“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học (QTDH), đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học (SVĐH)” đó là vấn đề rất cần thiết trong việc đổi mới và phát triển giáo dục của Việt Nam cho phù hợp với thời đại kỷ nguyên thông tin và kinh tế trí thức hiện nay. Bài viết nêu rõ cơ sở , cách thức và phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong việc đổi mới giảng dạy theo hướng tích cực đối với HSSV các trường đại học cao đẳng cả nước nói chung và trường đại học Phạm Văn Đồng nói riêng.
Trang 1Tóm tắt - Nội dung Tên bài viết: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
GIẢNG DẠY HIỆN NAY
Tác giả: ThS Bùi Tá Toàn - Trường Đại học Phạm Văn Đồng, Quảng Ngãi
Tóm tắt:
Nội dung:
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học (QTDH), đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học (SVĐH)” đó là vấn đề rất cần thiết trong việc đổi mới và phát triển giáo dục của Việt Nam cho phù hợp với thời đại kỷ nguyên thông tin và kinh tế trí thức hiện nay Bài viết nêu rõ cơ sở , cách thức và phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong việc đổi mới giảng dạy theo hướng tích cực đối với HS-SV các trường đại học cao đẳng cả nước nói chung và trường đại học Phạm Văn Đồng nói riêng.
I TÍNH CẤP THIẾT VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Ngày nay, những thành tựu của khoa học-công nghệ (KH-CN) đang đưa thế giới chuyển
từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và kinh tế tri thức, tác động tới tất cả mọi lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Kho tàng kiến thức của nhân loại ngày càng đa dạng và phong phú Trong điều kiện đó, việc toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu khách quan của các nước đang phát triển Các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, Internet tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, hội nhập văn hóa và cũng là điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới và phát triển giáo dục Nhà trường từ chỗ hoạt động khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội, gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu KH-CN và ứng dụng; Giáo (GV) thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách tự lực, có phân tích và tổng hợp
Trong bối cảnh quốc tế đó, để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển đất nước, nền giáo dục Việt Nam phải thực hiện một sự đổi mới sâu sắc và toàn diện về nội dung lẫn phương pháp dạy học (PPDH) như tinh thần của nghị quyết TW2 - khóa VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam
đã nêu: “Đội mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào QTDH, đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự
Trang 2nghiên cứu cho học sinh, nhất là SV ĐH” Vì vậy, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ
vào việc nâng cao hiệu quả dạy học, tôi chọn vấn đề tham luận trong Hội thảo khoa học về đổi
mới phương pháp giảng dạy là: “Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay” Chúng tôi hy vọng có thể tạo ra những bậc thang ban đầu để các GV, SV tiếp cận
với các PPDH hiện đại, khuyến khích họ tăng cường sử dụng CNTT vào quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học
II PHẦN NỘI DUNG
2.1 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG PPDH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG HIỆN NAY
