1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên

115 1,4K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 388,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCMục Lục1Lời Cảm Ơn3Lời Nói Đầu4Bảng từ viết tắt trong bài luận văn.5Phần Mở Đầu61. Tính cấp thiết của đề tài.62. Tình hình nghiên cứu đề tài.7CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.10I. Vài Nét Về Hội Nhập Kinh Tế Và Khái Niệm Đầu Tư Nước Ngoài.101. Khái niệm đầu tư.102. Khái niệm pháp luật đầu tư.123. Khái niệm hội nhập kinh tế.12II. Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Và Những Vấn Đề Pháp Lý Liên Quan141. Cơ sở kinh tế của pháp luật đầu tư Việt Nam.142. Cơ sở chính trị pháp lý của pháp luật đầu tư Việt Nam.153. Sự ra đời và phát triển của luật đầu tư tại Việt Nam.19CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN32I. Một Số Vấn Đề Pháp Lý Cơ Bản321. Quá trình thực tiễn phát triển của hoạt động đầu tư Thái Nguyên.321.1 Sơ lược về tỉnh Thái Nguyên321.2 Các hoạt động đầu tư trước đổi mới.341.3 Pháp luật về đầu tư từ năm 1986 – 2005.361.4 Khung pháp lý được điều chỉnh từ năm 2005 đến nay.37II. Tổng quan về hoạt động đầu tư tỉnh Thái Nguyên.411. Khái quát chung về các vấn đề pháp lý trong đầu tư tại Thái Nguyên412. Các vấn đề pháp lý về hoạt động đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên.483. Thực trạng tình hình đầu tư nước ngoài vào tỉnh Thái Nguyên60CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT TIẾP TỤC HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.72I. Đánh giá chung về đầu tư vào Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên.721. Kết quả tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư722. Quảng bá đầu tư733. Kết quả thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh744. Đánh giá chung75II. Các chính sách nhằm khuyến khích đầu tư tại Thái Nguyên.761. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật đầu tư hiện hành.762. Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên.823. Các giải pháp thúc đẩy đầu tư.844. Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư.864.1. Giải pháp về vốn864.2. Giải pháp về cơ chế chính sách874.3. Giải pháp về phát triến khu, cụm công nghiệp.90Kết Luận92Phụ Lục 193Phụ Lục 299Phụ Lục 3106Tài Liệu Tham Khảo……………………………………… ………………..110

Trang 1

MỤC LỤC

Mục Lục 1

Lời Cảm Ơn 3

Lời Nói Đầu 4

Bảng từ viết tắt trong bài luận văn. 5

Phần Mở Đầu 6

1 Tính cấp thiết của đề tài. 6

2 Tình hình nghiên cứu đề tài. 7

CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 10

I Vài Nét Về Hội Nhập Kinh Tế Và Khái Niệm Đầu Tư Nước Ngoài 10

1 Khái niệm đầu tư. 10

2 Khái niệm pháp luật đầu tư. 12

3 Khái niệm hội nhập kinh tế. 12

II Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Và Những Vấn Đề Pháp Lý Liên Quan 14

1 Cơ sở kinh tế của pháp luật đầu tư Việt Nam. 14

2 Cơ sở chính trị - pháp lý của pháp luật đầu tư Việt Nam. 15

3 Sự ra đời và phát triển của luật đầu tư tại Việt Nam. 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN 32

I Một Số Vấn Đề Pháp Lý Cơ Bản 32

1 Quá trình thực tiễn phát triển của hoạt động đầu tư Thái Nguyên. 32

1.1 Sơ lược về tỉnh Thái Nguyên 32

1.2 Các hoạt động đầu tư trước đổi mới. 34

1.3 Pháp luật về đầu tư từ năm 1986 – 2005. 36

1.4 Khung pháp lý được điều chỉnh từ năm 2005 đến nay. 37

II Tổng quan về hoạt động đầu tư tỉnh Thái Nguyên 41

1 Khái quát chung về các vấn đề pháp lý trong đầu tư tại Thái Nguyên.41

Trang 2

2 Các vấn đề pháp lý về hoạt động đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên. 48

3 Thực trạng tình hình đầu tư nước ngoài vào tỉnh Thái Nguyên 60

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT TIẾP TỤC HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 72

I Đánh giá chung về đầu tư vào Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên 72

1 Kết quả tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư 72

2 Quảng bá đầu tư 73

3 Kết quả thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh 74

4 Đánh giá chung 75

II Các chính sách nhằm khuyến khích đầu tư tại Thái Nguyên 76

1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật đầu tư hiện hành. 76

2 Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên. 82

3 Các giải pháp thúc đẩy đầu tư. 84

4 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư. 86

4.1 Giải pháp về vốn 86

4.2 Giải pháp về cơ chế chính sách 87

4.3 Giải pháp về phát triến khu, cụm công nghiệp. 90

Kết Luận 92

Phụ Lục 1 93

Phụ Lục 2 99

Phụ Lục 3 106

Tài Liệu Tham Khảo……… ……… 110

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Sau hơn ba tháng nỗ lực thực hiện luận văn “Đầu tư nước ngoài tại Việt Namqua thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên” đã hoàn thành ngoài sự cố gắng hết mình củabản thân, tôi còn nhận được sự động viên, giúp đỡ từ phái nhà trường, thầy cô, giađình, bạn bè, các cơ quan chức năng có liên quan của tỉnh Thái Nguyên

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới bố mẹ, gia đình đã tạo điều kiện thuậnlợi,động viên để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô khoa Luật trường Đại Học Quốc Gia HàNội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập.Tôixin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo khoa Luật – chuyên ngày quốc tế, đã tạo điềukiện để tối được làm và trình bầy bài luận văn này Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơnchân thành sâu sắc tới TS Nguyễn Lan Nguyên người đã tận tình hưỡng dẫn tôitrong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các ban, ngành, sở kế hoạch đầu tư, UBND, HĐND…tỉnh Thái Nguyên, cơ quan đã giúp đỡ và cung cấp để tôi có được những số liệu cậpnhật và xắc thức nhất để bài luận văn của tôi được hoàn thành

Xin cảm ơn bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2012 Sinh viên

Cao Thị Thanh Huyền

Trang 4

Lời Nói Đầu

Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, vấn đề phát triển kinh tế luôn là vấn đề trọng tâm, nhận được nhiều nhất sự chú ý của các cơ quan chức năng Hoạt động kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp nào đều gắn liền với hoạt động tài chính và hoạt động tài chính không thể tách khỏi quan hệ trao đổi tồn tại giữa các đơn vị kinh tế Trong khuôn khổ của nền kinh tế mở cửa ngày nay, cơ hội đầu tư và tiềm kiếm đầu

tư là một lĩnh vực thu hút của mọi doanh nghiệp Nắm bắt thời cơ, vận dụng linh hoạt các chính sách sẽ tạo ra môi trường đầu tư đầy thuận lợi cho mỗi địa phương, doanh nghiệp và cho cả thì trường Việt Nam tiềm năng động.

Trong khuông khổ “kinh tế thị trường” toàn cầu hóa nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể khung pháp lý, nhằm thu hút đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong xu thế mới Song mọi vấn đề luôn tồn tại hai mặt, để nhìn nhận vấn đề được tổng quan hơn, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tai “Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qua thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên” Tôi hy vọng thông qua luận văn này nhằm cố gắng sáng tỏ những chính sách mơi, tính hiệu quả của pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành của Việt Nam, không chỉ trên lý thuyết mà được minh chứng qua chính tực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên

Xuất phát từ nhận thức rõ vài trò quan trọng của pháp luật trong đầu tư nước ngoài nói riêng, và trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung, tôi đã nghiên cứu đề tài của mình trong tổng quan các chính sách chung, kết hợp với những chính sách linh hoạt, chủ động của tỉnh Thái Nguyên, nhằm đưa pháp luật trở nên phù hợp hơn với tỉnh nhà Từ đó đưa ra những số liệu, bình luận về tình hình của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây, để thấy được sự đúng đắn trong đổi mới pháp luật Việt Nam Tôi còn có những đề xuất nhằm hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý hiện hành Tuy nhiên, trong thời gian có hạn và nhận thức của một sinh viên năm cuối tôi không thể không có những yếu kém trong nhận thức, trình bầy luận văn Tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của quý thầy, cô và các bạn để bài làm của mình được hoàn thiện hơn.

Trang 5

Bảng từ viết tắt trong bài luận văn.

Trang 6

Phần Mở Đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong quan hệ quốc tế hiện nay, cùng với sự phát triển củakhoa học kỹ thuật, kinh tế thị trường có vai trò ngày càng nổi bậttrong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất Nền kinh tế củađất nước đang ngày càng pháp triển và có nhiều đổi thay đáng ghinhận Trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ViệtNam đã và đang thể hiện rõ hơn vai trò của mình trên trường quốc

tế Trong bức tranh kinh tế thời kì mở cửa này, vấn đề đầu tư làmột trong những lĩnh vực quan trọng và là tâm điểm của hàng loạtchính sách, chiến lược, những cải cách mang tính chiến lược quốcgia vùng hay địa phương

Toàn cầu hoá kinh tế là một xu hướng khách quan, lôi cuốnngày càng nhiều các nước tham gia vừa có ảnh hường tiêu cực,vừa tích cực; là một quá trình vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh.Thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không mộtquốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết được nếu không có sựhợp tác đa phương Những nét mới ấy trong tình hình thế giới vàkhu vực tác động mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế và xãhội ở nước ta

Thực hiện quan điểm đổi mới của Đại hội Đáng lần thứVl(1986), nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển rõ rệt,chúng tạ đang từng bước hội nhập vào nền kinh tê khu vực và thếgiới Tham gia tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á(ASEAN) năm 1995, với các chương trình hợp tác cụ thể như:Khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA); tham gia Hiệp địnhkhung về khu vực đầu tư ASEAN(AIA)-một trong những bước điquan trọng nhất để hội nhập kinh tế vào ASEAN, Việt Nam đã vàđang thu được những thành tựu về kinh tế Cùng với việc thamgia Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm1998; đã trở thành thành viên Tổ chức thương mại thế giới WTO,

Trang 7

Việt nam có những cơ hội lớn và cũng đầy thách thức lớn trướcmắt Tận dụng những cơ hội, vượt qua những thách thức sẽ giúpViệt Nam hòi nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và quốc tế,rút ngắn khoáng cách về kinh tế giữa Việt Nam và các nước trongkhu vực cũng như trên thế giới.

Để làm được điều đó, trước hết Việt Nam phái tạo được mộtmôi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư nướcngoài, trong đó môi trường pháp lý là quan trọng Thông qua đầu

tư nước ngoài, chúng ta học hỏi được kinh nghiệm quản lý, tiếpthu được công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp Qua đó sẽ có kinh nghiệm tốt hơn cho quátrình hội nhập kinh tế của Việt Nam

Thực hiện các cam kết quốc tế Việt Nam ngày càng nhận rõnghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia và quy chế tối huệquốc Những điều đó tác động đến chính sách thu hút vốn đẩu tưnước ngoài, các chính sách đối với lĩnh vực kinh tế này trongquan hệ với các khu vực kinh tế khác

Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Pháp luật đẩu tư nước ngoài tại

Việt Nam trong điểu kiện hội nhập kinh tế khu vực ” là một yêu

cầu có tính cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Nghiên cứu về pháp luật đầu tư nước ngoài không còn phải quámới mẻ với Việt Nam hay các nước trên thế giới, xu thế toàn cầuhóa đã đầy các nền kinh tế lại gần nhau hơn Và các công trìnhnghiên cứu, các bài viết, luận văn từ trình độ cử nhân, thác sĩ…đều có những công trình nghiên cứu về đề tài này Song để có thểnhình nhận lĩnh vực đầu tư mà đặc biệt là đầu tư nước ngoàikhông chỉ từ chính sách, hay những phân tích pháp luật mà đi vàothực tiến, đánh giá cụ thể của địa phương để đưa ra cái nhìn tổngquan hơn các chiến lược kinh tế vùng, kinh tế địa phương, đấtnước thì không phải là có nhiều bài viết

Việc phân tích pháp luật nói chung có ý nghĩa dẫn chiếu tớicác hoạt động đầu tư cụ thể tại địa phương Nhìn nhận từ góc độnày, có thể thấy các vấn đề pháp lý trình bầy trong luận văn đượcxem là những tiền đề cho hoạt động đầu tư của địa phương Từđánh giá thực tiễn nhằm làm sang tỏ những vấn đề:

Thứ nhất: Minh chứng, so sánh, phân tích để làm rõ các yếu tố

chính trị-kinh tế, pháp lý mang tính tiền đề cho sự ra đời tồn tại,phát triển các chế định cơ bản của pháp luật đầu tư Thực trạngpháp triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên một tỉnh kinh tế trọngđiểm của vùng Đông Bắc Cả hai vấn đề này được đánh giá vàphân tích trong tương quan song hành và tương trợ lẫn nhau

