Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa DHA, 22: 6v3, đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám ng
Trang 1nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung thư buồng trứng ở mẹ5
Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công cộng và mong muốn của người mẹ
hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ - Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
Nuôi con bằng sữa mẹ: Ý kiến của Ủy
ban ESPGHAN về dinh dưỡng
Ủy ban dinh dưỡng
ỦY BAN ESPGHAN VỀ DINH DƯỠNG: 1 CARLO AGOSTONI, CHRISTIAN BRAEGGER, TAMAS DECSI, SANJA
KOLACEK, 1 BESTHOLD KOLETZKO, 1 KIM FLEISCHER MICHAELSEN, WALTER MIHTSCH, LUIS A MORENO,
JOHN PUNTIS, 2 RAANAN SHAMIR, HANIA SZAJEWSKA, 3 DOMINIQUE TURCK, AND JOHANNES VAN GOUDOEVER
San Paolo Bệnh viện, Đại học Milano, Milano, Italy, {Bệnh viện Đại học Nhi khoa Zurich, Thụy Sĩ, {Đại học Pecs, Pecs,
Hungary, § Bện viện Nhi, Zagreb, Đại học Y, Zagreb, Crô-a-ti-a, Tiến sĩ von Hauner, Bệnh viện Nhi, Đại học Munich, Munich,
Đức, Đại học Copenhagen, Copenhagen, Đan Mạch, Bệnh viện Deaconry , Schwaebisch Hall, Đức, Escuela Universitaria de
Ciencias de la Salud, Universidad de Zaragoza, Zaragoza, Tây Ban Nha, Leeds Tổng Infirmary, Leeds, Vương Quốc Anh, Trung
tâm Y tế Schneider trẻ em của Israel, Sackler Khoa Y, Đại học Tel-Aviv, Tel Aviv, Israel, y tế Đại học Warsaw, Warsaw, Ba Lan,
Erasmus MC Bệnh viện Nhi Sophia, Rotterdam , Hà Lan, và Bệnh viện Nhi Jeanne de Flandre , Đại học Khoa Y, Lille, Pháp
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33
Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38
Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu, oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là người ăn chay
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ không phải là quan hệ nhân quả
con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và được nuôi bằng sữa công thức55
Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
Tổng quan về nuôi con bằng sữa mẹ
2.
Trang 2ữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho trẻ nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung thư buồng trứng ở mẹ5
Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công cộng và mong muốn của người mẹ
Mục đích của bài viết này là tóm tắt tình hình hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
hóa dinh dưỡng cho trẻ20 Thời gian tối ưu cho bú
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
200630-32 So sánh các tiêu chuẩn này với tham khảo trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33
Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38
Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
đang từ <30% ở tuần 12 vào năm 1968 đã tăng lên
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu, oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là người ăn chay
Khuyến nghị về thời gian cho con bú
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
hạn trong các nghiên cứu quan sát, và gây nhiễu, do
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ không phải là quan hệ nhân quả
Lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
cộng thêm với 3 nghiên cứu với hơn 1500 đối tượng tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
của TC là 0,64, 95% CI 0,50-0,79 mmol/L)51 Tổng lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và được nuôi bằng sữa công thức55
Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
có bằng chứng về mối quan hệ về thời gian kéo dài đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
của trẻ sơ sinh bú sữa mẹ trong năm đầu tiên của cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức 62 Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
Các kháng nguyên từ chế độ ăn uống của người mẹ cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
0,40-0,59) Tuy nhiên, việc cho con bú có thể không thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
nghiên cứu cho thấy những phụ nữ được bú sữa mẹ
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
có cân nặng lúc sinh thấp
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
nồng độ đã được báo cáo là khác nhau giữa những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
cho con bú, nếu không thể, nên cho con bú mẹ hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" 87 Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
triển các hướng dẫn cho ăn và theo dõi lâm sàng, sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
Mặc dù phải thừa nhận rằng cha mẹ là người
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
Tài liệu tham khảo
1 Jones G, Steketee RW, Black RE, et al How many child deaths can we prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
deviates from current reference data: a pooled analysis of US, Canadian, and European data sets World Health Organiza- tion Working Group on Infant Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
2002;110:597 – 608.
52 Owen CG, Whincup PH, Kaye SJ, et al Does initial breastfeeding lead to lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
75 Anderson JW, Johnstone BM, Remley DT Breast-feeding and cognitive development: a meta-analysis Am J Clin Nutr 1999; 70:525 – 35.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
S
Nhận được ngày 16/1/2009, được chấp thuận ngày 19/1/2009 Địa chỉ thư tín hoặc yêu cầu nhận bản in tại Dominique Turck, Unite´ de Gastro-ente´rologie, He´patologie et Nutrition, De´partement de Pe´diatrie, Hoˆpital Jeanne de Flandre, avenue Euge`ne Avine´e, 59037 Lille, France (e-mail: dturck@chru-lille.fr).
1Khách; 2Ban chủ tọa; 3Thư ký hội.
Các tác giả của báo cáo không có xung đột nào về lợi ích.
Trang 3nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung
thư buồng trứng ở mẹ5 Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt
trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công
cộng và mong muốn của người mẹ
hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập
trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ
ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá
trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33
Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38
Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu, oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là người ăn chay
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ không phải là quan hệ nhân quả
con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và được nuôi bằng sữa công thức55
Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
Trang 4ữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho trẻ nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung
thư buồng trứng ở mẹ5 Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt
trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công
cộng và mong muốn của người mẹ
Mục đích của bài viết này là tóm tắt tình hình hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập
trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ
ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá
trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
hóa dinh dưỡng cho trẻ20 Thời gian tối ưu cho bú
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
200630-32 So sánh các tiêu chuẩn này với tham khảo trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33
Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38
Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
đang từ <30% ở tuần 12 vào năm 1968 đã tăng lên
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu,
oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là
người ăn chay
Khuyến nghị về thời gian cho con bú
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn
trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các
nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
hạn trong các nghiên cứu quan sát, và gây nhiễu, do
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ không phải là quan hệ nhân quả
Lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
cộng thêm với 3 nghiên cứu với hơn 1500 đối tượng tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
của TC là 0,64, 95% CI 0,50-0,79 mmol/L)51 Tổng lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và được nuôi bằng sữa công thức55
Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
có bằng chứng về mối quan hệ về thời gian kéo dài đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
của trẻ sơ sinh bú sữa mẹ trong năm đầu tiên của cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức 62 Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
Các kháng nguyên từ chế độ ăn uống của người mẹ cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
0,40-0,59) Tuy nhiên, việc cho con bú có thể không thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
nghiên cứu cho thấy những phụ nữ được bú sữa mẹ
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
có cân nặng lúc sinh thấp
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
nồng độ đã được báo cáo là khác nhau giữa những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
cho con bú, nếu không thể, nên cho con bú mẹ hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" 87 Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
triển các hướng dẫn cho ăn và theo dõi lâm sàng, sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
Mặc dù phải thừa nhận rằng cha mẹ là người
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
Tài liệu tham khảo
1 Jones G, Steketee RW, Black RE, et al How many child deaths can we prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
deviates from current reference data: a pooled analysis of US, Canadian, and European data sets World Health Organiza- tion Working Group on Infant Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
2002;110:597 – 608.
52 Owen CG, Whincup PH, Kaye SJ, et al Does initial breastfeeding lead to lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
75 Anderson JW, Johnstone BM, Remley DT Breast-feeding and cognitive development: a meta-analysis Am J Clin Nutr 1999; 70:525 – 35.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
Trang 5nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung
thư buồng trứng ở mẹ5 Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt
trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công
cộng và mong muốn của người mẹ
hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập
trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ
ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá
trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung
không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33 Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa
tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi
con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF
hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38 Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các
thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu,
oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là
người ăn chay
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn
trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các
nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ không phải là quan hệ nhân quả
con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và được nuôi bằng sữa công thức55
Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
Nghiên cứu giải quyết
Bao gồm mô tả
WHO, 2007 (39)
chăm sóc sức khoẻ, năm 2007 (5)
Để đánh giá ảnh hưởng lâu dài của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp, tiểu đường và các chỉ số liên quan, cholesterol huyết thanh, thừa cân và béo phì, biểu hiện trí tuệ.
