu lực đối với các nước ASEAN 6 Hơn nữa, giai đoạn 2001 - 2010 cũng là thập niên đánh dấu sự trỗi dậy của Trung Quốc Từ khía cạnh thương mại, nghiên cứu muốn tìm hiểu Trung Quốc đã thay đổi cách ứng xử với ASEAN ra sao
Như vậy, có thể nói giai đoạn 2001 - 2010 là nền tảng cho quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trong những giai đoạn tiếp theo và giai đoạn 2010 -2014
đã phản ánh một phần về sự phát triển trong mối quan hệ này
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tổ chức ASEAN, Trung Quốc không bao gồm Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan và một số vấn đề về Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như:
- Phương pháp thu thập thông tin: Thông tin phục vụ nghiên cứu được thu thập qua các sách giáo khoa, giáo trình, tạp chí chuyên ngành, sách báo, phương tiện truyền thông đại chúng, Internet, các thư viện Quốc gia, thư viện một số trường đại học…; từ kết quả nghiên cứu, công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, kết hợp kết quả quan sát, tổng hợp và xử lý số liệu thứ cấp của tác giả
- Phương pháp thống kê, so sánh: Từ thống kê số liệu, tác giả đưa ra sự so sánh tương quan giữa hai thực thể ASEAN - Trung Quốc trong quan hệ thương mại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp logic, lịch sử
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án liên kết các dữ liệu điều tra, các kết quả đánh giá của chuyên gia, nhà khoa học liên quan tới quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc để từ đó chỉ ra được
xu hướng vận động của mối quan hệ này Đây là cơ sở thực tiễn phục vụ cho cơ quan quản lý nhà nước ngành kinh tế đối Ngoại trong hoạch định các chính sách Ngoại
Trang 13thương của Việt Nam khi tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc
Bên cạnh đó luận án phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc và chỉ ra được yếu tố tác động tích cực, yếu tố tác động tiêu cực để cơ quan nhà nước, các nhà hoạch định kinh tế, doanh nghiệp nắm được
và có cách thức áp dụng phù hợp khi tham gia vào hoạt động thương mại trong nước, khu vực có đối tác một bên là bạn hàng Trung Quốc hoặc các nước ASEAN
Ngoài ra, những nội dung đưa ra trong luận án còn có tính ứng dụng và có thể triển khai trong quản lý Cơ quan ngành Ngoại giao, và tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có thể tham khảo và tìm giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu luận án vào thực tế quản lý ở cơ quan đơn vị mình với sự tôn trọng sở hữu trí tuệ hợp lý
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc đồng thời đưa ra những kết luận khoa học về về mối quan hệ này thông qua cách tiếp cận liên ngành giữa phương pháp luận nghiên cứu kinh tế vĩ mô
và phương pháp luận nghiên cứu phát triển kinh tế vùng Luận án làm sáng tỏ một số nội dung về tác động cả tích cực, tiêu cực giai đoạn 2001-2010 và triển vọng trong quan hệ
hợp tác thương mại ASEAN-Trung Quốc sau năm 2010
- Công trình “Quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2010” là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới hoạt động Ngoại thương quốc gia, Ngoại thương ASEAN - Trung Quốc để người đọc có những trải nghiệm
và thành công nhờ những thông tin tư liệu hữu ích này
- Những nội dung mà luận án đưa ra là một thông tin mang tính tham khảo cho các nhà nghiên cứu về quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc Các chỉ số kinh tế vĩ
mô vi mô để thành công hay các biện pháp Ngoại thương từ công trình hi vọng sẽ đóng góp vào kho trí thức lý luận kinh tế đối Ngoại của nước ta và kinh tế thế giới
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, cơ cấu của Luận án được chia làm 4 chương với những nội dung như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở cho sự phát triển quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc
Chương 3 Thực trạng quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn
2001 - 2014
Chương 4 Triển vọng quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc đến năm
2020 và giải pháp của Việt Nam trong mối quan hệ này
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Về mặt lý thuyết, chinh sách, có một số công trình tiêu biểu như sau
Năm 2002, Uỷ ban quốc gia về hội nhập quốc tế, với sự tài trợ của EU đã tổ
chức nghiên cứu đề tài “Tác động của việc thành lập Khu vực Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc đối với kinh tế-thương mại Việt Nam” Đề tài xem xét có sở
khoa học và thực tiễn của việc thành lập Khu vực Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc, dự báo và phân tích những nội dung hoạt động chính của ACFTA, dự đoán và đánh giá tác động của việc thành lập ACFTA đối với Việt Nam và đề xuất một số kiến nghị xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế - thương mại của Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ và đáp ứng cam kết thực hiện ACFTA Đề tài tập trung vào nghiên cứu quan hệ kinh tế - thương mại dưới những lĩnh vực chủ yếu của thương mại quốc tế hiện đại như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ Phần đầu của đề tài phân tích những tiền
đề cho việc hình thành ACFTA, ý tưởng và nội dung cơ bản của ACFTA và so sánh ACFTA với một số khu vực thương mại tự do khác Phần “Thực trạng quan
hệ kinh tế - thương mại Việt Nam, ASEAN và Trung Quốc” đề cập quan hệ kinh tế-thương mại dưới các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu
tư liên quan đến thương mại và việc thực hiện quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại Đáng lưu ý phần thứ 3 của đề tài đưa ra một số dự báo tác động của mối quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc đối với kinh tế - thương mại của Việt Nam về một số lĩnh vực như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ
ThS Phan Ngọc Mai Phương, trong đề tài Cấp Bộ “Tác động t chiến lược một tr c hai cánh” của Trung Quốc đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam
thời kỳ đến năm 2020 thực hiện năm 2010 Phan Ngọc Mai Phương đã chỉ rõ bối cảnh ra đời của chính sách hướng Nam Đề tài bước đầu chỉ ra mục tiêu của chiến lược, nội dung của chiến lược cũng như diễn biến - tình hình triển khai chuẩn bị thực hiện ý tưởng chiến lược này trong mấy năm gần đây Việc thực thi các chiến lược, các chủ trương, chính sách, đặc biệt là các chiến lược, chính sách đối Ngoại
để phục vụ mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc đã và đang mang lại tác động không nhỏ đến các nước láng giềng của Trung Quốc trong đó có Việt Nam
Trang 15Chính vì vậy ở tầm vĩ mô, mỗi khi Trung Quốc ban hành và thực thi một chiến lược mới, chúng ta cần nghiên cứu, chỉ ra những cơ hội, những thách thức, những tác động có thể để có đối sách, giải pháp thích hợp
TS Lê Quốc Phương, Đề tài Cấp Bộ “Đánh giá mức độ bổ sung và cạnh tranh giữa Việt Nam với các đối tác thương mại chính bằng phương pháp định lượng” (2010) TS Lê Quốc Phương cho rằng Thương mại và đầu tư hiện là
những hoạt động quan trọng, rất có ý nghĩa đối với quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của nước ta Để có chiến lược phát triển hoạt động thương mại quốc tế đúng đắn, chúng ta không thể xem xét, đánh giá các đối tác một cách khoa học, có cơ sở, có căn cứ, tìm ra các đối tác có tiềm năng, có thể hợp tác lâu dài và đem lại lợi ích cho chúng ta
ThS Vũ Thị Thanh Xuân trong Đề tài “Chiến lược một tr c hai cánh trong chính sách hướng nam của Trung Quốc, gợi ý một số đối sách với Việt Nam”
(2010) Tác giả cho rằng, Trung Quốc là một nước lớn, một cường quốc đang lên Việc thực thi các chiến lược, các chủ trương, chính sách, đặc biệt là các chiến lược, chính sách đối ngoại để phục vụ mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc đã và đang mang lại tác động không nhỏ đến các nước láng giềng của Trung Quốc trong
đó có nhiều nước khu vực ASEAN và Việt Nam Chính vì vậy ở tầm vĩ mô, mỗi khi Trung Quốc ban hành và thực thi một chiến lược mới, chúng ta cần nghiên cứu, chỉ
ra những cơ hội cũng như thách thức để có đối sách thích hợp
PGS TS Nguyễn Văn Lịch, trong đề tài “Định hướng chiến lược phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn tới 2015” (2007) PGS TS
Nguyễn Văn Lịch đã chia 5 nhóm hàng (A, B, C, D, E) để phân tích khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng như của các nước lân cận trong khuôn khổ giữa ASEAN và Trung Quốc Đã chỉ ra lợi thế của mỗi nước, nhóm nước và sự trùng lặp lợi thế của các nước ở những nhóm hàng nào Nguyễn Văn Lịch nêu quan điểm và khẳng định nhiều lần trong đề tài là nếu không có những nỗ lực cải thiện cơ cấu xuất khẩu, Việt Nam có thể trở thành nước chuyên cung cấp tài nguyên
và những sản phẩm có hàm lượng tài nguyên cao cho Trung Quốc” Hiện nay cơ cấu kinh tế của nước ta, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng Nam bộ đang thay đổi rất nhanh, ngoài 14 mặt hàng Việt nam có tiềm năng (được đề cập trong đề án đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc giai đoạn 2006-2010), chúng ta còn có thêm những mặt hàng (trái cây, động vật hoang dã có thể nuôi trồng quy mô lớn như cá sấu, trăn….) có khả năng xuất khẩu sang Trung Quốc trong những năm 2010-2015
