MỤC LỤCPHẦN I. MỞ ĐẦU11. Lí do chọn đề tài12. Lịch sử nghiên cứu vấn đề22.1. Trên thế giới22.2. Ở Việt Nam63. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu73.1. Mục đích nghiên cứu73.2. Đối tượng nghiên cứu73.3. Phạm vi nghiên cứu74. Các luận điểm cơ bản và đóng góp của tác giả74.1. Các luận điểm cơ bản74.2. Đóng góp của tác giả105. Phương pháp nghiên cứu105.1. Thu thập tài liệu105.2. Tạo lập mối quan hệ với người dân địa phương115.3. Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán định hướng115.4. Họp dân12PHẦN II. NỘI DUNG15CHƯƠNG I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI151.1. Vị trí địa lí và địa hình151.2. Khí hậu, thuỷ văn171.3. Đa dạng sinh học181.3.1. Đa dạng tài nguyên thực vật181.3.2. Tài nguyên động vật251.4. Tình hình dân cư và điều kiện kinh tế xã hội25CHƯƠNG II. KIẾN THỨC BẢN ĐỊA332.1. Kiến thức kinh nghiệm trồng trọt342.2. Kinh nghiệm chăn nuôi432.3. Kiến thức kinh nghiệm khai thác sử dụng lâm sản46CHƯƠNG III. VAI TRÒ CỦA KIẾN THỨC BẢN ĐỊA ĐỐI VỚI BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ543.1. Vai trò của kiến thức bản địa543.2. Các quy ước về bảo tồn đa dạng rừng563.3. Kiến thức phong tục đã mất hoặc không còn phổ biến593.4. Đặc điểm văn hoá và vấn đề bảo tồn đa dạng vườn quốc gia Ba Vì61PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ681. Kết luận681.1 Vai trò của hệ thống kiến thức bản địa trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học vườn quốc gia Ba Vì.681.2. Đánh giá tình hình kinh tế, văn hoá khu vực xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội682. Đề xuất và kiến nghị69Tài liệu tham khảo..……………
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, việc điều tra và nghiên cứu kiến thức bảnđịa đã được nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm chú ý trong nhiều lĩnh vực tựnhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế…
Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hoặccủa một cộng đồng hay một khu vực cụ thể nào đó, tồn tại và phát triểntrong những điều kiện nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trongcộng đồng ở một vùng địa lý xác định Kiến thức bản địa bao hàm rất nhiềulĩnh vực như kiến thức tận dụng dược liệu trong thiên nhiên, về dinh dưỡng
và sức khoẻ con người, sản xuất nông lâm nghiệp, quản lí tài nguyên vàquản lí cộng đồng, sự thích nghi với sự thay đổi của môi trường và xã hội.Phần lớn kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện môitrường rất đa dạng của địa phương vùng cao, gắn liền với nền văn hoá riêngcủa từng dân tộc (Hoàng Xuân Tý, 1998) [11]
Vườn Quốc gia Ba Vì là một trong những nơi có đa dạng sinh học cao
ở Việt nam (thiennhien.net) [13] Trên địa bàn có các dân tộc khác nhausinh sống, chủ yếu là dựa vào nông, lâm nghiệp Nét đặc thù của cộng đồngcác dân tộc ít người ở miền núi là sống gần rừng và dựa vào rừng, vì vậy họ
có một hệ thống kiến thức và kinh nghiệm về đa dạng sinh học rừng Kiếnthức bản địa có vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất nông nghiệp,đặc biệt, người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa có kiến thức bản địa rấtphong phú Kiến thức này là nguồn lực quý giá cho sự phát triển của cộngđồng cũng như sự phát triển của xã hội, góp phần duy trì và bảo tồn giá trị
đa dạng sinh học cho từng địa phương
Việc nâng cao kiến thức và nhận thức của người dân trong quản lí vàbảo vệ sự đa dạng sinh học là hết sức cần thiết và thường xuyên Trong đó,
Trang 2việc nghiên cứu khảo sát trình độ nhận thức của người dân là công việc đầutiên.
Chính vì những lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu vai trò của kiến thức bản địa trong bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Ba Vì tại xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, thành phố
Công ước 169 của tổ chức lao động thế giới (ILO) đã đưa ra địnhnghĩa về người dân và bộ tộc bản địa như sau: “Đó là những người có cácđiều kiện xã hội, văn hoá và kinh tế phân biệt với các bộ phận khác củamột cộng đồng mà ở đó địa vị của họ được quy định bởi toàn bộ hoặcmột phần phong tục hay truyền thống, hoặc qua những luật lệ đặc biệthay quy định của riêng họ” (John Briggs và Joanne Sharp, 2004) [5]
Trước đây, kiến thức bản địa chỉ được coi là những kiến thức nôngcạn, không mang tính khoa học… Ngày nay, kiến thức bản địa được nhìnnhận đúng vai trò của nó
Hầu hết mọi người đều thừa nhận vai trò của tri thức bản địa nhưmột nhân tố then chốt trong mọi chương trình phát triển đã và đang đượctiến hành, đặc biệt đối với những chương trình có mục tiêu là đạt tới sự bềnvững Tuy nhiên, ngược trở lại bối cảnh thế giới giai đoạn sau chiến tranhthế giới thứ hai, khái niệm phát triển theo từng giai đoạn biến đổi của nềnkinh tế thế giới được bồi đắp dần lên với các nghĩa mới bổ sung Bắt đầu từ
Trang 3giai đoạn chủ yếu tập trung vào việc khôi phục nền kinh tế thế giới saucuộc chiến, tiếp theo sau giai đoạn này là sự tăng trưởng đồng đều trên mọilĩnh vực của cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Chủ nghĩa tưbản phát triển tới giai đoạn này được coi như là một đại chủ nghĩa, siêu lýthuyết, phủ bóng lên toàn thế giới, các nhà tư bản được trang bị hệ thốngkhoa học và kiến thức của phương tây, họ mở rộng công cuộc truyền bá vàứng dụng tri thức khoa học Trong công cuộc này họ coi các nguồn tri thứcđịa phương như là những trở ngại cần phải vượt qua, để có thể đạt tới mụctiêu của phát triển Các nhà làm công tác phát triển coi truyền thống và cáckinh nghiệm truyền thống của các dân tộc người trên thế giới như một điều
gì đó yếu kém, lạc hậu, cần được huỷ bỏ hơn là động viên sử dụng chúng.Những kinh nghiệm, hiểu biết của các dân tộc bản địa bị bỏ qua, hoặc bịđánh giá là không mang tính khoa học (phi khoa học), lạc hậu và khôngđáng được xem xét (Osseweijer, Mannon, 2003) [17]
Bắt đầu những năm 60 - 70 của thế kỷ 20, vai trò của các tri thức bảnđịa được xem xét lại Mối quan tâm, thiện cảm dành cho tri thức bản địacàng nhiều lên nhờ một số nhân tố sau:
Thứ nhất là chính sách phát triển bị thất bại Các chuyên gia pháttriển dần dần nhận ra rằng: các tộc người bản địa cùng với các sinh hoạtvăn hoá, xã hội kinh tế của mình đã và đang sống cuộc sống hài hoà vớimôi trường xung quanh Trong khi đó, sự đổ vỡ của các tri thức khoa họcphương tây, các dự án hiện đại hoá mang tính công nghệ cao lại không đemđến những kết cục đáng mong đợi, xa rời thực tiễn của các địa phương vàkhông có khả năng giải quyết nhiều vấn đề đặt ra trong cuộc sống hằngngày mà người dân bản địa có thể làm
Thứ hai là khái niệm phát triển bền vững được hình thành Phát triểnbền vững được thay thế hoàn toàn cho phát triển truyền thống (phát triểnkinh tế bằng mọi giá không quan tâm tới môi trường) Nó nhấn mạnh đến
Trang 4khả năng đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng tới mai sau.Năm 1987, Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) cùng vớituyên ngôn về một “tương lai chung của chúng ta” cảnh báo về sự suy thoáicủa môi trường do nghèo đói, kể cả khi không có sự hiện diện của cácngành công nghiệp trên toàn thế giới Tương lai ảm đạm của một thế giớiđược cảnh báo liên tục từ các tổ chức phi chính phủ và từ chính các quốcgia đang phải đối mặt với nguy cơ này Dần dần các chuyên gia phát triển,những người hoạt động trong lĩnh vực môi trường, các tổ chức phi chínhphủ nhận ra rằng: Những tri thức truyền thống, thế giới quan, và văn hoácủa các dân tộc bản địa ẩn chứa mối quan hệ hài hoà thân thiện với môitrường xung quanh Các dân tộc bản địa lúc này được xem như là các nhàsinh thái học thực thụ với những hiểu biết sâu sắc về môi trường, nhữngquan niệm, niềm tin, và cả cách họ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (Ellen Rand Harris H, 2003) [15].