Trang 8

Thứ hai: Từ những kiến thức và thông tin có được về tình hình

phát triển kinh tế đất nước và kinh tế tỉnh Thái Nguyên để đi tớinhứng phân tích, đánh giá về các chính sách, chiến lược việc ápdụng pháp luật đầu tư trong cả nước nói chung và trong thực tiễncủa tỉnh Thái Nguyên nói riêng

Thứ Ba: Trong phạm vi kiến thức của bản thân và những gì đã

được trang bị tại trường đại học, mong muốn có thể có nhữngphân tích, đánh giá, đề xuất, kiến nghị… Nhằm góp hoàn thiệnkhung pháp luật đầu tư nói riêng, hệ thống pháp luật Việt Namnói chung

Là một sinh viên sắp ra trường tôi mong muốn công trìnhnghiên cứu này của mình sẽ có nhiều đóng góp cho quá trình hoànthiện pháp luật trên cơ sở phân tích được tính thực tiễn ĐTNN tạitỉnh Thái Nguyên

Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật đầu tư nước ngoàitại Việt Nam trong điều kiện hội nhập qua thực tiến tại tỉnh TháiNguyên nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiến về vấn đềđầu tư nói chung và đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng dựatrên các nền tảng chính sách và pháp luật đã ban hành

Để hoàn thành nhiệm vụ trên bài luận văn có những mục tiên cơbản sau:

Thứ nhất: Làm rõ các nền tảng về mặt lý luận trong pháp luật

đầu tư (cụ thể với luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) Trên cơ

sở những học thuyết, lý luận có được đi vào đánh giá, phân tíchcác hoạt động thực tế tại tỉnh Thái Nguyên Đặt các phân tích nàytrong tương quan tương đương, bổ sung cho nhau, để có cái nhìnkhách quan cho pháp luật đầu tư từ thực tiễn

Thứ hai: Phân tích đánh giá pháp luật đầu tư mà cụ thể là luật

đầu tư 2005, các chính sách khuyến khích kinh tế, chiến lược linh

tế của quốc gia… trong bối cảnh hội nhập Nhấn mạnh các điểm

đã làm được và chưa làm được trong quá trình đưa pháp luật vàođời sống qua thực tiễn đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên

Thứ ba: Đưa ra môt số đánh giá, kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn

thiện hơn khung pháp luật hiện hành

Phạm vi nghiên cứu phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các nội dung liên quan đến các vấn đề pháp

lý cơ bản về đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở phân tích, dẫnchiếu quá trình hình thành pháp luật đầu tư tại Việt Nam, các vấn

đề pháp lý cơ bản của pháp luật đầu tư hiện hành (chủ yếu là đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam) trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất,kiến nghị của mình để hoàn thiện khung pháp luật hiện hành

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Luận văn được trình bày trên cơ sở nguyên tác và phương phápluân của Chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng phượng pháp duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề luận văn đặtra.

Luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thế sau: Phươngpháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh vàphân tích, sơ đồ hoá

Cơ cấu của đề tài

Ngoài phẩn mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham kháo,luận văn gồm có ba chương sau:

Chương 1 Pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và tầm ảnhhưởng thời kỳ hội nhập kinh tế

Chương 2 Thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trongthời kì kinh tế mở cửa qua thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên

Chương 3 Đánh giá và đề xuất nhằm hoàn thiện khung phápluật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và cụ thể tại tỉnh TháiNguyên

Trang 10

CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.

I Vài Nét Về Hội Nhập Kinh Tế Và Khái Niệm Đầu Tư Nước Ngoài.

Pháp luật đầu tư vốn được thừa nhận là lĩnh vực mới mẻ trongnền kinh tế Để tìm hiểu vấn đề này trước hết ta cần tìm hiểu một

số những khái niệm cơ bản của kinh tế đầu tư, mà qua thông quanhững khái niệm này ta đi tới những nhận định, đánh giá và tiếpcận vấn đề đầu tư dưới góc độ pháp lý

1 Khái niệm đầu tư.

Đầu tư là khái niệm đươc hiểu và nhắc tới rất nhiều trong đờisống, kinh tế và cả trong pháp luật Hoạt động đầu tư vào nềnkinh tế là hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục có ý nghĩanền tảng cho xã hội Hầu hết các tư tường, mô hình và lý thuyết

về kinh tế, tăng trường kinh tế đề trực tiếp hoặc gián tiếp thừanhận đầu tư và việc tích lũy vốn cho nền kinh tế và là một nhân tốquan trọng trong việc gia tăng năng lực sản xuất, cung ứng dịchvụ; làm tiền đề, động lực cho sự phát triển nền kinh tế Có nhiềucách định nghĩa về đầu tư xuất phát từ việc xem xét hoạt độngnày từ nhiều phương diện khác nhau

Theo Từ điển kinh tế học hiện đại: “Đầu tư là thuật ngữ được

dừng phổ biến nhất để mô tả các khoản chi tiêu (trong một thời

kỳ nhất định) để làm tăng hay duy trì tài sản thực” Trên thực tế,

một định nghĩa chính xác hơn bao hàm được yếu tố trên là: đầu tư

là những khoản chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa,những khoản chi tiêu này không dự định dùng cho tiêu dùng trunggian Các dự án đầu tư có thể có dạng bổ xung vào tài sản vật

Trang 11

chất và vốn nhân lực (tài sản con người) cũng như hàng hóa tồnkho [39,1]1

Từ khái niệm đầu tư nêu trên cho thấy nội hàm của khải niệmrất rộng, bao gồm cả đầu tư vào tài sản vật chất và nhân lực

Từ phương diện kinh tế học vĩ mô, đầu tư chỉ việc gia tăng tưbản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai

Theo quan điểm cùa PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt thì “ Đầu tư

là quả trình sứ dụng cảc nguồn lực ở hiện tại để tìển hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được các mục tiêu nhất định trong tương lai [38,2]2 Các nguồn lực được sử dụng có thề là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sàn tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có

đủ điều làm việc vởi năng suất cao hơn cho nền kỉnh tế và cho toàn bộ xã hội”.

Dưới góc độ tài chính thì đầu tư là một chuỗi hoạt động chitiêu để chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu

Dưới góc độ tiêu dùng thì đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiệntại để thu được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai

Về phương diện pháp lý, nhà lập pháp coi các lợi ỉch kinh tế

mà hoạt động đầu tư hướng đến là đương nhiên, không cần phảinhắc đến Tuy nhiên việc đạt được các lợi ích đó không thể bằngmọi cách mà phải được kiểm soát và thực hiện theo một trình tựpháp lý nhất định Khoản 1 - Điều 3 - Luật Đầu tư 2005 nhìn nhận

về đầu tư: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài

sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”

Như vậy có thể nhìn nhận về khái niệm đầu tư một cách chung

nhất là:

 Sự hình thành các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nào đó nhằm tích lũy về các kết quả trong tương lai lớnhơn các ngụồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó hoặcđạt được các kỳ vọng ban đầu đã đặt ra theo một trình tựpháp lý nhất định đã được định trước nhằm hướng các hoạtđộng đầu tư vảo một khuôn khổ pháp lý sao cho các hoạtđộng đó diễn ra một cách lành mạnh và phù hợp với hệ thốngkinh tế - chính trị - pháp lý của mỗi quốc gia

 Đầu tư là hoạt động của mỗi quốc gia nhằm phát triển kinh tế

và đẩy mạnh đời sống xã hội Song hoạt động đầu tư cũng vô

1 David W Pearce (2001), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia “các khái niệm cơ bản”

2 PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt (2008), Giáo trình Lập dự án đầu tư, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội

Trang 12

cùng phức tạp, cần tới những mô hình lập pháp tiến bộ đểđiều phối và đưa họat động đầu tư vào đúng quỹ đạo pháttriển của nó.

2 Khái niệm pháp luật đầu tư.

Pháp luật đầu tư là một bộ phận quan trọng, không thể tách rờicủa pháp luật kinh tế Nó được hiểu là tổng hợp các quy phạmpháp luật điều chỉnh các hoạt động đầu tư nhà đầu tư tại ViệtNam và từ Việt Nam ra nước ngoài (Trong luận văn chỉ đề cậpđến hoạt động đầu tư tại Việt Nam)

Pháp luật về đầu tư không điều chỉnh các vấn đề thuộc phạm viđiều chỉnh của mình thông qua một đạo luật duy nhất mà nó nằmrải rác ở nhiều đạo luật khác nhau, tạo nên một cơ chế điều chỉnhtoàn diện Các điều chỉnh pháp lý về đầu tư được thể hiện trongmột số văn bản quan trọng như: Hiến pháp 1992, Luật đầu tư

2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các luật chuyên ngành(Luật chứng khoán sửa đổi 2010, Luật xây dựng 2003, Luật đấtđai 2001, Luật tài nguyên môi trường 2005, Luật đấu thầu2005 ) [28.29.30.31.32,3]3 Việc điều chỉnh các hoạt động, hành

vi đầu tư về cơ bản được Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫnthi hành đảm nhận Tuy nhiên khi các hoạt động đó có liên quanđến một lĩnh vực chuyên ngành nào đó thì ngoài các quy phạmcủa Luật đầu tư, người ta còn phản dẫn chiếu các luật chuyênngành để xem xét, giài quyết dù về đối tượng và nội dung điềuchinh, chủ động về mặt xây đựng quy phạm để điều chỉnh kịp thờicác quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư

Luật đầu tư hiện nay bên cạnh những thành tựu đạt được nhằmđẩy mạnh đầu tư, tạo một hành lang thông thoáng cho các hoạtđộng đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam Luật đầu tư còn tồn tạirất nhiều những nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới đólà: Như việc có rất nhiều luật cùng tham gia điều phối một lĩnhvực cũng làm tản mạn và khiến việc áp dụng gặp nhiều khó khăn,

hệ thống văn bản hướng dẫn còn nằm rải rác không tập trung…

đây sẽ là trở ngại lớn trong quá trình thực tiễn áp dụng luật

3 Khái niệm hội nhập kinh tế.

3 Các Luật liên quan tới vấn đề đầu tư: Luật chứng khoán sửa đổi 2010, Luật xây dựng 2003, Luật đất đai 2001, Luật tài nguyên môi trường 2005, Luật đấu thầu 2005

Trang 13

Hội nhập kinh tế là sự gắn kết nến kinh tế của một nước vàocác tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó cácthành viên quan hệ với nhau theo những quy định chung Sauchiến tranh thế giới lần thứ hai đã xuất hiện các tổ chức như liênminh Châu Âu, Hội đồng tương trợ kinh tế (COMECOM) Hiệpđịnh chung về thuế quan và thương mại (GATT) Từ những năm

80 trở lại đây, tiến trình này phát triển mạnh cùng với xu hướngtoàn cầu hóa đời sống kinh tế, thể hiện ở sự xuất hiện nhiều tổchức liên kêt kinh tế khu vực và toàn cẩu như AFTA, NAFTA,

EU APEC WTO

Trước kia khái niệm hội nhập kinh tế chỉ được hiếu đơn thuần

là những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường Hội nhập kinh

tế ngày nay được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sáchkinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế - tài chính quốc tế, thựchiện tự do hóa và thuận lợi hóa thương mai đầu tư

Trên thế giới có rất nhiều tài liệu viết về khái niệm hội nhậpkinh tế quốc tế Nhiểu người cho rằng Hội nhập kinh tế quốc tế làquá trình tự do hóa thương mại và đầu tư

Như vậy, có thể hiểu hội nhập kinh tế quốc tê là việc các nước(có thể là một khu vực ví dụ: ASEAN, có thể là hai nước, có thế

là một nước với một nhóm các nước, ví dụ: Việt Nam – EU, hoặctoàn thế giới) đi tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thểthống nhất được với nhau kể cả dành cho nhau những ưu đãi, tạo

ra những điều kiện công bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tácvới nhau nhằm khai thác trên cơ sở đổi bên cùng có lợi

Hội nhập kinh tế quốc tế, tạo nên sự liên kết giữa các nền kinh

tế quốc tế, đẩy tới mức độ chuyên sâu của phân công lao độngquốc tế: từ phân công theo sản phẩm chuyển dần sang phân côngtheo chi tiết của sản phẩm Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế làmxuất hiện quá trình tự do di trú, tự do di chuyển sức lao động giữacác quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế và đặc biệt là tự do lưuchuyển tư bản

Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra dưới những hình thứcnhư: các Hiệp định kinh tế, thương mại song phương (Hiệp địnhThương mại Việt Nam – Hoa kỳ; các khối kinh tế khu vực như:

EU, NAFTA, AFTA, APEC… và các tổ chức kinh tế toàn cầu nhưWTO, IMF, WB…)

Có thể hiểu Hội nhập kinh tế là quá trình tự giác tham gia cácquan hệ kinh tế toàn cầu, tuân thủ các luật chơi chung và sự phâncông lao động quốc tế

Những khái niệm trên đã giúp cho chúng ta có cái nhìn tổngquan hơn về đầu tư nói chung và bước đầu có những nhận thức vềđầu tư nước ngoài, hội nhập kinh tế, một lĩnh vực đang nhận đượcrất nhiều sự quan tâm của xã hội Từ đó, những kiến thức cơ bản

Trang 14

này sẽ là nền tảng để chúng ta đi vào tìm hiểu và nghiên cứu cácvấn đề liên quan tới đầu từ nước ngoài tại Việt Nam, mà đặc biếthơn là những chính sách liên quan tới đầu từ nước ngoài tại ViệtNam trong thời kỳ kinh tế hội nhập ngày nay Tôi hy vọng đây sẽ

là những kiến thức cơ bản và tổng quan nhất, để mọi người có thểtiếp cận về vấn đề nhậy cảm này một cách tích cực, chủ động

II Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Và Những Vấn Đề Pháp Lý Liên Quan.