Trang 16Ngoài các công trình kể trên, còn có một số công trình khác cũng đề cập quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trên phương diện lý thuyết như:
Đỗ Tiến Sâm (2002), “Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc t khi bình thường hoá năm 1991 đến nay thành tựu và triển vọng”, Báo cáo tại Hội thảo Changing
Configuration in Asia - Pacific Region and China - Vietnam Relations, tổ chức tại Thượng Hải 4-5/9/2002 Công trình điểm những nội dung chính, những thành tựu trong quan hệ thương mại Việt Trung trong giai đoạn 10 năm sau 1991, Những vấn
đề đặt ra trong tương lai và hướng giải quyết
Lê Tuấn Thanh (2004), “Buôn bán qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc”,
bài báo cáo tại Hội thảo “Phát huy ưu thế cửa khẩu Trung - Việt, thúc đẩy sự hợp tác Trung Quốc - ASEAN”, tổ chức tại Bằng Tường ngày 26 - 27/9/2004)
“Quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc hiện tại và triển vọng” của
Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2003) Nghiên cứu này đã đi sâu phân tích về Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong hiện tại, đánh giá ưu nhược điểm và đưa ra dự báo cũng như kiến nghị để thúc đẩy hàng Việt Nam vào Trung Quốc trong tương lai
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2004): Nghiên cứu phát triển thương mại khu vực hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh trong bối cảnh hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc do Viện nghiên cứu thương mại, Bộ thương mại thực hiện 9/2004
Báo cáo tại hội thảo: Phát huy ưu thế cửa khẩu, thúc đẩy hợp tác Trung Quốc
- ASEAN tại Bằng Tường, Trung Quốc 25-26/9/2004 của TS Nguyễn Văn Lịch - Viện trưởng Viện Kinh tế thương mại, Bộ Thương mại Việt Nam
Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN và quốc tế hoá đồng NDT, tạp chí Ngoại thương số 19, 1/10/2004
Các nghiên cứu trên từ nhiều khía cạnh khác nhau đã cung cấp cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá thực trạng cũng như triển vọng của mối quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc Tuy nhiên, vẫn chưa thấy có công trình nào đánh giá toàn diện về quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trong thập niên đầu thế kỷ
21, từ đó chỉ ra triển vọng của mối quan hệ trong 5 -10 năm tới
Về mặt thực tiễn, có một số công trình tiêu biểu như sau
PGS.TS Phạm Thái Quốc, trong bài: “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: Một số đánh giá bước đầu” (Tạp chí Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010),
theo tác giả quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN từ đầu những năm
Trang 171990 đã có nhiều khởi sắc và đang gia tăng rất nhanh trong 10 năm trở lại đây Điều này dường như phù hợp với mong muốn của cả hai bên trước những biến đổi nhanh chóng cũng như diễn biến mới của kinh tế thế giới, đặc biệt là cuộc Khủng hoảng toàn cầu vừa diễn ra, giúp Trung Quốc và ASEAN thực hiện mục tiêu đa dạng hóa các đối tác, giảm bớt sự phụ thuộc của cả hai bên vào các quan hệ kinh tế truyền thống với các trung tâm kinh tế thế giới là Tây Âu và Mỹ Tác giả cho rằng, tương ứng với những thay đổi trong quan hệ chính trị, Quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN trải qua ba giai đoạn trong phát triển
Giai đoạn thứ nhất (t 1967-1991): Trong giai đoạn này, quan hệ hai bên
chưa phát triển do chưa tin tưởng vào nhau, còn nghi kỵ lẫn nhau
Giai đoạn thứ 2 (t 1992-2002): Cho đến năm 1992, Trung Quốc đã thành
lập hoặc đã khôi phục quan hệ Ngoại giao với tất cả các nước ASEAN, đặt nền móng cho một thời kỳ đối thoại và hợp tác giữa hai bên Về chính trị, cả hai đều bắt đầu có hàng loạt cuộc đối thoại của các quan chức cấp cao Hoạt động thương mại
và đầu tư đều có động lực thúc đẩy rất mạnh, đặc biệt từ nửa cuối những năm 1980, sau khi Trung Quốc thực hiện chiến lược mở cửa 3 ven là ven biển, ven sông và ven biên giới Mối quan hệ buôn bán giữa cư dân Trung Quốc và ASEAN ở các vùng biên giới hai bên phát triển nhanh và sớm hơn, thậm chí còn đi trước cả những cải thiện chính trị của hai bên Năm 1997, cả hai bên Trung Quốc và ASEAN đều ra thông cáo chung về xây dựng đối tác láng giềng thân thiện hướng tới thế kỷ XXI Cho đến năm 2001, Quan hệ Trung Quốc - ASEAN đã phát triển thành những đối tác đối thoại đầy đủ của nhau
Giai đoạn thứ 3 (t 2002 đến nay): Mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ
đối tác chiến lược giữa Trung Quốc và ASEAN Năm 2002, cả hai đã ký kết một Hiệp định khung về Hợp tác toàn diện ASEAN - Trung Quốc, chuẩn bị cho việc hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) từ năm 2010 Năm 2003, Trung Quốc gia nhập Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ở Đông Nam Á và trở thành nước ngoài ASEAN đầu tiên tham gia Hiệp ước
Theo GS TS Đỗ Tiến Sâm trong đề tài cấp Bộ “Một số vấn đề về cơ chế hợp tác phát triển giữa các tỉnh Tây Bắc (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc)”
năm 2011, đã chỉ ra kể từ đầu những năm 1990, khi quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc bình thường hoá trở lại, nhiều địa phương các tỉnh phía Bắc Việt Nam giáp Trung Quốc đã có sự phát triển đáng kể nhờ phát triển thương mại biên giới Đặc biệt thương mại biên giới giữa hai nước như được tiếp thêm sức sống khi hợp
Trang 18tác “Hai hành lang, một vành đai” được khởi động Với các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam, điều có ý nghĩa hơn vì đây sẽ là cửa ngõ để khu vực miền Tây Trung Quốc rộng lớn mở rộng quan hệ với bên ngoài thông qua tuyến hành lang Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng Đã làm khá rõ hợp tác giữa hai bên Vân Nam Trung Quốc và các tỉnh Tây Bắc Việt Nam trên một số khía cạnh như du lịch, văn hóa, giáo dục Nhiều nội dung hợp tác về du lịch, hợp tác về nông lâm nghiệp, giao thông Đáng lưu ý là chủ trương “Hưng biên phú dân” của Trung Quốc đề ra từ năm
1999 và tiếp tục được coi trọng trong kế hoạch 2011-2015
Tác giả Nguyễn Hoàng Diệu Linh, trong luận văn thạc sỹ (2010) có nhan đề:
“Thâm h t cán cân thương mại của Việt Nam - Trung Quốc, tình hình và giải pháp” Khi phân tích Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc Nguyễn
Hoàng Diệu Linh đã chỉ ra rằng mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc và kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc đều tăng mạnh qua các năm, nhưng tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc lớn hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc khiến cho khoảng cách giữa hai đại lượng này càng lớn, gây nên tình trạng nhập siêu Những nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại Việt - Trung hay những nguyên nhân chính làm kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng nhanh và bỏ xa kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc gồm tác động của tự do hóa thương mại, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước, luồng vốn đầu tư nước ngoài từ Trung Quốc vào Việt Nam, tỷ giá giữa Việt Nam đồng và Nhân dân tệ, sức cạnh tranh cao hơn của hàng hóa Trung Quốc, sự tham gia của các nhà thầu Trung Quốc trong các công trình lớn ở Việt Nam và sự phát triển của các hoạt động biên giới Với tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc rất lớn như vậy và các lý do nêu trên, sớm thu hẹp nhập siêu là rất khó Theo tác giả, các giải pháp nhằm cải thiện cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc được đưa ra đặt trọng tâm vào việc nâng cao chất lượng và khả năng thực thi của các chính sách kinh tế, kết hợp giữa giải pháp ngắn hạn và giải pháp dài hạn trên cơ sở đảm bảo mối quan hệ bền vững giữa hai quốc gia Để cải thiện cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, cần có các giải pháp đồng bộ với sự tham gia của cả nhà nước và doanh nghiệp Tuy nhiên, nhà nước phải đóng vai trò trung tâm trong vấn đề này thông qua việc xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp và đảm bảo hiệu quả thực thi của các chính sách đó
PGS.TS Nguyễn Văn Lịch trong nghiên cứu có nhan đề "Nghiên cứu phát triển thương mại khu vực hành lang kinh tế Hải Phòng - Lào Cai - Côn Minh trong bối cảnh
Trang 19hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (Đề tài cấp Bộ 2004) Trong
nghiên cứu này, tác giả cho rằng, thực tế trong những năm qua việc quan hệ buôn bán và hợp tác đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam với thị trường Trung Quốc mới ở cấp độ các doanh nghiệp địa phương các tỉnh phía Nam Trung Quốc và phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ và hộ tư nhân, chưa tiếp cận được nhiều các tập đoàn kinh tế lớn của phía bạn để xây dựng được một chiến lược làm ăn lâu dài và
ổn định Các hình thức buôn bán vẫn ở dạng buôn chuyến, mang tính tự phát, có hàng gì bán hàng nấy và với mức giá không ổn định và thường bị thua thiệt nhiều