Trường hợp người Aru sống trên đảo Aru ở miền đông Indonesia làmột ví dụ tiêu biểu, nguồn sống của dân tộc này chủ yếu là dựa vào tựnhiên, các hoạt động kinh tế của dân tộc này phụ thuộc vào 2 loại gió mùaĐông và gió mùa Tây Trong thời kỳ gió mùa Đông từ tháng 5 đến tháng
10 hàng năm, người Aru chỉ tiến hành thu thập Hải Sâm ở các bãi thuỷtriều, bãi cát, đánh bắt cá hoặc làm việc thu hoạch Hải Sâm tại các dải đángầm, vụng nước sâu, lặn mò ngọc trai và thậm chí là săn bắt cá mập.Người Aru hiểu biết rất rõ giá trị kinh tế và y học của Hải Sâm, nắm đượccác loại và đặc điểm của Hải Sâm, thời điểm và địa điểm thích hợp để đánhbắt các loại Hải Sâm này trong một năm Họ biết rằng, yếu tố mùa và thuỷtriều là 2 yếu tố then chốt quyết định số lượng Hải Sâm thu thập được.Người Aru lưu giữ cho mình những hiểu biết sâu sắc về Hải Sâm và cáchthức để thu hoạch Hải Sâm được hiệu quả nhất
Trang 5Về mặt lịch sử, khái niệm kiến thức bản địa được nhắc tới nhiều do
sự ảnh hưởng của khoa học tự nhiên và các chương trình phát triển kinh tế
xã hội Xuất phát từ kinh nghiệm trong việc trồng trọt và chăn nuôi ởnhững vùng có thổ nhưỡng và nguồn gốc xuất xứ khác nhau của những câytrồng, vật nuôi, các nhà khoa học đã để ý đến kinh nghiệm của người dânbản địa trong việc xử lí những vấn đề khó khăn trong quá trình thích nghi.Vốn trải qua quá trình thích nghi từ rất lâu đời, người dân ở từng địaphương đã tích luỹ được những kinh nghiệm nhất định đối với cuộc sốngxung quanh họ Người dân hiểu rõ mối quan hệ giữa vật nuôi, cây trồng của
họ với các điều kiện tự nhiên Khi các nhà khoa học biết cách phối hợpnhững kiến thức bản địa này với những kiến thức và phương pháp khoa họchiện đại, họ có thể giúp cây trồng và vật nuôi thích nghi tốt hơn với điềukiện địa phương Hiện nay, trên thế giới có khoảng 124 nước hoạt độngtrong lĩnh vực nghiên cứu kiến thức bản địa nhằm tăng tính hiệu quả trongphát triển nông thôn và quản lí bền vững tài nguyên thiên nhiên Đặc biệt,nhiều nước chú trọng khai thác dạng tài nguyên thiên nhiên này cho cácmục đích thương mại có giá trị cao, ví dụ trong các lĩnh vực dược học và
mỹ phẩm Ngoài ra, ở nhiều nơi ở các nước đang phát triển và phát triển,kiến thức bản địa đang được nghiên cứu hỗ trợ cho các nghiên cứu khoahọc, làm tăng nguồn cơ sở tư liệu về môi trường, được sử dụng để đánh giátác động của quy trình phát triển, được sử dụng như một công cụ lựa chọn
để quyết định Vì vậy, việc phát triển nghiên cứu kiến thức bản địa gópphần thu thập, lưu trữ, nâng cao sự hiểu biết các tiến trình phát triển, ứngdụng và điều chỉnh kỹ thuật của các cộng đồng cư dân địa phương Các tổchức quốc tế cũng đóng góp vai trò quan trọng trong việc khuyến khích cácchính phủ sử dụng kiến thức bản địa trong các kế hoạch phát triển của mình(Agrawal, Aru, 2005) [14]
2.2 Ở Việt Nam
Trang 6Ở Việt Nam, các tổ chức quốc tế và phi chính phủ là những cơ quanđầu tiên áp dụng việc sử dụng kiến thức bản địa trong việc cải thiện khảnăng canh tác trồng trọt, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địaphương.
Nghiên cứu, đánh giá kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trongnông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được Hoàng Xuân Tý vàcác cộng tác viên thực hiện trong khuôn khổ dự án; “Đánh giá kiến thứcbản địa của đồng bào dân tộc trong nông nghiệp và quản lí tài nguyên thiênnhiên ở Việt Nam” do trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canada(IDRC) và quỹ FORD tài trợ (1997 - 1999) Kết quả nghiên cứu đã đượcxuất bản thành ấn phẩm do nhà xuất bản nông nghiệp in và phát hành(Hoàng Xuân Tý, 1998) [11]
Trong chương trình nghiên cứu về nông nghiệp du canh được tàitrợ bởi Viện Quốc tế về Môi trường và Phát triển Anh (IIED) Tổ chứcHợp tác Lâm nghiệp hải ngoại Nhật Bản (JOFCA) cũng nghiên cứunhững kiến thức bản địa về canh tác nương rẫy, nông lâm kết hợp, cácquy định về làm rẫy, loài cây để khôi phục rừng (Đỗ Đình Sâm và cộng
sự, 1994 - 1998) [7]
Trong chương trình nghiên cứu dân tộc Thái ở Việt Nam do trungtâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hoá thuộc Đại học Quốc gia HàNội thực hiện 1989 và kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trong côngtrình “Văn hoá và Lịch sử người Thái ở Việt Nam” (Cầm Trọng, 1998)[10] cũng đã đề cập tới một số quy ước quản lý, bảo vệ rừng, rẫy
Nghiên cứu về kiến thức bản địa hay cụ thể hơn là kiến thức bản địa
về môi trường là một ngành nghiên cứu còn rất mới ở Việt Nam Việt Namvẫn đang được coi là một nước đang phát triển với phần lớn đại bộ phậndân cư sống tại các vùng nông thôn, miền núi cần được nâng cao chấtlượng cuộc sống.Việt Nam là một nước có 54 dân tộc đồng nghĩa với việc
có từng ấy kho tàng kiến thức bản địa cần được nghiên cứu Một loạt các
Trang 7chính sách phát triển của chính phủ Việt Nam và các quốc gia trên thế giớivẫn đang gặp khó khăn trong việc truyền đạt tới mục tiêu phát triển ổn định
và cân bằng tiến tới bền vững, do đó kiến thức bản địa cần được tìm hiểunhằm hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu phong tục, tập quán, kiến thức bản địa của người dân
xã Khánh Thượng liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia
Ba Vì nhằm thấy được vai trò của kiến thức bản địa trong công tác bảo tồn
đa dạng sinh học
- Đề xuất các biện pháp phù hợp để bảo tồn và phát triển hệ thốngkiến thức bản địa hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Người dân tại xã Khánh Thượng, Ba Vì, Hà Nội trong việc quản líbảo vệ rừng
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tại xã Khánh Thượng, Ba Vì,thành phố Hà Nội
- Đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Ba Vì
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn dân cư tại xã Khánh Thượng, Ba Vì, Hà Nội
4 Các luận điểm cơ bản và đóng góp của tác giả
4.1 Các luận điểm cơ bản
- Kiến thức bản địa là kiến thức đặc thù của một cộng đồng ngườidân địa phương, có từ lâu đời (truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác), thayđổi theo thời gian, linh động, phù hợp với từng nơi hay từng vùng cụ thể làkiến thức chỉ có riêng trong gia đình, cộng đồng, dân tộc thiểu số (nghĩa làchưa được phổ biến, tuyên truyền rộng ra ngoài), từ nội bộ dòng họ (ví dụnhư tổ tiên), từ bên ngoài (ví dụ như sách vở, dự án), sử dụng trong phạm
Trang 8vi rộng có từ nhiều nguồn khác nhau, đó là các nhóm người có kinh nghiệm
và kiến thức khác nhau, đối với rừng, kiến thức và kinh nghiệm của họ phụthuộc vào những loại lâm sản họ thường xuyên thu hái, và mục đích đối vớinhững sản phẩm đó, họ tìm thấy nó ở đâu và mức độ thu hái thường xuyêncủa họ đối với sản phẩm đó như thế nào Trong công trình nghiên cứu này,một số nhóm xã hội được tập trung nghiên cứu, cụ thể như sau:
+ Phụ nữ đi hái lượm củi, rau quả
+ Trẻ em lấy củi và hoa quả
+ Thợ săn
+ Nam giới đi lấy gỗ
+ Thầy lang, người trồng cây thuốc
+ Người già biết về truyền thống và lịch sử
+ Những người biết về chế biến và bảo quản sản phẩm
- Về mặt thuật ngữ, kiến thức bản địa là hệ thống các kiến thức củadân tộc bản địa hoặc của một cộng đồng tại một khu vực nào đó, nó tồn tại
và phát triển trong những điều kiện nhất định với sự đóng góp của mọithành viên trong cộng đồng của một vùng địa lý nhất định Hiện nay có một
số tên gọi khác nhau của kiến thức bản địa là kiến thức địa phương (local
knowledge), kiến thức truyền thống (traditionnal knowledge), hay kiến thức
bản địa (indigenous technique knowledge), (Viện Kinh tế Sinh thái, 2000)
[12] Mặc dù tên gọi khác nhau nhưng các thuật ngữ trên gần như đồngnhất Dưới đây là một số tính chất được thừa nhận tạm thời về kiến thứcbản địa theo Roy Ellen và Holy Harris trong phần giới thiệu của cuốn sách
“Kiến thức bản địa về môi trường và các biến đổi” đưa ra như sau:
+Kiến thức bản địa mang tính địa phương, bắt đầu từ một địa điểm
cụ thể, là một tập hợp của các kinh nghiệm có được từ những con ngườisống tại địa điểm đó Việc di chuyển các kiến thức này sang một địa điểmkhác có thể làm biến đổi kiến thức bản địa
Trang 9+Kiến thức bản địa là những tri thức được truyền miệng, hoặc đượcchuyển giao qua hình thức mô phỏng, hoặc mô tả Ghi chép lại những kiếnthức này bằng văn bản có thể làm thay đổi các đặc tính đặc trưng củachúng.
