1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập luyện từ và câu

56 537 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 9,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà ngữ pháp của học phái A-lêch-xăng-đri định nghĩa danh từ và động từ không phải theo các thành phần của phán đoán mà theo khái niệm đo chúng thể hiện: “Danh từ là từ loại biến các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SU PHAM HA NOI 2 KHOA GIAO DUC TIEU HOC

NGUYEN THI NINH

TIM HIEU KHA NANG XAC DINH TU LOAI

CUA HOC SINH LOP 4, 5 THONG QUA

CAC BAI TAP LUYEN TU VA CAU

KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

TRUONG DAI HQC SU PHAM HA NOI 2 KHOA GIAO DUC TIEU HOC

NGUYEN THI NINH

TIM HIEU KHA NANG XAC DINH TU LOAI

CUA HOC SINH LOP 4, 5 THONG QUA

CAC BAI TAP LUYEN TU VA CAU

KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYÊN THU HƯƠNG

Trang 3

LOI CAM ON

Bằng tắm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm on

cô giáo Nguyễn Thu Hương- người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp

đỡ chúng em hoàn thành khóa luận này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy (cô) giáo trong Ban giám hiệu, phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa Giáo dục Tiểu học, thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Hùng Vương, Trường Tiểu

họcNam Viêm - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc trong suốt quá trình

chúng em quan sát, tìm hiểu thực tế và thực nghiệm khoá luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp K37B — GDTH đã tạo điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này

Em xIn chân thành cảm on!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Người thực hiện

Nguyễn Thị Ninh

Trang 4

LOI CAM DOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đưa ra trong khóa luận là trung thực,chính xác và chưa từng được công bồ trong bất cứ công trình nào khác

Ha Noi, thang 5 nam 2015 Người thực hiện

Nguyễn ThịNinh

Trang 5

MUC LUC 2:79008.(05271000

1 Lý do chọn đề tầi <+sss + xe E7 cv EEY HT EErkerreered

2 Lịch sử vẫn đỀ - cscsc n1 T119 19319878 521181551553 EeErsrsrers

3 Mucc dich nghién civ

4 Đối tượng va khdch thé woes ssessssesecscsesessvscsecsvsveeceversecsesesacsveneaveeses

1.1 TỪ ÏOạ1 - - - c ScĂ Ăn ng nnnn n nn nnnn nHn n nnnh ng vế IBSNN9 i6 e 1.1.2 Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt 5-5-5sccscxc: 1.1.3 Tiêu chí phân định từ ÏOạ1 - 555532 + * + vxesssseessss 1.1.3.1.Ý nghĩa ngữ pháp khái quát - - 2 2s +s+£xz+zzseevszrsrxd I2 si 0ì 340) 0177 — 1.1.4 Kết quả phân loại từ lOại - - 2= se E+xeE++E£EeEstereeesrecree 10

IS Si — 11

IE ca 19 1.1.5 VỊ trí, nhiệm vụ của việc dạy học các dạng bài tập về từ loại cho

hc sinh ni 23 1.2 Phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu hỌC -cc Sen ve 23

1.2.1 Vị trí của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học 23

1.2.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu -.-««««- 24

Trang 6

1.2.2.1 Vé mat Luyén teri eccscssscsssesessssesecevevsssevsnsecseeversavseeseaes 24 1.2.2.2 Về mặt Luyện câu - + + s+k+E£EEEk£keveExeEerxrkrsererkee 25

1.2.3 Các nguyên tắc dạy học Luyện tử và câu -sccscse 25 1.2.3.1 Nguyên tắc giao tiẾp -. - - ch Txxvxe grrkrrererkeg 25 1.2.3.2 Nguyên tắc trực qUaH 2-22 +s+sz+E+EsEE£verEersrxvrerxresrxee 26

1.2.3.3 Nguyên tắc đồng bộ, tích hợp -s- - sccscxexsrxeeerxeesrxee 27

1.2.3.4 Nguyên tắc chú ý đến các đặc điểm của từ trong hệ thống

040010312) 0000235 28

1.2.3.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thông nhất giữa ý nghĩa và hình thức 0141890100011 29

1.2.4.Nội dung Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu TOC .sssceccccesscccccecsceccccnsscecessesceseseussseseessessececnsceceeeeceseeesnesesesseescseeenssseses 30 1.2.4.1 Hệ thống hóa các nội dung Luyện tỪ s- 5 se: 30 1.2.4.2 Hệ thống hóa các nội dung Luyện câu . -s-: 31 1.2.5 Phân môn Luyện từ và câu lớp 4, Š . -<++<sssssssssa 31 1.3 Đặc điểm của học sinh Tiểu học + +ss se se+eseseszezezszzssez 32 1.3.1.Đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh Tiểu học 32

In (lì e 33

1.3.1.2 CHU YY 33

I6 33

IS na me 34

IS EM o2, lo 34

1.3.1.6 Ï i0 — 34

1.3.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học - se sse: 35 IS ŠẺ 04 án 35