Để xem xét các bằng chứng về tác động ngắn và dài hạn của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên trẻ nhỏ và sức khỏe bà mẹ ở các nước phát triển
Để đưa ra một cái nhìn tổng quan về hiệu quả sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ (cả tác dụng có lợi và
có hại) cho mẹ và trẻ sơ sinh
Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, 2005 (4)
Bảng 1 So sánh các ý kiến gần đây có hệ thống và phân tích meta ảnh hưởng sức khỏe của
việc nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển
Trang 6ữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho trẻ nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung
thư buồng trứng ở mẹ5 Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt
trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công
cộng và mong muốn của người mẹ
Mục đích của bài viết này là tóm tắt tình hình hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập
trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ
ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá
trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
hóa dinh dưỡng cho trẻ20 Thời gian tối ưu cho bú
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
200630-32 So sánh các tiêu chuẩn này với tham khảo trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung
không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33 Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa
tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi
con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF
hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38 Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các
thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
đang từ <30% ở tuần 12 vào năm 1968 đã tăng lên
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu,
oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là
người ăn chay
Khuyến nghị về thời gian cho con bú
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn
trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các
nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
hạn trong các nghiên cứu quan sát, và gây nhiễu, do
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong
suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ
không phải là quan hệ nhân quả
Lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
cộng thêm với 3 nghiên cứu với hơn 1500 đối tượng tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
của TC là 0,64, 95% CI 0,50-0,79 mmol/L)51 Tổng lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và được nuôi bằng sữa công thức55
Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
có bằng chứng về mối quan hệ về thời gian kéo dài đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
của trẻ sơ sinh bú sữa mẹ trong năm đầu tiên của cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức 62 Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
Các kháng nguyên từ chế độ ăn uống của người mẹ cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
0,40-0,59) Tuy nhiên, việc cho con bú có thể không thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
nghiên cứu cho thấy những phụ nữ được bú sữa mẹ
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
có cân nặng lúc sinh thấp
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
nồng độ đã được báo cáo là khác nhau giữa những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
cho con bú, nếu không thể, nên cho con bú mẹ hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" 87 Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
triển các hướng dẫn cho ăn và theo dõi lâm sàng, sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
Mặc dù phải thừa nhận rằng cha mẹ là người
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
Tài liệu tham khảo
1 Jones G, Steketee RW, Black RE, et al How many child deaths can we prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
deviates from current reference data: a pooled analysis of US, Canadian, and European data sets World Health Organiza- tion Working Group on Infant Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
2002;110:597 – 608.
52 Owen CG, Whincup PH, Kaye SJ, et al Does initial breastfeeding lead to lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
75 Anderson JW, Johnstone BM, Remley DT Breast-feeding and cognitive development: a meta-analysis Am J Clin Nutr 1999; 70:525 – 35.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
Việc tìm kiếm văn bản là chặt chẽ để xác định tất cả các nghiên cứu có liên quan
Ngôn ngữ
Dạng nghiên cứu có trong phân tích
Địa điểm
Chất lượng nghiên cứu được đánh giá và quan tâm
Quan sát (gần như tất cả); thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên SR / MA; RCT; thử nghiệm so sánh không phải RCT, đoàn hệ tiền cứu,
và nghiên cứu bệnh chứng
Chủ yếu là quan sát
Tiếng Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây
MEDLINE (1966–3/2006);
Cơ sở dữ liệu Chỉ số trích dẫn khoa học, danh sách tài liệu tham khảo, tác giả đã liên lạc nếu nghiên cứu này không cung cấp đủ dữ liệu
MEDLINE, CINAHL, Cochrane Thư viện tháng 11 năm 2005 (tìm kiếm lại tháng 5 năm 2006) nghiên cứu trong các thư mục của các tổng hợp được lựa chọn và gợi ý từ các chuyên gia kỹ thuật
MEDLINE (1980-tháng 8/9//2004), chạy lại tháng tám 2005 - tháng 2 năm 2005
Các nước có thu nhập cao và dân số chủ yếu là người da trắng Các nước phát triển chỉ để cập nhật, không có sự khác biệt cho các nghiên
cứu trước đó
Chỉ có dân cư từ Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc, New Zealand
Phân loại chất lượng phương pháp bằng cách sử dụng phác đồ chuẩn Phân loại chất lượng phương pháp Mỗi bài viết đều được thử nghiệm chất lượng, nếu một bài
báo không thực hiện đầy đủ tất
cả các yêu cầu chất lượng, nghiên cứu đó sẽ bị loại trừ
Có đủ những điểm tương đồng giữa các nghiên cứu được lựa chọn để kết hợp chúng với nhau
Giải quyết tốt; tính không đồng nhất
đã được đánh giá Giải quyết tốt; tính không đồng nhất đã được đánh giá hoặc thảo luận (nếu
tác giả thực hiện MA của riêng mình)
Không áp dụng (không thực hiện tổng hợp chính thức)
Nguy cơ sai lệch Hầu như tất cả các dữ liệu được thu thập từ các nghiên cứu quan sát Hầu như tất cả các dữ liệu được thu thập từ các nghiên cứu quan sát Hầu như tất cả các dữ liệu được thu thập từ các nghiên cứu quan sát
WHO, 2007 Kết quả chính ở trẻ Cơ quan nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ, năm 2007 Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, 2005
Viêm đường hô hấp dưới nặng
Viêm da dị ứng
Dị ứng
Hen (trẻ nhỏ) Thở khò khè
Bằng chứng dự đoán Eczema Bằng chứng dự đoán
Bằng chứng dự đoán Bằng chứng dự đoán
Tiểu đường týp 1 Hầu như tất cả các dữ liệu được thu
NEC
Tai giữa Nhiễm trùng tiêu hóa
Bằng chứng thuyết phục
Bằng chứng thuyết phục
Viêm loét đại tràng
Trang 7nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung
thư buồng trứng ở mẹ5 Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt
trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công
cộng và mong muốn của người mẹ
hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập
trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ
ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá
trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung
không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33 Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa
tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi
con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF
hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38 Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các
thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu,
oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là
người ăn chay
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn
trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các
nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong
suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ
không phải là quan hệ nhân quả
con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và được nuôi bằng sữa công thức55
Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
Cao huyết áp
Cholesterol huyết thanh
Thông minh và đi học
WHO, 2007 (39)
Tuổi trưởng thành MD _0.18 mmol / l (_0.3 đến _0.06)
NS Trẻ em và thanh thiếu niên
MD 4.9 (2.97 to 6.92)
tâm thu MD _1.2mmHg (_1.7 đến _0.7) tâm trương MD _0.49mmHg (_0.87 đến _0.11)
Bằng chứng thuyết phục
Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, 2005 (4)
BF = nuôi con bằng sữa mẹ, MA = phân tích tổng hợp, MD = khác biệt trung bình, NA = không được đánh giá, NEC = viêm ruột hoại tử, NS = không đáng kể, OR = tỷ số chênh, RCT = thử nghiệm ngẫu nhiên, RTI = nhiễm trùng đường hô hấp, SIDS = hội chứng tử vong đột ngột ở trẻ sơ sinh , SR = phân tích có hệ thống, WHO = Tổ chức Y tế Thế giới.
Ưu điểm của bằng chứng của phân tích tổng hợp Hà Lan đủ điều kiện do tính thuyết phục, dự đoán, có thể, hoặc không đầy đủ Các tiêu chí được sử dụng
để tạo ra sự khác biệt này là
1 Bằng chứng thuyết phục: bằng chứng dựa trên cơ sở các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy mối liên kết nhất quán giữa phơi nhiễm và bệnh tật, với
rất ít hoặc không có bằng chứng ngược lại Các bằng chứng có sẵn được dựa trên một số lượng lớn các nghiên cứu, bao gồm cả nghiên cứu quan sát Mối liên kết cần phải chính đáng về sinh học.
2 Bằng chứng dự đoán: bằng chứng dựa trên cơ sở các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy mối liên kết khá nhất quán giữa phơi nhiễm và bệnh tật,
nhưng có sự hạn chế về nhận thức về bằng chứng có sẵn hoặc có một số bằng chứng ngược lại Thiếu sót trong chứng cứ có thể là điều bất kỳ sau đây:
không đủ thời gian thử nghiệm (hoặc nghiên cứu), thiếu các thử nghiệm (hoặc nghiên cứu) sẵn có, cỡ mẫu không đầy đủ, theo dõi không đầy đủ Một lần nữa, mối liên kết cần phải chính đáng về sinh học.
3 Bằng chứng có thể xảy ra: bằng chứng chủ yếu dựa trên kết quả của các nghiên cứu bệnh chứng và nghiên cứu cắt ngang Các thử nghiệm ngẫu
nhiên có kiểm soát không đầy đủ, các nghiên cứu quan sát hoặc các thử nghiệm đối chứng không ngẫu nhiên có sẵn Hầu hết các nghiên cứu cần hỗ trợ các mối liên quan dự kiến và là nghiên cứu sinh học đáng tin cậy.
4 Bằng chứng không đầy đủ: bằng chứng dựa trên kết quả của một vài nghiên cứu gợi ý, nhưng không đủ để thiết lập mối liên hệ giữa phơi nhiễm
và bệnh tật Cần có các nghiên cứu được thiết kế tốt hơn để hỗ trợ các mối liên quan dự kiến Ngoài 4 tiêu chí này, các yêu cầu sau đây đã được sử dụng:
1 Bằng chứng mâu thuẫn nhau: một số nghiên cứu đủ sức mạnh cho thấy tác dụng ngược lại, vì vậy không thể kết luận việc cho con bú có tác
động tích cực, tiêu cực, hoặc không có tác dụng với kết quả bệnh tật
2 Không có bằng chứng: 1 hoặc 2 nghiên cứu có rất ít sức mạnh, do đó, không thể tuyên bố rõ ràng về sức mạnh của bằng chứng.