+Kiến thức bản địa là hệ quả của các gắn kết thực tế trong cuộc sốnghằng ngày và liên tục được củng cố bằng các lần thử nghiệm, các lần mắclỗi
+Kiến thức bản địa có xu hướng là loại kiến thức mang tính thực tiễnhơn là mang tính lý thuyết Ở mức nào đó, thì tính truyền miệng phi vănbản, cũng như sự gắn kết của nó trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày
và những hồi ức chứa đựng nó gây trở ngại cho những kiểu tổ chức cầnthiết cho sự phát triển của loại lý thuyết suông
+Kiến thức bản địa được chia sẻ nhiều hơn so với kiến thức khác,bao gồm cả kiến thức khoa học (Ellen R and Harris H, 2003) [15]
+Kiến thức bản địa có thể tập trung vào cá nhân và có thể gắn kết vớicác nghi lễ hoặc các cấu trúc biểu tượng khác nhau nhưng sự phân bố của
nó luôn gián đoạn Nó không tồn tại trong một tổng thể mà ở từng nơi khácnhau và với từng cá nhân Kiến thức bản địa không phải được chuyển giao
từ cá nhân tới cá nhân mà trong thực hành và trong giao tiếp xã hội trong
đó con người trao đổi với nhau ( Lê Thị Diên, 2002) [2]
- Đa dạng sinh học Vườn Quốc Gia Ba Vì: Tài nguyên thiên nhiên ởVườn Quốc gia Ba Vì rất phong phú và đa dạng, hệ sinh thái rừng đặctrưng của khí hậu rừng mưa nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp
- Kiến thức bản địa trong việc bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia
Ba Vì tại xã Khánh Thượng, Ba Vì, Hà Nội, bao gồm kiến thức kinh nghiệmtrồng trọt, kiến thức kinh nghiệm chăn nuôi, kiến thức kinh nghiệm khai thác
và sử dụng lâm sản, kiến thức phong tục đã mất hoặc không còn phổ biến, đặc
Trang 10điểm văn hoá liên quan đến vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia
Ba Vì
4.2 Đóng góp của tác giả
- Đề tài hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho những người quantâm tới kiến thức bản địa, thấy được nhận thức, trình độ của người dân xãKhánh Thượng, Ba Vì, Hà Nội về kiến thức bản địa Từ đó, cho thấy cầnthiết phải nâng cao trình độ nhận thức của người dân địa phương trong thờigian trước mắt cũng như lâu dài, góp phần bảo vệ Vườn Quốc gia Ba Vì
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thu thập số liệu cho đề tài, một số phương pháp điều tra và công
cụ được sử dụng để thu thập số liệu như sau:
5.1 Thu thập tài liệu
- Tài liệu có sẵn bao gồm hệ thống thông tin, dữ liệu cơ bản của địaphương, các kết quả nghiên cứu, hoạt động của dự án tại địa phương Tàiliệu có sẵn là cơ sở dữ liệu ban đầu cho các hoạt động PRA và là nguồnthông tin định hướng và dùng để kiểm tra chéo thông tin…
Các nguồn cung cấp tài liệu:
- Chính quyền địa phương: Uỷ ban Nhân dân xã Khánh Thượng
- Các cơ quan chuyên môn liên quan: Các phòng ban thuộc Uỷ banNhân dân xã Khánh Thượng
- Các tổ chức, dự án, chương trình đã có các hoạt động tại địa phương
- Các tài liệu xuất bản liên quan đến địa phương
Phương pháp thu thập tài liệu:
- Liệt kê các số liệu thông tin cần thiết có thể thu thập, hệ thống hoátheo nội dung hay địa điểm thu thập và dự kiến địa điểm cơ quan cung cấpthông tin
- Liên hệ với các cơ quan cung cấp thông tin
- Tiến hành thu thập bằng ghi chép, sao chụp
Trang 11- Kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp.
- Phân tích các tài liệu thu thập được, tập hợp thông tin liên quan tớikiến thức bản địa vườn quốc gia Ba Vì
5.2 Tạo lập mối quan hệ với người dân địa phương
- Gặp lãnh đạo thôn và các nhà chức trách địa phương khi bắt đầucông việc tại địa phương để giải toả mọi nghi ngờ
- Giải thích lí do đến thôn bản và công việc sẽ làm cùng dân
- Tự biểu hiện sự chân thành của mình với người dân
- Lựa chọn thời gian và địa điểm mà người dân làm việc thuận tiện
5.3 Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán định hướng
- Thảo luận, trao đổi với các cơ quan và tổ chức có liên quan
- Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, phỏng vấn bán định hướngkết hợp với khảo sát hiện trường Phỏng vấn bán định hướng hay còn gọi làphỏng vấn linh hoạt là một phương pháp được sử dụng trong quá trình thựchiện các công cụ PRA Phương pháp này được sử dụng với cá nhân nôngthôn, các thông tin viên chính từ địa phương… Kỹ năng phỏng vấn linhhoạt là đặt người dân vào quá trình đàm thoại thông qua một loạt các câuhỏi mở và thích hợp Phỏng vấn linh hoạt phải sử dụng thành thạo 7 dạngcâu hỏi: ai, cái gì, ở đâu, khi nào, tại sao, như thế nào và bao nhiêu
Để thực hiện phỏng vấn linh hoạt cần chú ý các điểm sau:
- Chuẩn bị danh mục chủ đề để phỏng vấn và ghi rõ từng chủ đề vào
sổ theo dõi công việc hiện trường
- Lựa chọn cá nhân, thông tin viên chính, nhóm sở thích hay cácnhóm nông dân để phỏng vấn Phải đảm bảo rằng những người này có khảnăng cung cấp thông tin sâu rộng và có quan điểm rõ ràng
- Lựa chọn thời gian và địa điểm để cuộc phỏng vấn ít bị ảnh hưởng
vì những lí do ngoại cảnh
Trang 12- Hỏi những câu hỏi thích hợp với từng cá nhân hay nhóm đang đượcphỏng vấn.
- Sử dụng những câu hỏi mở để đạt được giải thích và quan điểm củangười dân hơn là câu hỏi: có hoặc không?
- Ghi chép chi tiết các cuộc phỏng vấn lên sổ theo dõi công việc hiệntrường
- Điều chỉnh danh mục và câu hỏi để làm nổi lên những vấn đề mới
- Kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp vàkiểm tra chéo
Trong quá trình thảo luận, đã sử dụng một số công cụ PRA để thuthập thông tin Theo Robert Chamber (1992) PRA được định nghĩa như làmột phương pháp tiếp cận và cũng là phương pháp học hỏi cùng với ngườidân về đời sống và điều kiện nông thôn Như vậy, PRA cho phép cán bộphát triển nông thôn học hỏi từ người dân và cùng người dân, là người thúcđẩy để giúp người dân địa phương tự phân tích, lập kế hoạch và thực hiện
5.4 Họp dân
Họp dân thể hiện sự tham gia đóng góp đầy đủ nhất của người dântrong quá trình thực hiện, nhằm kiểm tra lại thông tin, bổ sung và thốngnhất chương trình hành động và cam kết thực hiện Trong một đợt PRAphải tổ chức nhiều cuộc họp dân Để tổ chức cuộc họp dân thành công cầnthực hiện các bước sau:
- Chuẩn bị:
+ Xác định mục tiêu họp dân
+ Chuẩn bị nội dung
+ Chuẩn bị địa điểm và ánh sáng
+ Thông báo rõ về thời gian họp cho mọi người
- Tiến hành cuộc họp:
+ Giới thiệu, nêu mục đích cuộc họp, giới hạn nội dung thảo luận
Trang 13+ Đại diện cộng tác viên thôn trình bày và điều hành thảo luận theotừng nội dung.
+ Tạo điều kiện cho người dân thảo luận, đóng góp, bổ sung ý kiến.+ Tổng hợp các ý kiến, thống nhất các kết luận và chốt lại các vấn đềtrước dân
+ Kết thúc cuộc họp
Trước khi tiến hành điều tra, phỏng vấn và thảo luận nhóm tại cácthôn của mỗi xã, phải có buổi làm việc với lãnh đạo và đại diện các banngành của xã Trong buổi làm việc với lãnh đạo xã, các thông tin cơ bản vềđiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và một số phong tục tập quán của địaphương đã được tìm hiểu và thu thập Tiến hành thảo luận với lãnh đạo xã
về các vấn đề liên quan tới hoạt động quản lý và bảo vệ rừng, kiến thức bảnđịa, thị trường tiêu thụ và sản phẩm nông, lâm nghiệp
- Tại các buổi thảo luận với lãnh đạo xã, chọn ra các thôn Gò, KhánhChúc Đồi, Bến Đình, Muôn, Chúc Bãi, Chúc Đồi, Sơn Hà, Bưởi, Phú Xuân
để tiến hành điều tra Chọn 30 cộng tác viên là người có kinh nghiệm trongsản xuất được mời tham gia thảo luận nhóm Một số công cụ như: Lược sử
sử dụng tài nguyên rừng, phân tích lịch mùa vụ, phân tích thuận lợi khókhăn và giải pháp được áp dụng để trao đổi, thu thập và phân tích thông tin
- Nội dung các buổi thảo luận nhóm tập trung vào việc xác định vàphân tích các kiến thức bản địa liên quan đến vấn đề khai thác, sử dụng,quản lí tài nguyên rừng tại địa phương
- Sau khi thảo luận nhóm, tiến hành phỏng vấn một số người dân cókiến thức và kinh nghiệm trong quản lí và sử dụng tài nguyên rừng Họ lànhững người làm nghề thuốc, thợ săn, những người già có kinh nghiệm sảnxuất và trưởng họ Phương pháp phỏng vấn bán định hướng được sử dụngtrong quá trình trao đổi thông tin
Trang 14Tiến hành điều tra, khảo sát hiện trường để phân tích, tìm hiểu vàđánh giá một số kinh nghiệm kiến thức bản địa của người dân tại địaphương trong sản xuất, quản lí, sử dụng tài nguyên rừng.