Ở Việt Nam hiện nay, các kiểu PPDH ở ĐH được sử dụng phổ biến gồm: thông báo-tái hiện, làm mẫu-bắt chước Mặc dù các kiểu PPDH mới như: giải thích-tìm kiếm bộ phận, nêu vấn đề-nghiên cứu,… ngày càng được chú ý nhiều hơn, nhưng hầu hết các trường ĐH và CĐ ở Việt Nam hiện nay vẫn còn sử dụng PPDH cũ, vẫn còn theo lối truyền thụ một chiều, “thầy đọc-trò chép”, chưa phát huy đầy đủ tính tích cực, độc lập của SV và bồi dưỡng cho họ năng lực tự học, tự nghiên cứu Các phương pháp thuyết trình, diễn giảng, vẫn là các PPDH chủ yếu QTDH vẫn còn mang nặng tính lý thuyết, cách dạy theo kiểu truyền thống là dùng lời, người học dùng phương pháp nghe và ghi nhớ một cách thụ động Việc tổ chức hướng dẫn cho
SV tự học, đọc sách, semina, thảo luận,… chưa được chú trọng đúng mức Giờ thực hành, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm còn ít, chưa đặt ra yêu cầu cao đối với SV trong học tập, trong nghiên cứu khoa học Phần lớn SV chỉ biết cách học khi sắp thi tốt nghiệp, nên hiệu quả học tập trong nhà trường là rất thấp, khả năng tự học, tự phát triển kém, quen với nghe và ghi, không quen với tự đọc và tự tóm lược,… Phần lớn các đề thi cuối môn học chỉ nhằm đánh giá
SV thuộc bài đến mức nào, kết quả phổ biến là SV chỉ học theo bài giảng của thầy, không tham khảo tài liệu, không học theo lối tư duy phê phán, tư duy sáng tạo để dẫn đến có năng lực giải quyết vấn đề
Với các PPDH như trên, tất yếu dẫn đến cách học thụ động, đối phó của SV Theo số liệu điều tra của một số nhà nghiên cứu giáo dục thì có tới hơn 70% số SV chỉ học trong vở ghi Số SV đọc thêm tài liệu tham khảo, liên hệ thực tế, vận dụng kiến thức vào thực tiễn chiếm tỷ lệ không cao Chỉ có 7,6% số SV trong quá trình học biết tự nêu và giải quyết vấn đề Với kết quả như trên, rõ ràng các PPDH ở ĐH và CĐ hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo của xã hội
2.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC
2.2.1 Vài nét giới thiệu về CNTT trong dạy học
Ngày nay CNTT đang được ứng dụng hết sức rộng rãi và hiệu quả vào các lĩnh vực hoạt động của con người, tạo nên những thay đổi to lớn trong xã hội, trong đó có nhà trường Để đi đến việc ứng dụng CNTT vào QTDH trước tiên cần tìm hiểu sơ bộ về CNTT
Trang 3Công nghệ được hiểu tổng quát là sự áp dụng của khoa học vào các hoạt động thực tiễn
của con người trong đời sống xã hội
Trước xu hướng toàn cầu hóa và việc hình thành một nền kinh tế “mạng”, đã dẫn đến mối quan hệ khắng khít không thể tách rời giữa máy vi tính (MVT) với mạng viễn thông và tạo nên một khái niệm mới là CNTT và truyền thông (tiếng Anh là Information and Communication Technology viết tắt là ICT) Đây là một ngành công nghệ mới đang phát triển với tốc độ cao Đó là tổng thể các phương tiện xử lý dữ liệu, giữ, truyền và phản ánh các sản phẩm thông tin, được cấu trúc thành ba bộ phận:
- Bộ phận công nghiệp truyền thông: mạng điện thoại, mạng cáp, mạng vệ tinh, mạng di động, mạng phát thanh truyền hình,…
- Bộ phận công nghiệp máy tính: máy tính, thiết bị điện tử, CN phần cứng (chủ yếu là tạo ra phương tiện, công cụ để phục vụ trực tiếp CN truyền thông), CN phần mềm (nhằm nâng cao, mở rộng, phát triển hiệu quả của CN phần cứng, của máy tính điện tử,…) và các dịch vụ khác (thương mại điện tử, thư điện tử,…)
- Công nghiệp nội dung thông tin: gồm các dữ liệu, số liệu, hình ảnh, các hoạt động, của