Trang 8ữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho trẻ nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung
thư buồng trứng ở mẹ5 Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt
trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công
cộng và mong muốn của người mẹ
Mục đích của bài viết này là tóm tắt tình hình hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập
trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ
ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá
trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
hóa dinh dưỡng cho trẻ20 Thời gian tối ưu cho bú
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
200630-32 So sánh các tiêu chuẩn này với tham khảo trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung
không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33 Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa
tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi
con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF
hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38 Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các
thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
đang từ <30% ở tuần 12 vào năm 1968 đã tăng lên
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu,
oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là
người ăn chay
Khuyến nghị về thời gian cho con bú
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn
trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các
nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
hạn trong các nghiên cứu quan sát, và gây nhiễu, do
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong
suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ
không phải là quan hệ nhân quả
Lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít
thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
cộng thêm với 3 nghiên cứu với hơn 1500 đối tượng tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
của TC là 0,64, 95% CI 0,50-0,79 mmol/L)51 Tổng lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và được nuôi bằng sữa công thức55
Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
có bằng chứng về mối quan hệ về thời gian kéo dài đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
của trẻ sơ sinh bú sữa mẹ trong năm đầu tiên của cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức 62 Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
Các kháng nguyên từ chế độ ăn uống của người mẹ cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
0,40-0,59) Tuy nhiên, việc cho con bú có thể không thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
nghiên cứu cho thấy những phụ nữ được bú sữa mẹ
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
có cân nặng lúc sinh thấp
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
nồng độ đã được báo cáo là khác nhau giữa những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
cho con bú, nếu không thể, nên cho con bú mẹ hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" 87 Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
triển các hướng dẫn cho ăn và theo dõi lâm sàng, sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
Mặc dù phải thừa nhận rằng cha mẹ là người
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
Tài liệu tham khảo
1 Jones G, Steketee RW, Black RE, et al How many child deaths can we prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
deviates from current reference data: a pooled analysis of US, Canadian, and European data sets World Health Organiza- tion Working Group on Infant Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
2002;110:597 – 608.
52 Owen CG, Whincup PH, Kaye SJ, et al Does initial breastfeeding lead to lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
75 Anderson JW, Johnstone BM, Remley DT Breast-feeding and cognitive development: a meta-analysis Am J Clin Nutr 1999; 70:525 – 35.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
Trang 9nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung
thư buồng trứng ở mẹ5 Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt
trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công
cộng và mong muốn của người mẹ
hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập
trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ
ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá
trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung
không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33 Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa
tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi
con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF
hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38 Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các
thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu,
oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là
người ăn chay
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn
trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các
nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong
suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ
không phải là quan hệ nhân quả
con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít
thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên
huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương
ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau
theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ
choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và
được nuôi bằng sữa công thức55 Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ
Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI 0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một phân tích tổng hợp của WHO 39
Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008
Trang 10ữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho trẻ nhỏ Lợi ích sức khỏe từ nuôi con bằng sữa
mẹ ở các nước đang phát triển đạt được lớn hơn so với ở các nước phát triển, tỷ lệ nghịch với điều kiện kinh tế xã hội vốn thấp hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Bằng chứng từ các nước đang phát triển cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện kém vệ sinh có thể gây
ra các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong Ước tính có 1,3 đến 1,45 triệu ca tử vong tại 42 nước có tỷ lệ tử vong cao có thể được ngăn chặn bằng cách tăng mức độ nuôi con bằng sữa mẹ1,2 Trong một phân tích gần đây về hậu quả sức khỏe ở trẻ suy dinh dưỡng, ước tính việc không cho con bú đầy đủ dẫn tới 1,4 triệu cái chết của trẻ và 44 triệu trẻ bị khuyết tật ảnh hưởng đến tuổi thọ, tương đương với 10%
Cho con bú cũng có liên quan đến tác động có thể chứng minh được về tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh tại các nước công nghiệp phát triển, ví dụ, giảm nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính4-6 Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng
bú sữa mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở các nước công nghiệp7 Như sẽ được mô tả trong bài viết này, có một số bằng chứng cho rằng bú sữa mẹ
có tác dụng tích cực đối với sức khỏe trong cuộc sống sau này Tác dụng của việc cho con bú đối với sức khỏe người mẹ không được đề cập trong bài viết này, nhưng một phân tích gần đây đã tìm ra được bằng chứng rằng việc cho con bú có liên quan đến giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2, ung thư vú và ung
thư buồng trứng ở mẹ5 Mặc dù các bác sĩ nhi khoa là nhân vật chủ chốt
trong lĩnh vực sức khỏe trẻ em với tư cách là nhân viên tư vấn, giáo dục, và đưa ra ý kiến, nhưng đáng tiếc là còn quá nhiều chuyên gia y tế chỉ giới hạn việc vận động chính sách nuôi con bằng sữa mẹ bằng cách quá đơn giản hóa vấn đề, chỉ còn "Bú mẹ
là tốt nhất" Ở một số nước Châu Âu, tỷ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ là thấp và rõ ràng là không đạt yêu cầu Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy khi các bác sĩ lâm sàng có thái độ tích cực về tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, các
bà mẹ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Sự hỗ trợ từ các bác sĩ lâm sàng cũng ảnh hưởng tích cực hơn đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ9 Các bác sĩ nhi khoa có thể và cần năng động trong việc bảo vệ, hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ trên cả hai phương diện sức khỏe công
cộng và mong muốn của người mẹ
Mục đích của bài viết này là tóm tắt tình hình hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ, kiến thức về thành phần của sữa mẹ, thời gian kéo dài việc cho con bú hoàn toàn hay một phần, tăng trưởng của trẻ
sơ sinh bú sữa mẹ, các lợi ích sức khỏe liên quan đến
bú sữa mẹ, bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ và chống chỉ định cho con bú, cũng như xác định vai trò của bác
sĩ nhi khoa trong việc thực hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Bài viết này tập
trung vào những trẻ sinh đủ tháng ở châu Âu
Thực trạng
Ước tính tỷ lệ cho con bú ở châu Âu đã được báo cáo năm 200310 Thực trạng tại 29 quốc gia châu Âu được báo cáo trong nghiên cứu này là rất không đồng nhất Tỷ lệ bắt đầu cho con bú nhiều hơn hoặc bằng 90% tại 14 quốc gia và dao động trong khoảng
từ 60% đến 80% tại 6 quốc gia khác Tỷ lệ thấp nhất (<60%) là ở Pháp, Ireland và Malta Tỷ lệ cho con
bú vào lúc 6 tháng trên 50% chỉ có tại 6 quốc gia
Tài liệu này được biên soạn từ dữ liệu tự báo cáo của các chuyên gia tại các quốc gia khác nhau, vì vậy nên thận trọng khi diễn giải kết quả do thiếu phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn Chất lượng dữ liệu hạn chế cho thấy không có phương pháp thu thập dữ liệu chuẩn về nuôi con bằng sữa mẹ, hiểu biết về định nghĩa (cho con bú hoàn toàn, đầy đủ, và một phần) là rất khác nhau giữa các quốc gia Rõ
ràng là rất cần có một hệ thống giám sát chung
Các dữ liệu có sẵn cho thấy tỷ lệ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ rất ít ở những nơi được nhiều
tổ chức chuyên nghiệp và xã hội khoa học cân nhắc Ví dụ, đáng tiếc rằng luật quốc tế về Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ, được xác nhận vào năm 1981, không được áp dụng đầy đủ và không được dùng để giám sát độc lập11 Pháp luật quy định cho các bà mẹ đang đi làm đáp ứng được mức trung bình về tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng chỉ áp dụng cho những phụ nữ đi làm chính thức Tại châu Âu, các nhóm tình nguyện hỗ trợ từ người mẹ này đến người mẹ khác và các tư vấn viên đồng đẳng đã được đào tạo đã có tại 27 và 13 nước trong số 29 quốc gia được nghiên cứu10 Vẫn còn nhiều chỗ cho các quốc gia cải thiện chính sách và thực tiễn của mình để bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ tốt hơn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các bác sĩ nhi khoa phải đóng một vai trò tích cực trong quá
trình này
Quan trọng là phải thực hiện các chính sách y tế
hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ để tăng tỷ lệ bắt đầu cho con bú cũng như thời gian bú mẹ hoàn toàn
và bú mẹ một phần Ví dụ của Na Uy đã chứng minh rằng những thay đổi tích cực là hoàn toàn có thể làm được Tổng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ ở Na-uy
Tóm Tắt
Bài viết y khoa này do Hiệp hội Châu Âu về Nhi
khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh dưỡng viết để tóm
tắt tình hình hiện nay về thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ, kiến thức mới nhất về thành phần sữa mẹ,
thời gian thích hợp cho con bú mẹ hoàn toàn hoặc
một phần, sự tăng trưởng của trẻ bú mẹ, các lợi ích
về sức khỏe liên quan đến bú sữa mẹ, bổ sung dinh
dưỡng cho trẻ bú mẹ và các chống chỉ định nuôi
con bằng sữa mẹ Bài viết này nhấn mạnh vai trò
quan trọng của các bác sĩ nhi khoa trong việc thực
hiện các chính sách y tế thúc đẩy việc nuôi con
bằng sữa mẹ Ủy ban Dinh dưỡng của Hiệp hội
châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan học và Dinh
dưỡng công nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách tự nhiên và khuyến khích hỗ trợ sự tăng
trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Bài viết
này mô tả những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ, đặc biệt trong giảm nguy cơ tiêu chảy
nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính Nuôi con
bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là
mục tiêu mong muốn, nhưng cho con bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị Tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn
bổ sung được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó Vai trò của nhân viên y tế,
kể cả các bác sĩ nhi khoa là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và
họ nên khuyến khích các hành vi không làm tổn hại đến việc nuôi con bằng sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn
như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ
Những bà mẹ đang đi làm (JPGN 49:112–125, 2009) Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ - Sữa mẹ -
Lợi ích sức khỏe - Y tế công cộng
(49:112-125 # 2009 bởi Hiệp hội Châu Âu về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng và Hiệp hội Bắc
Mỹ về Nhi khoa, Tiêu hóa, Gan, và Dinh dưỡng.)