IV Win v nh 35

Trang 7

CHUONG 2 KHA NANG XAC DINH TU LOAI CUAHOC SINH VA

CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CHO

2.1.4 Kết quả tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5

thông qua các bài tập Luyện từ và câu - - s9 si 38 2.1.4.1 Dạng 1: xác định từ loại, tiêu loại trong câu, đoạn 38 2.1.4.2 Dạng 2: Tìm tử theo từỪ lOạ1 Ặ S2 ve 39

2.1.4.3 Dạng 3: Điền từ loại vào chỗ trồng . 2- - scs+eessreẻ 41

2.1.4.4 Dạng 4: Dùng từ loại đặt câu, viết đoạn scscscsssce 42 2.1.4.5 Dạng 5: Thay thế danh từ bằng đại từ 7-7sccecs¿ 43 2.1.4.6 Dạng 6: Chữa lỗi sử dụng từ loại - - 5 2 <cscscscscs¿ 45 2.1.5 Nguyên nhân mắc lỗi khi xác định từ loại của học sinh 46 2.2 Các biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5 48 2.2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại của học SInnH - - - - + c cv vn ng cv nếp 48 2.2.2 Một số biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học

2.2.2.1 Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở để hình thành kiến thức VỀ từ lOại - s22 552 S122 12x E3 1571717171715 151111151111 cryd 49

2.2.2.2 Sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vẫn đề trong dạy học

VỀ TỪ ÌOạÏ, 22-5 St S223 3 3 1311711117171 1711515111151 1E 1x cry 51

Trang 8

2.2.2.3 Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học về từ loại 53

2.2.2.4 Thiết kế các dạng bài tập nhằm nâng cao khả năng xác định

từ loại cho học sinh - - - ccscsn cv HH ng nu 54 2.2.2.5 Hướng dẫn học sinh nghiên cứu, thực hiện các dạng bài tập

VE tỪ Oại 2c tt 93193923 3238181511811 E522EE2E1EEEEEEEETErerererrrrrs 57 2.2.2.6 Tô chức giảng dạy theo trình độ học tập của học sinh 59

57.96 8.420007.) 00157 ¬a 4< ÔÒỎ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 se S2 E2 S888 S8 ESE E88 E2EEeEEESEeEeEeEeErerres 66

Trang 9

PHAN 1 MO DAU

1 Lý do chọn đề tài

Nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con người, từ xa xưa, ông cha ta đã sử dụng nó như một phương tiện để giáo dục trẻ nhỏ Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của

mẹ, của bà; lớn lên chút nữa những câu chuyện kế có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có

nhân cách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thảnh con người mới, đáp ứng

yêu cầu của xã hội

Trong xu thế phát triển toàn cầu như hiện nay, việc phát triển con người

toàn diện là việc thiết yếu.Người Việt Nam trước hết phải sử dụng thuần thục

ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, học tập và nghiên cứu Môn Tiếng Việt ở các cấp học nói chung, ở Tiểu học nói riêng giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt Môn Tiếng Việt tập trung thê hiện

ở bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết).Đây là những kỹ năng quan trọng để học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Đồng thời

là cơ sở để học sinh tiếp thu và học tốt các môn học khác ở các lớp trên Thông qua việc dạy và học, tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy

Trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ góp phần cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường qui nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói — viết), bên cạnh đó còn cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài; giúp học sinh bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt;

từ đó hình thành nhân cách và nếp sông văn hoá của con người Việt Nam

Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhả trường xuất hiện như

một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường Cả thế giới đang

Trang 10

mởtrước mắt các em.Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ đăng nhất.Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tatca các môn học

Những điều sơ đắng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụngngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh.Ngôn ngữ là thứ công cụ

có tácdụng vô cùng to lớn Nó có thể diễn tả tất cá những gì con người nghĩ

ra, nhìnthấy, biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan không thể vươn tớiđược Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàndiện học sinh.Luyện từ và câu là phân môn chiếm thời lượng

khálớn trong môn Tiếng Việt ở tiểu học.Nó tách thành một phân môn độc lập,

có vị tríngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn song song tôn tại với các mônhọc khác Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ, đặc biệt là những kiến thức và kĩ năng xác định, sử dụng từ loại cho học sinh là rất cần thiết và nócó thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ

sở hình thànhngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri

thức mới trongcác môn học khác Tầm quan trọng đó đã được rèn giữa, luyện tập nhuần nhuyễntrong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4, 5

Tuy nhiên, khả năng xác định từ loại của mỗi học sinh không giống nhau Vì vậy tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu”

Trang 11

chú ý đến tính chất vị ngữ của động từ và cho răng động từ thể hiện vị thể của phán đoán Danh từ thì được coi 1a tên gọi của các sự vật

Các nhà ngữ pháp của học phái A-lêch-xăng-đri định nghĩa danh từ và động từ không phải theo các thành phần của phán đoán mà theo khái niệm đo

chúng thể hiện: “Danh từ là từ loại biến cách chỉ vật thê đồ đạc, được phát

ngôn cả cái chung và cái riêng” “Động từ là từ loại không biến cách và thể hiện các hoạt động chủ động, bị động”