1 Cơ sở kinh tế của pháp luật đầu tư Việt Nam.

Luật đầu tư là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của

hệ thống pháp luật Việt Nam Hệ thống pháp luật đó được quyđịnh một cách rõ ràng và chặt chẽ bởi hạ tầng kinh tế của mộtnước đang có nền kinh tế chuyển đổi theo hướng xây đựng nềnkinh tế thị trưởng định hướng CNXH Pháp luật đầu tư là hìnhảnh phản chiếu các quan hệ kinh tế - xã hội trong lĩnh vực đầu tưcủa nền kinh tế Có thể khẳng định một điều rằng: Quy trình lậppháp nói chung và xây dựng pháp luật về đầu tư nói riêng chịuảnh hưởng sâu sắc của các quan hệ kinh tế trong bối cảnh xâydựng nền kinh tế thị trường Các quan hệ thị trường được thể hiệnmột cách gián tiếp qua các nội dung điều chỉnh của pháp luật vềđầu tư manh nha là từ Điều lệ đầu tư nước ngoài ban hành kèmtheo Nghị định 115/CP ngày 18/4/1977, sau đó là Luật Đầu tưnước ngoài 1988 (được sửa đổi, bổ sung và các năm 1990, 1993,

1996 và 2000) tiếp đến là Luật khuyến khích đầu tư trong nước

1994 (được sửa đổi vào năm 1998), và hiện này là Luật đầu tư

2005 Bên cạnh đó là hàng loạt các Luật chuyên ngành điều chỉnhcác nội dung liên qua đến đầu tư như đã trình bày ở phần trên

Điều này cho thấy một cục diện của Việt Nam ngày nay, vớinhững ảnh hưởng sâu sắc về kinh tế trong thời kỳ hội nhập Nhằmbắt kịp với thời đại và đẩy mạnh kinh tế quốc gia, nước ta đã banhành hàng loạt các văn bản Luật, dưới Luật… vào điều tiết kinh

tế, tạo khung pháp lý vững chắc và thông thoáng cho hoạt độngđầu tư nói riêng và pháp triển kinh tế nói chung Điều dễ nhậnthấy trong các quy phạm pháp luật này là đều đang tập trungchứng minh rằng: Nền kinh tế của chúng ta đang rất mong đợi sựchảy vào của các nguồn FDI, những bàn tay dựng xây của bà conViệt kiều, đang ngóng trông sự trỗi dậy và phát triển của cácdoanh nghiệp dân doanh thông qua việc đầu tư nhiều hơn, tậptrung hơn, hiệu quả hơn vào nền kinh tế nước nhà; Những quyphạm đó cũng mong muốn tạo ra một sân chơi thực sự bình đẳngnơi các nhà đầu tư đặt vào đó sự tin tưởng và kỳ vọng phát triểncủa nền kinh tế, sự gia tăng chất xám và tiền của để làm giàu cho

Trang 15

bản thân và xã hội; Mong muốn hội nhập sâu sắc và toàn diện hơnvào đời sống kinh tế quốc tế cũng là điều mà pháp luật đầu tưđang phản ánh trong nội hàm của mình.

Trong thời kỳ kinh tế mở cửa, đã khép lại thời kỳ “ bế quan tỏa

cảng”, hay chỉ bắt tay làm bạn với các quốc gia trong cùng khối

CNXH… Giờ đây Việt Nam đang hướng tới một sân chơi mới

rộng lớn hơn “thế giới”, đang thay đổi từng ngày nhằm tạo ra môi

trường đầu tư thông thoáng, bình đẳng, chuyên nghiệp và hiệuquả Để pháp huy hiểu quả đó, pháp luật là lĩnh vực tiên phong điđầu trong đổi mới, nhằm đưa ra khung pháp lý tối ưu, tạo niềm tinvới các bạn hàng và nhà đầu tư

Niềm tin vào thể chế, vào bộ máy công quyền vì thế cũng dầnđược cải thiện Tất cả đều dường như đều muốn minh chứng mộtđiều rằng những khát khao được pháp luật bênh vực, trấn an, chechở từ phía nền kinh tế đã dần được thỏa mãn và ngày càng đượcđáp ứng tốt hơn bởi pháp luật và bộ máy công quyền nói chung,pháp luật đầu tư và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đầu tưnói riêng Pháp luật đầu tư của nước ta là câu chuyện cũ nhưngvẫn còn được nhắc tới và hoàn thiện từng ngày từng giờ, kinh tếViệt Nam đang dần chuyển mình để hội nhập, song vẫn còn đâu

đó những tàn tích của thời kỳ trước Không phải không có nhữngbất cập trong khâu lập pháp, điều đáng nhìn nhận ở đây là nhữngthay đổi vượt bậc để đưa nền kinh tế thuần nông trước đây thànhnền kinh tế thị trường định hướng XHCN Song có lẽ kinh tế ViệtNam sẽ cần hơn nữa sự bồi đắp hoàn thiện những khiếm khuyết,hoàn thiện và tối ưu hóa, chuyên nghiệp hóa bộ máy công quyền

về quản lý đầu tư thông qua việc tập hợp, rà soát và phát điển hóacác quy phạm pháp luật về đầu tư

2 Cơ sở chính trị - pháp lý của pháp luật đầu tư Việt Nam.

Pháp luật là sự phản ánh các quy luật kinh tế và thực trạngkinh tế xã hội của chúng ta trong giai đoạn hiện nay với nhữngđặc điểm dễ có thể nhận ra Tuy nhiên, nếu chỉ nói đến sự ảnhhưởng đó không thôi thì thực sự là một thiếu sót vì ngoài việc bịquy định bời các yếu tố kinh tế, pháp luật nói chung và pháp luậtđầu tư nói riêng còn mang trong mình những đặc trưng, nhữngkhởi nguồn chính trị - pháp lý Ảnh hưởng của yếu tố chính tri,pháp lý được đề cập ở đây là sự ảnh hưởng của các văn kiện, chủ

trương, đường lối, chính sách mang tính “ tiên phong” của Đảng

làm tiền đề vật chất cho sự ra đời và đâm chồi vào đời sống kinh

tế - xã hội của các đạo luật, các học thuyết pháp lý, các tư tưởnglập pháp, các đạo luật được du nhập Việc xây dựng ban hành cácvăn bản quy phạm pháp luật có thể chịu ảnh hưởng ở những mức

Trang 16

độ khác nhau tùy vào bối cảnh “ khai sinh” của nó Tuy nhiên, sự

ảnh hưởng đó là một thực tế rất khách quan, không thể phủ nhận Trước hết, chúng ta cần xem xét đến hệ thống các văn kiện củaĐảng trong giai đoạn đổi mới có những ảnh hường quan trọng nhưthế nào đối với sự hình thành và ra đời của hệ thống pháp lý vềđầu tư tại Việt Nam Như các phần trên đã trình bày, pháp luật vềđầu tư được manh nha từ những năm cuối thập kỷ 70 với sự ra đờicủa Điều lệ đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định 115/

CP ngày 18/4/1977 Theo đó, Chính phủ Việt Nam chấp thuận đầu

tư trực tiêp nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọngđộc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cùa Việt Nam và các bêncùng có lợi mà không phân biệt chế độ kinh tế chính trị của quốcgia, của nhà đầu tư

Mục đích khuyến khích đầu tư nước ngoài đã được thể hiện mộtcách rõ ràng Trong bối cảnh của nền kinh tế kế hoạch tập trung,nhưng Điều lệ đầu tư năm 1977 đã tạo ra một môi trường pháp lýđặc thù của một nền kinh tế tự do đối với hoạt động đầu tư nướcngoài tại Việt Nam

Thực ra, xu hướng thu hút đầu tư nước ngoài cũng đã được gợi

mở ngay tại bản “Phương hưởng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu

của kế hoach 5 năm 1976 - 1980” Tại văn kiện này, chúng ta đã

nhấn mạnh rất rõ: Trong kể hoạch 5 năm này phải cải tiến chínhsách giá cả, chính sách tiền lương và thu nhập, giải quyết đúngđắn mối quan hệ giữa giá cả, tiền lương và sức mua của đồngtiên, cài tiến chính sách đầu tư, cải tiến các chính sách khuyếnkhích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, cải tiến tổchức và phương thức hoạt động của thương nghiệp, tài chính,ngân hàng

Tẩt cả những việc cải tiến này phải được tiến hành đồng bộ vàphải nhằm phục vụ sản xuất Tiếp đó, văn kiện này cũng nhấn

mạnh: “Trong khi dựa vào sức mình là chính để phát huy tới mức

cao nhất năng lực sản xuất hiện có, chúng ta ra sức tăng cường quan hệ kinh tế với các nước Xã hội chủ nghĩa anh em và với các nước khác” Như vậy có thể nhận thấy rằng mặc dù còn chưa thực

sự mạnh dạn trong việc khẳng định phải thúc đẩy đầu tư nướcngoài tại Việt Nam trong giai đoạn này như một sự cần thiếtkhách quan của một nền kinh tế lạc hậu thuần nông muốn vươn

lên, như một “cú hích” từ ngoại lực bên ngoài để vực dậy nền

kinh tế vốn đã bị chiến tranh giày xéo làm cho ốm yếu, nhưng

tinh thần của bản “Phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu

của kế hoach 5 năm 1976 - 1980 ” đã thể hiện sự cần thiết phải có

sự đổi thay từ bên trong thiết chế thông qua việc “ cải tiến chính

sách đầu tư” và tăng cường hơn nữa các quan hệ kinh tế với nước

ngoài để tăng cường đầu tư cho sản xuất hàng hóa, cung ứng các

Trang 17

Tiếp theo tinh thần của các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IV, Đại hội Đảng V tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải

tạo ra một khung pháp lý về đầu tư, cụ thể là tại “ Phương hướng,

nhiệm vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế và xã hội trong 5 năm (1981 - 1985) và những năm 80”

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ V đã khẳng định: “ Sớm ban hành các

chính sách về đầu tư, về tín dụng, về cung ứng nguyên liệu, phế liệu, về tiêu thụ sản phẩm, về giá cả Tăng cường trang bị kỹ thuật, bảo đảm cung ứng vật tư, tạo thêm nguồn nguyên liệu trong nước, mở rộng kinh doanh xuất, nhập khẩu và hợp tác sản xuất với nước ngoài; phân công và hiệp tác sản xuất hợp lý trong từng ngành, từng địa phương và trong cả nước, vận dụng các đòn bẩy kinh tế để khuyến khích đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, đặc biệt là phát triển rộng rãi tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp,

từ những ngành, nghề cổ truyền đến những ngành, nghề mới ”

Tinh thần này được tiếp tục củng cố và khẳng định tại Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 Tại bản

“Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong

5 năm 1986-1990” Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của

Đảng đã khẳng định: “ Nhất thiết phải sắp xếp lại các cơ sở sản

xuất hiện có, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, bổ trí hợp lý quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, đẩy mạnh cải tạo xã hội chù nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, nhằm khai thác mọi khả năng phát triển sản xuất, nhất là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp và mở mang dịch vụ”.