hóa dinh dưỡng cho trẻ20 Thời gian tối ưu cho bú
mẹ hoàn toàn là một vấn đề gây ra nhiều tranh luận trong vài năm qua, phản ánh những hạn chế về bằng chứng khoa học từ các nước phát triển thông báo khuyến cáo của WHO, và các vấn đề gặp phải trên thực tế ở các nước công nghiệp hóa là khác với vấn
đề của các nước đang phát triển21 Ở các nước phát triển, hiện không có bằng chứng khoa học về cho trẻ
bú mẹ từ 4-6 tháng tuổi ăn thực phẩm bổ sung là bất lợi hơn việc cho ăn sau 6 tháng22, 23
Dựa trên những số liệu có sẵn, gần đây Ủy ban
đã kết luận rằng bú mẹ đầy đủ và hoàn toàn trong vòng 6 tháng là mục tiêu mong muốn Ở những trẻ
bú mẹ hoàn toàn hoặc bú mẹ một phần, việc cho ăn
bổ sung những thức ăn như bất kỳ một loại thực phẩm rắn hoặc lỏng nào ngoài sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ nhỏ hay sữa tiếp theo không nên
áp dụng cho trẻ quá sớm dưới 17 tuần tuổi hoặc quá muộn sau 26 tuần tuổi23
WHO khuyến nghị nên tiếp tục cho trẻ bú ít nhất đến 2 tuổi, còn Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa
Kỳ khuyến cáo cho bú ít nhất đến 1 tuổi20,24 Với những nước ít phải chịu gánh nặng của bệnh nhiễm trùng, như các nước châu Âu, thời gian mang đến lợi ích sức khỏe tối ưu của việc nuôi con bằng sữa
mẹ sau khi cho ăn bổ sung là không nhất quán do thiếu số liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được
cả bà mẹ và trẻ tiếp tục miễn là cả hai mong muốn,
và nhất thiết phải dựa vào sự cân nhắc ngoài kết quả về sức khỏe
Sự tăng trưởng của trẻ bú sữa mẹ
Với sức khỏe và lợi ích dinh dưỡng của việc nuôi con bằng sữa mẹ, việc giải thích chính xác mô hình tăng trưởng của trẻ bú mẹ khỏe mạnh có ý nghĩa rất lớn về y tế công cộng Trẻ được nuôi theo khuyến nghị của WHO về bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian dài, và những trẻ được sống trong điều kiện thuận lợi đạt được tiềm năng tăng trưởng
di truyền có vẻ giảm tiến trình tăng trưởng trong năm đầu tiên so với tăng trưởng quốc tế tham khảo của Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc gia - WHO, trên cơ sở chủ yếu nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ25 Những nghiên cứu quan sát được xuất bản trong những năm 1990 khá thống nhất trong việc xác định mô hình phát triển khác nhau của những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức, trẻ bú sữa mẹ có một tỷ lệ giảm phát triển, đặc biệt là cân nặng theo tuổi, từ tháng thứ ba đến tháng thứ 12 của cuộc sống, một phần đuổi kịp tăng trưởng vào 24 tháng26-29 Những quan sát này đã khiến WHO phát triển tiêu chuẩn tăng trưởng mới dựa trên cơ sở những trẻ tuân theo các khuyến nghị của WHO về nuôi con bằng sữa mẹ, phát hành năm
200630-32 So sánh các tiêu chuẩn này với tham khảo trước đó từ Trung tâm Thống kê Sức khỏe Quốc Gia-WHO đã khẳng định có sự khác nhau giữa mô hình phát triển của trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức Với các tiêu chuẩn mới, nguy cơ đánh giá không chính xác về tăng trưởng đầy đủ ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ đã giảm đi, và cũng giảm nhầm lẫn trong việc tư vấn cho ăn chế độ bổ sung
không cần thiết hoặc ngừng cho con bú33 Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa
tốc độ tăng trưởng cao trong những tháng đầu tiên của cuộc sống với tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây sau này trong đời34,35 Những quan sát đó phù hợp với mô hình tăng trưởng lý tưởng của trẻ
bú sữa mẹ
Các vấn đề về phương pháp đánh giá lợi ích sức khoẻ liên quan đến nuôi
con bằng sữa mẹ
Cho con bú được mang lại rất nhiều lợi ích sức khỏe cho cả trẻ và mẹ Do quyết định cho con bú của người mẹ chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khỏe, sẽ là khó khăn để rút ra kết luận chắc chắn về mối quan hệ nhân quả giữa cho con bú và kết quả sức khỏe36 Rõ ràng, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên những trẻ khỏe mạnh vào nhóm bú sữa mẹ hoặc ăn sữa công thức cho trẻ nhỏ
Tuy nhiên, có bằng chứng được công bố từ 2 nghiên cứu can thiệp khác nhau Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Vương quốc Anh đầu những năm 1980, liên quan đến trẻ sinh non (tuổi thai trung bình 31 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh 1400 gam) được chọn ngẫu nhiên để nhận được hoặc sữa từ ngân hàng sữa mẹ, sữa công thức dành cho trẻ sinh non tháng hoặc sữa công thức tiêu chuẩn, và một số trẻ được bú sữa mẹ37 Nghiên cứu thứ hai là một thử nghiệm can thiệp khuyến khích cho con bú (PROBIT) Đây là một thử nghiệm cụm ngẫu nhiên với sự tham gia của 31 bệnh viện và phòng khám cộng tác của nó ở Belarus được lựa chọn ngẫu nhiên
để thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ trên cơ sở Sáng kiến Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em của WHO/UNICEF
hoặc chăm sóc tiêu chuẩn38 Các bệnh viện thuộc nhóm chứng tiếp tục các
thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hiện có Tất cả trẻ sinh đủ tháng có trọng lượng lúc sinh ít nhất 2,5 kg,
ra đời tại các bệnh viện trong nghiên cứu đề được ghi danh vào nghiên cứu PROBIT Do tất cả trẻ trong nghiên cứu này đều bú sữa mẹ lúc ban đầu, hiệu quả của các thời gian khác nhau của việc bú sữa mẹ đầy đủ và hoàn toàn sẽ được khám phá chứ không phải là sự khác nhau giữa bú sữa mẹ và ăn sữa công thức Các thông tin có sẵn khác được giới
đang từ <30% ở tuần 12 vào năm 1968 đã tăng lên
> 80% vào năm 1991 Việc kéo dài tiếp xúc giữa mẹ
và con đã trở nên phổ biến ở Na Uy, và được các cặp
bố mẹ đánh giá cao và được nhiều người quan tâm
Thành phần sữa mẹ
Các đặc tính sinh học của sữa mẹ đâu đó đã được xem xét chi tiết13-15 Sữa mẹ không phải là một loại dịch cơ thể bất biến mà là chất tiết của tuyến vú có thay đổi thành phần Sữa non khác với sữa tiết sau đó, và sữa non rất khác với sữa chuyển tiếp và sữa trưởng thành Sữa thay đổi theo thời gian trong ngày và trong quá trình cho con bú Sữa
mẹ chứa không chỉ các chất dinh dưỡng, như protein, chất béo, carbohydrate, chất khoáng, vitamin, và các nguyên tố vi lượng, rất quan trọng trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bình thường Sữa mẹ còn chứa nhiều thành phần liên quan đến miễn dịch như sIgA, bạch cầu,
oligosac-charides, lysozyme, lactoferrin, interferong, nucleotides, cytokines, và những chất khác Một số chất này có tác dụng bảo vệ thụ động tại đường tiêu hóa và đi đến đường hô hấp trên, ngăn chặn các mầm bệnh gây hại cho niêm mạc và do đó bảo
vệ trẻ bú sữa mẹ khỏi các nhiễm trùng xâm lấn
Sữa mẹ còn chứa các a-xít béo cần thiết, các men, nội tiết tố, các yếu tố tăng trưởng và các chất có hoạt tính sinh học khác, có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe của trẻ
do bú sữa mẹ
Chế độ ăn uống của bà mẹ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và thành phần của sữa mẹ khi
mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc ăn uống bất thường Bà
mẹ bị suy dinh dưỡng có cùng một tỷ lệ protein, chất béo và carbohydrate như các bà mẹ được nuôi dưỡng tốt, nhưng họ sản xuất ít sữa hơn Dùng các thực phẩm bổ sung có thể cải thiện việc sản xuất sữa và thời gian cho con bú hoàn toàn ở phụ nữ suy dinh dưỡng16 Ngược lại, phụ nữ đã có chế độ dinh dưỡng tốt không thấy có thêm bất kỳ lợi ích nào từ việc bổ sung năng lượng hoặc bổ sung protein Tuy nhiên, một số chất dinh dưỡng trong sữa mẹ lại phản ánh chế độ ăn uống của người mẹ Đó là một
số vitamin, như vitamin D, vitamin A, và các vitamin tan trong nước, i-ốt và thành phần của các axit béo Trẻ sơ sinh bú sữa của các bà mẹ theo chế
độ ăn chay nghiêm ngặt có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to nghiêm trọng và bất thường thần kinh do thiếu vitamin B1217 Ủy ban khuyến nghị
bổ sung vitamin B12 cho những trẻ em bú mẹ (hoặc cho những bà mẹ cho con bú) nếu bà mẹ là
người ăn chay
Khuyến nghị về thời gian cho con bú
Trước năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị rằng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn
trong 4 đến 6 tháng đầu và sau đó ăn bổ sung các thực phẩm khác (nước trái cây và thức ăn ngoài sữa mẹ) Vấn đề thời gian tối ưu cho con bú hoàn toàn,