do bị ép cấp, ép giá, bị lừa lọc Để khắc phục tình trạng đó, doanh nghiệp Việt Nam cần phát triển mạnh loại hình buôn bán chính ngạch Tích cực gặp gỡ tiếp xúc để nghiên cứu đàm phán nhằm chuyển từ thương mại đơn thuần sang hợp tác sản xuất những mặt hàng mà hai bên có tiềm năng và có nhu cầu bổ sung lẫn nhau Theo hướng đó, các doanh nghiệp Việt Nam đề nghị các doanh nghiệp Trung Quốc tập trung đầu tư vào các lĩnh vực gia công chế biến cao su, rau quả nhiệt đới, thuỷ hải sản, dược liệu, may mặc, Trung Quốc bao tiêu sản phẩm và xuất khẩu sang nước thứ ba Phấn đấu thu hẹp chênh lệch trong cán cân buôn bán để tạo thuận lợi phát triển thương mại Với mục đích đó doanh nghiệp hai bên cần đi đến thoả thuận một danh mục trao đổi hàng hoá có tính chất định hướng làm cơ sở cho doanh nghiệp hai nước xem xét trong việc ký kết các hợp đồng ngoại thương Đề xuất kiến nghị với các doanh nghiệp Trung Quốc đề nghị phía nhà nước Trung Quốc tăng nhập khẩu từ Việt Nam một số mặt hàng đang duy trì hạn ngạch như cao su, than đá, dầu thực vật, đường cũng như các mặt hàng không có hạn ngạch mà Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu
Bên cạnh những nghiên cứu trên, còn có một số công trình khác được xem như là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong phân tích thực trạng phát triển quan
hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trong nhiều năm qua, đó là:
“Nghiên cứu Tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc đối với Việt Nam” của Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2006) Nghiên cứu
này được thực hiện qua 12 chuyên đề về cả 3 lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư Đối với từng lĩnh vực, các chuyên đề đã tổng quan tình hình thực tế và các chính sách được áp dụng để từ đó đánh giá tác động của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc tới nền kinh tế Việt Nam
“Thâm h t cán cân thương mại: Kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2008) Nghiên cứu này
đã đưa ra nhiều bài học kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới để làm tham
Trang 20khảo cho việc xây dựng các giải pháp đối với tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam hiện nay
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới
Nghiên cứu về lợi thế so sánh trong quan hệ thương mại Trung Quốc - ASEAN: Ai có lợi hơn trong ACFTA? Trước đây có nhiều đánh giá cho rằng ASEAN sẽ được lợi từ ACFTA Chẳng hạn Yu-shek Cheng (2004), cho rằng ACFTA
sẽ giúp tăng xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN 10,6 tỷ USD/năm, trong khi mức nhập khẩu của Trung Quốc từ ASEAN tương ứng sẽ là 13 tỷ USD/năm Hay Glosserman và Brailey Fritschi (2002) cho rằng ACFTA sẽ giúp ASEAN và Trung Quốc thêm vào mức tăng GDP hàng năm tương ứng là 1% và 0,3% Còn theo Cai (2003), về ngắn hạn, ACFTA có thể làm tăng cạnh tranh giữa Trung Quốc và ASEAN trong điều kiện cả hai cùng có lợi thế về những sản phẩm sử dụng lao động tập trung và cùng có nhiều ngành có giá trị gia tăng thấp Nhưng về dài hạn, cạnh tranh sẽ giúp cả hai bên trong tái cơ cấu kinh tế nhằm đạt được hiệu quả cao hơn
Trong một bài viết đăng trên Asia Times ngày 12/04/2010, tác giả Walden Bello cho rằng nhìn thoáng qua thì dường như mối quan hệ Trung Quốc-ASEAN đem lại lợi ích cho cả đôi bên Nhu cầu bên trong của kinh tế Trung Quốc đang đi lên ở một mức độ nhanh chóng được xem là một yếu tố quan trọng trong sự tăng trưởng ở Đông Nam Á, bắt đầu vào năm 2003 - khi ASEAN lần đầu tiên xuất khẩu gần 30 tỷ USD sang Trung Quốc, sau một gian đoạn tăng trưởng chậm vì ảnh hưởng của Khủng hoảng tài chính châu Á Trong bản phúc trình của Liên Hiệp
Quốc khái quát về châu Á trong các năm 2003, 2004, viết: “Trung Quốc là một động cơ tăng trưởng quan trọng cho hầu hết các nền kinh tế trong vùng Trung Quốc nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu với phần lớn các nước châu Á còn lại”
Dường như các nước ASEAN ra khỏi cơn cùng cực trong cuộc Khủng hoảng châu
Á một phần là nhờ vào Trung Quốc
Walden Bello cũng phân tích Chương trình thu hoạch sớm (EHP) tác động tiêu cực nhiều đến Thái Lan Có ý kiến cho rằng do các nhà trồng rau và trái cây oán hận, trách cứ thỏa thuận Thu hoạch sớm giữa Thái Lan và Trung Quốc, họ đã thất vọng và dồn nỗi tức giận vào Chương trình tự do thương mại rộng lớn của Chính phủ Thaksin, điều này là một trong số nhiều căn nguyên đưa đến kết cục của cuộc đảo chính lật đổ chính phủ của ông Thaksin vào tháng 9 năm 2006 [94, tr 4]
Theo Walden Bello, Trung Quốc có rất nhiều sản phẩm công nghiệp, nông
Trang 21nghiệp siêu rẻ, từ sản phẩm của các vụ mùa miền ôn đới cho đến rau quả của miền bán nhiệt đới, cũng như nhiều nông sản phẩm đã qua chế biến Trong khi ASEAN chỉ có một
số nước như Việt Nam (gạo, cà phê), Thái Lan (gạo), Philippines (dừa và sản phẩm của dừa), Malaysia (dầu cọ, cao su, thiếc) có một số ít sản phẩm có ưu thế Quốc có phần chậm lại, trong khi nhu cầu xuất khẩu tăng mạnh vì thế, từ năm 2005, xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN tăng 50%, cao hơn mức tăng nhập khẩu từ ASEAN
Zhao Jianglin trong cuốn “Toàn cảnh quan hệ thương mại Asean-Trung
Quốc 15 năm phát triển”, Nhà xuất bản thế giới (2008) bản gốc “Asean-China Trade Relations: 15 Years of Development and Prospects”, The Gioi Publishers,
2008, By Zhao Jianglin, Institute of Asia-Pacific Studies, CASS, Hanoi, Dec 6-8,
2007 Tác giả Zhao Jianglin đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong 15 năm phát triển quan hệ thương mại giữa hai bên kể từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á, Zhao Jianglin lý giải một số nguyên nhân khiến quan hệ thương mại giữa hai thực thể chưa phát triển đúng với tiềm năng và thế mạnh của mình trong đó có nguyên nhân quan trọng là niềm tin chiến lược và xung đột lợi ích nhất là lợi ích trên khu vực Biển Đông Tuy nhiên Zhao Jianglin cũng tin tưởng đến những năm 2020 quan mối hệ này sẽ vượt qua được những rào cản về chính trị và trở thành mối quan hệ thương mại chiến lược của cả hai bên
Li Wei (Học viện thương mại quốc tế và hợp tác kinh tế Trung Quốc), “Triển vọng của Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc”, tham luận trình bày tại
Hội thảo khu vực về cơ hội và thách thức của Khu vực thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc, TP Hồ Chí Minh ngày 20-21/6/2002, tác giả đã chỉ ra những triển vọng thương mại mà hai bên đã và đang xây dựng, trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới triển vọng trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa, dịch vụ thương mại Đồng thời trước xu thế toàn cầu hóa, xung đột lợi ích, bất đồng chính trị tác giả cũng đã chỉ ra một số thách thức có khả năng làm giảm tốc độ luân chuyển hàng hóa và quy
mô trao đổi thương mại giữa các bên
Mun-Heng Toh (Đại học Quốc gia Singapore): “Đối phó với những thách thức và cơ hội của việc thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc”,
tham luận trình bày tại Hội thảo khu vực về cơ hội và thách thức của Khu vực tự do ASEAN - Trung Quốc, TP Hồ Chí Minh ngày 20-21/6/2002 Trong tham luận của mình tác giả chủ yếu đưa ra những giải pháp ngắn hạn và trung hạn cho các bên để tận dụng lợi thế của mình khi tham gia quan hệ thương mại song phương, trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới khả năng bứt phá của các quốc gia ASEAN mới như Lào, Mianma, Việt Nam đồng thời tác giả cũng đưa ra một số kịch bản và giải pháp
Trang 22để mỗi bên có sự lựa chọn tốt nhất tận dụng được khả năng, cơ hội từ quan hệ này
Bên cạnh đó, trong bài viết: “The Impact of Trade Liberalization on the Trade Balance in Developing Countries” Yi Wu và Li Zeng (Quỹ tiền tệ quốc tế,
2008) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của tự do hóa thương mại đối với nhập khẩu, xuất khẩu và cán cân thương mại tổng thể của các quốc gia đang phát triển Nghiên cứu đã tìm ra chứng cứ thuyết phục và mạnh mẽ để chứng minh tự do hóa thương mại sẽ làm tăng xuất nhập khẩu và không gây nhiều tiêu cực cho cán cân thương mại của các nước này
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Như vậy, từ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có thể nói Quan
hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc là đề tài thú vị, được đông đảo giới khoa học cũng như những người làm chính sách và giới doanh nhân quan tâm Tuy nhiên các nghiên cứu đề cập ở trên chỉ phân tích mối quan hệ này ở các góc độ khác nhau Nhiều nghiên cứu phân tích sâu về các thời cơ và thách thức cho mỗi bên cũng như cho Việt Nam khi ACFTA hình thành Cũng có khá nhiều nghiên cứu đề cập quan
hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc Tuy nhiên, việc tổng kết, đánh giá về quan
hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trong thập niên đầu thế kỷ 21, đặc biệt khi Trung Quốc trở thành nước lớn thì họ có thay đổi cách ứng xử với các nước láng giềng ASEAN không, thay đổi như thế nào thông qua các quan hệ thương mại thì chưa có nghiên cứu nào đề cập
Tiểu kết chương 1