xã hội về mọi mặt: văn hóa, thể thao, nghệ thuật, KH-CN, giáo dục-đào tạo, vui chơi-giải trí,
… ở trong quá khứ, hiện tại, và tương lai Nói chung, đó là kho tư liệu khổng lồ của nhân loại
Ba bộ phận trên liên kết lại với nhau tạo thành một tiềm năng vô cùng to lớn Đó là mạng thiết bị kỹ thuật đa năng, tạo thành xương sống của cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia và toàn cầu
2.2.2 Ứng dụng CNTT trong dạy học
Thực chất của quá trình ứng dụng CNTT trong dạy học là sử dụng các phương tiện để khuyếch đại, mở rộng khả năng nghe nhìn và trao cho máy các thao tác truyền đạt, xử lý thông tin Các phương tiện đó được xem như các công cụ lao động trí tuệ mới bao gồm: MVT, video, máy chiếu qua đầu (over head), máy chiếu tinh thể lỏng (LCD-Projector), máy quay kỹ thuật số, các phần mềm cơ bản: xây dựng thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, CD-ROM,… đặc biệt là mạng Internet Trong đó MVT đóng vai trò là trung tâm phối hợp, xử lý mọi hình thức thể hiện và thao tác truyền đạt thông tin MVT kết hợp với một số phần mềm tạo nên một công cụ hỗ trợ có nhiều chức năng to lớn như: có thể tạo nên, lưu giữ, sắp xếp, sửa đổi, hiển thị lại,… một khối lượng thông tin vô cùng lớn một cách nhanh chóng, dễ thực hiện Do vậy, MVT được xem như là một công cụ dạy học không thể thiếu trong một xã hội hiện đại
2.3 ĐỔI MỚI PPDH VỚI VIỆC ỨNG DỤNG CNTT
2.3.1 Mục đích việc đổi mới PPDH với việc sử dụng CNTT
Sử dụng CNTT trong dạy học nhằm giúp GV và SV sử dụng công nghệ một cách có hiệu quả để phát triển việc học của SV một cách độc lập sáng tạo, phát triển môi trường học
Trang 4tập với nhiều thuận lợi, từ đó giúp người học học tích cực, tự lực, tạo cơ hội cho SV tiếp xúc nội dung học tập theo nhiều con đường khác nhau (như tham khảo các tài liệu in, tài liệu trên Internet, ) và với nhiều đối tượng khác nhau (các SV trong và ngoài lớp học, các thầy giáo khác,…)
2.3.2 Phát triển việc học của SV một cách độc lập và sáng tạo
Trong PPDH sử dụng CNTT, GV không thông báo kiến thức cho SV mà thay vào đó cung cấp cho SV những vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu SV sử dụng các công cụ của CNTT như: MVT và các phần mềm của nó, Internet, CD-ROM,… để tự tìm tòi, đưa ra giả thuyết, giải pháp kiểm chứng và sau đó trình bày vấn đề theo quan điểm và cấu trúc của mình Điều này giúp cho SV học tập tích cực hơn, SV có cơ hội để trình bày quan điểm, thể hiện khả năng của mình Với con đường lĩnh hội tri thức như trên, SV sẽ có điều kiện để phát triển đồng thời khả năng sáng tạo, các kỹ năng thực hành và thúc đẩy SV học tập độc lập
2.3.3 Phát triển môi trường học tập với nhiều thuận lợi:
- Chia sẻ tài liệu học tập: Trong môi trường học tập sử dụng CNTT, GV và SV có thể chia sẻ thông tin, tài liệu mà họ tìm thấy được trên ti vi, radio, Internet,… để cùng nhau học tập Điều này giúp SV và GV có nhiều cơ hội để thực hiện sự chia sẻ thông tin ở mọi nơi mọi lúc, phát triển hình thức học tập hợp tác
- Chia sẻ không gian học tập: Mạng máy tính tạo ra một môi trường học tập, ở đó người học có thể chia sẻ không gian học tập bằng cách trao đổi thông tin với người khác hoặc với
GV Sử dụng mạng máy tính, có thể tạo sự liên kết tốt giữa GV-SV và SV-SV
- Thúc đẩy học tập hợp tác: điều này được thực hiện qua việc thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm, thu thập kinh nghiệm cả nhóm, và nhóm báo cáo,…