Bước vào thập kỷ 1980, nước ta lâm vào tình trạng khủnghoảng kinh tế trầm trọng, cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, baocấp đã cản trờ sự phát triển của nền kinh tế Rất nhiều các đơn vịkinh tế sản xuất cầm chừng, thậm chí đóng cửa hoặc giải thể, đổ

vỡ tín dụng liên tiếp xảy ra ở nhiều nơi gây ảnh hưởng rất xấu tớitình hình kinh tế xã hội Trong khi đó, hàng loạt các ngành có ưuthế như: công nghiệp chế biến, công nghiệp tiêu dùng, gia cônglắp ráp lại không được Nhà nước quan tâm đúng mức, cơ sở kỹthuật lạc hậu và tất cả đều ở trong tình trạng thiểu vốn trầmtrọng Năm 1986 lạm phát lên tới trên 700%

Trang 18

Đứng trước bối cảnh đất nước như vậy, Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VI đã đề ra những chính sách hết sức đúng đắn, đánh dấubước chuyển biến quan trọng, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi

khủng hoảng, mở ra công cuộc " đổi mới" toàn diện trên mọi mặt

của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế Cụthể hoá đường lối chỉ đạo của Đảng là mở rộng giao lưu quốc tế

để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đấtnước Do vậy, thực hiện Nghị quyết số 19 của Bộ Chính ữị ngày17/7/1984 và Nghị quyết Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ươnglần thứ 7 (khoá V) ngày 20/12/1984 về việc bổ sung và hoàn thiệnĐiều lệ đầu tư đã ban hành năm 1977, tiến tới xây dựng một bộLuật Đầu tư hoàn chỉnh, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 8 đãthông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Sau đây gọi làLuật Đầu tư nước ngoài năm 1988) Có thể nói sự ra đời của LuậtĐầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1988 xuất phát từ những yêucầu khách quan của sự vận động xã hội, nó đã tạo ra được mộtmôi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam

Luật Đầu tư nước ngoài năm 1988 được soạn thảo dựa trên nộidung cơ bản của Điều lệ đầu tư năm 1977, xuất phát từ thực tiễnViệt Nam và tham khảo kinh nghiệm của các nước khác trên thếgiới Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1988 đã đáp ứngđược mong mỏi của các nhà đầu tư nước ngoài Để điều chỉnh hợp

lý hơn các quan hệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, luật này đãđược sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1993,1996 và 2000

Ngoài việc huy động các nguồn lực từ bên ngoài nhằm tạo ramột ngoại lực nhằm xoay chuyển thực tế khủng hoàn g của nềnkinh tể Tuy nhiên không thể dựa hoàn toàn vào các nguồn lực ấy

để mưu cầu một sự phát triển và thịnh vượng bền lâu đổi vởi nềnkinh tế Vì lẽ đó trong cơ cấu đầu tư của chúng ta cũng cần tậptrung hơn vào việc phát huy nội lực nhằm tạo ra một cơ cấu cânbằng hơn, hợp lý hơn đổi với nền kinh tế

Trong bản Phương hướng, nhiệm vụ và những mục tiêu chủyếu về kinh tế và xã hội trong 5 năm (1981 - 1985) và những năm

80 đã khẳng định: “Một mặt, phải tranh thủ các nguồn vốn bên

ngoài với mức cao nhất; mặt khác, ở trong nước, bằng những chủ trương và chính sách mới, chúng ta phát huy hơn nữa mọi khả năng về nguồn vốn của tất cả các ngành, các địa phương và cơ

sở, của các thành phần kinh tế Nguồn vốn ấy phải được khai thác từ những thế mạnh hiện có của nền kinh tế ”.

Xuất phát từ nhu cầu mang tính khách quan đó, đến năm 1994,chúng ta đã cho ra đời Luật khuyến khích đầu tư trong nước(được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1988 và 2000) Kể từ thờiđiểm này các hoạt động đầu tư trong nước được khoác lên mình

Trang 19

một chiếc áo pháp lý mới để có thể đứng cạnh các hoạt động đầu

tư nước ngoài vốn đã nhận được nhiều ưu ái về điều chỉnh pháp

lý Cho đến thời điểm này, pháp luật đầu tư điều chỉnh hai lĩnhvực song song là đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước Trong

“Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 ”, Đảng ta cũng

đã thừa nhận yêu kém đó là: môi trường đầu tư, kinh doanh cònnhiều vướng mắc, chưa tạo điều kiện và hỗ trợ tốt cho các thànhphần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh

Đảng và nhà nước ta đã nhận thức rõ về nhu cầu khách quanhiện nay là việc cần hình thành một cơ chế đầu tư mới bình đẳng

và công bằng hơn khuyến khích đầu tư, nhằm phát triển kinh tếtrong nước vốn đang rất cần vốn Đây chính là yếu tố chính trịquan trọng khiến Đảng ta đi tới việc hợp nhất luật đầu tư nướcngoài và luật khuyến khích đầu tư trong nước thành một bộ luậtthống nhất Luật đầu tư 2005 Kể từ thời gian này các vấn đề vềđầu tư mới được điều chỉnh bằng một bộ luật chung và thốngnhất Bằng bước phát triển này, thì môi trường đầu tư cũng được

mở rộng hơn, các vấn đề về đầu tư được cụ thể hóa, bình đẳngtrong mặt chính sách, tạo cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam

Cơ sở kinh tế hay cơ sở pháp lý trên đây đều cho thấy sự ảnhhưởng của thể chế, chính sách tới vấn đề phát triển đầu tư và

ngược lại những nhu cầu cấp thiết của xã hội, “ sức nóng” về môi

trường đầu tư, xu thế hội nhập tất yếu cũng là bước đệm để hìnhthành pháp luật đầu tư Mối quan hệ , ảnh hưởng của hai lĩnh vựcnày là song hành và tương tác với nhau Việc hoàn thiện khungpháp lý là cơ sở hạ tầng cho một xã hội Việt Nam mới, đangchuyển mình để đón gió đầu từ đầy mạnh bạo, tích cực Khungpháp lý thông thoáng cùng chính sách điều phối hoàn thiện, bộmáy công quyền phục vụ chuyên nghiệp luôn là vấn đề mà cácnhà đầu tư mong mỏi

Từ những nhận thức đúng đắn, Đảng và chính phủ ta đã có

những bước đi táo bạo mà chính xác Với khẩu hiệu “ Việt Nam

muốn làm bạn với các nước trên thế giới ” sự ra đời của luật đầu

tư 2005 đã đẩy mạnh kinh tế nói chungvà kinh tế đầu tư nói riêng.Điều này, cũng cho thấy những thay đổi đúng với thời cuộc, tằngnguồn vốn cho hoạt động đầu tư sản xuất, tận dụng vốn đầu tưkhông chỉ trong mà còn ngoài nước, yếu tố cần thiết cho nền kinh

tế đang phát triển của nước ta

3 Sự ra đời và phát triển của luật đầu tư tại Việt Nam.

Sự ra đời của bản Điều lệ về đâu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam năm 1977.

Trang 20

Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nóiriêng là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Trong nhữngđiểu kiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, chính trị, tư tướng hết sứckhác biệt so với hiện nay Văn bản có tính pháp quy đầu tiên về

đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã được ban hành Đó là " Điều

lệ đầu tư nước ngoài ở nước CHXHCNVN " được ban hành kèm

theo Nghị định số I 15/HĐCP ngày 18/04/1977 của Hội đổngchính phủ Mặc dù được ban hành nhưng thực tế trong khoáng

thời gian gần 10 năm, bán Điều lệ này đã bị " lãng quên" do tính

bất câp cá về mặt chủ quan và khách quan của nó

Ở thời điểm đó, nền kinh tế nước ta vần đang áp đụng cơ chếquản lý ở dạng tập trung, quan liêu, bao cấp và cơ cấu nền kinh tếchí dựa trên hai hình thức sở hữu chính là sở hữu Nhà nước và sởhữu tập thể Do vậy không thể tồn tại một môi trường kinh doanh,môi trường pháp ]ý, thị trường vốn cho các hoạt động của nềnkinh tế thị trường Bên cạnh đó về phương diện chính trị, nước talúc đó đang nằm trong khối xã hội chủ nghĩa bị Mỹ tiến hành baovây cấm vận, chúng ta chưa có mối quan hệ tốt đẹp với các nướcASEAN và các nước ngoài khối XHCN khác

Thuế, thuế suất lợi tức đối với doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài được quy định từ 30-50% Nghị định số I 15/CP tuychưa phải là văn bản có hiệu lực cao nhất trong hệ thống phápluật Việt Nam nhưng nó đã thể hiện phần nào thái độ của Nhànước Việt Nam mong muốn có sự đầu tư của các nhà đầu tư nướcngoài và là một văn bán chứa đựng nhưng quy định mang tính thửnghiệm táo bạo ở thời điểm đó Mặc dù Nghị định số 115/CPkhông phát huy được hiệu quá của nó nhưng có thể nói đó là bướcđầu tiên của nhận thức và các kỹ thuật lập pháp đối với các vấn

đề đầu tư nước ngoài

Luật đầu tư nước ngoài năm 1987

Đại hôi Đảng toàn quốc lẩn thứ VI năm 1986 đã mở ra mộtđường lối đổi mới đất nước, đặc biệt là đổi mới tư duy về quản lýkinh tế Từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp chuyển sang pháttriển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lýcủa Nhà nước Cùng với sự đổi mới trong các chính sách kinh tế,

hê thống pháp luật nước ta cũng từng bước được xây dựng vàhoàn thiện Chi trong một thời gian ngắn hàng loạt các đạo luật rađời như Luật đầu tư nước ngoài 1987, Luật Công ty 1990, Luật,doanh nghiệp tư nhân 1990, đã nhanh chóng rạo ra một môitrường thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp được cạnh tranhmột cách bình đẳng khi bước đầu chuyển nền kinh tế sang cơ chế

Trang 21

thị trường

Luật đầu tư nước ngoài Việt Nam năm 1987 không chi là vănbản dưới hình thức Luật đầu tiên điều chinh các quan hệ đầu tưtrực tiếp nước ngoài mà nó còn mang ý nghĩa đạo luật của thời

"mở cửa" và "đổi mới" thế hiện mong muốn của Nhà nước Việt

Nam thực sự kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ViệtNam

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã có nhữngqui định về các vấn đề cơ bản sau:

Về lĩnh vực đầu tư: Cho phép các tổ chức, các nhân nướcngoài đầu tư vốn và kỹ thuật trong các lĩnh vực của nền kinh tế

- Qui định ba hình thức đẩu tư: 1 Hợp đồng hợp tác kinhdoanh

Lập xí nghiệp Liên doanh , Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài

- Nhà nước cam kết báo vệ quyền lợi của các nhà đầu tưnước ngoài

Quy định các biện pháp khuyến khích đầu tư như:

+ Áp dụng mức thuế lợi tức ưu đãi với các dự án đầu tư

+ Miễn, giảm thuế đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu

tư nước ngoài

- Hoàn trà thuế lợi tức đối với phần lợi nhuận tái đầu tư

+ Miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị…

+ Miễn thuê nhập khâu đối với băng phát minh, sáng chế Bíquyết kỹ thuật, qui trình công nghệ do bên nước ngoài góp vốn

Luật đầu tư nước ngoài ở nước ngoài Việt Nam năm 1987 đãthể hiện được tính khách quan của thời kì mới đổi mới, tạo điềukiện mới cho hoạt động đầu tư Sau đó luật đầu tư nước ngoài

1987 còn được bổ sung sau hai năm thực hiện thêm nhiều điểmtích cực mới như:

hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài;

- Mở ra hình thức hơp tác kinh doanh nhiều bên và liêndoanh nhiều bên;

- Thời han hoạt động cùa doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiêpnước ngoài là 50 năm

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đượcphép mở tài khoản vốn vay tại Ngàn hàng nước ngoài:

- Bổ sung qui định về BOT

- Qui định nguyên tắc không hồi tố

Qua hai lần sửa đổi, bổ sung, Luật đầu tư nước ngoài đã từng

Trang 22

bước được hoàn thiện, tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng đầu tư sản xuất kinh doanh, phần nào đáp ứng được mongđợi cúa nhà đẩu tư nước ngoài tại thời điếm đó.

Luật đầu tư nước ngoài năm 1996

Từ năm 1992 sau khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, cùng với một loạtcác bộ luật, các văn bản dưới luật khác đã tạo ra một môi trườngpháp luật thuận lợi hơn rất nhiều cho các nhà đầu tư trực tiếpnước ngoài Tuy nhiên đế đáp ứng hơn nữa yêu cầu ngày càng caocủa việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Tuynhiên để đáp ứng hơn nữa yêu cầu ngày càng cao của việc thu hút

và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đáp ứng yêu cầu mớitrong thời kỳ mới Khi Việt Nam là một thành viên của ASEAN

và việc Mỹ xóa bỏ cấm vận đối với Việt Nam thì yêu cầu đặt ra làphải có một bộ luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài tại Việt Nam hoàn chỉnh hơn

Ngày 12/11/1996 [25,4]4 Quốc Hội đã thông qua Luật đầu nướcngoài tại Việt Nam, thay thế cho Luật Đầu tư nước ngoài ViệtNam năm 1987 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luậtđầu tư ở nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào các năm

1990, 1992 [25,5]5 Luật đầu tư nước ngoài tại viêt Nam năm 1996 bao gồm 6chương, 68 điểu, bao gồm nhiều qui định bao trùm liên quan vàchi phối hoạt động đầu tư tiếp nước ngoài tại Viêt Nam, cụ thể:

Những vấn đề định hướng, quan điếm và chính sách thu hútvốn đầu tư nước ngoài

Những vấn đề về hình thức đầu tư

Những vấn đề quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài, cúa nhà đấu tư nước ngoài

Những vấn đề về tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp có vốnđâu trực tiếp nước ngoài

Những vấn đề vể quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếpnước ngoài

So với Luật đầu tư 1987 và các Luật sửa đổi, bổ sung năm

1990 1992 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 trướchết đã kế thừa, thống nhất toàn bộ ba luật trên, tạo ra một khungpháp lý hoàn chỉnh hơn theo hướng tăng cường hơn nữa các biện

4 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1996 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam.