Chương một tác giả tập trung vào phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước Những công trình đó có liên quan mật thiết tới đề tài luận án, một mặt cung cấp cơ sở dữ liệu cần thiết phục vụ cho đề tài còn mặt khác giúp tác giả tìm ra điểm mới để đi sâu vào tìm hiểu đánh giá, làm cho luận án đảm bảo đầy đủ tính mới, tính khoa học
Dựa trên những lý thuyết về thương mại, tác giả xây dựng nội dung cho đề tài luận án, tránh đi lạc vấn đề nghiên cứu, đảm bảo tính khách quan, chính xác khoa học,
đồng thời cũng làm rõ khoảng trống nghiên cứu cũng như sự cần thiết phải nghiên cứu
đè tài này
Như vậy, phần tổng quan sẽ là tiền để tác giả phát triển ý tưởng, xây dựng nội dung, đi sâu vào phân tích, đánh giá sự kiện, vấn đề nghiên cứu
Trang 23Chương 2
CƠ SỞ CHO SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ASEAN -
TRUNG QUỐC
2.1 Cơ sở lý luận cho sự phát triển quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc
2.1.1 Khái quát về quan hệ thương mại Quốc tế
2.1.1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế
Khái niệm thương mại quốc tế Thời nguyên thủy, thương mại quốc tế được hiểu là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia theo nguyên tắc kinh doanh thị trường nhằm mang lại lợi ích cho các chủ thể tham gia Theo UNCITRAN (United Nations Commission of International Trade Law) [86] thì thương mại quốc tế theo nghĩa rất rộng, bao gồm mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, tức là bao gồm mọi hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, trừ mua bán hàng hóa hữu hình đến các dịch vụ như bảo hiểm, tài chính, tín dụng, chuyển giao công nghệ, thông tin, vận tải, du lịch Thương mại quốc tế theo nghĩa truyền thống thì có hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu Xuất khẩu được hiểu là đưa hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ở trong nước ra nước ngoài Trong khi đó hoạt động nhập khẩu được hiểu ngược lại là đưa hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ở nước ngoài vào trong nước
Ngày nay thương mại quốc tế có các loại hình thương mại hàng hóa hữu hình, thương mại hàng hóa vô hình và thương mại dịch vụ Thương mại hữu hình gồm tất cả các hoạt động buôn bán quốc tế có liên quan đến các hàng hóa truyền thống (chia thành hàng sơ chế và hàng tinh chế) Thương mại hàng hóa vô hình gồm các hàng hóa không nhìn thấy được (các phát minh sáng chế, các giải pháp kiểu dáng công nghiệp,…) Thương mại dịch vụ gồm các hoạt động thương mại quốc tế còn lại không thuộc thương mại hàng hóa (dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, thông tin,…)
2.1.1.2 Chính sách thương mại Quốc tế
Khái niệm và nội dung của chính sách thương mại quốc tế
Khái niệm: Chính sách thương mại quốc tế là hệ thống các công cụ và biện
pháp mà nhà nước sử dụng để điều tiết các hoạt động thương mại quốc tế của các quốc gia, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó
Nội dung
- Chính sách mặt hàng là một bộ phận quan trọng trong chính sách thương mại
Trang 24quốc tế, bao gồm danh mục các hàng hoá khuyến khích xuất nhập khẩu, danh mục các hàng hoá hạn chế xuất nhập khẩu, danh mục các hàng hoá cấm xuất nhập khẩu
- Chính sách thị trường là một bộ phận cơ bản không thể thiếu trong chính
sách thương mại quốc tế, bao gồm định hướng và các biện pháp mở rộng, thâm nhập thị trường nước ngoài với sự chú ý đến các thị trường trọng điểm và các thị trường có quan hệ hữu hảo
- Chính sách hỗ trợ bao gồm các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm tác động gián tiếp đến các hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia đó như chính sách đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, chính sách tín dụng ưu đãi xuất nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái
Các công c và biện pháp thực hiện chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế Thuế quan là một loại thuế đánh vào hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu qua
biên giới của một quốc gia trong đó đơn vị thực hiện xuất nhập khẩu hàng hoá phải nộp một khoản tiền cho cơ quan quản lý đại diện của nhà nước, bao gồm: Thuế quan xuất khẩu (là loại thuế đánh vào hàng hoá xuất khẩu), Thuế quan nhập khẩu (là loại thuế được áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu)
Các công c và biện pháp phi thuế quan
- Hạn ngạch là quy định của nhà nước về lượng hàng hoá tối đa được phép xuất
khẩu hay nhập khẩu đối với một thị trường cụ thể trong một thời gian nhất định
- Hạn ngạch xuất khẩu: Các quốc gia phải quy định hạn ngạch xuất khẩu để đáp ứng đủ và đảm bảo uy tín, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước, tránh tình
trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên
- Hạn ngạch nhập khẩu: Công cụ này áp dụng đối với những mặt hàng cần bảo hộ một cách chặt chẽ nhằm kiểm soát một cách tương đối chính xác lượng hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài, qua đó tạo điều kiện cho ngành sản xuất trong nước phát triển đặc biệt là những ngành sản xuất còn non trẻ hay những ngành mới trong giai đoạn đầu phát triển
Quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá: Công cụ này áp dụng cụ
thể đối với hai nhóm hàng hoá sau nhằm đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng và mức độ gây ô nhiễm môi trường
- Nhóm hàng hoá lương thực thực phẩm: Nhà nước đưa ra những quy định
về thành phần, nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất, cách thức vận chuyển, bảo quản thời hạn sử dụng,v.v
- Nhóm hàng hoá là dây chuyền sản xuất, phương tiện giao thông vận tải
Trang 25Nhà nước đưa ra những quy định về hàm lượng các chất thải độc hại mức độ gây tiếng ồn và thời hạn sử dụng
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: Đây là việc công cụ của nước nhập khẩu, nước
nhập khẩu đưa ra yêu cầu đối với nước xuất khẩu phải tự nguyện để cắt giảm lượng hàng hóa xuất khẩu thông qua sự thoả thuận giữa chính phủ của hai quốc gia Nếu nước xuất khẩu không thực hiện theo yêu cầu đó thì nước nhập khẩu sẽ áp dụng các biện pháp trả đũa chẳng hạn như giảm giá đồng nội tệ, tăng thuế nhập khẩu đối với mặt hàng đó hay mặt hàng khác
Các công c và biện pháp hỗ trợ xuất khẩu
- Biện pháp hỗ trợ về vốn: Nhà nước cung cấp, hỗ trợ một phần hoặc hầu như toàn bộ chi phí, vốn để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, hoặc nhà nước miễn, giảm thuế thu nhập, thuế doanh thu cho các doanh nghiệp có tham gia hoạt động xuất khẩu
- Biện pháp hỗ trợ về tín dụng ưu đãi: Nhà nước cho vay với lãi suất đặc biệt hoặc không có lãi suất cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu
- Trợ giá: Chính phủ hỗ trợ chi phí sản xuất sản phẩm, hỗ trợ giá sản phẩm làm cho sản phẩm có giá thành thấp hơn chi phí sản xuất thực của nó, vì vậy mà làm tăng tính cạnh tranh về giá của sản phẩm đó khi xuất khẩu
Các công c và biện pháp khác
- Hoàn thuế xuất khẩu: Các doanh nghiệp được phép tham gia hoạt động xuất khẩu hàng hoá có thể nộp báo cáo hàng tháng lên cục thuế sau khi tiến hành xuất khẩu theo đúng thủ tục tài chính và khai báo hải quan để xin hoàn thuế hoặc miễn thuế được cho phép (Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu dùng, thuế doanh thu, thuế sản phẩm)
- Khen thưởng đối với hoạt động xuất khẩu: Nhà nước đưa ra những biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hoạt động Ngoại thương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất nhập khẩu, tăng chất lượng hàng hoá xuất khẩu như khen thưởng đối với những doanh nghiệp tham gia hoạt động ngoại thương có sản phẩm xuất khẩu đạt chất lượng cao nhất
Hỗ trợ cho việc đào tạo nguồn nhân lực và phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu Nhà nước đưa ra những chính sách
để thu hút vốn từ các nguồn khác nhau như từ nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA), nguồn vốn từ nhân dân, nguồn vốn từ người dân ở nước ngoài để xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng cho sản xuất và kinh doanh, để hỗ trợ thêm cho việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nguồn nhân lực Chính phủ các quốc gia đưa ra những
Trang 26định hướng và những quy định về mặt hàng được phép khuyến khích, bị hạn chế hay cấm mua bán, trao đổi với nước ngoài
- Bán phá giá hàng hoá: Là việc bán hàng hoá thấp hơn giá trị sản xuất nhằm mục tiêu xâm nhập mạnh mẽ vào một thị trường nào đó và đánh bại các đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, biện pháp này hiện nay không được sử dụng nhiều vì các nước đều xây dựng rất chặt chẽ luật chống bán phá giá, do vậy nếu sử dụng nhiều sẽ chịu nhiều khoản phạt, chịu thuế cao và vi phạm thông lệ của WTO
Ngoài ra, bán phá giá hối đoái thể hiện ở việc xuất khẩu hàng hoá với giá thấp hơn của đối thủ cạnh tranh do sử dụng lợi nhuận phụ thêm thu được từ sự mất giá của đồng tiền
Vai trò của chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế có tác động toàn diện và sâu sắc tới nền kinh tế mỗi quốc gia, đặc biệt với quốc gia xây dựng kinh tế mở, thể hiện ở các khía cạnh sau