5.5.Phương pháp thu thập số liệu
Các tài liệu, số liệu, bản đồ, các công trình có liên quan đến khu vựcnghiên cứu được xử lý, đưa lên thành bảng biểu, đồ thị và phân tích, phânloại để từ đó xác định những vấn đề cần đánh giá
5.6 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý thống kê trên máy vi tính theo chương trình Excel7.0
- Dựa trên các tài liệu, số liệu đã thu thập, tiến hành tổng hợp, lựa chọn
và phân tích các số liệu, dữ liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứucủa đề tài
- Các thông tin, số liệu sau khi được thu thập, điều tra sẽ được xử lý bằngphương pháp thống kê sinh hoc, phần mềm Excel 7.0
Trang 15PHẦN II NỘI DUNG
CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
1.1 Vị trí địa lí và địa hình
Vườn Quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất,Quốc Oai thành phố Hà Nội, huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình,cách trung tâm Hà nội 60km theo đường quốc lộ 21A, 87
Ba vì là một vùng núi trung bình và núi thấp có toạ độ địa lí: từ20055’ – 21007’ vĩ độ Bắc Từ 105018’ – 105030’ kinh độ Đông Vùng núitiếp giáp với vùng bán sơn địa, vùng này trông như một dải núi nổi lên giữađồng bằng chỉ cách hợp lưu sông Đà và sông Hồng 20 km về phía Nam
Trong Vườn Quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1000
m như đỉnh Vua (1296 m), đỉnh Tản Viên (1227 m), đỉnh Ngọc Hoa (1131m), đỉnh Viên Nam (1081 m) và một số đỉnh thấp hơn như đỉnh Hang Hùm
776 m, đỉnh Gia Dê 714 m Dãy núi Ba Vì có 2 dải dông chính Dải dôngthứ nhất chạy theo hướng Đông-Tây từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh TảnViên và Đỉnh Hang Hùm dài 9 km Dải dông thứ 2 chạy theo hướng Tây-Bắc-Đông-Nam từ Yên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11 km,sau đó dải này chạy tiếp đến dốc Kẽm (Hoà Bình)
Ba vì là một vùng có độ dốc khá lớn, sườn phía tây đổ xuống sông
Đà, dốc hơn so với sườn Tây Bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình khu vực
là 250 m, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400 m trở lên độ dốctrung bình là 350 m và có vách đá lộ, nên việc đi lại trong vườn là khôngthuận lợi
Khánh Thượng là một trong 7 xã miền núi huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây
cũ, nay là Hà Nội Với diện tích trên 30 km2, đây là một xã rộng với nhiều
Trang 16dạng địa hình khác nhau Nằm vào vị trí tận cùng cực Tây của huyện vàtỉnh, phía bắc xã Khánh Thượng giáp với xã Minh Quang, phía Nam giápvới xã Hợp Thịnh (huyện Kỳ Sơn - tỉnh Hoà Bình), phía Đông là núi Ba Vì
và phía Tây giáp với sông Đà và bên kia sông Đà là Tu Vũ (huyện ThanhThuỷ - tỉnh Phú Thọ)
Hình 1 Bản đồ địa điểm nghiên cứu huyện Ba Vì
Trước năm 1945, vùng Khánh Thượng ngày nay gồm 3 xã, đó là xãGiáp Thượng, xã Xóm Gò và xã Khánh Chúc Thời hậu Lê các xã nàythuộc tổng Hoằng Nhuệ huyện Bất Bạt phủ Quảng Oai trấn Sơn Tây.Tháng 3 năm 1946 xã Giáp Thượng, Xóm Gò, Khánh Chúc sáp nhập vàothành một xã lấy tên là xã Tân Dân (dân mới) Từ năm 1973 xã Tân Dânđược đổi tên thành xã Khánh Thượng Chiều dài của xã tính từ thôn Phú
Địa điểm
nghiên cứu
Trang 17Thứ qua Khánh Chúc, phố Chẹ, Bát Còn đến xóm Bóp dài trên 10km.Chiều rộng nhất từ xóm Ninh ra bờ sông Đà khoảng 4 km.
Địa bàn xã gồm 2 vùng đất chính được phân ra một cách rõ rệt, đó làvùng đồi gò thấp ven chân núi, ruộng bậc thang ven suối và vùng đồngruộng được bồi đắp phù sa hàng năm ven sông Đà Đất đai tuy rộng nhưngchủ yếu là đất đồi gò Ruộng canh tác toàn xã có 647 mẫu Từ xưa, vùngđất Khánh Thượng là những khu rừng nguyên sinh Cho đến năm 1950,rừng tự nhiên trong xã còn bao phủ trên một diện tích lớn, nối liền từ sông
Đà tới chân núi Ba Vì Nằm trên địa bàn một huyện có vị trí cầu nối giữahai vùng đồng bằng và miền rừng núi, địa bàn xã Khánh Thượng có hệthống giao thông đường thuỷ từ Sông Đà lên Hoà Bình, Tây Bắc xuôiTrung Hà về Hà Nội Trong xã có đường tỉnh lộ 89A chạy dọc từ phía bắcđến phía nam xã Cùng với hệ thống đường thuỷ, dọc theo sông Đà trong
xã còn có đường 89B Nằm ở vị trí địa lí này, Khánh Thượng là xã có nhiềulợi thế, đặc biệt về mặt quân sự, tiến có thể đánh, rút lại an toàn rất thuậnlợi cho những hoạt động quân sự (Đinh Xuân Lộc, 2004) [6]
1.2 Khí hậu, thuỷ văn
Đặc điểm chung của Ba Vì bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơchế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới
ẩm với mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là23,4oC Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống 2,70C Nhiệt độ tối cao lênđến 420C Ở độ cao 400 m nhiệt độ trung bình năm 20,60C Lượng mưatrung bình năm 2500 mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiềuvào tháng 7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thường khô hanhvào tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400 m trở lên không có mùa khô MùaĐông có gió Bắc với tần suất lớn hơn 40% Mùa Hè có gió Đông Nam vớitần suất 25% và hướng Tây Nam Với đặc điểm này, đây là nơi nghỉ mát lítưởng và khu du lịch giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác
Trang 18Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượngnguồn núi Ba Vì và núi Viên Nam Các suối lớn và dòng nhánh chảy theohướng Bắc, Đông Bắc của sông Hồng Ở phía Tây của khu vực, các suốingắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưucủa sông Đà Các suối này thường gây lũ vào mùa mưa Về mùa khô, cácsuối thường cạn kiệt, các suối chính trong khu vực gồm có: suối Cái, suốiMít, suối Ninh, suối Yên Cư… Sông Đà chảy ở phía nam núi Ba Vì, sôngrộng cùng với hệ suối khá dày như suối Ổi, suối Mít, suối Xoan… thườngxuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng đệm.Bên cạnh có các hồ chứa nước nhân tạo như hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, hồHooccua và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấpcho hàng chục ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân.Đồng thời tạo nên không gian thắng cảnh tuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉngơi vấn cảnh cho du khách Nguồn nước ngầm trong khu vực tương đốidồi dào, ở sườn Đông cũng dồi dào hơn bên sườn Tây do lượng mưa lớnhơn và địa hình đỡ dốc hơn.
Các dẫn liệu về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu được Trung tâm tư liệu Khí tượng Thuỷ văn thuộc TTKTTV Quốc Gia cung cấp.