Thé ki XVII — XVIII, các nhà ngữ pháp duy lý lại đặt trở lại mối quan

hệ giữa từ loại và các phạm trù của lô-gic, cụ thể là mỗi quan hệ giữa động từ với vị thể của phán đoán Danh từ và tính từ được giải thích như là những từ chỉ sự vật không xác định nào đó qua một khái niệm đã xác định mà ngẫu

nhiên đối với bản chất sự vật

Trong nhiều năm, mỗi quan hệ giữa từ loại và các phạm trù lô-gic chưa được giải quyết một cách thỏa đáng Phải đến cuối thế kỉ XIX vẫn đề từ loại tiếng Việt mới được bàn lại, theo đó vẫn đề từ loại được xem xét:

Năm 1986, tac gia Dinh Van Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiépquan tâm đến các vẫn đề:

- Bản chất và các đặc trưng của từ loại, tiêu chuẩn phân định từ loại

- Hệ thông các từ loại tiếng Việt

- Từ loại là các phạm trù của tư duy

Năm 1999, tác giả Lê Biên trong cuốn Từ điển tiếng Việt hiện đại, Nhà

xuất bản Giáo dục nghiên cứu các vấn đề: Khái niệm về từ loại; đối tượng,

tiêu chí, mục đích phân định từ loại Đặc biệt, tác giả đi sâu tìm hiểu hệ thông

từ loại cơ bản, ranh giới giữa từ loại cơ bản với từ loại không cơ bản

Đến năm 2004, trong cuỗn Wgữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo

Dục, khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã đưa ra ba tiêu

chuẩn đề phân định từ loại tiếng Việt: Ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp,

Trang 12

chức vụ cú pháp Ngoài ra, khi bàn về vẫn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả phân thành hai lớp lớn: Thực từ và hư từ Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu ba từ loại thuộc lớp thực từ: danh từ, động từ, tính từ

Và gần với để tải của chúng tôi nghiên cứu là cuỗn Ngữ pháp tiếng

Việt, Nhà xuất bản Giáo duc, 2006, tac gid Diép Quang Ban — Hoang Van Thung đã dành ra một chương nghiên cứu về từ loại tiếng Việt với trọng tâm

là tiêu chuẩn phân định từ loại và hệ thống từ loại tiếng Việt Theo tác giả, hệ

thông từ loại tiếng Việt có thê sắp xếp thành hai nhóm:

Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ

Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ), kết từ, tiểu từ (trợ từ và tình thái từ)

Đồng thời, tác giả có sự lý giải cho các sắp xếp trên

Những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà không được thực nghiệm ở trường Tiểu học Nhận thức được tầm quan trọng của việc gắn lý

thuyết với thực tiễn, gắn việc tiếp thu tri thức và thực hành tri thức, chúng tôi

mạnh dạn tiễn hành điêu tra thực nghiệm về khả năng xác định từ loại của học sinh Tiểu học Từ đó có cơ sở đề ra biện pháp tô chức dạy học phù hợp nhằm giúp học sinh xác định từ loại đạt hiệu quả tốt nhất

- Đôi tượng nghiên cứu: Khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4,

5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu

-_ Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Luyện từ và câu ở Tiêu học

5 Phạm vỉ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp

4, 5thông qua các bài tập Luyện từ và câu, cụ thể tại Trường Tiểu học Hùng

Trang 13

Vương — Thị xã Phúc Yên — Tỉnh Vĩnh Phúc và Trường Tiểu học Nam Viêm

- Thị xã Phúc Yên — Tỉnh Vĩnh Phúc

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cở sở lí luận của việc tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu

-_ Hệ thông bài tập Luyện tử và câu khảo sát khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5

-_ Để xuất biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu

7 Phương pháp nghiên cứu

?.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận

Trên cở sở sử dụng các thao tác của tư duy: phân tích, tổng hợp, so

sánh, khái quát hóa, để nghiên cứu tài liệu liên quan nhằm thu thập thông tin

cần thiết làm cơ sở lí luận cho để tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

-_ Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát hoạt động của giáo viên, học sinh để tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh

- Phuong pháp đàm thoại: Trò chuyện với giáo viên và học sinh để tìm hiểu khả năng xác định từ loại và những khó khăn trong quá trình xác định từ loại của học sinh

- Phuong pháp điều tra giáo dục: Tiến hành điều tra bằng phiếu bài tập đối với học sinh nhằm thu thập những thông tin về khả năng xác định từ loại của học sinh

- Phuong pháp thống kê toán học: Dùng phương pháp thống kê số liệu

để từ đó rút ra những đánh giá cần thiết

8 Cầu trúc đề tài

Đề tài được cẫu tric gdm 2 chương:

Trang 14

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc tim hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh

Chương 2: Khả năng xác định từ loại của học sinh và các biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5

Trang 15

PHAN 2 NOI DUNG CHUONG 1 CO SO LI LUAN CUA VIEC TIM HIEU KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CỦA HỌC SINH

1.1 Từ loại

1.1.1 Khái niệm

Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo

ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu(Đinh Văn Đức, 1986)

Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhăm mục đích ngữ pháp, theo

bản chất ngữ pháp của từ (Lê Biên) Trong cuỗn Từ điển tiếng Việt (2008)