- Chính sách thương mại quốc tế tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành công nghiệp mới với trình độ công nghệ hiện đại và phù hợp với lợi thế của mỗi quốc gia Chính sách thương mại quốc tế sẽ tập trung phát triển hoạt động xuất khẩu ở những ngành mà quốc gia có lợi thế, tiềm lực do vậy mà sẽ khuyến khích thu hút để đầu tư phát triển nâng cao cải thiện công nghệ để có thể tận dụng tối đa lợi thế của quốc gia Chính sách thương mại quốc tế sẽ tác động vào đầu vào để nhập nguyên liệu, thu hút vốn, cải thiện công nghệ
- Chính sách thương mại quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh, tiếp cận thị trường đầu vào và thị trường tiêu thụ và các sản phẩm đầu ra một cách nhanh chóng và cụ thể đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường thế giới Chính sách thương mại quốc tế luôn có những biện pháp, chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp trong nước nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh, xây dựng các cơ quan xúc tiến thương mại để nhờ đó doanh nghiệp sẽ có được những thông tin về thị trường đầu vào, thị trường tiêu thụ một cách chính xác và nhanh nhất
- Chính sách thương mại quốc tế thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển mạnh mẽ theo đúng xu hướng của thời đại Xu hướng tự do hoá thương mại và quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới là hai xu hướng cơ bản của nền kinh tế thế giới, chính sách thương mại quốc tế thì luôn phải đi theo những xu hướng của thời đại do vậy mà góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của quốc gia
- Chính sách thương mại quốc tế phát triển các quan hệ kinh tế giữa các quốc
Trang 27gia trên thế giới Xu hướng thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ biệt lập sang hợp tác trong đó nhiều vấn đề có xu hướng trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu cần có sự phối hợp giải quyết bởi nhiều quốc gia và xu thế khu vực hoá đòi hỏi các quốc gia trong một khu vực liên kết với nhau trong đó sự hợp tác giữa các quốc gia ngày càng chặt chẽ Chính sách thương mại quốc tế cũng phải đi theo những xu thế này do vậy mà quan hệ kinh tế giữa các quốc gia ngày càng có những mối quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng lẫn nhau
- Chính sách thương mại quốc tế tăng cường sức mạnh về tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh Chính sách thương mại quốc tế hỗ trợ phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của quốc gia trên thế giới do vậy mà cũng gián tiếp nâng cao sức manh về tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh cho mỗi quốc gia tham gia
2.1.2 Các lý thuyết về quan hệ thương mại Quốc tế
Có rất nhiều lý thuyết thương mại quốc tế luận giải cho việc hình thành quan
hệ thương mại song phương và đa phương giữa các nước, các khu vực trên thế giới, trong đó phải kể đến ba học thuyết kinh tế tiêu biểu
Lý thuyết thương mại quốc tế của Chủ nghĩa trọng thương Lý thuyết về
thương mại quốc tế được coi là bắt đầu bằng các tác phẩm của trường phái trọng thương từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 Các tác giả trọng thương lập luận rằng xuất khẩu đối với một quốc gia là rất có ích vì nó kích thích sản xuất trong nước, đồng thời làm gia tăng lượng của cải của quốc gia Ngược lại, nhập khẩu là gánh nặng
vì nó làm giảm nhu cầu đối với hàng hóa sản xuất trong nước, và hơn nữa dẫn tới
sự thất thoát của của cải của quốc gia Như vậy, sức mạnh và sự giàu có của một quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc giá đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Lập luận của các tác giả thuộc trường phái trọng thương chứa đựng nhiều quan điểm mà cho đến nay vẫn còn giá trị Chẳng hạn, khi năng lực sản xuất trong nước vượt quá mức cầu thì lúc đó việc khuyến khích xuất khẩu và hạn chế bớt nhập khẩu là điều
mà một quốc gia cần theo đuổi
Adam Smith và lợi thế tuyệt đối Adam Smith là người đầu tiên đưa ra sự
phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc thương mại quốc tế Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” xuất bản lần đầu tiên vào năm 1776, A.Smith đã đưa ra ý tưởng
về lợi thế tuyệt đối để giải thích nguồn gốc và lợi ích của thương mại quốc tế Nước
A, xét trong tương quan với nước B, có thể tỏ ra hiệu quả hơn (có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất mặt hàng X, và kém hiệu quả hơn (có mức bất lợi tuyệt đối) trong việc sản xuất mặt hàng Y Khi đó B là nước có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng
Trang 28Y, và bất lợi tuyệt đối trong sản xuất mặt hàng X Theo A.Smith, nếu mỗi nước tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối, và xuất khẩu mặt hàng này sang nước kia để đổi lấy mặt hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối, thì sản lượng của cả hai mặt hàng sẽ tăng lên, và cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn Mặc dù tư tưởng của A.Smith là rất quan trọng cho sự phát triển ban đầu của lý thuyết Ngoại thương và thay đổi quan niệm về các lợi ích tiềm năng từ thương mại, tuy nhiên lý thuyết của ông bị giới hạn ở các khái niệm về “lợi thế tuyệt đối” Nó làm tăng các câu hỏi về lợi ích từ thương mại nước ngoài của đất nước không có bất
kỳ lợi thế tuyệt đối nào
Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Nếu như khái niệm “lợi thế
tuyệt đối” được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt về số lượng lao động thực tế được
sử dụng ở các quốc gia khác nhau (hay nói cách khác, sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối), thì lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối
Ricardo giả định rằng lao động là yếu tố duy nhất của sản xuất, mỗi nước có nguồn tài nguyên và trình độ công nghệ không đổi Trái với lợi thế tuyệt đối, lợi thế
so sánh là một khái niệm có tính tương đối, trong một thế giới bao gồm 2 quốc gia,
2 mặt hàng, khi đã xác định được một quốc gia có lợi thế so sánh về một mặt hàng nào đó thì có thể rút ra kết luận là quốc gia thứ hai sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng kia Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu thương mại tự do có đem lại lợi ích cho tất cả các bên hay không khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các mặt hàng Câu trả lời do Ricardo đưa ra là “có”, thể hiện ở quy luật lợi thế so sánh sau đây
“Khi mỗi quốc gia thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế so sánh thì tổng sản lượng tất cả các mặt hàng của toàn thế giới sẽ tăng lên và tất cả các quốc gia sẽ trở nên sung túc hơn”, và điều này hoàn toàn có thể chứng minh được thông qua những phân tích rất đơn giản một ví dụ cụ thể về lợi thế so sánh Có thể thấy, mô hình của Ricardo là một công cụ cực kỳ hữu ích cho việc giải thích lý do tại sao trao đổi thương mại quốc tế xảy ra và phân tích ảnh hưởng của thương mại trên phúc lợi của quốc gia Nó là nền tảng lý thuyết đầu tiên để tăng cường thương mại tự do cũng như điểm khởi đầu cho bất kỳ phân tích nào về cơ sở thương mại quốc tế trong đó có quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc
Mô hình Heckscher - Ohlin (mô hình H-O) Mô hình này do hai nhà kinh tế
là Eli Heckscher (1919) và Bertil Ohlin của thụy điển đồng nghĩ ra vì vậy tên gọi
mô hình là nối của hai cái tên Mô hình này đưa ra hai yếu tố ảnh hưởng tới thương mại giữa các quốc gia:
Trang 29- Mức độ dồi dào và rẻ của các yếu tố sản xuất
- Mỗi một mặt hàng lại cần tỷ lệ các yếu tố đầu vào khác nhau
Một quốc gia nên xuất khẩu các hàng hóa mà mình dồi dào yếu tố SX cho hàng hóa đó và nhập về những hàng hóa ngược lại Trường hợp cụ thể vì Việt Nam dồi dào lao động nhưng vốn ít vì vậy nên sản xuất giầy dép, vài,… Còn Nhật bản nhiều vốn nhưng ít lao động thì nên sản xuất thép và nhập về vải
Trong thực tế thì ngày nay các nước đều theo chủ nghĩa Tân trọng thương có nghĩa là khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ mậu dịch trong nước thông qua các hàng rào thuế quan, kỹ thuật Vì vậy, ta sẽ thấy là thuế xuất khẩu thì luôn thấp thậm chí bằng 0 nhưng thuế nhập khẩu thì lại cao có thể lên tới 100% Tại Việt Nam chính phủ sẽ phải xác định mặt hàng xuất khẩu/nhập khẩu tập trung trong từng thời kỳ Cụ thể từ 2011 tới 2020 Việt Nam tập trung nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất, nguyên liệu vì vậy con số này thực tế chiếm 90%; còn lại tiêu dùng là 10% Đối với xuất khẩu thì chúng ta tập trung vào xuất khẩu các hàng hóa cần lượng lớn lao động (dầy da, may mặc, ) và tài nguyên theo hướng tăng hàm lượng chế biến
Như vậy, những luận cứ và các lý thuyết phân tích ở trên là nền tảng lý luận giải thích tính tất yếu của việc phát triển quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc Các lý thuyết thương mại quốc tế ra đời từ hơn 300 năm nay và ngày càng phong phú theo sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế Các lý thuyết kinh tế hiện đại gần đây thường tiếp cận dưới góc độ tổng hợp về các nguyên nhân của các hoạt động thương mại quốc tế, chúng lý giải đầy đủ hơn và phù hợp hơn với thực tiễn về quá trình hình thành và phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc nói riêng Chính các lý thuyết này là cơ