so sánh kết quả của người mẹ và trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng với 3 - 4 tháng, đã được đánh giá một cách có hệ thống và đã được ghi lại dưới sự ủy nhiệm của WHO vào đầu năm 200018 Chỉ có 2 trong số 20 nghiên cứu đủ điều kiện là nghiên cứu ngẫu nhiên về những thời gian bú mẹ khác nhau, cả hai đều được tiến hành ở Honduras, một quốc gia đang phát triển Tất cả các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp phát triển chỉ là những nghiên cứu quan sát mà thôi Tổng kết này cho thấy rằng trẻ sơ sinh tiếp tục được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không hề bị thiếu cân hoặc chiều dài so với trẻ sơ sinh bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ngắn (3-4 tháng), mặc dù cần có kích thước mẫu lớn hơn để loại trừ tăng nhẹ nguy cơ suy dinh dưỡng Các dữ liệu có xung đột với tình trạng sắt nhưng gợi ý rằng, ít nhất là ở các nước đang phát triển, nơi dự trữ sắt ở trẻ sơ sinh có thể dưới mức tối ưu, việc cho con bú không bổ sung thêm sắt trong 6 tháng đầu đời có ảnh hưởng đến tình trạng của máu Tổng kết này kết luận rằng “cần có những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn ở cả các nước phát triển
và đang phát triển để đảm bảo rằng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng không làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng (chậm phát triển), nhằm xác nhận những lợi ích sức khỏe đã được báo cáo từ trước đến nay và điều tra các tác động tiềm năng khác đến sức khỏe và phát triển, đặc biệt là trong dài hạn” Một nghiên cứu về thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện tại Belarus cho thấy trong giai đoạn từ 3 đến 6 tháng, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở những trẻ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp hơn đáng kể
so với ở những trẻ bú mẹ và ăn thêm vào lúc 3-4 tháng tuổi19 Tuy nhiên, cần đặt ra câu hỏi rằng điều kiện và thực tiễn tại Belarus có giống như ở các
nước Châu Âu khác không
Tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 54 ngày 18/5/2001, WHO nhấn mạnh “cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng theo khuyến nghị của y tế công cộng toàn cầu, có tính đến những phát hiện của chuyên gia WHO tư vấn về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tối ưu, cho ăn bổ sung một cách an toàn và phù hợp cùng với việc tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn” Tuy nhiên, một điều cũng được nêu trong tham vấn chuyên gia là khuyến nghị này áp dụng cho cộng đồng và nhận ra rằng một số bà mẹ không muốn hoặc không thể theo được lời khuyên này Những người mẹ này cần được hỗ trợ để tối ưu
hạn trong các nghiên cứu quan sát, và gây nhiễu, do
đó, cũng là vấn đề quan trọng cần xem xét Yếu tố giáo dục, kinh tế xã hội và lối sống như hút thuốc liên quan mạnh mẽ đến việc ra quyết định cho con
bú của người mẹ Ở các nước công nghiệp hóa, những bà mẹ cho con bú thường có điều kiện kinh tế
- xã hội cao hơn và mức độ giáo dục cao hơn hơn so với các bà mẹ chọn sữa công thức, trong khi mô hình ngược lại lại thường gặp ở các nước đang phát triển Cũng có sự thiên vị hồi cứu về tính chất và thời gian cho con bú Một số nghiên cứu so sánh trẻ
sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ được bú mẹ
ở bất kỳ mức độ nào
Một số nghiên cứu khác so sánh trẻ sơ sinh không bao giờ bú sữa mẹ với trẻ bú mẹ một phần
Một vài nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian cho con bú lên lợi ích sức khỏe Một vấn đề có liên quan khác khi giải thích các kết quả từ các nghiên cứu thuần tập cũ là các thành phần của sữa công thức cho trẻ nhỏ đã được cải thiện nhiều trong
suốt 30 năm qua
Gần đây đã xuất bản 3 phân tích tổng hợp về nuôi con bằng sữa mẹ ở các nước phát triển của Viện Dinh dưỡng và sức khỏe Nhà nước Hà Lan, Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ,
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, và WHO4,5,39
(Bảng 1) Ngay cả trong các nghiên cứu kiểm soát các biến số gây nhiễu đã biết, các nhiễu còn lại vẫn còn là quan ngại Do đó, cần thận trọng khi diễn giải
dữ liệu về các vấn đề gây tranh cãi về lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ Bởi vì hầu như tất cả các dữ liệu có sẵn về cho con bú và sức khỏe đều được thu thập từ các nghiên cứu quan sát, mối liên kết hoặc phát sinh nên là suy diễn chứ
không phải là quan hệ nhân quả
Lợi ích sức khỏe liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ
Phòng chống nhiễm khuẩn
Tác dụng phòng ngừa nhiễm trùng đến nay là lợi ích sức khỏe quan trọng nhất liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Các phân tích tổng hợp của Hà Lan và Cơ quan Nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) kết luận rằng cho con bú có liên quan một cách thuyết phục với giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa và viêm tai giữa cấp tính (AOM), trong khi các tác dụng bảo vệ các nhiễm trùng đường
hô hấp khác còn đang nghi ngờ4,5 Phân tích meta của AHRQ cho thấy rằng việc cho con bú luôn gắn liền với rủi ro mắc AOM thấp hơn so với bú bình hoàn toàn (tỷ số chênh [OR] 0,77, khoảng tin cậy 95%
[CI] 0,64-0,91)5 Nguy cơ mắc AOM giảm nhiều hơn khi so sánh giữa bú sữa mẹ hoàn toàn và bú sữa công thức hoàn toàn, cả trong thời gian hơn 3 đến 6 tháng (OR 0,50, 95% CI 0,36-0,70) Chien và Howie40 đã xác định được 14 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứu bệnh chứng từ các nước phát triển đủ điều kiện đưa vào tổng quan/phân tích tổng hợp một cách hệ thống của họ về mối quan hệ giữa cho con bú và sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ
em dưới 1 năm tuổi Tóm tắt tỷ số chênh thô của 14 nghiên cứu thuần tập về sự phát triển các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là 0,36 (95% CI 0,32-0,41), trong khi đó của 2 nghiên cứu bệnh chứng là 0,54 (95% CI 0,36-0,80) Một nghiên cứu bệnh chứng gần đây về phương pháp tốt/đầy đủ của Anh cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có giảm nguy
cơ tiêu chảy so với trẻ sơ sinh không bú sữa mẹ (OR 0,36, 95% CI 0,18-0,74)41 Tuy nhiên, hiệu quả bảo
vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ không kéo dài quá 2 tháng sau khi ngưng cho con bú Nuôi con bằng sữa mẹ không có tác dụng bảo vệ chống lại sự xuất hiện của các bệnh đường hô hấp dưới Tuy nhiên, việc cho con bú có thể có một vai trò phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, mức độ nặng được xác định là đến mức cần phải nhập viện Một phân tích tổng hợp của 7 nghiên cứu thuần tập cho thấy nguy cơ nhập viện thứ phát do bệnh hô hấp ở trẻ khỏe mạnh sinh đủ tháng dưới 1 năm tuổi được bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng giảm 72%, so với những trẻ được nuôi bằng sữa công thức (nguy cơ tương đối 0,28, 95% CI 0,14-0,54) 42 Hiệu quả bảo vệ chống lại nguy cơ nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới của việc nuôi con bằng sữa mẹ gần đây đã được xác nhận bởi một nghiên cứu đoàn hệ Thiên niên kỷ tại Vương quốc Anh6 Nhìn chung, những dữ liệu có sẵn cho thấy có mối liên quan giữa việc nuôi con bằng sữa mẹ với sự giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng cũng như AOM và có thể bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng khác mức với những chứng cứ ít
thuyết phục hơn
Sức khoẻ tim mạch
Huyết áp
Một thử nghiệm ngẫu nhiên thực hiện đầu những năm 1980 so sánh việc sử dụng ngân hàng sữa mẹ với sữa công thức cho trẻ sinh non cho thấy huyết áp tâm trương trung bình ở độ tuổi từ 13 đến 16 cao hơn ở nhóm dùng sữa công thức so với nhóm ngân hàng sữa mẹ: 65,0 so với 61.9mmHg (95% CI khác biệt _5.8 đến _0.6; P = 0,016)43, khác nhau đáng kể
về mật độ năng lượng và chất dinh dưỡng Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm thu
Không có dữ liệu được công bố nào so sánh kết quả của trẻ sinh non được cho ăn từ ngân hàng sữa mẹ với ăn sữa công thức cho trẻ đủ tháng, loại sữa cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng tương đương hơn Một phân tích tổng hợp của Owen và cộng sự44
cho thấy sự khác biệt trung bình gộp về huyết áp tâm thu _1.10mmHg (95% CI _1.79 đến _0.42) ở nhóm trẻ bú sữa mẹ Không tìm thấy sự khác biệt nào về huyết áp tâm trương Một phân tích tổng hợp khác, bao gồm khoảng 10.000 đối tượng nghiên cứu