1.3 Đa dạng sinh học
1.3.1 Đa dạng tài nguyên thực vật
Theo danh mục thực vật đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổsung năm 2008, cho tới nay Vườn Quốc gia Ba Vì có 1201 loài thực vậtbậc cao có mạch thuộc 649 chi và 160 họ Như vậy, qua kết quả nghiên cứumới nhất đã khẳng định sự phong phú đa dạng loài thực vật của vườn Sovới kết quả điều tra năm 1998, số họ thực vật phát hiện mới tăng 61 họ, sốchi tăng 177 chi và số loài tăng 389 loài
Nét riêng của vùng cao Ba Vì là tuy cùng nằm trong vùng có hệ thựcvật bản địa của Việt Nam – Nam Trung Hoa như một số nơi khác nhưng
Trang 19ảnh hưởng của độ cao, số loài thuộc các họ phân bố chủ yếu ở á nhiệt đới
và ôn đới nhiều hơn Đáng chú ý là ở đây là đã có tới 5 chi 5 loài thuộc họ
Đỗ quyên (Ericaceae), 6 loài thuộc họ chè (Theacae), 3 chi 19 loài thuộc họ
Dẻ (Fagaceae) nhiều hơn số chi cùng họ ở vườn Quốc gia Cúc Phương(Nơi có diện tích lớn gấp 10 lần) Ngược lại số chi có loài thuộc các họphân bố chủ yếu ở nhiệt đới như họ Dầu (Dipterocarpaceae) lại tồn tạitương đối ít ở vùng cao Ba Vì Nhiều loài phân bố chủ yếu ở đây như: Giổi
nhung (Michelia faveolata), Giổi lá bạc (Michelia sp.), các loài họ Đỗ Quyên (Ericaceae), Chè thơm (Annesla fragrans), Hoa Tiên (Asarum
maximum)… chỉ gặp ớ các vùng cao Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sapa (Lào
Cai), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Sốpcộp (Sơn La), Hoàng Su Phì (HàGiang), trong khi các loài phổ biến trong các kiểu rừng kín ẩm nhiệt đớinhư: Chò xanh thuộc họ Bàng (Combretaceae), Chò chỉ, Chò nâu, Táu ruối,Táu nước, thuộc họ Dầu (Dipterocapaceae) lại không tồn tại, mặc dù có thểgặp chúng ở đai thấp 600 m trở xuống: Những đặc điểm trên đã phản ánh
rõ nét rừng đai cao Ba Vì gồm nhiều thực vật thuộc đai á nhiệt đới núi thấp
Tham gia vào thành phần thực vật ở đây còn có một loài thực vật tàn
di (Hoá thạch sống) của kỷ Đệ Tam, qua thời kỳ băng hà còn sót lại như:
các loài Quyết thân gỗ: Cibotium barometz (L).J.Sm.; Gymnosphaera
gigantea (Wall ex Hook.) và các loài thực vật hạt trần Calocedrus macrolepis, podocarpus nerifolius D.Don, Amentotaxus… làm tăng thêm
tính đa dạng và phong phú của hệ thực vật.
Bảng 1.1 Danh mục cây gỗ quý hiếm:
H.J.Lam
Trang 205 Phỉ ba mũi C mannii Hook.f.
6 Dẻ tùng sọc trắng: A oliver sp.
Gagnep.)Dandy
10 Re hương C iners Reinw.Lecomte ex Blume
12 Mắc liễng Eberhardtia tonkinensis Leccomte
13 Lim xanh Erythrophleum fordii Oliv.
14 Đinh thối Fernandoa brilletti (Dop) Steenis
15 Táu mặt quỷ Hopea mollisima C.Y Wu.
16 Thiết đinh M stipullata (Wall.) Seem.ex
Schum
18 Giổi găng Paramichelia baillonii (Pierre)
S.Y.Hu
(Nguồn: Tài liệu Vườn Quốc gia Ba Vì)
Thực vật đặc hữu Ba Vì có 8 loài:
1 Mua Ba Vì: Allomorphia baviensis
2 Thu hải đường Ba Vì: Begonia baviensis
3 Xương cá Ba Vì: Tabernaemontana baviensis
4 Cau rừng Ba Vì: Pinanga baviensis
5 Lưỡi vàng làng cò: Lasianthus langkokensis
6 Sặt Ba Vì: Fargesia baviensis
7 Mỡ Ba Vì: Manglietia baviensis
8 Cói túi Ba Vì: Carex bavicola Raym…
Thực vật cây thuốc:
Thực vật thuốc vườn quốc gia Ba Vì có tới 503 loài thuộc 118 họ,
321 chi chữa 33 loại bệnh và chứng bệnh khác nhau trong đó có nhiều loài
Trang 21thuốc quý như: Hoa tiên, Huyết đằng, Bát giác liên, Râu hùm…(thiennhien.net) [13].
Đặc điểm các kiểu thảm thực vật rừng:
Thảm thực vật ở khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì gồm 3 kiểu chính:
- Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp Đây làmột quần thể nguyên sinh bị tác động nhẹ nhưng do được bảo vệ trong thờigian lâu dài, rừng đã trải qua diễn thế hồi nguyên, nên đến nay hình thái vàcấu trúc vẫn mang sắc thái một quần thể nguyên sinh Kiểu thảm thực vậtnày phân bố chủ yếu trên các hệ thống dông mái núi của các dãy núi sau:Ngọc Hoa, Tản Viên, Đỉnh Vua Đỉnh Vua - đỉnh 1200 m – 1189 m – 1060
m và 969 m (hệ thống dông phía Tây của đỉnh Vua) Ngọc Hoa - đỉnh
1021 m và 765 m (dải dông phía Tây và Đông Bắc Ngọc Hoa) Từ 700 mtrở lên thuộc núi Viên Nam, Vua Bà
Hình thái cấu trúc: Loài ưu thế sinh thái là các loài cây thuộc khu hệ
thực vật đệ tam đặc hữu bản địa Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam Những
họ tiêu biểu gồm: họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Trúc đào
(Apocynaceae) Rừng có kiểu có cấu trúc đơn giản là chỉ có 2 tầng không cótầng vượt tán, quần thể gồm những cá thể tương đối tròn trịa, rất hiếm thấy
cây có bạnh vè kể cả những cây có tầm vóc to lớn như Giổi (Michelia sp.), Sến (Madhuca pasquyeri) Tầng ưu thế sinh thái đồng thời cũng là tầng cây
cao nhất Cả 2 tầng rừng gồm những loài với tỷ lệ cá thể như sau: Dẻ, Sồichiếm 14%, Re, Bời lời Ba Vì chiếm 7%, Cồng Sữa chiếm 6 %, Nóng chiếm6%, Trâm chiếm 6% ở đai rừng á nhiệt đới còn có 2 kiểu phụ chính sau đây:
Rừng rêu (rừng Cảnh Tiên)
Rừng rêu là một kiểu phụ thổ ngưỡng của đai rừng á nhiệt đới ẩm.Kiểu thảm này phân bố chủ yếu ở đỉnh Vua và một ít ở đỉnh Tản Viên.Thảm rừng phát triển trên nền đất Feralit vàng nhạt á nhiệt đới điển hình,tầng đất mỏng phát triển trên đá pocphirit độ dốc lớn, có đá nổi, tầng mùn
Trang 22khá dày (15-20 cm), đất chua pH=4-4,5 Loài cây ưu thế khá rõ rệt, điểnhình là những loài cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae) chiếm tỷ lệ cá thể 66%
trong đó Sồi (Lithocarpus sp.) chiếm 21%, Dẻ cau (Quercus platycalyx) 13%, Dẻ gai (Castanopsis tonkinnesis) 11%, Dẻ lá đào chiếm 8%, rồi đến các loài họ Re (Lauraceae) chiếm 12%, các loài Đỗ Quyên (Enkianthus
pieris và Rhododendron) họ Ericaceae chiếm 11% và các loài trong họ
Côm (Elaeocarpaceae) chiếm 5%
Rừng thưa á nhiệt đới
Từ xa xưa, con người có thói quen chặt chọn quần thể rừng, đến nayrừng đã được bảo vệ trong thời gian dài nhưng tán rừng vẫn ở tình trạng bịphá vỡ mất hẳn tính chất liên tục vốn có của nó độ tàn che 0,3-0,4, ở nhữngkhoảng tán rừng bị phá vỡ thường là những đám rừng, những vạt câytrong họ phụ Tre nứa (Bambusaceae) chủ yếu là Giang
(Dendrocalamus) Kiểu thảm rừng này phân bố ở các sườn núi, dưới các
kiểu rừng nguyên sinh, nơi có địa hình khá dốc 40-450, trên đất Feralitvàng nhạt trên núi trung bình, tầng đất mỏng phát triển trên đá pocphirit,tầng mùn dày 15-20cm, đất chua pH=4-4,5 Tỷ lệ cá thể những loài cây
ưu thế cũng không rõ ràng, chủ yếu gồm các loài thuộc họ sau: Trâm
(Myrtaceae) chiếm 5%, Bời lời Ba Vì, Bời lời lá tròn thuộc họ Lauraceae
chiếm 5%, Sồi thuộc họ Fagaceae chiếm 4%
- Kiểu rừng kín thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim á nhiệt đới núi thấp.
Đây là kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ bản địa NamTrung Bắc Việt Nam và khu hệ di cư Hymalaya-Vân nam-Quý châu Từ độcao 900 m trở lên đã thấy lác đác có những cá thể loài cây Bách xanh
(Calocedrus macrolepis) trong ngành phụ Hạt trần (Gymnospermae) xuất
hiện ngày càng tăng, và cuối cùng Bách xanh trở thành một trong nhữngloài ưu thế của ưu hợp Bách xanh, Dẻ, Re, Giổi, Mỡ Kiểu rừng này đều
Trang 23phân bố ở đỉnh sườn phía tây của 3 đỉnh Ngọc Hoa, Tản Viên và TiểuĐồng, kiểu thảm này phát triển trên loại đất Feralit vàng nhạt trên núi trungbình tầng đất mỏng, phát triển trên đá pocphirit độ dốc lớn hơn 350 có nơidốc 60-700 và có nhiều đá tảng Cấu trúc kiểu rừng này có 2 tầng: Tầng
trên là Bách xanh (Calocedrus macrolepis) xen lẫn với những loài trong họ
Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae) Tầng dưới
tán có những loài dương xỉ thân gỗ (Cyalthea podophylla), những cây thuộc họ Re (Lauraceae), dây leo ít gồm các chi Stychnos, Fissitigma và
Desmos Cây phụ sinh thấy nhiều trên cành nhánh các thân gỗ đó là các
loài trong họ Phong lan (Orchidaceae) trong đó có loài Kim hoàng thảo
trong chi Dendrobium.