định nghĩa “Từ loại là phạm trù ngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát như: danh từ, động từ, tính từ, ”

Vậy, theo chúng tôi, từ loại là lớp các từ có sự giống nhau về đặc điểm

ngữ pháp Muốn phân định được từ loại cần xác định được đặc điểm ngữ pháp (bao gốm cả ý nghĩa ngữ pháp khái quát) của từ

1.1.2 Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt

Phủ nhận sự tồn tại của từ loại, tác giả Hồ Hữu Tùng cho rằng: Tiếng Việt cơ cầu theo một lỗi khác hắn so với các ngôn ngữ phương Tây (không có

sự biến đôi hình thái) do đó không có từ loại, mà tuỳ thuộc vào vị trí trong câu

mà có tính chất (thuộc tính) nhất định, một từ có thể có nhiều thuộc tính khác

nhau

Thừa nhận sự tôn tại của phạm trù từ loại Tuy nhiên trong nhóm này

có những khác biệt trong việc nhận định, phân loại:

- Thuân túy ý nghĩa khái quát (Trần Trọng Kim)

Trang 16

- Chức vụ cú pháp (Phan Khôi): một từ có thể thuộc về nhiều từ loại

khác nhau

- Khả năng kết hợp (Nguyễn Tài Cân):

+ Khả năng làm trung tâm của cụm từ, ngữ

+ Khả năng làm thành tố phụ của ngữ

1.1.3 Tiêu chí phán định từ loại

Trong tiếng Việt, người ta dựa vào các tiêu chí sau đây để phân chia các từ thành từ loại:

1.1.3.1 Ý nghĩa ngữ pháp khái quát

Ý nghĩa ngữ pháp khái quát của từ bao gồm các nét nghĩa liên quan đến

từ vựng (ý nghĩa từ vựng khái quát) và các nét nghĩa liên quan đến ý nghĩa ngữ pháp (ý nghĩa tình thái, ý nghĩa quan hệ)

Ý nghĩa ngữ pháp khái quát là loại ý nghĩa phạm trù có mức độ khái quát cao, do đó là ý nghĩa chung cho các từ thuộc cùng từ loại Ví dụ: các từ

ăn, chạy, đánh, đào, viết, mua có ý nghĩa khái quát chung là chỉ hoạt động:

các từ (ối, đẹp, tối, thẳng, cao, thơm có ý nghĩa khái quát chung là chỉ tính

cứ vào ý nghĩa khái quát thì không thẫy được những đặc điểm khác biệt của

từ loại trong các ngôn ngữ khác nhau, trong các loại hình ngôn ngữ khác nhau, không thấy được sự thông nhất giữa ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp, chức năng ngữ pháp của từ.Vả lại, việc phần định từ loại chỉ dựa trên tiêu chí ý nghĩa sẽ không có tác dụng tích cực đối với thực tiễn sử dụng khi

Trang 17

đưa từ vào hoạt động giao tiếp (ndi, viét) Vi thé ngoai tiéu chí về ý nghĩa khái

quát, cần phải sử dụng các tiêu chí về hình thức ngữ pháp

1.1.3.2 Hình thức ngữ pháp

Hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt không bộc lộ trong bản thân từ

mà bộc lộ trong hoạt động cầu tạo các đơn vị lớn hơn: cụm từ và câu Vì vậy,

để xem xét các phương diện hình thức ngữ pháp của tiếng Việt, cần dựa vào khả năng kết hợp của từ khi cầu tạo cụm từ và dựa vào khả năng đảm nhận các thành phần câu (chức năng cú pháp của từ)

a Khả năng kết hợp

Kha năng kết hợp của từ là sự phân bố của từ trong hoàn cảnh giỗng

nhau hoặc khác nhau khi chúng kết hợp với từ khác.Các từ được phân bố

cùng một vị trí, trong cùng một hoàn cảnh giống nhau có thê tập hợp thành một từ loại

Ví dụ: các từ người, nhà, con, cái, chiếc, đều có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở phía trước và các từ này, kia, do, dy, no ở phía sau, chúng được tập hợp thành từ loại danh từ; các từ ăn, suy nghĩ, đọc, vác, đều

có thể đứng sau đã, đang, sẽ, đứng trước xong, rồi, ching được tập hợp thành từ loại động từ

Khả năng kết hợp các vị trí phân bố giống nhau là tiêu chuẩn tích cực

đối với từ loại này và là tiêu chuẩn tiêu cực đối với từ loại khác (tiêu chuẩn đối lập các từ loại)

b Chức nang ngữ pháp của từ

Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp của từ trong câu không giống nhau Hoạt động cầu tạo của câu chủ yếu được xem xét ở năng lực đảm nhiệm của hai thành phân chính (chủ ngữ và vị ngữ) trong nòng cốt câu của

câu đơn bình thường Có thể phân biệt những từ có thê đảm nhận vai trò các thành phần chính (danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ) và các từ chỉ đảm