sở không thể thiếu được cho việc xây dựng chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia Có thể nói, về mặt lý luận quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc như một chiếc bè đang trôi chung trong dòng chảy kinh tế của thế giới
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc
Trước hết xu hướng tăng cường hợp tác kinh tế giữa hai nền kinh tế xuất phát từ thực tế phát triển và những nhu cầu mới của mỗi bên Về phía ASEAN, tuy đây là thị trường tiêu thụ lớn với hơn 500 triệu dân song sức mua lại thấp do cơ cấu hàng xuất khẩu giữa các nước thành viên tương đối giống nhau và nhiều nước trong khối là những nước đang phát triển Bối cảnh đó buộc các nước ASEAN không thể
Trang 30chỉ dừng lại ở liên kết nội khối mà cần phải mở rộng ra bên ngoài nhằm thu hút đầu
tư và khai thác triệt để các thế mạnh của mình Thêm vào đó cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997-1998 đã làm cho các nước thành viên bị ảnh hưởng nặng
nề, nền kinh tế rơi vào tình trạng kiệt quệ Lúc này nhu cầu liên kết với các đối tác bên ngoài là cần thiết hơn bao giờ hết Mặt khác Trung Quốc là một quốc gia đông dân với thì trường rộng lớn và tốc độ phát triển nhanh, là đối tác thích hợp để các nước ASEAN tiến hành mở rộng thị trường, đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận Đồng thời hợp tác với Trung Quốc cũng tạo nên sự cân bằng trong quan hệ giữa các nước lớn có lợi ích chiến lược trong khu vực, là bước nối quan trọng để ASEAN xâm nhập vào thị trường lớn nhất thế giới cũng như hội nhập với kinh tế toàn cầu
Về phía Trung Quốc, ASEAN là đối tác rất thích hợp cho các ngành công nghiệp đang trỗi dậy của họ Một vấn đề mà nước này mắc phải trên con đường phát triển là sự thiếu hụt về nguồn nguyên, nhiên liệu như xăng, dầu, gỗ, nhựa, dầu thực vật,… ASEAN lại là khu vực có nguồn tài nguyên khá dồi dào, đáp ứng và khắc phục tốt những khó khăn trên Thêm vào đó tốc độ tăng trưởng nhanh của kinh
tế Trung Quốc đặt ra một đòi hỏi bức bách, đòi hỏi cần mở rộng hơn nữa thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường cung cấp nguyên nhiên liệu Xét trên phương diện này các nước ASEAN có khả năng đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu đó Hơn nữa, trước sự phát triển không ngừng của ASEAN, nếu chậm chân các nước Hàn Quốc, Nhật Bản sẽ thiết lập khu vực mậu dịch tự do với khối này Đây sẽ là bất lợi lớn cho Trung Quốc bởi như vậy nước này sẽ phải cạnh tranh lớn hơn với hàng hoá Nhật Bản và Hàn Quốc tại thị trường ASEAN, đồng thời gặp khó khăn trong đàm phán vơi các nước ASEAN khi muốn hình thành khu vực mậu dịch tự do
Thực tế tiến trình phát triển quan hệ giữa hai nền kinh tế cũng đã chứng minh cho xu hướng hợp tác của hai bên Từ năm 1991, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao hoặc khôi phục quan hệ ngoại giao với tất cả các nước ASEAN Năm năm sau đó, Trung Quốc lại trở thành nước đối thoại toàn diện với các nước ASEAN Tình hình tốt đẹp của quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và ASEAN đã đem lại sự tất yếu cho việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế thương mại hai bên ASEAN và Trung Quốc hiện nay đều là bạn hàng mậu dịch quan trọng của nhau Trong mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc vai trò của ASEAN không ngừng tăng lên, trở thành bạn hàng lớn thứ 5 sau Nhật Bản, Mỹ, EU và Hồng Kông Đồng thời, Trung Quốc cũng trở thành bạn hàng lớn thứ 6 của ASEAN sau Mỹ, Nhật Bản, EU,
Trang 31Hồng Kông và Đài Loan Trung Quốc cũng tích cực tham gia giúp đỡ và thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực Đông Nam Á và hợp tác tiểu vùng Hợp tác tiểu vùng Sông
Mê Kông đã thu được bước tiến khởi đầu rất khả quan, mở ra những phương thức mới cho hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN
2.2.2 Sự phát triển nhiều loại hình hợp tác trong thương mại quốc tế thúc đẩy phát triển thương mại ASEAN - Trung Quốc
Việc hình thành các khu vực mậu dịch tự do hoặc các thỏa thuận mậu dịch tự
do khá phổ biến trong những năm gần đây Theo thống kê của Tổ chức thương mại
thế giới (WTO) tính đến 2010, đã có khoảng 400 Hiệp định thương mại tự do được
thực hiện hoặc đang trong quá trình ký kết trong đó có hơn 200 Hiệp định thương mại tự do có hiệu lực Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Chi Lê, hoặc Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc
Hiện nay trên thế giới tồn tại hai loại hình
- Hiệp định thương mại tự do song phương (BFTA): Được ký kết giữa hai nền kinh tế, không nhất thiết phải có sự gần gũi về địa lý Ví dụ như Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Mỹ, Hiệp định thương mại song phương Hàn Quốc - Mỹ
- Hiệp định thương mại tự do khu vực (RFTA): Được ký kết giữa nhiều nền kinh tế (từ 3 trở lên), thường các thành viên có sự tương đồng, gần gũi về vị trí địa
lý Ví dụ như Hiệp định thương mại tự do châu Âu, Hiệp định thương mại tự do Bắc
Mỹ, Hiệp định thương mại tự do ASEAN
Đặc điểm của Hiệp định thương mại tự do
Hiệp định thương mại tự do là cơ sở pháp lý cho sự hình thành khu vực mậu dịch tự do Thông qua việc thực hiện hiệp định, các bên tham gia sẽ từng bước tự do hoá hoàn toàn thương mại song phương hay đa phương, tiến tới thành lập khu vực mậu dịch tự do Song có nhiều nước tham gia ký kết hiệp định thương mại nhưng không hình thành khu vực mậu dịch tự do, các bên tham gia chỉ cam kết và hợp tác trong lĩnh vực thương mại, không mở rộng hợp tác trên những mặt khác như chính trị, xã hội,… đây là đặc điểm chính để phân biệt và hiểu đúng hai khái niệm này
Về tổng thể, các hiệp định thương mại tự do cần đảm bảo những nội dung chính sau
- Đưa ra quy định chi tiết về một số nghĩa vụ phải thực hiện của các bên tham
Trang 32gia, xác định các mục tiêu, nguyên tắc triển khai đàm phán tiếp theo trên các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và các hợp tác kinh tế khác
- Đưa ra cam kết cắt giảm đi đến xoá bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan Nêu rõ định nghĩa và phương thức áp dụng đối với danh mục thông thường, danh mục nhạy cảm, danh mục loại trừ, quy tắc xuất sứ Xây dựng lộ trình thực hiện của mỗi mặt hàng cụ thể cho mỗi bên tham gia, thời hạn kết thúc thực hiện, thời hạn Hiệp định chính thức có hiệu lực
- Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng phạm vi áp dụng, hội đồng trọng tài, quy trình giải quyết, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, vai trò của các thành viên còn lại,…
- Các hiệp định thương mại tự do cần tuân theo nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại đa phương Uỷ ban về FTA của WTO đã đưa ra những quy định
cụ thể cho những hiệp định thương mại song phương và khu vực như:
Không phân biệt đối xử thương mại giữa các nước thành viên cần được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, tất cả các thành viên phải đối xử theo tối huệ quốc (MFN)
Mở cửa thị trường, ngăn cấm tất cả các hình thức bảo vệ ngoại trừ thuế quan
và một số ngoại lệ đặc biệt
Thương mại bình đẳng có những biện pháp cụ thể chống bán phá giá, các biện pháp đối kháng, xây dựng chi tiết quy định trong vấn đề thương mại nông nghiệp, dịch vụ, sở hữu trí tuệ
Hỗ trợ phát triển cải cách kinh tế, dành ưu đãi phát triển và cải cách kinh tế đối với các nước đang phát triển, cho phép những nước này có thời kỳ quá độ để điều chỉnh theo các quy định khó khăn của hiệp định
Mức thuế và các quy định mới ở những nước tham gia không được cao hơn hoặc hạn chế hơn so với các biện pháp hiện tại
Tác động của Hiệp định thương mại tự do tới nền kinh tế các quốc gia thành viên
Việc ký kết và thực hiện Hiệp định thương mại tự do có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia thành viên, đồng thời cũng tác động mạnh mẽ đến
hệ thống thương mại đa phương trên thế giới Những người ủng hộ việc phát triển
“kinh tế mở” cho rằng đây là những bước đi quan trọng nhằm tiến tới tự do hóa
Trang 33thương mại toàn cầu Tuy nhiên, cũng có không ít ý kiến phản đối cho rằng các nước nghèo sẽ bị tụt lùi sâu hơn khi quá trình hội nhập trở nên mạnh mẽ
- Tác động tích cực
Hiệp định thương mại tự do tạo cơ hội phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, điều này thể hiện ở những điểm như sau:
Một, làm tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ ở mỗi quốc gia nhờ mở
rộng các thị trường ngoài nước, tạo điều kiện cho mỗi nước tăng khả năng tiếp cận các nguồn hàng hoá, dịch vụ đa dạng
Hai, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài về cả vốn vay ODA hay
FDI do ổn định được thể chế, chính sách của chính phủ
Ba, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đầu tư của mỗi nước theo hướng
chuyên môn hoá sản xuất, giúp khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi nước, thúc đẩy giao lưu và trao đổi khoa học, kinh nghiệm quản lý
Bốn, thúc đẩy quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, chính trị, xã