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp
Theo luận điểm quần hệ sinh thái phát sinh thì ở đai khí hậu nhiệtđới này ở thời kỳ xa xưa vốn là ưu hợp của những loài cây trong các họ ưu
thế như: họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Đậu (Leguminoceae), họ Xoài
(Anacardiaceae), họ Trám (Burceraceae), họ Bồ hòn (Sabindaceae), họ Sến(Sapindaceae) Nhưng trải qua quá trình chặt chọn những cây gỗ tốt làm vậtliệu xây dựng của người dân địa phương và chặt phá làm nương rẫy bởi thếđai rừng nhiệt đới này đã bị mất hoàn toàn quần thể thành thục mà chỉ cònnhững kiểu phụ nhân tác sau đây:
- Rừng thưa nhiệt đới: Kiểu thảm thực vật này phân bố đều khắp ởvành đai độ cao 400 m-700 m xung quanh sườn núi Ba Vì, rừng phát triểntrên loại đất Feralit vàng đỏ có mùn trên núi thấp, tầng đất mỏng có nơitầng đất trung bình phát triển trên đá Pocphirit độ dốc cao bình quân 26-
350, tầng mùn mỏng xói mòn mạnh tỷ lệ đá lẫn cao độ chua lớn Mặc dùđược bảo vệ trong thời gian dài, song đến nay kiểu thảm này vẫn chỉ là mộtkiểu rừng thưa, tầng tán đã bị phá vỡ, mất hẳn tính liên tục vốn có của nó,
Trang 24khái niệm về tầng của rừng gỗ chỉ được biểu hiện ở những đám, những vạtlâm phần gỗ mọc tập trung Dưới tán cây gỗ có những loài dây leo thân gỗ,cây phụ sinh thắt nghẹn khá nhiều thuộc nhiều thuộc nhiều họ khác nhau,những cây dương xỉ phụ sinh, những loài phong lan phụ sinh, những cây họMôn, họ Ráy bán phụ sinh, nhiều loài khác nhau thường mọc dầy trên cànhnhánh, trên thân già những cây cổ thụ, những loài trong các chi của họ Dừa(palmaae) mọc dưới tán rừng Ngoài ra, dưới tán rừng còn có những loài câythuộc họ phụ Tre nứa (Bambusaceae) mọc thành bụi hay đám hạn chế sự táisinh của các loài cây gỗ Do điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho điềukiện sinh trưởng phát triển của nhiều loài, nhiều họ nên tổ thành cây gỗ ở kiểuthảm rừng này rất phức tạp không thể hiện rõ tính chất ưu thế như vành đai ánhiệt đới, tỷ lệ % cá thể từ lớn đến nhỏ có các loài trong các họ sau: Trâm
(Syzygium sp.) chiếm 7,1%, Đa (Ficus sp.) chiếm 5,3%, Cà lồ Ba Vì (Caryodaphnopsis baviensis) chiếm 5%, nóng (Sauraulia trystyla) chiếm 4%,
Bời lời Ba Vì (Lisea baviensis) chiếm 4,3%, Kháo lá lớn (Phoebe cuneata) chiếm 4%, Thừng mực (Wrightia annamensis) chiếm 4,1%, Sồi (Lithocarpus sp.) chiếm 3,5%.
- Rừng tre nứa: Sự hiện diện của quần thể rừng giang là do hậu quảcủa quá trình khai thác lạm dụng quá mức hoặc quá trình đốt phá rừng gỗ
để làm nương rẫy của người dân sống xung quanh núi Giang thường pháttriển thành bụi dầy đặc xếp chồng lên nhau tạo thành một tán kín và thấphạn chế khả năng tái sinh của mọi loài cây gỗ
- Rừng phục hồi: Đây là một quần thể xuất hiện sau nương rẫy đãxoá bỏ đất vẫn còn tốt, loại thảm này phân bố khá tập trung ở quanh khucốt 400 m và trên đường từ cốt 400 m sang cốt 600 m Quần thể này vớihình thái cấu trúc đơn giản với một tầng tán cây gỗ khá đồng đều một loạt
rừng đồng tuổi và gồm những loài cây tiên phong như Ba Soi (Macaranga
denticulata), Hu đay (Trema angustifolia), Ba bét (Mallotus apelta) Ngoài
ra còn gặp những loài cây sau đây: Muối (Rhus chinensis), Ngoã lông
(Ficus fulva) Đây là một kiểu thảm rừng đang diễn thế, nếu được bảo vệ
Trang 25tốt có thể hồi nguyên trở về kiểu phụ miền hay kiểu phụ thổ nhưỡngnguyên sinh.
- Rừng trồng: Các loài cây chủ yếu là Keo, Thông, Long Não,Giổi… Cây sinh trưởng tốt chủ yếu trồng ở sườn và chân dẫy núi Ba Vì
1.3.2 Tài nguyên động vật
Vườn quốc gia Ba Vì là nơi sinh sống của khoảng 45 loài thú, 115loài chim, 27 loài lưỡng cư, 61 loài bò sát, 86 loài côn trùng, trong đó có 23loài quý, hiếm có trong sách đỏ như: Culi lớn, Gấu Ngựa, Tê Tê vàng,Công, Gà lôi trắng, Khỉ, Báo, Gấu, Sóc bay…
1.4 Tình hình dân cư và điều kiện kinh tế xã hội
Theo những tài liệu nghiên cứu gần đây thì Khánh Thượng là một xãmiền núi thuộc vùng đất cổ Văn Lang, thời các vua Hùng dựng nước, cảmột vùng thung lũng đồng bằng từ Ba Vì sang Tam Đảo, nơi hợp lưu củanhững con sông lớn nhất đồng bằng Bắc bộ là vùng đất đai trồng trọt tốtnhất, địa thế lại thuận lợi nên dân cư tập trung đông đúc
Cuộc khảo sát được tiến hành trên các thôn của xã Khánh Thượngbao gồm: thôn Bưởi, thôn Bắt Còn Chèm, thôn Gò, thôn Mít, thôn KhánhChúc Bãi, thôn Khánh Chúc Đồi, thôn Hương Canh, thôn Sơn Hà
Dân cư ở đây chủ yếu là dân tộc thiểu số, thuộc địa hình miền núi,canh tác nương rẫy và trồng cây nông lâm nghiệp
Bảng 1.2 Số liệu về diện tích đất xã Khánh Thượng
Tổng diện tích tự nhiên
*Diện tích đất nông nghiệp
*Diện tích đất lâm nghiệp
*Diện tích đất chuyên dùng
*Diện tích đất ở
3,492,0 ha699,5 ha1,173,0 ha97,7 ha21,0 ha
Trang 26(Số liệu trên được Uỷ ban Nhân dân xã Khánh Thượng cung cấp)
Bảng 1.3 Phương thức mưu sinh của người dân ở xã Khánh Thượng
Phương thức mưu sinh Phương thức mưu sinh
(Dẫn liệu trên được Uỷ ban Nhân dân xã Khánh Thượng cung cấp)
Các nhà sử học, dân tộc học cho rằng ít nhất từ thời Trần đến nayvùng chân núi Ba Vì vẫn là nơi tập hợp, sinh sống, phát triển của ngườiMường Theo sử cũ, những năm đầu thế kỷ X, đây là vùng đất tụ nghĩa của
sứ quân Ngô Nhật Khánh Ngày nay các cụ già trong xã Khánh Thượngthường kể lại chuyện họ Đinh ở Mường Động vào thời tiền Lê đi săn, bắnnhầm voi trắng của nhà vua, sợ bị tội trốn sang vùng Khánh Chúc và ThủPháp chân núi Ba Vì Tất cả các tư liệu trên cho thấy từ hàng nghìn nămtrước vùng núi Ba Vì đã là nơi cư trú của người Mường Về sau do nhữngbiến động xã hội những người dân này đã chuyển đi nơi khác Cách đâyvài trăm năm, người Mường từ nhiều nơi như Hoà Bình, Thanh Hoá, PhúThọ, Vĩnh Yên…về sinh tụ xung quanh núi Tản Thời gian trôi đi làng bảnngày càng đông đúc, sự hình thành làng bản lúc đầu là do những nhóm nhỏvài gia đình có quan hệ huyết thống, tình cảm dân tộc tìm địa điểm có điềukiện khai hoang lập ấp thành trang trại, giúp đỡ nhau sản xuất, cùng nhauđoàn kết chống thiên nhiên, trộm cướp, thú dữ giúp nhau những lúc khókhăn để tồn tại và phát triển Trong xã hội người Mường xưa, mỗi làng đều
có thủ lĩnh đứng đầu, đó là Lang Cun gọi tắt là Cun Cóôc Lang Cun thuộc
Trang 27dòng họ quý tộc có uy thế lớn Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, ởKhánh Thượng là khu vực dân tộc Mường sinh sống, người Kinh chỉ là bộphận nhỏ Dân cư được phân bố tự nhiên trong các làng bản theo tập tụctruyền thống và tâm lý dân tộc Người Mường ở hầu hết các gò đồi thấpven chân núi Ba Vì, chỉ có một ít cư trú ven sông Đà như Khánh Chúc, BếnĐình, Gò Bãi Người Kinh tập trung vào 3 xóm thôn Phú Thứ Tính đếnnăm 1981 toàn xã có 4.152 người, bình quân 138/km2, người Mường chiếm75%, người Kinh chiếm 25% dân số (Đinh Xuân Lộc, 2004) [6].