Trang 18

nhận được vai trò các thành phần phụ (phụ từ), hoặc chỉ đảm nhận vai trò kết

nối các thành phần câu (quan hệ từ) Ngoài ra, còn có các từ không đảm nhiệm vai trò cầu tạo một phần nào trong cấu trúc ngữ pháp của câu, mà chỉ thể hiện ý nghĩa tình thái của câu (tình thái từ).Các từ có chức năng ngữ pháp điển hình giỗng nhau có thể được xếp vào cùng một từ loại.Những từ thuộc các loại khác nhau (thường) có chức năng ngữ pháp điển hình không giống nhau

Có thé phân biệt các từ có thể đảm nhiệm vai trò thành phân chính

(danh từ, động từ, tính từ, đại từ) và các từ thường đảm nhiệm vai trò thành

phan phụ (số từ, phụ từ), hoặc chỉ đảm nhiệm vai trò kết nối các thành phần

trong câu (quan hệ từ).Ngoài ra, còn có các từ không đảm nhiệm vai trò câu tạo một thành phần nào trong cấu trúc ngữ pháp cơ bản của câu, mà chỉ thể hiện ý nghĩa tình thái (tình thái từ, trợ từ, thán từ)

1.1.4 Kết quả phân loại từ loại

Nhìn một cách tổng quát, các từ của tiếng Việt trước hết được phân biệt

theo các đặc điểm vẻ ý nghĩa và các đặc điểm về hình thức trong hoạt động ngữ pháp thành hai phạm trù hớn là thực từ và hư từ

Thực từ có nghĩa từ vựng thực, thường gan với chức năng tri nhận và định danh các đối tượng của hiện thực; có khả năng đảm nhiệm vai trò các thành tố chính và cả vai trò các thành tô phụ trong cấu tạo cụm từ và của câu;

có thê độc lập tạo câu đặc biệt

Hư từ cũng có nghĩa nhưng ý nghĩa của hư từ không thể liên hệ với một đối tượng nào trong thực tế, do đó hư từ không thê thực hiện chức năng định danh.Hư từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp hoặc ý nghĩa tình thái và không thé dam nhiệm được vai trò thành tô chính trong cầu tạo của cụm từ và câu Nó chỉ có thể đi kèm với các từ để làm thành tô phụ bỗ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ; biểu thị quan hệ giữa các từ, cụm từ, các câu; làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái

10

Trang 19

Cả thực từ và hư từ đều cần thiết và không thể thiếu đối với hoạt động

ngôn ngữ, nhất là đôi với ngôn ngữ dùng hư từ là một trong những phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt

1.1.4.1 Thuc tw

a Danh tu

Danh từ là những thực từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật (bao gồm các thực thể như người, động vật, đồ vật, cây cối, các vật thể tự nhiên, các hiện tượng xã hội và các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tính thân) Ví dụ: người, học sinh, công nhân, mèo, chưn, bàn, ghế, hoa, cong ti, tinh yéu,

Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số, chỉ lượng ở trước và các đại từ chỉ định (này, nọ, kia, ay, đỏ) ở sau để tạo nên một cụm từ chính phụ

mà nó là trung tâm Ngoài ra có thể nhận diện danh từ căn cứ vào khả năng kết hợp với từ nghi vẫn nào ở phía sau để tạo thành câu hỏi Những từ không

có khả năng đó không phải là danh từ

Danh từ có thể đảm nhiệm vai trò của thành phần phụ và thành phần

riêng kết hợp hạn chế với các từ chỉ số lượng và các từ chỉ định Chỉ khi trùng

tên, ta mới sử dụng các định ngữ chỉ lượng và các định ngữ hạn định cho danh

từ riêng Các danh từ riêng đều được phân biệt băng cách viết hoa theo những quy định chung của chữ viết tiếng Việt hiện nay

a2 Danh từ chung

11

Trang 20

Danh từ chung là những danh từ gọi tên chung tất cả các cá thể trong cùng một lớp sự vật Hệ thống danh từ chung bao gồm một số lượng rất lớn

Chúng thường được phân biệt theo các diện đối lập thành danh từ tổng hợp và danh từ không tông hợp

e Danh từ tông hợp

Danh từ tổng hợp chỉ gộp các sự vật khác nhau nhưng gần gũi với nhau, thường đi đôi với nhau và hợp thành một loại sự vật Ví dụ: nhà cứa, xe

cộ, máy móc, quân áo,

Danh từ tổng hợp không kết hợp trực tiếp với các số từ (chính xác), không kết hợp với danh từ chỉ đơn vị cá thê (con, cái, chiếc, ) nhưng có khả

năng kết hợp với các phụ từ chỉ tổng thể ( ếất cả, cả, toàn thể, hết thảy, ) và

các danh từ chỉ đơn vị tông thể (bọn, bộ, đoàn, tốp, đồng, ) Ví dụ: không

nói ba quân áo, bốn nhà cửa, cái quân áo, ngôi nhà cửa, mà có thê nói tắt

cả quân áo, chồng sách vở, toản binh lính,

Về cấu tạo, danh từ tổng hợp thường có cấu tạo theo kiểu từ ghép đắng lập, có thể có tiếng mờ nghĩa ( vi dụ: đất nước, quân áo, xe cộ, )

e Danh từ không tổng hợp

Trong các danh từ không tổng hợp lại có những phương diện đối lập khác, dựa vào đó có sự tách biệt các tiểu loại là danh từ trừu tượng và danh từ