hội ở mỗi quốc gia, tạo sức ép cải cách bên trong, từ đó tạo khả năng thuận lợi cho việc xích lại gần nhau về trình độ phát triển, cơ cấu tổ chức, hệ thống luật pháp, năng lực quản lý…, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các nước
- Tác động tiêu cực
Bên cạnh đó Hiệp định thương mại tự do cũng mang lại những tác động tiêu cực và đặt các quốc gia thành viên đối mặt với những thách thức
Một, mở cửa đồng nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt giữa hàng hoá và doanh
nghiệp mỗi nước Điều đó dẫn đến nguy cơ phá sản trong những ngành kinh tế và doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp Từ đó có thể gây xáo trộn về công ăn việc làm của nhiều người lao động, dẫn đến bất ổn về chính trị - xã hội
Hai, xoá bỏ hàng rào thuế quan nghĩa là các quốc gia sẽ mất đi một nguồn
thu ngân sách, nhất là đối với các nước đang phát triển - nơi mà thuế quan là bộ phận quan trọng trong ngân sách nhà nước
Ba, việc tiến hành cải cách và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trước áp lực hội nhập
đòi hỏi phải có một nguồn tài lực và vật lực rất lớn mà không dễ gì một nước - nhất
là những nước đang phát triển hay kém phát triển - có thể đáp ứng được
Bốn, trong quá trình thực hiện hiệp định, có sự khác biệt về trình độ giữa các
thành viên, nên dễ tạo ra nguy cơ là các nền kinh tế đang phát triển phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế mạnh hơn về công nghệ, nguồn hàng, vốn
Trang 34Bảng 2.1 Các khu mậu dịch tự do lớn và sự tham gia của một số nước
thuộc khối tam giác phía bắc (El Salvador, Honduras, Nicaragoa), Dominica, Nicaragoa, Costa Rica, Bolivia, G3
Canada, Mehico, Trung Mỹ (Costa Rica, El Salvador, Honduras,
Guatamela, Nicaragoa), Venezuela, Columbia, Equdor, MERCOSUR, Peru, Bolivia
Canada và Mehico (NAFTA), Israel, Jordan
Malta, Cyprus, Andora, Thổ Nhĩ
Kỳ, Thuỵ Sỹ, Liechtenstein, Ireland, Norway, Séc, Hungary, Ba Lan, Slovak, Rumania, Bulgaria, Lithuania, Estonia, Latvia, Faeroes, Slovenia, Mehico, Chile, Palestine, Tunisia, Israel, Jordan
Các khu mậu dịch tự do đang đàm phán hay có kế hoạch bắt đầu đàm phán
MERCOSUR
Chile, FTAA, Singapore
MERCOSUR, Các nước khối Andean (Bolivia, Columbia, Peru, Venezuela)
Các khu mậu dịch tự do đang ở giai đoạn đề xuất
Chile, EU, Hàn
Quốc
Nhật, New Zealand
Trang 35viên áp dụng các biện pháp nhằm xoá bỏ thuế quan và rào cản phi thuế quan đối với phần lớn các sản phẩm và dịch vụ trong buôn bán giữa các nước thành viên, nhằm hình thành thị trường thương mại chung, thống nhất một khối”[88] Ngày nay trong khu vực mậu dịch tự do các nước không chỉ tăng cường hợp tác trên lĩnh vực thương mại mà còn mở rộng hợp tác trong nhiều khía cạnh mới như đầu tự, dịch vụ,
khoa học công nghệ, thậm chí cả về chính trị, xã hội, môi trường,…
Khu vực mậu dịch tự do đầu tiên trên thế giới được thành lập năm 1960 là
Khu vực mậu dịch tự do châu Âu Đến giữa thập niên 1990, một loạt các hiệp định
thương mại song phương và khu vực được ký kết, các khu vực mậu dịch tự do ngày
càng ra đời nhiều hơn, điển hình như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA - thành lập năm 1989), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA - thành lập năm 1992), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA - thành lập năm 2002)
Theo Sách trắng về thương mại quốc tế của JETRO (Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản), cho đến tháng 5/2003 đã có khoảng 250 hiệp định mậu dịch
tự do (FTA) song phương và khu vực đã được thông báo cho GATT/WTO, trong đó
có 130 hiệp định được thông báo sau tháng 1/1995 Khoảng trên 170 FTA đang có hiệu lực và 70 FTA khác đã có hiệu lực mặc dù chưa được thông báo cho WTO
Số lượng các Hiệp định thương mại tự do là cơ sở hình thành khu vực mậu dịch tự do đã tăng đáng kể trong thập kỷ qua Từ năm 1948 đến 1994, Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT), tiền thân của WTO, đã nhận được 124 thư thông báo Kể từ năm 1995 trên 300 hiệp định thương mại đã được ban hành (xem “Facts and figures” - World Trade Organization, 2009) Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), số Hiệp định thương mại tự do (FTA) ký kết giữa các quốc gia châu Á đã tăng từ 3 hiệp định năm 2000 lên 56 hiệp định vào cuối tháng 8 năm
2009 Mười chín trong tổng số 56 hiệp định thương mại tự do đó được ký giữa 16 nền kinh tế châu Á, một xu hướng có thể giúp cho khu vực này trở thành khối mậu dịch hùng mạnh [42] Chính tổng giám đốc WTO Sapuchai Panitchpakdhi cũng
phải thừa nhận: “xu thế đàm phán hiệp định mậu dịch tự do song phương và khu vực đã trở nên phổ biến, và nghi ngại rằng xu thế này có thể phá vỡ các hoạt động
đa phương trong khuôn khổ WTO” [42]
Đặc điểm của Khu vực mậu dịch tự do
Mỗi khu vực mậu dịch tự do có những đặc điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào các điều kiện hợp tác, mục đích hợp tác, bối cảnh kinh tế Nhưng nhìn chung mọi FTA đều mang những đặc điểm chính sau:
Trang 36- Khu vực mậu dịch tự do được thành lập và hoạt động trên cơ sở các điều lệ (hầu như nằm trong Hiệp định thương mại tự do đã được ký kết) Cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của FTA là các điều lệ của tổ chức Điều lệ không chỉ quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên mà còn quy định mục đích, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan, cũng như những giới hạn trong quan hệ qua lại của các tổ chức, quốc gia với nhau hay với các tổ chức, quốc gia khác Điều
lệ của tổ chức phải phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế
- Khu vực mậu dịch tự do tạo mối quan hệ ràng buộc trong hoạt động Ngoại thương của các nước thành viên Tuy nhiên, các nước thành viên vẫn có quyền thực hiện chính sách ngoại thương độc lập với các nước ngoài liên minh, tức là vẫn có quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các quốc gia ngoài khối Những
ưu đãi và nghĩa vụ thương mại do FTA chỉ có hiệu lực đối với các thành viên và quan hệ nội khối, đây là đặc điểm nổi bật nhất để phân biệt Khu vực mậu dịch tự do với các hình thức liên kết kinh tế quốc tế khác
- Do xoá bỏ gần như hoàn toàn thuế quan và các hàng rào phi thuế quan, nên việc đàm phán để thành lập một khu vực mậu dịch tự do la khá mất thời gian và cần qua nhiều vòng thương thảo Bởi vậy, các nước có thể thoả thuận tiến hành chương trình cắt giảm thuế quan sớm (còn gọi là Chương trình thu hoạch sớm) đối với một
số dòng thuế trước khi đàm phán kết thúc và khu vực mậu dịch tự do chính thức được thành lập
Lợi ích và ý nghĩa của việc hình thành Khu vực mậu dịch tự do
Lý do khiến cho hàng loạt FTA nói trên được ký kết là bởi lẽ thực tế đã cho thấy, ở một mức độ nhất định, nguồn lợi mà FTA mang lại cho các quốc gia là rất lớn
- FTA tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích phát triển thương mại nội bộ khối, nhằm thúc đẩy thương mại các nước thành viên phát triển do việc cắt giảm thuế quan và phi thuế quan sẽ làm giảm giá hàng xuất khẩu của các nước thành viên trên thị trường của nhau, tạo cho chúng có lợi thế cạnh tranh hơn so với các sản phẩm cùng loại của các nước không phải thành viên của khối, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế các thành viên trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu
- Về phạm vi điều chỉnh, các FTA gần như bao gồm toàn bộ các lĩnh vực trong quan hệ kinh tế thương mại giữa các thành viên không chỉ thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại,… mà cả các vấn
đề khác như du lịch, thương mại điện tử, doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát thanh truyền hình,… Với phạm vi bao quát rộng như vậy, FTA sẽ đem lại nhiều lợi ích như mở
Trang 37rộng thị trường xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, xúc tiến đầu tư và chuyển giao công nghệ, tăng cường đàm phán đối với một nước thứ ba Hơn thế nữa, tự do thương mại thông qua FTA sẽ càng làm tăng sức cạnh tranh của các nhà xuất khẩu và các tổ chức thương mại của các nước thành viên, tạo điều kiện cho họ dễ dàng thành công trong các vòng đàm phán đa phương Với ý nghĩa như vậy, FTA chính là cánh cửa để một nước hội nhập thương mại với thế giới, khởi đầu cho quá trình tự do hoá cạnh tranh,
từ đó các nước có nhiều cơ hội để lựa chọn đối tác thích hợp
- Mức độ điều chỉnh của các FTA sâu rộng hơn rất nhiều so với WTO, với những ưu đãi cao nhất, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới tự do hoá tối đa và triệt tiêu hoàn toàn những trở ngại đối với thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, đặc biệt là vấn đề triệt tiêu thuế suất nhập khẩu xuống 0% và các ưu đãi mở cửa thị trường đầu tư Ngoài