Người dân xã Khánh Thượng sống thuần hậu, chất phác trọng tìnhnghĩa, hàng trăm năm qua đi với biết bao thăng trầm của lịch sử, nhữngbiến động xã hội nhưng các thế hệ cha ông người Khánh Thượng đã cùngnhau chung lưng đấu cật, đoàn kết chặt chẽ, xây dựng bản làng, cùng nhauchống thiên nhiên thú dữ Chống mọi thiên tai địch hoạ với tinh thần tươngthân tương ái để tồn tại và phát triển Từ những điểm dân cư nhỏ bé thưathớt với vài ba mái nhà sàn đơn sơ, lẻ loi giữa núi rừng, đến nay các xómlàng của Khánh Thượng đã đông vui tấp nập, rộn ràng khí thế của mộtvùng quê đang khởi sắc Có cuộc sống hôm nay người dân trong xã phải đổbiết bao mồ hôi, công sức và cả xương máu của mình, vượt biết bao khókhăn gian khổ Đặc biệt sống dưới thời đế quốc phong kiến, tuy được thiênnhiên ưu đãi ban tặng nhiều tài nguyên phong phú, nhưng do sự áp bức bóclột nặng nề, người dân Khánh Thượng vẫn phải sống vất vả
Nhân dân trong xã sống chủ yếu nhờ nông, lâm nghiệp, từ xa xưa họ
đã quen phát nương, làm rẫy, trồng Ngô, Khoai, Sắn và Lúa nương, Lúanước… Người dân ở đây đều có ruộng đất tư, hộ nhiều nhất có tới108000m2, hộ ít nhất cũng có từ 1800-2520m2 Ruộng đất này do tự khaithác, một số ít do trao đổi buôn bán mà có Do lịch sử để lại ai đến đất nàysớm khai thác được nhiều ruộng đất tốt, ai đến sau khai thác được ít hơn,đất xấu hơn Tuy nhiên, những người ít ruộng, hàng năm, hàng vụ được
Trang 28bản làng chia thêm cho một ít ruộng công để cày cấy Do trình độ kỹ thuậtcanh tác lạc hậu, nên sản xuất đơn điệu, năng suất kém Mỗi sào lúa nươngchỉ thu được từ 30-40 kg thóc, do không có hệ thống mương vai thuỷ lợinên việc tưới tiêu hoàn toàn trông chờ vào thiên nhiên Những năm mưathuận gió hoà thì cho thu hoạch khá, còn những năm trời nắng hạn kéo dàithì mùa màng thất bát Bên cạnh việc phát nương làm rẫy tại các thunglũng, nhân dân còn tạo ra những thửa ruộng bậc thang dựa vào nguồn nướcsuối để tiến hành gieo cấy lúa nước Tuy nhiên, do trình độ canh tác lạchậu, giống lúa bao đời không thay đổi nên năng suất cũng không cao.Nhiều năm nước lũ tràn về cuốn trôi cả mùa màng Đất bãi sông được trồngmột vụ lúa, một vụ ngô, một diện tích chiêm trũng chỉ cấy một vụ, vụ mùangập nước Vùng bãi do được bồi đắp phù sa hằng năm, đất đai màu mỡnên năng suất cây trồng khá cao, lúa mỗi sào thu trên 60 kg một vụ, ngôcũng đạt 1,2 tạ/sào, những năm mưa thuận gió hoà người dân chỉ tổ chứcbừa cấy không mất công cày Khi thu hoạch ngô xong, chỉ cần bừa cho cỏchết, đợi nước sông lên phủ một lớp phù sa dày bà con chỉ việc gieo cấy lúatrên nền đất mới bừa.
Thiên nhiên ưu đãi nhưng cũng rất khắc nghiệt, nước sông hàng nămthất thường, cùng với kỹ thuật canh tác lạc hậu, thuỷ lợi không được quantâm xây dựng khiến canh tác nông nghiệp bấp bênh Những năm thất bát,người nông dân một mặt phải phát nương làm rẫy, mặt khác lấy việc kiếmcủi, hái măng, đào của rừng, săn bắn thú rừng làm kế sinh nhai, đợi mùathu hoạch sau
Ngoài thu nhập từ làm ruộng, người dân còn thu nhập nhờ chăn nuôi,khai thác, thu hái lâm sản Việc thu hái lâm sản chủ yếu để phục vụ nhu cầusinh hoạt Khi cần làm nhà họ khai thác gỗ, tranh tre, nứa lá Mùa mưa lấynấm, măng, mộc nhĩ hoa quả Mùa xuân đi săn bắn thú rừng Chăn nuôi gia
Trang 29đình cũng khá phát triển, nhiều gia đình nuôi hàng chục con trâu bò, nhànào cũng nuôi lợn, gà, vịt, ngan…
Nông nghiệp phát triển làm cơ sở cho phát triển nghề thủ công Nghềthủ công trong vùng chủ yếu là trồng bông, trồng dâu nuôi tằm và dệt vải.Chị em phụ nữ gia đình nào cũng trồng bông, nuôi tằm, tuy mỗi xóm chỉ cómột số nhà dựng khung cửu, nhưng công việc kéo tơ, dệt vải luôn sôi độngvào lúc nông nhàn Ngoài việc dệt đủ vải may mặc, vải dùng trong giađình, bà con còn dùng vải dư thừa đem bán hoặc trao đổi hàng hoá Tuynhiên việc tằm tang canh cửu cũng chỉ dừng lại là một nghề phụ trong giađình Chưa có hộ nào bỏ nghề làm ruộng để chuyên dệt vải Mặt khác, việctrao đổi hàng hoá mới chỉ bó hẹp trong từng làng xã, một trung tâm buônbán trao đổi lớn thời bấy giờ là chợ Chẹ cũng chỉ hoạt động nhộn nhịp vàodịp tết nguyên đán, hay lúc thu hoạch mùa màng để trao đổi những sảnphẩm thiết yếu trong vùng
Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng tăng cường thựchiện chính sách khai thác thuộc địa Nhận thấy một vùng rừng núi với tiềmnăng đất đai thiên nhiên phong phú, ngay từ năm 1895, Bắc-Qua một tên tưbản Pháp để lập đồn điền trồng lúa Bằng các hình thức mị dân, gian lận vàlừa đảo, hắn đã chiếm đoạt và mua rẻ được 60 mẫu đất toàn những vùngđất màu mỡ của Khánh Chúc Sáu năm sau, năm 1901 tên thực dân Ti-bônbằng thủ đoạn mua 1 mẫu đất công để làm nhà ở, đặt cơ sở đi lại săn bắntrong vùng, sau đó dùng cọc rào dây thép gai lấn ra xung quanh, vừa đe doạvừa phá hoại, buộc những người có đất phải bán rẻ cho chúng Như vậy,trong khoảng 10 năm, hai tên tư bản Ti-bôn và Bắc-Qua đã chiếm hầu hếtnhững cánh đồng đất màu mỡ dọc sông Đà từ Phú Thứ lên Gò Bãi Nhiềunăm sau, một tên tư bản Pháp khác có tên là Di-liêng bao chiếm những quả
gò đồi thấp ven chân núi trồng Thông, Chè, Quế, Canh-ky-na Để tuyển mộcông nhân vào cho đồn điền từ năm 1939 đến năm 1942, hắn đã mua chuộc
Trang 30cấu kết với bọn phong kiến, tay sai của địa phương đi tuyên truyền vậnđộng nhân dân Khánh Chúc đồi vào làng tây “Ai là người Mường thì theoDi-liêng, Di-liêng sẽ cấp trâu bò và ruộng đất cho” Thực chất là bán thổcanh, thổ cư cho đồn điền tây rồi đi làm cho nó Thâm độc hơn khi muathửa đất chúng mua cả những thửa đất gần bờ sông, đất đã bị xói lở, khigiao lại cho người lĩnh canh nó cũng giao luôn cả diện tích ma đó, thế làngười dân phải chịu thuế oan, nộp sản phẩm khống cho số diện tích ma đó.