CỤ thé

- Danh từ trừu tượng

Danh từ trừu tượng chỉ các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tính thần Ví dụ: niểm vui, nỗi buôn, cải đẹp, tư tưởng, đạo đức, Chúng có thể

kết hợp trực tiếp được với các từ có ý nghĩa số lượng (một nổi buôn, những phương pháp, vài vẫn đề, ) Đôi khi giữa từ chỉ lượng và danh từ trừu tượng

có thể có một danh từ chỉ đơn vị (một nên đạo đức, những nốt tâm tư, những

luông suy nghĩ, )

- Danh từ cụ thé

12

Trang 21

Danh từ cụ thể là các danh từ chỉ sự vật cụ thé Trong nội bộ danh từ cụ thé lai c6 thé phân thành các tiểu loại như sau:

Danh từ chỉ đơn vị: Là danh từ chỉ các đơn vị sự vật Chúng kết hợp trực tiếp sau các từ chỉ lượng Ví dụ: ba cái, bốn quyển, hai căn (nhà), Có các nhóm danh từ chỉ đơn vị tiêu biểu sau đây:

+ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: Là các danh từ chỉ rõ dạng tồn tại tự nhiên của sự vật Chúng vừa có ý nghĩa đơn vị, vừa có ý nghĩa chỉ sự vật (được phân biệt theo quan niệm của người bản ngữ) Vì vậy, các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên còn được gọi là loại từ hay danh từ chỉ loại, danh từ loại thé

Vi du: con, cdi, quyển, chiếc, ngồi, căn, tờ, hỏn, Các danh từ chỉ đơn vỊ tự

nhiên mang màu sắc hình tượng và biểu cảm Vì vậy, có nhiều danh từ chỉ

đơn vị tự nhiên được dùng để biểu hiện cùng sự vật, tùy thuộc vào các nhìn nhận sự vật trong từng tình huông Ví dụ: quả từm, trái từm; ngọn núi, đỉnh núi; cái thuyền, chiếc thuyên, con thuyễn;

+ Danh từ chỉ đơn vị quy ước: Có những danh từ chỉ đơn vị quy ước chính xác (mét, lí, tạ, tấn, ) và có những danh từ chỉ đơn vị quy ước không chính các ( năm, mớ, gánh, vốc, )

Các danh từ chỉ đơn vị trên đây dễ dàng dùng trực tiếp sau số từ nên được quy vào danh từ đếm được Thuộc các danh từ đếm được còn có các

danh từ chỉ sự vật đơn thẻ

Danh từ chỉ sự vật đơn thể: Là các danh từ chỉ sự vật có thê tồn tại

thành từng đơn thể Các sự vật đó là người (hay bộ phận cơ thể người), động vật, cây côi, đồ vật và cả các vật thê tự nhiên Ví dụ: công nhân, học sinh, núi,

mây, sông, xe, châu chấu, Chúng thường kết hợp với các từ chỉ số lượng thông qua các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên Vì vậy, chúng được quy vào nhóm

các danh từ đếm được (gián tiếp) hoặc nhóm các danh từ biệt loại (chỉ các sự

vật được phân loại nhờ các danh từ chi don vi) Vi du: hai con gà, bốn cái xe, vài quả tdo, Trong st dụng, có những danh từ chỉ sự vật đơnthể chuyển

13

Trang 22

thành danh từ chỉ đơn vị.Khi đó ý nghĩa của chúng thay đôi (nghĩa sự vật đơn thể thành nghĩa đơn vị) và các dùng cũng thay đỗi (kết hợp gián tiếp với số từ

về vật lí, tâm lí, sinh lí, như: nấu, làm, nhảy, chạy,

Động từ có khả năng kết hợp với các phụ từ ở phía trước nó.Chức năng

tiêu biểu nhất của động từ là là vị ngữ Ngoài ra, động từ có thể làm bồ ngữ,

định ngữ, đôi khi động từ đảm nhiệm chức năng chủ ngữ, trạng ngữ

Căn cứ vào khả năng hoạt động độc lập và ý nghĩa khái quát của từ, động từ được chia thành các tiểu loại sau:

b].Động từ không độc lập

Động từ không độc lập là những động từ thường không đứng một mình đảm nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu, mà phải đi cùng với một từ khác hoặc

một cụm từ đi sau làm thành tố phụ Tính chất không độc lập của các động tử

nhóm này chỉ mang tính chất tương đối Trong điều kiện về ngữ cảnh và căn

cảnh nhất định, động từ không độc lập vẫn có thể được dùng một mình làm thành phân câu

Có thể chia các động từ không độc lập thành các nhóm chủ yếu sau:

e Nhóm động từ tình thái:

- Động từ chỉ sự cần thiết: phải, can, nén,

- Động từ chỉ khả năng: có thể, không thể, chẳng thể, chưa thể,

14

Trang 23

- Động từ chỉ ý chí: định, toan, dám, quyết, nỡ,

- Động từ chỉ nguyện vọng, mong muỖn: 7ong, ước, muốn,

- Động từ chỉ tình trạng tiếp thụ, chịu đựng: bj, được, phải, mắc,

e Nhóm động từ chỉ sự biến hóa:hóa, hóa thành, biến, biển thành, trở

nên, trở thành, hóa ra, sinh ra,

e Nhóm động từ chỉ sự diễn tiễn của hoạt động: bắt đầu, tiếp tục, thôi,

se Nội động từ

Nội động từ là những động từ chỉ hoạt động, trạng thái tự thân, không

tác động tới đôi tượng bên ngoài; không có thành tố phụ (trực tiếp) chỉ đối

tượng tác động Nội động từ có các nhóm nhỏ tiêu biểu sau đây:

- Nhóm động từ chỉ tư thế: đứng, ngôi, nằm, quy,

- Nhóm động từ chỉ sự di chuyển: đ?, chạy, nhảy, ra, vào, lên, xuống,

- Nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lí, sinh lí: băn khoan, hồi hộp

- Nhóm động từ chỉ trạng thái tồn tại: có, còn, hết, mất, lặn, tàn,

se Ngoại động từ

Ngoại động từ là những động từ chỉ các hoạt động có chuyển đến, tác

động đến một đối tượng nào đó; thường đòi hỏi thành tố phụ sau (trực tiếp)

chỉ đối tượng tác động Căn cứ vào ý nghĩa tiểu phạm trù và khả năng chỉ

15

Trang 24

phối các thành tô phụ sau, có thể chia ngoại động từ thành một số nhóm nhỏ

sau đây:

- Nhóm động từ tác động: đóng, xé, nấu, phả,

- Nhóm động từ chỉ sự di chuyến đối tượng trong không gian: kéo, ném, lới,

- Nhóm động từ chỉ hoạt động phát nhan: tang, tra, vay, muon, biếu,

- Nhóm động từ chỉ hoạt động nối kết các đỗi tượng: buộc, nối, hòa, trộn, pha, liên kết,

- Nhóm động từ chỉ hoạt động cầu khiến, gây khiến: bất, nhờ, sai, khiến, để nghị, yêu cầu,

- Nhóm động từ chỉ hoạt động đánh giá đôi tượng: gọi, lấy, coi, bau,

c1 Căn cứ vào ý nghĩa khải quát, có thể phân biệt hai loại tính từ

e Những tính từ biêu hiện các đặc điêm về chât

16

Trang 25

Những đặc điểm này không thể lượng hóa được mà chỉ có thể sắc thái

hóa Đó là các nhóm tính từ:

- Chỉ màu sắc: đỏ, fím, xanh, vàng, đen, xanh lè,

- Chi hình dạng, kích thước: fo, nhỏ, đài, ngăn, móo,

- Chỉ mùi vị: cay, đẳng, ngọt, bùi, thơm, bôi,

- Chỉ tính chất vật lí: cứng, mêm, déo, căng, nhão,

- Chỉ phẩm chất của sự vật: rốt, xấu, xinh, dep, hay, do, toi, cao thượng,

đê hèn,

- Chỉ đặc trưng tâm lí — tinh cam: hiển, ác, sử, lành, nóng nảy, phúc hậu,

- Chỉ đặc điểm sinh lí: yếu, khỏe, mạnh, cường trảng,

- Chỉ đặc điểm trí tuệ: ngu đân, thông mình, mưu trí,

- Chỉ cách thức hoạt động: nhanh, nhau nhẹn, chậm, chậm chạp, vững, thạo,

e Tính từ chỉ đặc điểm, tính chất có các thang độ khác nhau

- Các tính từ này có khả năng kết hợp với phụ từ chỉ mức độ ở trước

hoặc sau như: cực kì anh đũng, rất đẹp, cao quả,

- Những tính từ này cũng có thể kết hợp với các thành tô phụ sau khác,

có ý nghĩa miêu tả mức độ như: đẹp như tiên, cao đến đấu, sâu đến ngực, sâu thăm thẳm, tối om om,

e Tính từ chỉ đặc điểm không phân biệt theo các thang độ khác nhau

Các tính từ này không kết hợp với phụ từ chỉ mức độ Nhóm này có hai loại:

17

Trang 26

- Cac tinh ttr chi dac diém phân hóa thành hai cực rõ rệt, giữa hai cực không có các thang độ chuyên tiếp như: đực/cái, trồng/mái, riêng/chung,