5 Như trên.

Trang 23

pháp ưu đãi và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằmhoàn thiện hành lang pháp lý Cải thiện môi trường đầu tư để thuhút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với số lượng và chất lượngcao hơn Luật đầu từ năm 1996 là bước phát triển tiếp theo củacon đường hình thành luật đầu tư tại Việt Nam.

Những sửa đổi bổ sung để hình thành bộ Luật đầu tư 2005 thống nhất và hoàn chỉnh hiện hành.

Ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đâygọi tắt là Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000), đã bổ sung

2 điều mới và sửa đổi, bổ sung 20 điều của Luật Đầu tư nướcngoài năm 1996 Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 đãđưa ra nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khókhăn, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài Có thể nói, các quy định của Luật Đầu tư nước ngoài sửađổi năm 2000 đã tạo điều kiện xích gần hơn giữa đầu tư trongnước và đầu tư nước ngoài, tạo thế chủ động trong tiến trình hộinhập và đảm bảo các cam kết quốc tế, làm cho môi trường kinhdoanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn so với trước đây

và so với một số nước trong khu vực

Những nội dung của Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000tập trung vào 3 nhóm vấn đề với 14 nội dung chủ yếu sau đây:

Nhóm vấn đề thứ nhất: Tháo gỡ kịp thời những khó khăn,

vướng mắc và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Về cân đối ngoại tệ và mở tài khoản (Điều 33,35)

Về việc thế chấp quyền sử dụng đất và đền bù, giải phóng mặtbằng (Điều 46)

Về nguyên tắc không hồi tố (Điều 21)

Về cam kết bảo đảm, bảo lãnh của Chính phủ và áp dụng Luậtnước ngoài ( Điều 66)

Nhóm vấn đề thứ hai: Mở rộng quyền tự chủ trong tổ chức quản

lý, kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; xoá

bỏ sự can thiệp không cần thiết của cơ quan Nhà nước vào hoạtđộng bình thường của doanh nghiệp

Trang 24

Quyền chuyển nhượng vốn (Điều 34).

Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài và Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Điều 52)

Thanh lý, phá sản doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài(Điều 53)

Quy định về thành lập các quỹ của doanh nghiệp (Điều 41)

Thủ tục đầu tư và quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài (cácĐiều 55, 59, 60, 63 và 64)

Nhóm vần đề thứ ba: Bổ sung một số ưu đãi về thuế đối với dự

án đầu tư nước ngoài nhằm tăng cường tính hấp dẫn và cạnh tranhcủa môi trường đầu tư Việt nam; cụ thể là:

Về việc miễn, giảm thuế nhập khẩu (Điều 47)

Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (Điều 43, 44)

Quy định về chuyển lỗ (Điều 40)

Tóm lại :

Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 đã đưa ra nhiều quyđịnh mới nhằm tháo gỡ những vướng mắc khó khăn, giảm thiểurủi ro cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài liên quanđến các cơ chế, chính sách về thuế, ngoại tệ, đất đai, thế chấp, xử

lý tranh chấp, bảo đảm, bảo lãnh đối với các dự án quan trọng

Nhằm thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn với chất lượng caohơn, Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 cũng đã bổ sungthêm các biện pháp khuyến khích ưu đãi đầu tư hơn trước trên cơ

sở luật hoá các văn bản dưới luật đã ban hành; làm cho môitrường kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn thông thoáng hơn so vớitrước đây và so với một số nước trong khu vực

Trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến tổ chứchoạt động doanh nghiệp, thu hẹp nguyên tắc nhất trí; cho phépchuyển đổi, hợp nhất, sáp nhập, chia tách doanh nghiệp; xử lý cácvướng mắc về thuế GTGT; đưa ra các nguyên tắc không hồi tố, ápdụng pháp luật nước ngoài, bảo đảm, bảo lãnh đầu tư , Luật Đầu

tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 cũng đã tạo điều kiện xích gầnhơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài và tạo thế chủđộng trong tiến trình hội nhập và đảm bảo các cam kết quốc tế

Luật đầu tư năm 2005

Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp

lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo " một

sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư;

Trang 25

đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và

sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạtđộng đầu tư Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư và cóhiệu lực từ 1/7/2006, Luật Đầu tư 2005 thay thế Luật Đầu tư nướcngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Tiếp đó, Chínhphủ đã ban hành NĐ 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy địnhchi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Đầu tư (Nghị định108)

Khác cơ bản với Luật Đầu tư nước ngoài trước đây, Luật Đầu

tư năm 2005 được thiết kế theo hướng chỉ quy định các nội dungliên quan đến hoạt động đầu tư, còn các nội dung liên quan đến

cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp thì chuyển sangLuật Doanh nghiệp điều chỉnh, các mức ưu đãi về thuế chuyểnsang quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và các nội dungmang tính chất đặc thù thì dẫn chiếu sang pháp luật chuyênnghành điều chỉnh

Dưới đây xin nêu một số nội dung cơ bản của Luật Đầu tư vàNghị định 108, cụ thể như sau:

Về những quy định chung:

Về việc áp dụng pháp luật, pháp luật đầu tư 2005 quy địnhtrường hợp pháp luật Việt Nam được ban hành sau khi Việt Nam

là thành viên của các điều ước quốc tế có quy định thuận lợi hơn

so với điều ước quốc tế thì nhà đầu tư có quyền lựa chọn việc ápdụng theo điều ước quốc tế hoặc pháp luật Việt Nam

Về ngôn ngữ sử dụng, pháp luật đầu tư 2005 quy định hồ sơ dự

án đầu tư và các văn bản chính thức gửi các cơ quan nhà nướcViệt Nam làm bằng tiếng việt; đối với hồ sơ dự án có vốn đầu tưnước ngoài thì hồ sơ và các văn bản trên làm bằng tiếng Việt hoặctiếng Việt và tiếng nước ngoài thông dụng Trong trường hợp có

sự khác nhau giữa văn bản tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bảntiếng Việt được áp dụng

Ngoài ra, nhằm bảo đảm khả năng bao quát, không chồng lấnvới các luật chuyên ngành, pháp luật đầu tư 2005 quy định hoạtđộng đầu tư đặc thù được quy định trong pháp luật chuyên ngànhthì áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó Quyđịnh như vậy nhằm bảo đảm thực tế có một số luật chuyên ngànhquy định về chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, tài chính đã vàđang được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành

Về giải thích từ ngữ: Nghị định 108 đã bổ sung các thuật ngữ

“dự án đầu tư mới”, “dự án đầu tư mở rộng” để nhà đầu tư biết rõ

trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư của mình mà có liên

Trang 26

quan đến ưu đãi đầu tư [11,6]6.

Về hình thức đầu tư:

So với Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tưtrong nước trước đây thì pháp luật đầu tư 2005 quy định rõ hơn

về những hình thức đầu tư như: Thành lập tổ chức kinh tế 100%

vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tưnước ngoài;

Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trongnước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồngBCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư pháttriển kinh doanh; Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lýhoạt động đầu tư; và Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lạidoanh nghiệp Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chức kinh

tế bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nướcngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và/hoặcvới nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100%

vốn đầu tư nước ngoài mới theo quy định của pháp luật về doanhnghiệp Nhà đầu tư cũng có thể đầu tư thành lập tổ chức kinh tếliên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài,doanh nghiệp liên doanh trên được tiếp tục liên doanh với nhàđầu trong nước và nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổchức kinh tế mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp và phápluật có liên quan

Đối với hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tế để thựchiện dự án đầu tư, pháp luật đầu tư 2005 quy định nhà đầu tưtrong nước có dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tếthì thực hiện việc đăng ký kinh doanh theo quy định của LuậtDoanh nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tưtheo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định 108 Quy định nhưtrên nhằm bảo đảm sự thuận lợi cho hoạt động đầu tư trong nước

Bên cạnh đó, pháp luật đầu tư 2005 còn có quy định nhà đầu tưnước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư vàthực hiện thủ tục đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư;

Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh Một điểm khác so với quy định trước đây, được coi làmột điểm mở rất thoáng và mới đối với hoạt động đầu tư nướcngoài, đó là đối với nhà đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấychứng nhận đầu tư tại Việt Nam, nếu nhà đầu tư có dự án đầu tưmới mà không thành lập pháp nhân mới thì chỉ thực hiện thủ tụcđầu tư để cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luậtđầu tư 2005; nếu nhà đầu tư có dự án đầu tư mới gắn với việcthành lập pháp nhân mới thì thực hiện thủ tục thành lập tổ chức

6 Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ “V/v quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư”

Trang 27

kinh tế và thủ tục đầu tư theo quy định như đối với đầu tư trongnước

Ngoài ra, để bảo đảm tính linh hoạt của hoạt động đầu tư củanhà đầu tư, Nghị định có quy định về chuyển đổi hình thức đầu tưcủa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo đó, nhà đầu tưnước ngoài trong quá trình hoạt động của mình được tự do chuyểnđổi giữa các hình thức đầu tư để phù hợp với tình hình sản xuấtkinh doanh mà không bị cấm hoặc hạn chế

Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư:

Pháp luật đầu tư 2005 đã cụ thể hóa những nội dung về quyền

và nghĩa vụ của nhà đầu tư, theo đó nhà đầu tư có quyền tự chủđầu tư kinh doanh, quyền tiếp cận các nguồn lực đầu tư, sử dụngnguồn vốn tín dụng, đất đai và tài nguyên, quyền sử dụng laođộng, quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ, quyền xuất khẩu, nhậpkhẩu, quảng cáo, gia công, gia công lại,

Lĩnh vực, địa bàn ưu đãi và hỗ trợ đầu tư:

* Lĩnh vực ưu đãi và địa bàn ưu đãi đầu tư, pháp luật đầu tư

2005 được xây dựng căn cứ vào các mục tiêu, tình hình phát triểnkinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhằm thu hút đầu tư tạo nênđòn bẩy kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực và địabàn mà nhà nước ưu đãi

- Lĩnh vực đầu tư ưu đãi tập trung các ngành sản xuất vật liệumới, năng lượng mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ tinhọc, công nghệ thông tin; phát triển nuôi trồng, chế biến nônglâm, hải sản, bảo vệ môi trường; nghiên cứu phát triển và ươm tạocông nghệ cao, đầu tư vào nghiên cứu phát triển, sử dụng nhiềulao động và phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp v.v

- Địa bàn ưu đãi đầu tư được thiết kế áp dụng cho các địaphương dựa trên các tiêu chí về thu nhập kinh tế quốc dân, về tỷ

lệ đói nghèo, về cơ sở hạ tầng, về mức độ tăng trưởng côngnghiệp, về chính sách phát triển vùng và hài hòa các vùng

* Về áp dụng ưu đãi đầu tư, pháp luật đầu tư quy định nhà đầu

tư đã được hưởng ưu đãi theo quy định của Luật Khuyến khíchđầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, LuậtHợp tác xã và các luật thuế được tiếp tục hưởng các ưu đãi đầu tưtheo Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư đãcấp Đối với dự án đầu tư thực hiện trước ngày Luật Đầu tư cóhiệu lực thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định 108thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư cho thời gian ưu đãi cònlại kể từ ngày Nghị định 108 có hiệu lực

Các ưu đãi đầu tư được ghi vào Giấy chứng nhận đầu tư nhằm

Trang 28

bảo đảm cho nhà đầu tư yên tâm khi thực thực hiện hoạt động đầu

tư của mình Đồng thời, để bảo đảm nhà đầu tư yên tâm tronghoạt động đầu tư, pháp luật đầu tư có quy định trường hợp phápluật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãicao hơn so với quyền lợi ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởngtrước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi cho thờigian ưu đãi còn lại (nếu có) kể từ ngày pháp luật, chính sách mới

đó có hiệu lực Ngoài ra, để bám sát các vấn đề thực tế đã phátsinh trong ưu đãi đầu tư, pháp luật đầu tư có quy định về điềuchỉnh, bổ sung ưu đãi đầu tư

* Về hỗ trợ đầu tư: các hỗ trợ đầu tư về chuyển giao công nghệ,đào tạo, tư vấn đầu tư, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng khu côngnghiệp, khu chế xuất được tiếp tục cụ thể hóa hơn trong pháp luậtđầu tư 2005