- Hướng tới học tập độc lập: Qua trao đổi thảo luận, khai thác tìm hiểu các thông tin, mỗi SV sẽ tự rút ra những vấn đề cần tìm hiểu, những kinh nghiệm và biến kiến thức của tập thể thành kiến thức của bản thân
2.3.4 Trình độ tin học của SV và GV các trường đại học và cao đẳng
Trừ những GV giảng dạy về CNTT, khá nhiều GV thuộc chuyên ngành khác chưa có đủ
kỹ năng áp dụng một cách có hiệu quả các công cụ của CNTT vào nội dung bài giảng của mình Trình độ tin học của cán bộ, GV chủ yếu là biết sử dụng tin học văn phòng, soạn thảo văn bản (theo số liệu điều tra chiếm 63) Số đào tạo chính quy về CNTT rất ít (chiếm 8), nhìn chung trình độ của GV còn nhiều bất cập với những ứng dụng cụ thể của các phần mềm, các thí nghiệm với máy tính,…
2.3.5 Thực tiễn ứng dụng CNTT trong dạy học:
Đa số GV vẫn sử dụng PPDH truyền thống, phương tiện là phấn trắng bảng đen, bảng biểu và đồ dùng thí nghiệm thô sơ Một số ít GV có sử dụng máy chiếu qua đầu hoặc
Trang 5Projector, soạn bài giảng điện tử bằng phần mềm Powerpoint trong những tiết dạy tốt, thao giảng Tuy nhiên các giờ dạy đó chỉ thực hiện một cách riêng lẻ, không có hệ thống, chưa chuẩn bị kỹ về mọi mặt của vấn đề PPDH, do vậy thực chất những tiết giảng rời rạc đó chưa thể làm thay đổi được bản chất của QTDH để có thể nâng cao chất lượng dạy học môn học
2.3.6 Điều kiện cần thiết để sử dụng CNTT trong dạy học
- Phải thay đổi cơ bản suy nghĩ và thói quen của GV và các nhà quản lý giáo dục về vấn
đề đổi mới PPDH
- Đào tạo GV và SV có một trình độ tin học căn bản
- Trang bị cơ sở vật chất và trang thiết bị về CNTT
2.4 NHỮNG NÉT MỚI TRONG VIỆC ỨNG DỤNG CNTT ĐỂ ĐỔI MỚI PPGD
2.4.1 Đổi mới trong việc xây dựng kế hoạch bài giảng (KHBG)
- Xây dựng câu hỏi khung cho bài giảng
- Sử dụng các hình thức của CNTT để tạo những công cụ hỗ trợ KHBG
2.4.2 Tạo bài trình diễn (Presentation) bằng Microsoft Powerpoint
a Giới thiệu khái quát về Microsoft Powerpoint:
Powerpoint là một phần mềm chuyên dụng của Microsoft Office cho phép người dùng thiết kế các trang dữ liệu (Data Slide) minh họa trên màn hình MVT với mục đích là trình diễn, báo cáo Powerpoint có nhiều chức năng như: cho phép đưa lên các trang màn hình những dạng dữ liệu khác nhau bao gồm hình ảnh, hoạt hình, âm thanh, các biểu đồ,… Mỗi vùng dữ liệu được đặt trong một khung riêng biệt trở thành một đối tượng độc lập, sử dụng thanh công cụ với những chức năng tự động hóa, chức năng liên kết với các hình ảnh, đoạn phim,… để thiết lập các đặc tính cho mỗi khung dữ liệu bao gồm: thứ tự xuất hiện trên màn hình, hình thức xuất hiện, âm thanh, liên kết,… Ứng dụng các kỹ thuật này để thiết kế các bài trình diễn, thuyết minh khoa học,… rất trực quan, sinh động, hấp dẫn và thu hút sự chú ý của người xem vào các vấn đề được trình bày Đây là một phương tiện tốt để truyền đạt thông tin,
là một công cụ nghe-nhìn, huy động được các giác quan, tạo hứng thú cho người học khi tiếp thu kiến thức, vì vậy trong giảng dạy nó được sử dụng làm một phương tiện dạy học hết sức thuận tiện, khi trình chiếu chỉ cần nhấp chuột, để lần lượt đưa ra màn hình những nội dung cần giới thiệu, giúp cho GV hoàn toàn chủ động trong QTDH
b Qui trình sử dụng Microsoft Powerpoint để thiết kế bài trình diễn
- Lên kế hoạch về nội dung
- Lập bảng dự kiến nội dung chi tiết cho từng slide
- Sưu tầm tài liệu (hình ảnh, âm thanh, sơ đồ,…)
Trang 6- Nhập nội dung cho từng slide trên Powerpoint.