- Các tính từ được cầu tạo theo phương thức ghép, trong đó các hình vị

đi sau vừa sắc thái hóa cho hình vị đi trước, vừa chỉ mức độ cao nhất của đặc

điểm tính chất mà hình vị đi trước biểu hiện như: xanh lè, xanh ngất, đen kit,

trăng muối, thơm phức,

Theo ý nghĩa và cách dùng, có thể chia số từ thành hai loại:

d1 Số từ chỉ số lượng

Các số từ chỉ số lượng thường đứng trước danh từ được bổ sung ý nghĩa và trả lời cho câu hỏi bao nhiêu, mấy Có hai loại số từ chỉ số lượng:

e _ Số từ xác định: mội, hai, ba, năm, bảy,

e Số từ không xác định: vài, vài ba, đăm, mươi,

d2 Số từ chỉ thứ tự

Các số từ này chỉ thứ tự sự vật trong mỗi quan hệ với các sự vật khác Chúng đứng sau danh từ được bồ sung ý nghĩa Số từ chỉ thứ tự tiếng Việt có hình thức giông như số từ chỉ số lượng hoặc có kèm theo yếu tô sổ/z Ví du: tầng năm, tầng thử năm, phòng số mười ba,

e Đại từ

Đại từ là những từ dùng để xưng hô, chỉ định hoặc thay thế cho các từ thuộc từ loại thực từ khác Khi thay thế cho từ thuộc từ loại nào, đại từ mang đặc điểm ngữ pháp cơ bán của từ loại ấy

Dé phan loại đại từ, dựa vào các căn cứ sau đây:

18

Trang 27

el Căn cứ vào chức năng thay thể

Căn cứ vào chức năng thay thế, đại từ được chia thành ba nhóm sau:

e Đại từ thay thế cho danh từ: các đại từ này có đặc điểm ngữ pháp

giống như danh từ như: fôi, nó, họ, chúng tôi, ấy,

e Dai tt thay thé cho động từ, tính từ: các đại từ này có đặc điểm ngữ

pháp giỗng như động từ và tính từ như: /bể, vậy, như thể, như vậy,

e Đại từ thay thế cho số từ: các đại từ này có đặc điểm ngữ pháp giỗng như số từ như: bao, bao nhiêu, bấy, bấy nhiêu, bằng nào, bằng ay, vee

e2 Can cứ vào mục địch sử dụng

Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thé tách đại từ thành các tiểu loai sau:

se Đại từ xưng hô: chia theo hai phạm trù chính là ngôi (ngôi 1, ngôi 2,

ngôi 3) và số (số ít, số nhiều) như: /ôi, chứng tôi, mỉ, chúng bay, nó, chúng

NO,

e Đại từ chỉ định: thường được dùng làm thành tỗ phụ kết thúc cụm danh từ nhưng cũng có thể dùng độc lập Chúng chỉ định sự vật trong không gian hoặc thời gian như: đây, đỏ, ấy,

e Các đại từ nghi vấn: được dùng để hỏi về người và sự vậy (øi, cái

gi), vé noi chỗn (đâu), về thời gian (bao giờ), về địa điểm, tính chất (sao,

nào), về sô lượng (bao nhiên)

e Đại từ phiếm chỉ: chỉ chung mọi người, mọi sự vật, mọi nơi chén, nhưng không ảm chỉ một đối tượng cụ thể nào như: đâu, nào, ai, may, vee

1.1.4.2 Hư từ

a Phu tu

Phụ từ là từ không thực hiện chức năng định danh mà chỉ làm dấu hiệu

cho một loại ý nghĩa nào đó Phụ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tổ

chính trong cụm từ, cũng không thể đảm nhận chức năng của các thành phan câu Chúng chuyên giữ vai trò thành tố phụ trong cụm từ để bố sung một ý

19

Trang 28

nghĩa nào đó cho thành tô chính (ý nghĩa số lượng, ý nghĩa tình thái, ) Vi

vậy chúng được coi là từ chứng, làm bộc lộ bản chất ngữ pháp của thành tố

chính Ví dụ: những, các, mọi, mỗi, đã, hãy,sẽ, sắp, tất thảy,cũng, đều

Căn cứ vào bản chất ngữ pháp của các thực từ mà phụ từ thường đi kèm, có thể chia phụ từ thành hai nhóm:

al Phụ từ chuyên đi kèm danh từ

Các từ này làm thành tố phụ trước cho danh từ Chúng làm dấu hiệu cho ý nghĩa về lượng sự vật, nhưng khác số từ ở chỗ chúng không được dùng độc lập đề tính đếm

a2 Phụ tử chuyên đi kèm động từ, tính từ

Các phụ từ này làm thành tô phụ trước hay thành tố phụ sau, bỗ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ hoặc tính từ

b Quan hệ tử

Quan hệ từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm

từ, các bộ phận câu, các câu hay các đoạn văn với nhau

Quan hệ từ không đảm nhiệm vai trò thành tô chính hay thành tố phụ trong cụm từ, cũng không thể đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu Chúng có chắc năng liên kết các từ, các cụm từ hay các câu với nhau Vì thế chúng còn được gọi là fừ nối hay kết từ

Quan hệ từ là phương tiện ngữ pháp rất quan trọng trong số các phương tiện tiêu biểu cho loại hình ngôn ngữ đơn lập Vị trí của quan hệ từ được quy

định theo kiểu quan hệ ngữ pháp mà nó tham gia biểu hiện:

- Trong kiểu quan hệ đăng lập, quan hệ từ đứng giữa hai từ ngữ được nối kết và dường như không gắn bó riêng với thành phần nào Sự thay đổi vị trí của các thành phần có quan hệ đăng lập ít khi kéo theo sự thay đối vị trí của các quan hệ từ

20

Ngày đăng: 01/08/2016, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w