cộng thêm với 3 nghiên cứu với hơn 1500 đối tượng tham gia mỗi nghiên cứu, cho thấy việc cho con bú liên quan đến sự khác biệt _1.4mmHg (95% CI _2.2 đến _0.6) trong huyết áp tâm thu và _0.5mmHg (95% CI _0.9 đến _0.04) trong huyết áp tâm trương (45) Trong 2 phân tích tổng hợp nói trên, mối liên quan bị suy yếu sau khi phân tầng kích thước nghiên cứu, cho thấy khả năng sai lệch của các nghiên cứu nhỏ hơn Có một phân tích tổng hợp gần đây bao gồm 4 nghiên cứu bổ sung và các ấn phẩm khác xác định bởi 2 việc tìm kiếm tài liệu độc lập của WHO
và Đại học Pelotas, Brazil39 Huyết áp tâm thu (sai
số trung bình _1.21 mmHg, 95% CI _1.72 đến _0.70) và tâm trương (sai số trung bình _0.49mmHg , 95% CI _0.87 đến _0.11) thấp hơn ở nhóm đối tượng bú mẹ Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp vào lúc 6,5 tuổi 46 Mặc dù chưa có sự đồng thuận về việc liệu lượng natri trong giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng đến huyết áp sau này trong cuộc sống hay không47, có khả năng hàm lượng natri thấp trong sữa
mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp Hàm lượng cao các axit béo không bão hòa chuỗi dài (LCPUFA) trong sữa mẹ cũng có thể có liên quan, vì LCPUFA được tích hợp vào màng của lớp tế bào nội mạc mạch máu và việc bổ sung LCPUFA làm giảm huyết áp ở các đối tượng bị tăng huyết áp Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy rằng việc bổ sung LCPUFA vào chế độ ăn uống từ
sơ sinh đến 6 tháng có liên quan đến việc giảm đáng
kể huyết áp trung bình và huyết áp tâm trương lúc 6 tuổi (48) Trong một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có bổ sung dầu cá từ 9 đến 12 tháng tuổi, huyết áp tâm thu lúc 12 tháng thấp hơn 6,3 mmHg
ở trẻ được dùng dầu cá49 Mức độ hiệu quả của nuôi con bằng sữa mẹ lên
huyết áp tương tự như tác động của việc hạn chế muối (_1.3 mmHg) và giảm cân (_2.8mmHg) ở các đối tượng có huyết áp bình thường, và có thể
có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng 50 Việc hạ 2mmHg huyết áp trung bình của dân số
có thể làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn đến 17% và nguy cơ của bệnh tim mạch vành, đột quỵ, và cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương
ứng là 6% và 15%
Chuyển hóa lipid
Một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu cho thấy tổng lượng cholesterol trong máu (TC) khác nhau
theo độ tuổi Nồng độ cholesterol tổng số cao hơn trong nhóm trẻ bú sữa mẹ so với nhóm nuôi bằng sữa công thức cho trẻ nhỏ (<1 năm), bởi vì hàm lượng cholesterol trong sữa mẹ cao hơn rõ rệt so với trong công thức thương mại (khác biệt trung bình
của TC là 0,64, 95% CI 0,50-0,79 mmol/L)51 Tổng lượng cholesterol trung bình ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên (1-16 tuổi) không liên quan đến chế đôk
ăn trong giai đoạn sơ sinh Tuy nhiên, TC ở người lớn được bú mẹ trong giai đoạn sơ sinh lại thấp hơn (sai số trung bình TC là _0.18, 95% CI _0.30 _0.06 mmol/L) Chế độ ăn có cholesterol lipoprotein mật
độ thấp (LDL) cũng giống như chế độ ăn có TC Dù
có sự kích thích lập trình cơ bản nào thì thay đổi lâu dài trong chuyển hóa cholesterol vẫn có khả năng xảy ra, hoặc bằng cách điều chỉnh hoạt động khử coenzyme hydroxymethylglucaryl A (HMG-CoA) của gan hay hoạt động của thụ thể tiếp nhận LDL
Phân tích tổng hợp của WHO khẳng định rằng ở nhóm người lớn (> 19 tuổi) bú sữa mẹ có lượng TC trung bình 0.18mmol/L (95% CI 0,06-0,30 mmol/L) thấp hơn so với những người bú bình trong khi mối liên kết lại là không đáng kể đối với trẻ em và thanh thiếu niên39 Mối liên kết thấy ở người lớn này dường như không thể do sai lệch xuất bản hoặc do gây nhiễu Một đánh giá gần đây bao gồm dữ liệu từ
17 nghiên cứu (17.498 đối tượng; 12.890 bú sữa mẹ,
4608 nuôi bằng sữa công thức) cũng xác nhận rằng được nuôi bằng sữa mẹ lúc ban đầu (đặc biệt là nuôi hoàn toàn) có liên quan với giảm nồng độ
choles-terol máu trong cuộc sống sau này 52
Bệnh tim mạch
Một câu hỏi quan trọng là liệu những tác động tiềm năng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trên huyết
áp và chuyển hóa lipid sau đó có thể dẫn đến giảm nguy cơ tim mạch ở tuổi trưởng thành hay không
Hai nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa thời gian cho con bú với bệnh phồng động mạch, được coi là dấu hiệu của rối loạn chức năng nội mô, ở trẻ em 10 tuổi và ở người lớn53,54 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở người lớn cho thấy không có sự khác biệt trong phồng động mạch giữa những người tham gia đã được bú bình
và những người bú sữa mẹ ít hơn 4 tháng Một nghiên cứu của Phần Lan gần đây cho thấy rằng những nam thanh niên đã được bú sữa mẹ có chức năng nội mô của động mạch cánh tay tốt hơn so với những nam thanh niên đã được nuôi bằng sữa công thức Nuôi con bằng sữa mẹ không liên quan đáng
kể đến dày tầng giữa thành động mạch cảnh (IMT)
và xẹp động mạch cảnh Không quan sát thấy sự khác biệt nào giữa những phụ nữ được bú sữa mẹ và
được nuôi bằng sữa công thức55 Quá trình theo dõi của nghiên cứu đoàn hệ
Boyd-Orr tại Anh cho thấy ở những người tham gia
từ 63 - 82 tuổi dược bú mẹ có liên kết với số đo thấp hơn khi siêu âm IMT của động mạch cảnh chung và nhánh cũng như động mạch cảnh dưới và mảng bám động mạch đùi so với bú bình56 Tuy nhiên, không
có bằng chứng về mối quan hệ về thời gian kéo dài đáp ứng giữa nhóm bú mẹ và IMT Một nghiên cứu đoàn hệ tương tự trên cơ sở số lượng đối tượng nghiên cứu lớn hơn và xem xét một cách hệ thống bằng một phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu không cho thấy bất kỳ tác động có lợi nào của nuôi con bằng sữa mẹ lên tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch 57 Nghiên cứu thuần tập Caerphilly, Wales, Vương quốc Anh, cho thấy mối liên hệ giữa nuôi con bằng sữa mẹ và tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành Tuy nhiên, không có tác dụng đáp ứng kéo dài 58 Ngược lại, một nghiên cứu những người tham gia trong Nghiên cứu Sức khỏe Y tá cho thấy 8% giảm nguy
cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan đến bú sữa mẹ
59 Ủy ban kết luận rằng mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên huyết áp và mức độ lipid trong máu sau này, hiện vẫn không có bằng chứng thuyết phục rằng nuôi con bằng sữa mẹ có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim
mạch và tử vong
Thừa cân, béo phì và bệnh tiểu đường tuýp 2
Trong một phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu gần đây, những cá thể được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị thừa cân và/hoặc béo phì khi đến thời thơ ấu và thanh thiếu niên (OR 0,78, 95% CI
0,72-0,84)39 Hiệu quả trên không còn thấy rõ ở tuổi trưởng thành Kiểm soát nhiễu và tuổi tác ở đánh giá, năm sinh, và thiết kế nghiên cứu không làm thay đổi tác dụng bảo vệ của việc được nuôi bằng sữa mẹ Do hiệu quả bảo vệ có ý nghĩa thống kê của những nghiên cứu này, nghiên cứu được kiểm soát
về tình trạng kinh tế xã hội và nhân trắc của cha mẹ
và với sự tham gia của ít nhất 1500 người, tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ không có khả năng
bị sai lệch do xuất bản hoặc nhiễu39 Một số nhưng không phải tất cả các nghiên cứu cho thấy hiệu quả đáp ứng với liều dùng có tác dụng đặc trưng liên quan với kéo dài thời gian cho con bú60 Tuy nhiên, trong thử nghiệm cụm ngẫu nhiên PROBIT, không tìm thấy tác dụng nào của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên cân nặng và béo phì ở nhóm trẻ được bú mẹ vào lúc 6,5 tuổi 46 Các cơ chế bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này của việc cho con bú đã được xem xét chi tiết61 Giải thích hành vi có thể là do trẻ
bú sữa mẹ kiểm soát được lượng sữa chúng tiêu thụ
và có thể tốt hơn trong việc tự điều chỉnh năng lượng nạp vào sau này Hàm lượng protein và năng lượng của sữa mẹ thấp hơn so với sữa công thức cho trẻ nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến thành phần cấu tạo cơ thể sau này Lượng protein thấp hơn cũng có thể góp phần giảm giải phóng insulin và do
đó giảm lưu trữ chất béo và béo phì Tác dụng phòng ngừa thừa cân và béo phì của bú sữa mẹ cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng chậm hơn
của trẻ sơ sinh bú sữa mẹ trong năm đầu tiên của cuộc sống so với trẻ nuôi bằng sữa công thức 62 Hai phân tích hệ thống cho thấy rõ ràng rằng phần trămtrọng lượng và chiều dài vượt trội trong giai đoạn sơ sinh có liên quan với béo phì sau này (tỷ số chênh của nguy cơ béo phì từ 1,2 đến 5,7 ở trẻ tăng
trưởng nhanh)34,35.