Ngoài khai thác tiềm năng đất đai với các sản phẩm lúa gạo, hàngcông nghiệp nhiều tên tư bản Pháp như Khâm-Vạc, Ca-gi-ra-lốt, Giăng-rucòn đi đến Khánh Thượng khai thác tài nguyên sẵn có như đá xây dựng, đálàm đường Với lời tuyên bố của Khâm-Vạc với nhân dân xóm Gò: “Mặttrời lên, bóng núi đến đâu thì đó là đất của hắn” Tuy nhiên nhân dân xóm
Gò đã kiên quyết chống lại thủ đoạn này, buộc chúng phải co hẹp diện tíchlấn chiếm lại 24 mẫu trong khu vực núi đá
Như vậy, trong hơn 50 năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dânPháp đã từng bước đặt chân lên đất xã Khánh Thượng, với nhiều thủ đoạn vừa
mị dân, vừa mua chuộc, vừa lừa bịp, doạ dẫm cùng một số tay sai chúng đãchiếm được 1/3 số ruộng đất màu mỡ của nhân dân trong xã Cụ thể:
- Đồn điền: Giăng-ru 24 mẫu
- Đồn điền: Ty-bô 30 mẫu
- Đồn điền: Bắc- Qua 67 mẫu
Tổng diện tích 121 mẫu Chỉ có 3 tên thực dân đã chiếm 33%ruộng đất, còn hơn 99,7% dân số chiếm 67% ruộng đất Từ khi các đồnđiền của tư bản thực dân Pháp và địa chủ hình thành và hoạt động ở địaphương, nó đã làm đảo lộn nhiều thói quen làm ăn kinh tế đóng kín, yên
ả trong vùng Đa số nông dân phụ thuộc vào các chủ đồn điền ngàycàng bị bóc lột nặng nề
Trang 31Thực dân Pháp xâm lược nước ta chúng vẫn duy trì cơ sở kinh tế củachế độ phong kiến vốn rất lạc hậu để tổ chức ra bộ máy hành chính thựchiện các chính sách cai trị bóc lột hà khắc ở các thôn xã Ở Khánh Thượngđồn điền trồng lúa, hình thức bóc lột chủ yếu là phát canh thu tô, người lĩnhcanh phải bỏ sức kéo, giống vốn, sức lao động ra làm Đến vụ thu hoạchbọn chủ sẽ đến rẽ ruộng làm 4 phần, chúng gặt lấy 2 phần, 2 phần còn lại làcủa người nông dân Những người không có điều kiện lĩnh canh thì đếnlàm thuê ở nhà địa chủ hay chủ đồn điền với ngày công hết sức rẻ mạt.
Những ngưòi làm việc trong đồn điền khai thác đá vôi còn bị bóc lộtnặng nề hơn, mạng sống thường xuyên bị đe doạ Công việc nặng nhọc vất
vả, không có bảo hiểm, nhiều người khi đang khoan đục đá bị ngã xuốngkhe sâu trong lòng núi đá bị mất xác Ai may mắn hơn không chết thì mangbệnh tật suốt đời Ngoài việc phu phen tạp dịch, làm thuê làm mướn chochủ đồn điền, địa chủ, hai phần ba diện tích đất đai còn lại là những vùngđất xấu, nhân dân trong xã được giữ lại canh tác Trồng cấy trên nhữngthửa ruộng này năng suất thấp, thu hoạch lại bấp bênh nhưng thuế lạikhông được giảm Năm 1925, ở Giáp Thượng mỗi suất một năm phải nộp 3đồng, ở xóm Gò và Khánh Chúc là 2,5 đồng Sau khi Nhật vào ĐôngDương mức thuế tăng hơn 2 lần Để đối phó với chiến tranh, đế quốc Pháp
và Nhật hùa nhau thực hiện chính sách “Kinh tế thời chiến”, các thuế cũđược tăng lên và đặt thêm nhiều thứ thuế mới Thuế thân 1934 mỗi suấtđinh 2,5 đồng, năm 1941 đã tăng 4,5 đồng Trước kia việc nuôi trâu bò,trồng cây lưu niên không phải nộp thuế Đến năm 1942, chúng bắt dânphải khai báo trâu bò, cây lưu niên và trực tiếp cho bọn hào lý địaphương đi thu Ngoài mức thu theo quy định bọn này còn hà thu lạm bổ
để kiếm ăn Nhiều người thiếu thuế bị trói treo lên xà đình để hành hạ.Cùng với thuế khoá nặng nề của bọn thực dân đế quốc còn bắt dân taphải nộp thóc tạ, phá hoa màu trồng đay Mức thu thóc tạ bình quân
Trang 32mỗi sào 22kg Năm 1942 chúng bắt dân trong xã phá hàng trăm mẫulúa, ngô để trồng đay với quy định nhà nào có một mẫu ruộng trở lêntrồng 3 sào, dưới một mẫu trồng 1 sào đay.
Kết quả chính sách “Kinh tế thời chiến” của Pháp-Nhật làm chođời sống nhân dân ta vô cùng khổ cực, ruộng ít lại thiên tai sâu bệnhhoành hành thường xuyên, nên thu hoạch không được bao nhiêu Cácmặt hàng thiết yếu như dầu, muối hầu như không có Đói nghèo thườngxuyên rình rập Còn tất cả phải vào rừng lấy măng, đào của rừng, quảrừng, nhiều gia đình lấy quả sung, quả vả thay cơm Có gia đình ăn măng
bị tử vong do ngộ độc Năm 1945 cùng với các vùng xung quanh, KhánhThượng cũng là nơi diễn ra nạn đói, có gia đình phải bán con đi biệt xứ.Tuy nhiên là xã miền núi, người dân Khánh Thượng đã dựa vào kinh tếhái lượm, dựa vào núi rừng để tồn tại nên đời sống giảm bớt khó khăn(Đinh Xuân Lộc, 2004) [6]
CHƯƠNG II KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI BẢO TỒN
ĐA DẠNG SINH HỌC VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
2.1 Kiến thức trồng trọt, chăn nuôi và khai thác sử dụng lâm sản.
Nông lâm nghiệp là phương thức mưu sinh cơ bản của người dân ở khuvực nghiên cứu Do vậy, trồng trọt và chăn nuôi có vai trò rất quan trọng
Trang 33trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu đầu tiên cho cuộc sống của người dân
đó là lương thực, thực phẩm Nông, lâm nghiệp còn được coi như nhữngmóc xích quan trọng trong việc duy trì hoặc phá vỡ hệ sinh thái Vị trí vàtầm quan trọng của nền nông, lâm nghiệp bền vững được khẳng định,chứng tỏ kiến thức bản địa có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì tính bềnvững của nền nông lâm nghiệp tại địa bàn của mình và những khía cạnhnào đó của kiến thức bản địa phản ánh cơ chế ứng phó của người dân đểđảm bảo sự sinh tồn của mình
Qua nghiên cứu điều tra tại 30 hộ gia đình thuộc 8 thôn khác nhau vềhoạt động sản xuất của họ chúng tôi thu được bảng số liệu như sau:
Bảng 2.4 Số hộ gia đình tham gia hoạt động sản xuất (n=30)
Ngành nghề Trồng
trọt
Chănnuôi
Khai thác, sử dụng cácloại lâm sản khác
Trang 342.1.1 Kiến thức kinh nghiệm trồng trọt
Trồng ngô nương: Ngô là cây lương thực chủ yếu của người dân ở xãKhánh Thượng Người dân chọn nơi rừng già, đất tốt để phát nương trồng ngô(giống địa phương), thời gian trồng khoảng từ 2 - 3 năm, sau đó đất được bỏhoang để phục hồi trong một chu kỳ khoảng 3 - 4 năm và người dân lại quay lại
để tiếp tục chu kỳ canh tác mới Ngày nay, việc phát rừng làm nương đã bị cấmnên người dân xã Khánh Thượng chỉ trồng ngô ở nương cố định
Hình 2.3 Vườn ngô
Trang 35Ngô được gieo vào khoảng tháng 2 - 3 âm lịch và được thu hoạchvào giữa tháng 6 đến tháng 9 âm lịch Kinh nghiệm trồng ngô của ngườidân là càng trồng ở nơi đất màu mỡ phì nhiêu thì càng cho năng suất cao,chỉ cần chọn đất không bị ngập úng, gần nguồn nước để có thể chủ độngcung cấp đầy đủ nước cho quá trình sinh trưởng và phát triển của ngô Đấttrồng ngô yêu cầu cày sâu 18-20cm, làm sạch cỏ, bừa phẳng, lên luống Cóthể gieo hạt trực tiếp xuống đất mà không cần ngâm ủ Gieo hạt sâu 2 - 2,5
cm Sau khi gieo phải tưới nước thật ẩm cho tới khi hạt nảy mầm mới tướilại
Chất lượng ngô địa phương tốt nhưng năng suất thấp (Khoảng 1,2
- 1,3 tấn/ha) chỉ bằng 50% năng suất giống mới được đưa từ dưới xuôilên Một điều khá thú vị là người dân dùng ngô địa phương làm lươngthực và chăn nuôi còn giống ngô mới thì được bán ra ngoài Người dâncòn lấy thân ngô làm thức ăn chăn nuôi để giảm chi phí thức ăn Ví dụ:cho trâu bò ăn thân ngô
Trồng Bương: Cây bương thuộc họ Tre, cho măng có vị bùi, ngọt
đậm và giòn thơm được trồng rất nhiều
Hình 2.4 Cây bương Mỗi khóm bương cho 30 - 40 kg măng tươi, giá 1kg măng tươi đượcthu mua tại chỗ là từ 12 - 15 nghìn/kg Trồng bương rất dễ trồng thích hợpvới đất đồi rừng, chỉ cần một nhánh bương kết hợp với cơn mưa, sau 2 - 3