* Lĩnh vực đầu tư có điều kiện quy định trong Luật Đầu tư vàNghị định 108 là các điều kiện gia nhập thị trường mà nhà đầu tưphải đáp ứng, không bao gồm các điều kiện hoạt động mà nhà đầu

tư phải bảo đảm trong quá trình hoạt động kinh doanh Các lĩnhvực đầu tư có điều kiện này phải tuân thủ các quy định về lĩnhvực đầu tư có điều kiện quy định tại Điều 29 của Luật Đầu tư vàcác lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật có liên quan; chủyếu là lĩnh vực đầu tư có tác động đến trật tự an toàn xã hội, antoàn tài chính, một số lĩnh vực dịch vụ đặc thù liên quan đến mởcửa thị trường và các lĩnh vực có tác động rộng rãi đến cộngđồng Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư là

cơ sở chung, thống nhất cho việc áp dụng các chính sách ưu đãiđầu tư

- Lĩnh vực cấm đầu tư trong dự thảo được quy định cụ thể hơn

so với quy định trong Luật Đầu tư về dự án gây phương hại đếnquốc phòng, an ninh quốc gia và lợi ích công cộng, về dự án gâyphương hại đến di tích lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹtục của Việt Nam, dự án gây tổn hại đến sức khỏe nhân dân, làmhủy hoại tài nguyên, phá hủy môi trường và các dự án xử lý phếthải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hóachất độc hại hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo điều ướcquốc tế

Về thủ tục đầu tư trực tiếp:

Điểm mới của pháp luật đầu tư năm 2005 là chủ trương phâncấp mạnh cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý Khu Côngnghiệp, Khu chế xuất, Khu Công nghệ cao và Khu kinh tế (sauđây gọi là Ban quản lý) cấp Giấy Chứng nhận đầu tư cũng nhưquản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủtướng Chính phủ Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên

Trang 29

tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch hoặcchưa có quy hoạch Những dự án đã có trong quy hoạch đượcduyệt và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật vàđiều ước quốc tế thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý cấpGiấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ tướng Chínhphủ quyết định chủ trương đầu tư Các dự án còn lại sẽ do Uỷ bannhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý tự quyết định và cấp Giấychứng nhận đầu tư

Đối với các dự án đầu tư không nằm trong quy hoạch đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt hoặc dự

án không đáp ứng điều kiện mở cửa thị trường quy định tại điềuước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thì cơ quan cấp Giấychứng nhận đầu tư chủ trì, lấy ý kiến Bộ quản lý ngành, Bộ Kếhoạch và Đầu tư và các cơ quan có liên quan trình Thủ tướngChính phủ quyết định việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hoặcquyết định mở cửa thị trường Đối với dự án đầu tư thuộc lĩnhvực chưa có quy hoạch, thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tưlấy ý kiến của các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chínhphủ quyết định chủ trương đầu tư

Việc phân cấp cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho Uỷ ban nhândân cấp tỉnh và Ban quản lý là một chủ trương thực hiện cải cáchhành chính trong quản lý kinh tế và đã được đúc rút, tổng kếttrong nhiều năm qua Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý là

cơ quan quản lý trực tiếp các nguồn lực đầu tư về đất đai, laođộng, môi trường, quy hoạch và nắm sát nhất điều kiện, tình hìnhthực hiện các dự án đầu trên địa bàn Việc phân cấp mạnh cho Uỷban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý còn nhằm tiến tới xóa bỏ cơquan chủ quản, tạo điều kiện cho các bộ, ngành quản lý nhà nướctập trung thực hiện chức năng hoạch định chính sách, dự báo,kiểm tra, giám sát

Về thủ tục đăng ký và thẩm tra đối với dự án đầu tư pháp luậtđầu tư cũng quy định đơn giản hơn nhiều và trách nhiệm thẩm tracủa các bộ, ngành liên quan đến dự án đầu tư cũng được quy định

cụ thể hơn so với trước đây; điều đó tạo thuận lợi cho Uỷ bannhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý trong việc xem xét cấp Giấychứng nhận đầu tư

Đối với việc điều chỉnh dự án đầu tư, pháp luật đầu tư quyđịnh khi điều chỉnh dự án đầu tư liên quan đến mục tiêu, quy mô,địa điểm, hình thức, vốn và thời hạn thực hiện dự án đầu tư, nhàđầu tư phải làm thủ tục tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ để làm thủ tụcđiều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư Việc điều chỉnh dự án đầu tưđược thực hiện theo một trong các quy trình: (1) không phải làmthủ tục đăng ký điều chỉnh hoặc thẩm tra điều chỉnh dự án đầu tư(2) Đăng ký điều chỉnh dự án đầu tư; (3) Thẩm tra điều chỉnh dự

Trang 30

án đầu tư

Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước:

Nhằm cụ thể hoá các quy định về đầu tư, kinh doanh vốn nhànước (Chương VII của Luật Đầu tư) dự thảo có quy định một sốcác nguyên tắc về thủ tục sử dụng vốn nhà nước để đầu tư kinhdoanh (vốn ngân sách nhà nước; vốn tín dụng đầu tư phát triểncủa nhà nước; vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh; vốn đầu tư pháttriển của doanh nghiệp nhà nước) Nội dung của các điều khoảnnày chỉ đề cập đến giai đoạn quyết định bỏ vốn của nhà nước đểđầu tư kinh doanh Sau khi quyết định bỏ vốn đầu tư kinh doanh,các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động đầu tư theo các quyđịnh của Luật Đầu tư và pháp luật có liên quan

Về triển khai thực hiện dự án đầu tư:

Về triển khai thực hiện dự án đầu tư, Luật Đầu tư và Nghị định

108 đã quy định rõ mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư và hoạtđộng xây dựng; về thuê quản lý; chuyển nhượng vốn và chuyểnnhượng dự án; điều chỉnh dự án đầu tư

Về quản lý nhà nước về đầu tư:

Pháp luật đầu tư 2005 quy định cụ thể quyền hạn và tráchnhiệm của từng cơ quan quản lý nhà nước, trong đó đặc biệt nhấnmạnh vai trò, trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trongquản lý hoạt động đầu tư Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là một đơn vịhành chính của trung ương tại địa phương, Uỷ ban nhân dân sẽthực hiện chức năng quản lý toàn diện về phát triển kinh tế - xãhội của địa phương, trong đó có cấp Giấy chứng nhận đầu tư vàquản lý hoạt động đầu tư trên địa bàn

Một số nội dung khác:

Để bảo đảm các hoạt động đầu tư không bị xáo trộn pháp luậtđầu tư 2005 quy định về nguyên tắc đăng ký lại đối với các dự ánđầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài Quy địnhviệc phải thực hiện ký quỹ hoặc bảo hiểm khách hàng khi triểnkhai thực hiện dự án đối với một số dự án có tác động đến lợi íchcủa cộng đồng như giáo dục, đào tạo, y tế

Ngoài ra, một điểm mới quan trọng của pháp luật đầu tư 2005

đó là Danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi trong Nghị định 108 sẽbãi bỏ và thay thế các danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đượcquy định trong các văn bản pháp luật khác như:

- Danh mục ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp của: Nghịđịnh 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 quy định chi tiết Luật

Trang 31

thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định 152/2004/NĐ-CP ngày06/08/2004 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 quy định chi tiết Luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp);

- Danh mục ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ban hànhkem theo Nghị định 149/2005/NĐ-CP ngày 06/12/2005 quy địnhchi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Trong khoảng 20 năm qua, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đãđạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp ngày càng lớnvào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng thị trườngxuất khẩu và tăng nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước, tạothêm thế và lực cho Việt Nam chủ động hội nhập với kinh tế khuvực và thế giới Trong những thành tựu to lớn của đầu tư nướcngoài có vai trò quan trọng của Luật Đầu tư nước ngoài Trongbối cảnh cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút vốn đầu tư nướcngoài ở khu vực và trên thế giới, Luật Đầu tư nước ngoài đã thực

sự trở thành “đòn bẩy” quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước

ngoài vào Việt Nam

Nghiên cứu toàn bộ lịch sử của sự hình thành và phát triển củapháp Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cho thấy, từ năm 1977cho đến nay, pháp Luật Đầu tư nước ngoài đã luôn luôn đượchoàn thiện, tạo dựng một khung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạtđộng đầu tư nước ngoài, trên cơ sở quán triệt quan điểm mở cửa,hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, phù hợp với thực tiễn và thông

lệ quốc tế Những đóng góp của đầu tư nước ngoài vào việc thựchiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước là một minhchứng khẳng định vai trò tích cực của pháp luật đầu tư nướcngoài

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

QUA THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

I Một Số Vấn Đề Pháp Lý Cơ Bản

1 Quá trình thực tiễn phát triển của hoạt động đầu tư Thái Nguyên

1.1 Sơ lược về tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là một thành phố thuộc trung tâm của vùng ĐôngBắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đồ Hà Nội, có diện tích gần3.500km2 và dân số 1,2 triệu người Thực hiện Nghị quyết sổ 37của Bộ chính trị, tỉnh Thái Nguyên đang phấn đấu để xứng đáng

là trung tâm của vùng Đông Bắc - Bắc Bộ về kinh tế, văn hoá,giáo dục và y tế, trở thành một trong những Trung tâm kinh tế có

uy tín của cả nước

Trong những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnhđược giữ vững ở mức binh quân hàng năm từ 10-12%; Cơ cấukinh tế theo hướng phát triền công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷtrọng nông nghiệp Năm 2008, dù bị ảnh hưởng nặng nề của cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu và lạm phát gia tăng, GDP của tỉnhThái Nguyên vẫn đạt 11,47%, thu ngân sách vượt kế hoạch 2 năm

- đạt hơn 1.200 tỷ đồng Đóng góp của những nhà đầu tư trongnước và quốc tế vào tỉnh Thái Nguyên có vai trò quan trọng trongquá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của địa phương[44,7]7

Tỉnh Thái Nguyên đang tích cực chỉ đạo thu hút đầu tư Trongđiều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, trong

02 năm 2007- 2008 Thái Nguyên đã thu hút hàng trăm dự án củanhà đầu tư hàng đầu quốc tế và trong nước đăng ký đầu tư vảo cáclĩnh vực như: Sản xuất lắp ráp ô tô, công nghệ điện tử, điện lạnh,

cơ khí chế tạo, chế biến khoáng sản, lâm sản, du lịch, dịch vụ,xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, đô thị mới thành công cóđược này là do công sức của tỉnh đã năng động trong kế hoạch và

7 Theo website http://baomoi.com/ số ra ngày 31/05/2008 bài báo “Số lượng dự án đầu tư vào Thái Nguyên tăng lên theo năm”

Trang 33

trong việc xây dựng cải thiện chính sách Từ đó tạo môi trườngđầu tư thông thoáng, hiệu quả thu hút nhà đầu tư trong và ngoàinước Bên cạnh những năng động trong môi trường đầu tư, chínhsách cởi mở Thái Nguyên còn có những lợi thế riêng của khu vựcmình:

Thái Nguyên có môi trường rất ổn định về an ninh, chính trị;điều kiện tự nhiên thuận hoà, ít bị ảnh hưởng của thiên tai; địahình đặc trưng của vùng Trung du Bắc bộ tương đối bằng phẳng,địa tầng địa chất ổn định thuận lợi cho xây đựng phát triển kinh

tế các loại hình công nghiệp

Thái Nguyên có vị trí địa lý rất thuận lợi cho đầu tư phát triểncác ngành nghề, lĩnh vực kinh tế đặc thù, vì tiếp giáp với thủ đô

Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài, cách không xa cảng biểnHải Phòng và kề cận với các tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc vềphía Bắc(tỉnh Lạng Sơn)

Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy liêntỉnh đều thuận tiện cho giao thương Hiện nay, các tuyến Quốc lộ

3, Quốc lộ 37, Quốc lộ 1A chạy qua, là huyết mạch nối Tỉnh TháiNguyên với thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận, trong tương lai gần

sẽ có Quốc lộ 3 mới đạt tiêu chuẩn đường cao tốc quốc tế Hệthống đường sắt đang nối Thái Nguyên, với thành phố Hà Nội,Thái Nguyên với tỉnh Bắc Giang, tương lai sẽ có hệ thống đườngsắt đi các tỉnh Lạng Sơn, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh vàmột số tỉnh phía Bắc tiếp cận với các tỉnh giáp Trung Quốc Hệthống đường sông cũng thuận tiện, nối cảng sông Đa Phúc củaTỉnh đến cảng Hải Phòng và Quảng Ninh

Dịch vụ điện, nước, Tài chính, Ngân hàng, bưu chính viễnthông trên địa bàn tỉnh đã đáp ứng rất tốt nhu cầu cho đầu tư pháttriển mạnh mẽ của Thái Nguyên

Bên cạnh đó, Thái Nguyên là một trong những cái nôi đào tạocủa cả nước, có nguồn nhân lực lao động dồi dào, trình độ taynghề cao Tỉnh là trung tâm giáo dục thứ 3 của cả nước hiện có 01Đại học vùng với 04 trung tâm 02 khoa, 03 viện, 01 nhà xuất bản

và 01 bệnh viện thực hành trực thuộc và 6 trường Đại học, 17trường cao đẳng chuyên nghiệp, hàng năm đào tạo hàng trămnghìn lao động cho vùng và cho cả nước