ra, bản chất của các FTA không chỉ đơn thuần là việc tự do hoá thương mại, mà còn bao gồm cả việc hợp tác trong tất cả các lĩnh vực ngoài thương mại, ví dụ hợp tác trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, hợp tác trong việc phát triển công nghệ thông tin, đơn giản hoá thủ tục hải quan, xúc tiến thương mại và đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nói cách khác, do hầu hết các FTA, đặc biệt là những FTA mới được ký kết gần đây, đã đa dạng hoá nội dung bên cạnh nội dung loại bỏ thuế quan và tự do hoá khu vực dịch vụ nên mỗi khi con đường đa phương bị tắc nghẽn hay cản trở, các nước liền tìm đến những dàn xếp song phương hay khu vực
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là các FTA luôn đi ngược lại với tiến trình của các vòng đàm phán đa phương, bởi cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh được các Khu vực mậu dịch tự do hỗ trợ hay ngăn cản tự do hoá thương mại trên phạm vi toàn cầu Nhưng có thể thấy thành viên của hai khối mậu dịch tự do lớn nhất là EU và NAFTA đều là thành viên của WTO mà nguyên tắc cơ bản của tổ chức này là tối huệ quốc (Không phân biệt đối xử) được nêu rõ ở điều khoản I, nên khả năng các FTA ngăn cản tiến trình tự do hoá toàn cầu là khó xảy ra
Thật vậy, tuy GATT và WTO đề cao nguyên tắc không phân biệt đối xử trong Ngoại thương nhưng vẫn có những điều khoản cụ thể cho phép các thành viên tham gia FTA, với điều kiện phải thông báo về những FTA đó Điều 24 của GATT quy định về việc thành lập và hoạt động của FTA và liên hiệp thuế quan đối với trao đổi hàng hoá Điều 5 của GATS (Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ) cho phép lập các FTA về trao đổi dịch vụ Ngoài ra còn có một điều khoản đặc biệt cho phép ký kết FTA về trao đổi hàng hoá giữa các thành viên là nước đang phát triển Các quy định này có thể không bắt buộc trong các vụ giải quyết tranh chấp nhưng
Trang 38có tác dụng như là nguyên tắc ứng xử ở một chừng mực nào đó Vì thế, các thoả thuận khu vực có thể chứa đựng hầu hết các vấn đề vượt xa thương mại hàng hoá và dịch vụ Nói cách khác, ở một mức độ nhất định, các FTA có tính bổ sung cho WTO trong việc tự do hoá thương mại Chính vì vậy, giới học giả Nhật cho rằng các FTA nên theo mô hình WTO - cộng, nghĩa là bao gồm nhiều lĩnh vực hơn và mức độ sâu rộng hơn Tại Hội nghị thách thức và cơ hội đối với việc hợp tác khu vực APEC ngày 16/5/2003 tại Tokyo (Nhật Bản), Đại sứ Singapore tại Nhật Bản
cũng nêu rõ “Tự do hoá thương mại theo WTO không có được nhiều bước tiến trong những năm gần đây do WTO có quá nhiều thành viên Trong bối cảnh như vậy, các hiệp định tự do khu vực và song phương sẽ là cơ chế bổ sung tốt cho tiến trình đa phương” [42] Như vậy, FTA là cách tiếp cận tốt thứ nhì đối với tự do hoá mậu dịch
nhưng là giải pháp khả thi nhất trong một thế giới đa dạng Tuy nhiên, FTA chỉ trở thành những viên đá lát đường cho toàn cầu hoá khi nó phải đảm bảo rằng ảnh hưởng do thương mại tăng lên (trade creation) lớn hơn ảnh hưởng do thương mại giảm đi (trade diversion) Đến khi đó, FTA sẽ có thể trở thành một đòn bẩy thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và tự do thương mại toàn cầu và cuối cùng, chủ nghĩa khu vực mới sẽ đi vào liên kết kinh tế theo chiều sâu
Một điểm lợi nữa của FTA là trong quá trình hình thành mạng lưới các FTA, mối liên hệ với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và cải cách kinh tế trong nước đã đặc biệt được chú trọng FTA tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và khuyến khích đầu tư nội bộ khối, bởi vì FTA tạo ra một thị trường thống nhất rộng lớn hơn so với thị trường một nước nên các nhà đầu tư nước ngoài sẽ sẵn sàng đầu tư khi có thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn như vậy Các FTA được xem như là các công cụ chính sách để giới hạn hay thúc đẩy cải cách trong nước cũng như thu hút FDI hơn là trông chờ có được các tác động trực tiếp to lớn của giảm thuế quan Trên thực tế, Mehico đã được hưởng những tác động tích cực rõ ràng của NAFTA đối với cả việc thu hút FDI và việc giới hạn cải cách cơ cấu trong nước Các nước Đông Âu đã cố gắng giới hạn quá trình chuyển đổi mạnh mẽ các hệ thống kinh tế của họ và một số nước trong số họ đã rất thành công trong việc thu hút FDI
Ngoài ra, các nước đã bắt đầu cảm nhận được rằng cái giá của việc không phải là thành viên của bất kỳ thoả thuận khu vực nào là có thật Giá ở đây gồm sự mất đi thế đàm phán trong các cuộc đàm phán đa phương, bỏ lỡ các cơ hội hưởng lợi từ bên ngoài và sự chậm trễ nói chung trong việc sử dụng hiệu quả làn sóng toàn cầu hoá Mehico, Chile và Singapore muốn rằng họ trở thành trung tâm mạng lưới
Trang 39FTA và hưởng lợi ích của sự kết nối Một nước trung tâm có các lợi thế tiềm năng đối với các nước khác ở đầu bên kia trong việc hình thành các luồng thương mại và mạng lưới sản xuất thông qua FDI Một tài sản quan trọng của các thoả thuận FTA trong bối cảnh này là một nước (ví dụ Mehico) có thể ký kết một FTA mới (ví dụ với EU) mà không cần thay đổi bất cứ thoả thuận FTA cũ nào (ví dụ NAFTA)
Như vậy, chính do những lợi điểm kể trên mà việc mở rộng liên kết, thiết lập các Khu vực mậu dịch tự do đã trở thành hướng đi được các nước chú trọng nhằm khai thác tốt nhất lợi thế so sánh của từng quốc gia, tạo ra sân chơi hấp dẫn đầy tiềm năng đáp ứng lợi ích của tất cả các bên có liên quan
giám đốc WTO, Tiến sĩ Sapuchai Panitchpakdhi, đã phải thừa nhận rằng: “FTA là con dao hai lưỡi và là nguyên nhân làm chậm tiến trình toàn cầu hoá” [44]
- Hầu như tất cả các FTA hình thành trong thời gian gần đây đều có nội dung toàn diện, không chỉ giải quyết các rào cản tại biên giới quốc gia như các FTA truyền thống mà còn bao trùm các lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ, đặc biệt cả đầu
tư và thương mại điện tử là những lĩnh vực chưa có quy định quốc tế chung Câu hỏi đặt ra là liệu các cam kết mang tính ràng buộc trong những lĩnh vực mới đó có thật sự phù hợp và thuận lợi, hay trên thực tế chúng lại đặt ra những rào cản mới cho các nước bên ngoài và tác động tiêu cực đến tiến trình đàm phán đa phương về các lĩnh vực này Ngoài ra, còn phải kể đến những vấn đề truyền thống đặt ra cho FTA nói chung, nhất là về khả năng tác động giảm bớt thương mại của các nước không tham gia FTA
- Nhiều nước tham gia FTA dường như chỉ nhằm mục đích tự vệ để tránh bị gạt ra ngoài, chứ hoàn toàn không theo một chiến lược bài bản khiến tình hình FTA nói chung trên thế giới ngày càng phức tạp, đặc biệt tại Đông Á Nhật Bản và Malaysia cách đây không lâu còn rất bàng quan, giờ đã trở thành những nước ráo
Trang 40riết tìm kiếm FTA song phương, chủ yếu vì lo ngại các nước khác có FTA sẽ chiếm mất thị trường truyền thống của họ
- Mặc dù các FTA song phương nhìn chung đều mang tính mở cửa hơn so với WTO, song vẫn không giải quyết được những lĩnh vực hoặc những ngành hàng nhạy cảm của từng nước Nông - lâm - ngư nghiệp của Nhật Bản là một thí dụ rõ rệt nhất Nhật Bản đã chọn Singapore làm đối tác đàm phán FTA đầu tiên vì quốc đảo Đông Nam Á này hầu như không xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, vậy mà xuất khẩu cá vàng (gold fish) của Singapore vẫn là một vấn đề lớn trong tiến trình đàm phán giữa hai nước Liên quan đến vấn đề này, cũng cần chỉ ra rằng vì các FTA song phương thường được thiết kế sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của hai nước liên quan, cho nên chúng rất khó có thể mở cho các nước khác cùng tham gia, trừ khi là phải xây dựng một hiệp định mới
- Liên quan đến thương mại hàng hoá là lĩnh vực quan trọng nhất song hầu hết các FTA quy định về xuất xứ trong các hiệp định thường rất khác nhau Nếu một nước tham gia nhiều FTA song phương, mà quy tắc xuất xứ của một loại hàng hoá nào
đó lại khác nhau trong từng hiệp định, thì doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng đó chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, về phía chính phủ, cơ quan hải quan cũng sẽ vất vả
Nhìn một cách tổng thể, lợi ích của các FTA, ngay cả trong ngắn hạn, luôn gắn liền với thương mại và đầu tư Do đó, chừng nào lượng việc làm do đầu tư nước ngoài tạo ra còn bù được cho những mất mát của các ngành công nghiệp không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu thì tham gia FTA vẫn có thể có ích cho toàn xã hội
2.2.3 Tồn tại nhiều nhân tố khác thuận lợi cho phát triển thương mại ASEAN - Trung Quốc
2.2.3.1 Các nhân tố khách quan để phát triển quan hệ thương mại ASEAN Trung Quốc
Thứ nhất, những biến động của nền kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế,
đình công, thay đổi thể chế chính trị, khủng hoảng đã từng diễn ra ở một hay một vài khu vực ASEAN, Trung Quốc đều tác động rất lớn tới toàn bộ nền kinh tế của mỗi quốc gia này do vậy mà cũng tác động tới mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó, ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng và thực hiện chính sách thương mại quốc tế Chính sách thương mại quốc tế lúc này xây dựng cần phù hợp với tình hình kinh tế xã hội thời gian đó, và phải giải quyết được một số khó khăn do sự việc đó để lại Vì vậy, nhu cầu xây dựng và thực hiện chính sách thương mại cả ASEAN và Trung Quốc đều xuất phát từ mong muốn, nhu cầu nội tại của các bên Xét ở góc độ kinh tế chính trị, những nhu cầu và lợi