- Chỉnh sửa, trình bày các slide, cải tiến bài trình diễn
- Tạo trình diễn
- Lưu bài trình diễn
Ví dụ: bài trình diễn mẫu ứng dụng CNTT trong đổi mới giảng dạy (Hình)
2.4.3 Tạo các tài liệu in bằng Microsoft Word hỗ trợ cho dạy học 2.4.4 Khai thác Internet để thu thập dữ liệu hỗ trợ cho bài giảng
2.4.5 Xây dựng kế hoạch bài giảng học phần:
Kế hoạch bài giảng
Họ và tên giáo viên
Tổ - Khoa
Trường
Học phần
Chuyên ngành đào tạo
Lớp
Khái quát bài học
Tên bài học
Câu hỏi khung
Câu hỏi trọng
tâm
Câu hỏi chi tiết
Tóm tắt bài học
Thảo luận
- Hình thức 1: Thảo luận đôi
- Hình thức 2: Thảo luận nhóm
- Hình thức 3: Tổ chức Xê mi na
Mục tiêu chung
Trang 7Yêu cầu cho từng chuyên ngành đào tạo
Các hoạt động dạy học của GV
Các hoạt động học tập của SV
Thời gian hoàn thành, Điểu kiện và các kỹ năng cần thiết
Các tài liệu tham khảo
Các công cụ, phương tiện kỹ
thuật cần thiết
Các Website có liên quan
Các tài liệu khác
Đánh giá
III KẾT LUẬN
Từ bối cảnh quốc tế và bối cảnh trong nước đã dẫn đến việc đổi mới PPDH là một vấn
đề bức xúc hiện nay của ngành giáo dục nước ta Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của KH-CN đặc biệt là CNTT- với nhiều vai trò tích cực đối với QTDH - đã cho thấy việc đưa CNTT vào trong dạy học ở các cấp, nhất là ở ĐH và CĐ là một đòi hỏi, một xu thế tất yếu để phát triển giáo dục và đạt được mục đích tích cực hóa hoạt động học tập của người học, nâng cao hiệu
quả và chất lượng đào tạo Không ngoài mục đích trên, vấn đề: “Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy Đại học và Cao đẳng” cũng nhằm mục đích góp phần từng
bước nâng cao chất lượng giảng dạy theo phương pháp tích cực hiện nay
Chúng tôi hy vọng rằng tham luận của chúng tôi sẽ đóng góp một phần nào đó trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở bậc Đại học và Cao đẳng nói chung và tại trường Đại học Phạm Văn đồng nói riêng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phạm Minh Hạc (2003), “Vấn đề đổi mới PPDH ở ĐH và CĐ”, TCGD, (số55)
[2] Nguyễn Minh Hiển (2001), “Các giải pháp chủ yếu để phát triển giáo dục ĐH”, Tạp chí
Giáo dục (số 16).
[3] Trần Hữu Luyến (2002), “Mục đích cơ sở và giải pháp đổi mới PPDH ở ĐH và CĐ”,
Tạp chí GiáoDục, (Số 38).
[4] Lê Đức Ngọc (2003), “Một số bất cập của giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay và 5 giải
Trang 8pháp khắc phục”, Tạp chí Giáo Dục, số 67.
[5] Nguyễn Thị Thúy Hồng ( 2009), “ Đổi mới phương pháp dạy học: không nên đổ lỗi cho
cơ chế”, Báo Giáo dục và thời đại online.
[6] Một số địa chỉ Website:
http://www.google.com
http://www.edu.net.vn.com
http://www.physicsclassroom.com