Đào tạo nhân lực có trình độ cao cho nhiều ngành nghề sảnxuât như: Khai thác, chế biến, nông nghiệp, công nghiệp, luyệnkim Đến năm 2010, tỉnh có 10 trường Đại học và 17 trường caođẳng chuyên nghiệp

Đất đai cho mục đích phát triển công nghiệp tại Thái Nguyêncòn nhiều, hiện nay đã có 08 Khu công nghiệp tập trung và 27Khu Cụm công nghiệp nhỏ được quy hoạch với trên 10.000 ha đấtdành cho thu hút đầu tư

Trang 34

Thái Nguyên là một tỉnh có nhiều tiềm năng để các nhà đầu tưlựa chọn đầu tư phát triển đa dạng các lĩnh vực về công nghiệp,xuất nhập khâu như: Sản xuất thép xây dựng, vật liệu xây dựng,may mặc, cơ khí, động cơ Diesel; về sản xuất nông lâm nghiệpnhư: Sản xuất chè, đồ gỗ ; về du lịch, dịch vụ như: Phát triểncác Khu du lịch lịch sử, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng với các địadanh nổi tiếng và đẹp như Hồ Núi Cốc, khu di tích lịch sử ATK(An Toàn Khu), hang Phượng Hoàng Ngoài ra Thái Nguyên còn

có tiềm năng về đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo và y tế mangtầm cỡ quốc tế [41,8]8

Thái Nguyên có truyền thống văn hoá lâu đời, mang đậm bảnsắc của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, có loài cây nổi tiếng nhưcây Chè, có nguồn nước và nguồn khí hậu nằm trong hệ sinhkhoáng Thái Bình Dương, phù hợp cho việc phát triển trồng cácloại cây dược liệu quý hiếm và phát triển các khu du lịch sinhthái

Tận dụng những thế mạnh vốn có của tỉnh nhà, cùng chínhsách đầu tư hiệu quả, sự quan tâm của nhà nước đã và đang làđộng lực để Thái Nguyên phát triển Nhận thức rõ thời cơ, chínhquyền tỉnh nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung đã đảnhnhanh công tác quy hoạch, phân bổ sử dụng đất, khai thác tàinguyên tạo môi trường đầu tư Tỉnh Thái Nguyên đang thựchiện nhiều chính sách nhằm cải tạo, thu hút đầu tư của trong vàngoài nước

1.2 Các hoạt động đầu tư trước đổi mới.

Trong một bối cảnh lịch sử có nhiều biến cố, nền kinh tế ởtrong giai đoàn dò đường, các yếu tố hội tụ nên một bộ mặt củamột khung pháp lý cho đầu tư quốc nội hầu như không cỏ gì đáng

kể Hoạt động đầu tư trong nước bó gọn trong việc phân bổ nguồnvốn, vật tư, nguyên liệu của nhà nước cho các đơn vị sản xuất đểtiến hành sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước Cơ sởpháp lý cho các hoạt động đầu tư công này xét cho cùng thì cũngchỉ là một số nội dung mang tính định hướng trong Hiến Pháp.Tại thời điểm này, chúng ta chưa có một văn bản Luật nào quyđịnh trực tiếp về các hoạt động đầu tư Quy trình đầu tư quốc nội

có điểm khởi đầu là các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các

kế hoạch, các nghị quyết của Đảng CSVN, tiếp đến là nghị quyếtcủa các cấp ủy và các quyết định hành chính cá biệt điều chỉnhtrưc tiếp việc đầu tư về nội dung, đối tượng, quy mô, yêu cầu

mà chúng ta vẫn gọi là các chỉ tiêu theo kế hoạch của nhà nước

Sự tham gia của các thiết chế tài chính vào quá trình đầu tư nói

8 Theo website: http://thainguyentrade.gov.vn/introduction/intro mục “Thái Nguyên và lợi thế phát triển đầu tư”

Trang 35

trên hầu như không có gì khác là việc cấp vốn, vật tư của nhànước cho các đơn vị trực tiếp tiến hành sản xuất thông qua các cơquan hành chính nhà nước và Ngân hàng nhà nước.

Thành tựu chung có thể nhận thấy rằng khung pháp lý điềuchỉnh hoạt động đầu tư trong nước thời kỳ trước đổi mới không

có gì đáng kể Có thể lý giải thực trạng này là do nhà nước chưathực sự có nhu cầu tạo ra và sử dụng các công cụ pháp lý để điềuchỉnh, cân đối, định hướng và xác lập một trật tự, một hành langchung cho hoạt động đầu tư trong nước Các công cụ điều tiếthoạt động đầu tư như đã trình bày ở trên, đó là các văn kiện, củaĐảng CSVN và các quyết định, các hành vi hành chính của cơquan hành chinh nhà nước thể theo ý chí chính trị của Đảng và cơquan lãnh đạo Gấp trên trong hệ thống chính trị Các hoạt độngđầu tư trong giai đoạn này đã bị chính trị hóa và dần xa rời bảnchất của mình Thực tế này đã không đi đúng với quỹ đạo kháchquan của các quan hệ kinh tế khiến cho nền kinh tế đã không thểphát triển một cách bình thường và kết cục chung khi chúng tachính trị hóa, các quan hệ trong đời sống kinh tế xã hội từ nôngnghiệp, công nghiệp, dịch vụ là khủng hoảng kinh tế toàn diệnnhư lịch sử chưa xa đã chứng minh

Khung phảp lý về đầu tư nước ngoài giai đoạn trước đồi mới:

Nền kinh tế thời kỳ trước đổi mới luôn ở trong tình trạng

“khát” vốn đầu tư, mất cân đối và thiếu hụt nghiêm trọng các

nguồn lực đảm bảo sự ổn định và phát triển Chúng ta mong muốnđầu tư nhiều hơn cho nền kinh tế nhưng tiểm lực kinh tế của mộtnước nông nghiệp lạc hậu bị chiến tranh tàn phá vẫn đang gồngmình để hàn gắn những vết thương do chiến tranh để lại Vớimong muốn tận dụng, kêu gọi các nguồn vốn từ bên ngoài để khôiphục và phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh 115/CP kèm theo Điều lệ đầu tư nước ngoài - một văn bảnpháp quy riêng biệt nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt độngđầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Văn bản pháp quy đầutiên về đầu tư nước ngoài này đã thể hiện đường lối đúng đắn củaĐảng và Nhà nước, được các nhà đầu tư nước ngoài thời kỳ đóđón nhận như một tín hiệu mở cửa của Việt Nam Theo đó, Chínhphủ Việt Nam chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại ViệtNam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ của Việt Nam và các bên cùng có lợi mà không phân biệtchế độ kinh tế chính trị quốc gia của nhà đầu tư

Giai đoạn trước đổi mới đã cho thấy những sai lầm của nhànước trong việc coi nhẹ đầu tư nước ngoài, chính trị hóa các hoạtđộng đầu tư khiến cho nền kinh tế đã không thể phát triển bìnhthường Từ góc độ nhà nước thì kinh tế đầu tư của tỉnh TháiNguyên cũng vậy, bị ảnh hưởng về chính sách chung, mà khiến

Trang 36

kinh tế đầu tư của tỉnh trong giai đoạn này hầu như không có,hoặc nếu có thì rất nhỏ lẻ, manh mún.

1.3 Pháp luật về đầu tư từ năm 1986 – 2005.

Nhận thấy rằng các điều chỉnh pháp lý về đầu tư trong nướcgiai đoạn trước 1986 đến 2005 chi trở nên có hệ thống và tậptrung khi Luật khuyến khích đầu tư trong nước ra đời Giai đoạntrước khi Luật này được ban hành, các hoạt động trong nước chủyểu được điều chinh bằng các văn mang tính thế để giải quyết một

bài toán đầu tư nào đó thay vì là hình thành ra luật “ công thức”

chung nhằm giải quyết các vấn đề về đầu tư trong nước Hơn thể,các văn bản trong thời kỳ này chủ yếu là các văn bản điều chỉnhcác hoạt động đầu tư của kinh tế nhà nước

Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư dân doanhhầu như không được đề cập đến Điều này cũng hoàn toàn có thểhiểu được khi tại thời điểm trước năm 1994, các lĩnh vực của nềnkinh tế về văn bản vẫn do các đơn vị kinh tế nhà nước nắm giữ,môi trường kinh doanh của các chủ thể dân doanh vẫn còn nhiềuhạn chế và ít có điều kiện, cơ hội phát triển

Trong giai đoạn này, nhu cầu cần một văn bản luật điều chỉnhcác hoạt động đầu tư trong nước vẫn chưa thực sự được đặt ra mộtcách bức thiết từ phía các chủ thể tham gia quan hệ đầu tư Hoạtđộng đầu tư của bộ phận kinh tế nhà nước thì được điều chỉnh, tổchức bởi các văn bản manh tính hành chính; hoạt động đầu tư của

bộ phận dân doanh phần lớn mang tính tự phát nhỏ lẻ, manh mún,thói quen dựa vào luật pháp để làm dường cột trong các quan hệkinh tế đầu tư dường như còn xa lạ, bên cạnh đố, một hệ lụy mangtính lịch sử của văn hóa kinh doanh phương Đông là quan hệtuân theo pháp luật đã góp phần đẩy nhu cầu của một đạo luậtđiều chỉnh các hành vi đầu tư về phía xa lạ với các hoạt độngkinh doanh của doanh nhan Việt Nam

Bản thân Luật khuyến khích đầu tư trong nước ra đời cũngxuất phát tư nhu cầu của Nhà nước với mong muốn thúc đẩy vàđưa các hành vi đấu tư của nhà đầu tư trong nước vào một khuônkhổ pháp lý Điều này cũng đã thể hiện ngay trong tên cùa đạoluật - Luật khuyến khích đầu tư trong nước với sứ mệnh đầu tiêncủa nó là tạo ra một sân chơi thuận lợi để nuôi dưỡng các hoạtđộng, các quan hệ đầu tư trong nước

Có thể nói, những tư tưởng về phát triển nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, vận hành trong cơ chế thị trường, dưới sự quản

lý của Nhà nước theo định hưởng XHCN được biểu hiện khá rõràng trong Luật KKĐTTN cũng như ở một số văn bản hướng dẫnthi hành Nhờ vậy, Luật KKĐTTN đã đi vào cuộc sổng, phát huy

Trang 37

tác dụng thực tế.

Khung pháp lý về đầu tư nước ngoài giai đoạn từ 1986 – 2005:

Hòa chung với bổi cảnh của nền kinh tế như đã trình bày ởtrên, kinh tế đối ngoại được rộng mở theo phương châm Việt Nammuốn làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước Với mộtquan điểm hội nhập chủ động như vậy, chúng ta đã nhanh chóngbắt tay và một công cuộc kiến thiết đất nước theo một định hướng

mới - định hướng được nhìn nhận lại và “ đổi mới” Đến năm 2004

tổng mức lưu chuyển ngoại thương nước ta đạt 54,46 tỷ USD tănggấp 34 lần so với mức 5,10 tỷ USD năm 1990 trong đó xuất khẩu26,50 tỷ USD tăng 11,02 lần; nhập khẩu 31,95 tỷ USD, tăng gấp11,61 lần Nhịp độ tăng bình quân hàng năm tổng mức lưu chuyểnngoại thương thời kỳ 1991 - 2004 đạt 18 94% trong đó xuất khẩu18,70%; nhập khẩu 19,14% Có thể nhận thấy rằng định hướngđúng đắn đã cho chúng ta những thành tựu bước đầu đáng khích

lệ để tiếp tục hoàn thiện thể chế, hoàn thiện cơ chế điều hành nềnkinh tế trong điều kiện như vậy, các chế định pháp lý về đầu tưnước ngoài tại Việt Nam đã có điều kiện phát triển sớm hơn,nhanh chòng hơn so với các đạo luật theo định hướng thị trườngkhác như Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luậtthương mại

Ngay sau khi Nghị Quyết đại hội Đảng VI ra đời, ngày31/12/1987 đã thông qua Luật Đầu tư nựớc ngoài tại Việt Nampháp luật này là trung tâm của khung pháp lý về đầu tư nướcngoài tại Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2005 Nó đã thể chếhóa một cách sâu sắc các đường lối, những tuyên bổ chính trị củaĐảng và nhà nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế kinh tế

Có thể nhận thấy rằng Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Namnăm 1987 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm1990,1992,1996, 2000) là một trong những đạo luật đầu tiên nhằmxác lập một môi trường pháp lý nuôi dưỡng các quan hệ thịtrường và thúc đẩy hội nhập kinh tế [40,9]9

1.4 Khung pháp lý được điều chỉnh từ năm 2005 đến nay.

- Luật Đầu tư năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Sự ra đời của Luật đầu tư 2005 nằm trong chiến lược cải thiệnmôi trường đầu tư, kinh doanh, môi nhằm củng cố sự thống nhất

trong hệ thống pháp luật về đầu tư, hình thành một “ sân chơi”

bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giảnhoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút và sửdụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; tạo tiền đề pháp lý cho việc

9 Theo website: http://sokhdt.thainguyen.gov.vn mục “Lịch sử hình thành pháp luật đầu tư Việt Nam”

Trang 38

hội nhập sâu sắc hơn vào đời sống kinh tế quốc tế và tăng cường

sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư [24,10]1 0 Trong nội dung được đề cập trong bài luận văn nhằm đi sâuvào khía cạnh pháp lý được chứng minh qua thực tiến Nên khungpháp lý trong giai đoạn này, sẽ được tôi đề cập dưới những góc

độ cụ thể như sau:

- Đăng ký dự án đầu tư:

Việc đăng ký dự án đầu tư chỉ được thực hiện với các dự ánđầu tư trực tiếp không phân biệt đầu tư trong nước hay nướcngoài Việc đăng ký dự án đầu tư thực hiện tại cơ quan hànhchính nhà nước được giao quàn lý vê đầu tư việc phân loại các dự

án đầu tư có ý nghĩa quan trọng, trong việc xác định thù tục đăng

ký đầu tư Như vậy, chúng ta cần phải xác định rõ các tiêu chíphân loại dự án, từ đó làm sáng tỏ các nội dung liên quan đếnviệc đăng ký dự án đầu tư Có nhiều tiêu ghi để phân loại các dự

án đầu tư Chúng ta có thể dựa vào các tiêu chí cơ bản sau:

- Phân loại theo nguồn vốn đầu tư:

Theo tiêu chí phân loại này, chúng, ta có thể phân chia các dự

án thành dự án đầu tư trong nước và dự án đầu tự nước ngoài Dự

án đầu tư trong nước được hiểu là các dự án đầu tư của các doanhnghiệp trong nước mà ở đó, cá nhân, tổ chức trong nước sở hữulớn hơn 51% vốn điều lệ và có khả năng chi phối về cơ bản cáchoạt động kinh doanh Việc đăng ký đầu tư đối với các dự án nàycũng cỏ phần đơn giản hơn so với các dự án đầu tư nước ngoài.Theo đó, các dự án đầu tư trong nước dưới 15 tỷ đồng thì khôngphải đăng ký đầu tư [24,11]1 1

Dự án đầu tư nước ngoài theo như ghi nhận của Luật đầu tự làcác dự án đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài có sở hữu từ 49%vốn điều lệ trở lên

Phân loại theo cách thức thực hiện dự án: Theo cách phân loạinày, các dự án đẩu tư được phân thành hai loại là:

+ Dự án đầu tư gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới:

Là dự án đầu tư thực hiện lần đầu hoặc dự án đầu tư độc lậpvới dự án đang hoạt động nhưng được thực hiện bởi một doanhnghiệp mới thành lập Theo đó, doanh nghiệp sẽ được cấpđồng thời GCNĐKKD và GCNĐT Thủ tục ĐKKD và ĐKĐT(hoặc thẩm tra dự ấn đầu tư) được thực hiện cùng một lúc

+ Dự án đầu tư theo hình thức BCC, BOT, BTO và BT:Việc thực hiện các dự án đầu tư theo các hình thức nói trênđược thực hiện theo Nghi định 78/2007NĐ-CP Theo đó, cácvấn đề về ban hành danh mục dự án, đấu thầu lựa chọn nhàđầu tư, chỉ định nhà đầu tư, đàm phán ký kết hợp đồng, được

10 Những thay đổi trong Luật Đầu tư số 59/2005 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam.

11 Căn cứ theo Khoản 4, Điều 29, Luật Đầu tư 2005 “Lĩnh vực đầu tư có điều kiện”

Trang 39

nghị định thể hiện khá chi tiết Bộ Kế hoạch và Đầu tư làmđầu mối tổ chức thẩm tra, cấp Chứng nhận đầu tư cho các dự

án nói trên

+ Phân loại dự án theo trình tự, thủ tục cấp GCNĐT: Theoquy định của pháp luạt hiện hanh, dự án đầu tư có thể đượcphân thành các loại sau (theo thu tục đăng ký hoăc thâm định

dư án đầu tư) [45,12]1 2.+ Dự án không phải làm thủ tục đăng ký: Là các dự án đầu

tư trong nước có quy mô vốn dưới 15 tỷ đồng và không thuộcdanh mục các dự án đầu tư có điều kiện

+ Dự án đầu tư phải đăng ký đầu tư: Bao gồm các dự án:

(i) Dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn từ 15đến dưới

300 tỷ đồng không thuộc danh mục các dự án đầu tư có điềukiện

(ii) Dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn từ 15đến dưới

300 tỷ đồng không thuộc danh mục các dự án do Thủ tướngchính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư

(iii) Dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn dưới

300 tỷ đồng và không thuộc danh mục các dự án do Thủ tướngchính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư

+ Dự án phải thẩm tra đầu tư:

(i) Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 300 tỷ đồng trở lênkhông thuộc danh mục các dự án đầu tư có điều kiện

(ii) Dự án đầu tư có quy mô vốn dưới 300 tỷ đồng thuộcdanh mục các dự án đầu tư có điều kiện

(iii) Dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trươngđầu tư

Từ sự phân loại như đã trình bày nói trên, chúng ta nhận thấyrằng việc đăng ký dự án đầu tư không phải là việc làm đươngnhiên ở tất cả các dự án Bản thân việc đăng ký cũng có nhữngtrình tự, thủ tục không giống nhau ở các dự án khác nhau (như đãphân loại) Theo đó, có thể thấy các nội dung của thủ tục đầu tưđổi với các dự án thuộc diện phải đăng ký đầu tư như sau:

Thứ nhất, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ đãng ký đầu tư theo Điều

45, 46 Luật đầu tư, Điều 43,44 Nghị định 108/2006/NĐ-CP

Thứ hai, Cơ quan đăng ký đầu tư tiếp nhận hồ sơ đầu tư xem

xét và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư Bản chất củaviệc đăng ký dự án đầu tư là việc cơ quan nhà nước xác nhận,chứng nhận nội dung của dự án đầu tư trên cơ sở thông tin củanhà đầu tư cung cấp thông qua hồ sơ đăng ký Cơ quan cấp giấychứng nhận đầu tư chỉ xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và cấpGCNĐT

12 Theo Website: http://luatcongminh.com/ thông tin đăng tải ngày 22/05/2009 “Các dự án thuộc diện đăng ký đầu tư”

Trang 40

Thứ ba, thời hạn giải quyết việc đăng ký dự án đầu tư:

- Đối với dự án đầu tư trong nước đăng ký đầu tư nhưng khôngyêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư thì cơ quan tiếp nhận hồ sơtrao giấy biên nhận ngay sau khi nhận được hồ sơ đăng ký đầu tư.Giấy biên nhận này được hiểu là minh chứng cho việc đã hoànthành thủ tục đăng ký đầu tư (vì luật và nghị định hướng đẫn luậtkhông quy định rõ việc cái gì chứng minh cho việc hoàn thành thủtục đăng ký đầu tư trong trường hợp này)

- Đối với các dự án đầu tư trong nước mà nhà đầu tư yêu cầucấp GCNĐT hoặc dự án đầu tư nước ngoài thì cơ quan đăng kýđầu tư sẽ cấp GCNĐT cho nhà đầu tư trong thời hạn 15 ngày làmviệc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ Việc quy định thời hạncấp GCNĐT của Luật đầu tư 2005 cũng có điểm không rõ ở chỗLuật đầu tư 2005 đã không quy định thời hạn cho việc cấpGCNĐT cho các dự án đầu tư trong nước

- Đối với các dự án đầu tư nước ngoài, Luật đầu tư quy địnhthời hạn cấp GCNĐT tại Điều 46 - Luật đầu tư là 15 ngày, trong

khi đó, Nghị định 108 lại quy định thời hạn đó là 15 “ ngày làm

việc” tại Điều 44 Như vậy đã có sự mâu thuẫn và không đồng

nhất ở đây, có thể có những ảnh hưởng nhất định với các thủ tụctrong lĩnh vực này

- Theo quy định của Luật đầu tư hiện hành, các dự án có quy

mô vốn tư 300 tỷ đồng trở lên, không thuộc lĩnh vực đầu tư cóđiều kiện; Dự án cố quy mô vốn từ 300 tỷ đồng trở lên, thuộc lĩnhvực đầu tư có điều kiện; Dự án trên 300 tỷ đồng thuộc lĩnh vựcđầu tư có điều kiện thì phải tiến hành thẩm tra dự án đầu tư

Việc thẩm tra dự án đầu tư được bắt đầu bằng việc nhà đầu tưnộp bổ sơ dự án đầu tư của mình đến cơ quan cấp GCNĐT, tiếpsau đó, cơ quan này tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ

và tổ chức lấy ý kiến thẩm tra của các Bộ, ngành, Sở liên quantheo quy định của từng loại đổi tượng được thẩm định Các cơquan được hỏi có ý kiến thẩm tra bằng văn bản và chịu tráchnhiệm về các nội dung thẩm tra cũng như các vẩn đề liên quanđến lĩnh vực quản lý của mình

Tiếp sau đó cơ quan cấp GCNĐT lập báo cáo thẩm tra trình Thủtướng chính phủ quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự ánthuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ; trìnhUBND cấp tỉnh xem xét, quyết định đối với các dự án còn lại(riêng các dự án đo BQL KCN cấp GCNĐT thì BQL KCN tổnghợp ý kiến của các cơ quan thẩm tra để làm căn cứ cấp GCNĐT

Đối với các trường hợp dự án đầu tư không được chấp thuận, cơquan tiếp nhận hồ sơ đự án đầu tư gửi thông báo băng văn bảncho nhà đẩu tư và nêu rõ lý do vì sao không được chấp thuận

Ngày đăng: 01/08/2016, 19:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thông tư 02/BXD/QLXD của Bộ Xây dựng “V/v hướng dẫn về quản lỷ xây dựng các công trình có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v hướng dẫn về quản lỷ xây dựngcác công trình có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
2. Nghị định 09/2009/NĐ-CP cua Chính phủ “V/v ban hành Quy chế quản lý tài chính của cổng ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v ban hành Quy chế quản lý tài chínhcủa cổng ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác
3. Nghi định 131/2006/NĐ-CP của Chính phủ “V/v ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v ban hành Quy chế quản lý và sửdụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
6. Nghị định 58/2008/NĐCP của chính phủ “V/v hướng dẫn thi hành luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo luật xây dựng.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v hướng dẫn thi hành luật đấu thầu vàlựa chọn nhà thầu theo luật xây dựng
10. Nghị định 16/2005/NĐ-CP của Chính phủ “V/v quản lỷ dự án đầu tư xây dựng công trình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v quản lỷ dự án đầu tư xây dựng côngtrình
11. Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ “V/v quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật Đầu tư
15. Nghị định 53/2007/NĐ-CP của Chính phủ “V/v quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v quy định xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư
22. Quyết định số: 1520/QĐ-CT ngày 29 tháng 6 năm 2004 của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên "V/v cho thuê lại đất nông nghiệp tạo điều kiện cho sản xuât hàng hoả theo hưởng công nghiệp ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v cho thuê lại đất nông nghiệp tạo điều kiện cho sản xuâthàng hoả theo hưởng công nghiệp
41. Website: http://thainguyentrade.gov.vn/introduction/intro Link
4. Nghị định 52/1999/NĐ-CP của Chính phủ “V/v ban hành Quy chế quản lỷ đầu tư và xây dựng Khác
7. Nghị định 29/2008/NĐ-CP của chính phủ quy định về thành lập, hoạt động chính sách và quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu Khác
8. Nghị định 101/2006/NĐ-CP của chính phủ quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy đinh của Doanh nghiệp và Luật Đầu Tư Khác
9. Nghị định 154/2005NĐ-CP, ngày 15 tháng 12 năm 2005 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải Quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan Khác
12. Nghị định 29/CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đâu tư trong nước Khác
13. Nghị định 51/1999/NĐ-CP của Chính phủ quy đinh chi tiết thi hành Luật Khuyên khích đầu tư trong nước (sửa đổi 1998) Khác
14. Nghị định 18-CP của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Khác
16. Nghị định 03/2008/NĐ-CP của Chính phủ ‘V/v sửa đối, bể sung một số điều của Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 của Chỉnh phủ về quản lý chỉ phí đầu tư xây dựng công trình” Khác
18. Nghị định 27/2003/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Khác
19. Nghị định 138/2007/NĐ-CP Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương Khác
23. Hiến pháp năm 1992 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng từ viết tắt trong bài luận văn. - LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
Bảng t ừ viết tắt trong bài luận văn (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w