Có rất it thông tin có sẵn về sự phát triển lâu dài của các thành phần cấu tạo cơ thể của những trẻ trước đó được bú sữa mẹ Butte et al63 đã xem xét sự phát triển của khối nạc và mỡ và quan sát thấy rằng, mặc dù tốc độ tăng cân ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thấp hơn trong giai đoạn từ 3 - 6 tháng, nhưng khối lượng
mỡ và tỷ lệ phần trăm khối lượng mỡ của nhóm bú sữa mẹ cao hơn so với nhóm nuôi bằng sữa công thức trong cùng một khoảng thời gian Những vấn
đề này đáng được quan tâm nhiều hơn nữa
Một đánh giá 7 nghiên cứu gồm 76.744 đối tượng đề nghị rằng bú sữa mẹ có thể bảo vệ lâu dài chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường tuýp 2 (OR 0,61, 95% CI 0,41-0,85), với lượng đường trong máu và nồng độ insulin huyết thanh thấp hơn
ở thời kỳ sơ sinh và có sự giảm nhẹ nồng độ insulin trong cuộc sống sau này 64 Việc giảm nguy cơ bệnh tiểu đường tuýp 2 cũng đã được báo cáo trong một
phân tích tổng hợp của WHO 39 Tóm lại, cần khám phá chi tiết hơn về khả năng
của việc bú sữa mẹ góp phần làm giảm phát triển chứng béo phì sau này và tác động có thể có của nó
đối với bệnh tiểu đường tuýp 2
Các rối loạn hệ thống miễn dịch
Dị ứng
Trong những năm 1930, một nghiên cứu lớn theo dõi hơn 20.000 trẻ sơ sinh trong 9 tháng đã thấy tỷ lệ mắc bệnh chàm eczema giảm 7 lần ở những trẻ bú sữa mẹ so với ăn sữa bò 65 Mặc dù tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên sự phát triển dị ứng đã được nghiên cứu liên tục kể từ đó, nhưng vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi đến tận ngày nay Khả năng xảy ra quan hệ nhân quả ngược cũng cần được xem
là nhược điểm của phương pháp bổ sung nhằm đánh giá tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ lên nguy
cơ dị ứng Thật vậy, những người mẹ biết rằng con
họ có nguy cơ bị dị ứng sẽ nhiều khả năng không những cho con bú mà còn cho bú trong thời gian dài hơn so với các bà mẹ của trẻ không có rủi ro dị ứng gia đình Hơn nữa, các yếu tố di truyền và môi
trường cũng tương tác với nuôi con bằng sữa mẹ
Một số trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị chàm dị ứng có thể được hưởng lợi từ chế độ ăn loại bỏ sữa bò, trứng, hoặc các kháng nguyên khác của người mẹ
Các kháng nguyên từ chế độ ăn uống của người mẹ cũng có khả năng đi qua nhau thai Tuy nhiên, áp dụng chế độ ăn tránh kháng nguyên trong thời kỳ mang thai khó có khả năng làm giảm đáng kể nguy
cơ mắc bệnh dị ứng của trẻ, và chế độ ăn uống đó còn có thể không có lợi đến dinh dưỡng của mẹ hay của thai nhi, hoặc của cả hai 66 Ngoài ra, không có bằng chứng thuyết phục nào chứng tỏ chế độ ăn uống của người mẹ trong thời gian cho con bú có tác dụng phòng ngừa lâu dài bệnh dị ứng ở trẻ em 67 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ là khá hạn chế đối với những trẻ có nguy cơ, nghĩa là những trẻ có ngưởi thân trực hệ (cha, mẹ, anh, chị, em ruột)
đã xác nhận mắc bệnh dị ứng Các phân tích tổng hợp AHRQ và Hà Lan chỉ ra tác dụng tạm thời, bảo
vệ của cho con bú ít nhất 4 tháng đối với các bệnh viêm da dị ứng, thở khò khè, và hen suyễn ở trẻ nhỏ4,5 Có vẻ như chính sách bú sữa mẹ hoàn toàn có thể phòng ngừa được dị ứng, đặc biệt là những biểu hiện ở đường hô hấp Dù cho tác dụng bảo vệ là gì, những phụ nữ có tiền sử dị ứng gia đình vẫn nên cho con bú như những phụ nữ khác, và nên cho con bú
mẹ hoàn toàn đến 6 tháng
Tiểu đường tuýp 1
Có hai phân tích tổng hợp đề xuất rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 3 tháng làm giảm nguy cơ tiểu đường type 1 ở tuổi thiếu niên so với
bú sữa mẹ dưới 3 tháng, tỷ lệ giảm tương ứng là 19% (95% CI 11%–26%) và 27% (95% CI 18%-35%) 4,5 Ngoài ra, 5 trong 6 nghiên cứu đã xuất bản
từ các phân tích tổng hợp cũng cho kết quả tương
tự5 Phân tich tông hợp Hà Lan và AHRQ cũng chỉ
ra tác dụng có thể phòng ngừa tiểu đường type 1 sau này trong cuộc sống của những trẻ bú sữa mẹ 4,5
Việc cho trẻ dùng protein sữa bò quá sớm có thể là yếu tố đóng góp chính Sẽ có thêm thông tin từ nghiên cứu TRIGR (thử nghiêm nhằm giảm IDDM
ở nhóm có nguy cơ di truyền), phân chia ngẫu nhiên những trẻ có nguy cơ cao để dùng bổ sung các sữa công thức khác nhau, hoặc là sữa thủy phân hoặc sữa dựa trên sữa bò, sau khi bú sữa mẹ trong
6 - 8 tháng đầu đời68
Bệnh celiac
Gần đây, một đánh giá gồm 6 nghiên cứu quan sát cho rằng việc cho con bú có thể bảo vệ chống lại
sự phát triển của bệnh celiac (CD) 69 Ngoại trừ việc đây là một nghiên cứu nhỏ, mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian cho con bú và giảm nguy cơ mắc bệnh celiac đã được tìm thấy Phân tích tổng hợp cho thấy rằng nguy cơ mắc bệnh celiac đã giảm đáng kể ở trẻ sơ sinh bú mẹ tại thời điểm bắt đầu ăn gluten so với trẻ không bú mẹ (OR 0,48, 95% CI
0,40-0,59) Tuy nhiên, việc cho con bú có thể không thể bảo vệ trẻ vĩnh viễn không mắc bệnh celiac nhưng có thể trì hoãn sự khởi đầu các triệu chứng
Morris et al 70 gần đây đã báo cáo rằng cả việc cho ăn ngũ cốc chứa gluten sớm (trước hoặc bằng 3 tháng) hoặc muộn (sau hoặc từ 7 tháng) đều liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh celiac Nghiên cứu này dựa trên một quần thể có nguy cơ mắc bệnh celiac hoặc đái tháo đường, dựa trên dạng kháng nguyên bạch cầu của con người, hoặc có quan hệ trực hệ với người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 Trên
cơ sở dữ liệu hiện tại, Ủy ban sẽ xem xét thận trọng
để tránh cho trẻ ăn gluten muộn (từ 7 tháng trở lên) hoặc sớm (dưới 4 tháng) và nên cho trẻ ăn gluten khi vẫn còn đang bú sữa mẹ 23
Bệnh viêm ruột
Một phân tích tổng hợp cho thấy hiệu quả bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ trước nguy cơ mắc bệnh viêm ruột (IBD): nguy cơ mắc bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng (UC) giảm với tỷ lệ tương ứng là 33% và 23% 71 Tuy nhiên, trong tổng
số 17 nghiên cứu, chỉ có 4 nghiên cứu trên bệnh Crohn và 4 nghiên cứu trên viêm loét đại trạng đạt chất lượng cao Phân tích tổng hơp Hà Lan đưa ra bằng chứng về tác dụng bảo vệ của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với bệnh Crohn và bằng chứng chưa đầy đủ cho UC 4 Một nguyên cứu bệnh chứng trên trẻ em dựa trên dân số đã được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp để đánh giá các yếu tố rủi ro do môi trường đối với bệnh viêm ruột 72 Trong một nghiên cứu đa biến điều chỉnh theo trình độ học vấn của người mẹ, việc cho con bú (một phần hoặc hoàn toàn) là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển bệnh Crohn (OR 2.1, 95% CI 1,3-3,4 P = 0,003), nhưng không phải cho UC Cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu đầy đủ mối quan hệ giữa cho con bú và IBD
Bệnh ác tính
Sữa mẹ có thể có vai trò trong phòng chống bệnh
ác tính bằng cách kích thích hoặc điều chỉnh đáp ứng miễn dịch và thúc đẩy sự phát triển của đáp ứng này trong giai đoạn đầu đời Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy cho con bú lâu dài (> 6 tháng)
có liên quan đến việc giảm ít nhưng có ý nghĩa nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp (OR 0,80, 95% CI 0,71-0,91) 5 Phân tích tổng hợp Hà Lan kết luận rằng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ nhỏ được
bú sữa mẹ 4 Kwan và cộng sự 73 báo cáo giảm nguy
cơ mắc bệnh bạch cầu cấp myelogenous ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu dài (OR 0,85, 95% CI 0,73-0,98) nhưng không giảm ở những trẻ bú mẹ trong thời gian ngắn (ít hơn hoặc bằng 6 tháng ) (OR 0,90, 95% CI 0,80-1,02) Một phân tích tổng hợp 11
nghiên cứu cho thấy những phụ nữ được bú sữa mẹ
có giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú tiền mãn kinh (nguy cơ tương đối 0,88, 95% CI 0,79-0,98) nhưng không giảm mắc bệnh ung thư vú sau mãn kinh74 Bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa nuôi con bằng sữa mẹ và bảo vệ chống lại bệnh ác tính phải được coi là yếu
Phát triển thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nuôi con bằng sữa mẹ có liên quan đến việc đẩy mạnh phát triển thần kinh, nhưng mối quan hệ nhân quả này khó thành lập do nhiều yếu tố gây nhiễu Phân tích tổng hợp của Anderson et al 75cho thấy chức năng nhận thức tăng 3,2 điểm sau khi điều chỉnh trí thông minh của người mẹ ở nhóm trẻ sơ sinh bú sữa mẹ so với trẻ nuôi bằng sữa công thức Phát triển tốt hơn về nhận thức được biểu hiện vào lúc 6 tháng tuổi và được duy trì trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu Trẻ sinh nhẹ cân được hưởng lợi nhiều hơn (5,2 điểm)
so với trẻ có cân nặng bình thường lúc sinh (2,7 điểm) Việc tăng thời gian cho con bú sẽ đi kèm với
sự gia tăng phát triển nhận thức Yếu tố gây nhiễu còn lại quan trọng nhất là ảnh hưởng của tình trạng kinh tế xã hội của người mẹ lên sự phát triển nhận thức của trẻ Tuy nhiên, một nghiên cứu từ Philip-pines đánh giá mối quan hệ giữa nuôi con bằng sữa
mẹ và sự phát triển nhận thức trong quần thể lại thấy rằng lợi ích kinh tế xã hội tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, đây là điều trái ngược với các quốc gia công nghiệp hóa 76 Số diểm vào lúc 8.5 và 11,5 tuổi cao hơn ở những trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn (cao hơn 1,6 điểm và 9,8 điểm ở nhóm có trọng lượng lúc sinh bình thường và trẻ sơ sinh nhẹ cân, tương ứng với những trẻ bú sữa mẹ từ 12 đến 18 tháng so với <6 tháng) Nghiên cứu cụm ngẫu nhiên lớn của Belarus cho thấy việc đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến gia tăng đáng kể chỉ số IQ bằng lời nói (7,5 điểm, 95% CI 0,8-14,3)77 Xếp hạng học tập của giáo viên cao hơn đáng kể đối với nhóm thử nghiệm về cả đọc và viết
Những ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa
mẹ lên nhận thức của người lớn còn ít được biết tới
Một mối liên quan tích cực giữa thời gian cho con
bú và chức năng nhận thức thấy trong 2 nhóm mẫu nghiên cứu thanh nhiên Đan Mạch, được đánh giá bằng 2 bài kiểm tra IQ khác nhau 78 Trong nghiên cứu thuần tập Caerphilly, những người đàn ông độ tuổi từ 60 đến 74 từng được ăn nhân tạo, chỉ trong những người có cân nặng khi sinh dưới trung bình mới có mối liên kết với chức năng nhận thức thấp hơn 79 Tuy nhiên, sai số do tuổi tác liên quan đến giảm chức năng nhận thức có thể làm suy yếu mối liên kết này, vì vậy nó chỉ có ý nghĩa ở những người
có cân nặng lúc sinh thấp
Việc sử dụng so sánh anh, chị, em ruột làm suy yếu ảnh hưởng của biến nhiễu gia đình Evenhouse
và Reilly đã kiểm tra mối quan hệ giữa lịch sử bú sữa mẹ và khả năng nhận thức ở 2734 cặp anh chị
em từ Nghiên cứu Quốc Gia Theo Chiều Dọc Về Sức Khỏe Vị Thành Niên Hoa Kỳ Lợi ích của tác dụng của việc từng bú sữa mẹ lên điểm số thông minh (IQ test - Peabody Picture Vocabulary Test) đánh giá ở tuổi vị thành niên đã đạt tương ứng là 1,7 và 2,4 điểm trong và giữa các gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 80 Một nghiên cứu khác gần đây với sự tham gia của > 5000 trẻ em Mỹ cũng được sử dụng phân tích so sánh anh, chị, em ruột Bất kỳ yếu tố gây nhiễu nào là giống nhau cho
cả hai thành viên của một cặp anh chị em ruột đều được điều khiển tự động 81 IQ của người mẹ được
dự báo bởi tình trạng cho bú sữa mẹ hơn là bởi chủng tộc, giáo dục, tuổi tác, tình trạng nghèo đói, hút thuốc lá, môi trường gia đình, cân nặng của trẻ hoặc thứ tự sinh Một độ lệch chuẩn lợi thế của chỉ
số IQ người mẹ lớn hơn gấp đôi tỷ lệ chênh của việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ
có liên quan với mức tăng khoảng 4 điểm về khả năng trí não, điều trước kia chủ yếu tính đến là do trí thông minh của người mẹ Khi điều chỉnh hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu liên quan, lợi ích của việc trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là nhỏ và không đáng kể (0,52, 95% CI _0.19 đến 1,23) Tuy nhiên, việc so sánh anh chị em ruột cũng không thể hoàn toàn loại
bỏ được các yếu tố sai lệch vì các yếu tố không quan sát được, do cùng một người mẹ có thể 2 nuôi con theo các cách khác nhau Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sau này của những đứa con đó
Những lợi ích của sữa mẹ có thể liên quan đến lượng axit docosahexaenoic trong sữa (DHA, 22:
6v3), đóng vai trò quan trọng trong phát triển não và võng mạc.Những trẻ bú sữa mẹ được khám nghiệm
tử thi do tử vong đột ngột có tỷ lệ DHA trong vỏ não lớn hơn so với những trẻ nuôi bằng sữa công thức 82 Vai trò của DHA cũng được đề xuất bởi tác dụng của việc bổ sung DHA cho những bà mẹ cho con bú từ sinh đến 4 tháng sau Không có tác dụng lên chức năng thị giác vào lúc 4 và 8 tháng hoặc lên các chỉ số phát triển thần kinh vào lúc 1 tuổi Ngược lại, Chỉ số phát triển tâm thần vận động Bayley, nhưng không phải là chỉ số phát triển tâm thần lại cao hơn đáng kể ở nhóm bổ sung vào lúc 30 tháng tuổi 83 Gần đây, người ta đã chỉ ra rằng mối liên kết giữa cho con bú và phát triển nhận thức tốt hơn đã
bị giảm đi bởi một biến thể di truyền trong FADS2, một gen mã hóa desaturase delta-6, là bước giới hạn
tỷ lệ trên con đường chuyển hóa sản sinh ra arachi-donic và DHA 84 Axit sialic trong não có thể đóng vai trò có lợi trong phát triển não bộ và nhận thức 85,
nồng độ đã được báo cáo là khác nhau giữa những trẻ bú sữa mẹ và trẻ nuôi bằng sữa công thức
Các bằng chứng hiện có cho thấy rằng việc cho con bú có thể liên quan đến một lợi ích tuy nhỏ nhưng có thể đo lường được trong phát triển nhận thức, và sẽ tồn tại cho đến khi trưởng thành Mặc dù mức độ ảnh hưởng của các lợi ích về nhận thức có thể không có tầm quan trọng lớn đối với một cá nhân, nhưng nó có thể là lợi ích đáng kể cho quần thể
Chế độ bổ sung cho trẻ bú sữa mẹ
Tình trạng Vitamin D của phụ nữ châu Âu trong
độ tuổi sinh đẻ thường thiếu và do đó hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thường không đủ do ít uống sữa bò và các sản phẩm từ sữacó bổ sung vitamin D, thiếu ánh nắng mặt trời, và truyền thống dân tộc luôn che kín cơ thể Hơn nữa, nguy
cơ bị cháy nắng (ngắn hạn) và ung thư da (dài hạn)
do tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm cho việc tư vấn tiếp xúc lại với ánh nắng trở nên thận trọng và
hỗ trợ việc sử dụng kem chống nắng trong giai đoạn trẻ nhỏ 24 Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cần được bổ sung vitamin D hàng ngày, bất kể tình trạng vitamin D của mẹ ra sao Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ cũng bị hạn chế nguồn vitamin K, thường chỉ có ở nồng độ thấp trong sữa mẹ Nói chung, các hội nhi khoa châu Âu khuyên bạn nên bổ sung vitamin K cho trẻ trong những tuần hay tháng đầu tiên của cuộc sống, hoặc cho trẻ bú sữa mẹ hoặc cho tất cả các trẻ sơ sinh 86 Có những khác nhau trong việc
bổ sung fluoride ở châu Âu, vì cân nhắc yếu tố có fluoride trong nước uống Những trẻ sinh non hoặc nhẹ cân cũng như những trẻ thiếu sắt cần được bổ sung thêm sắt sớm và có thể thực hiện khi trẻ vẫn đang bú mẹ hoàn toàn Trong giai đoạn cho ăn bổ sung, > 90% các yêu cầu về sắt của một đứa trẻ bú sữa mẹ phải được đáp ứng bằng thức ăn bổ sung,
và nên cung cấp đủ lọai sắt có hoạt tính sinh học23
Chống chỉ định cho con bú
Có một vài bệnh nếu cho con bú có thể không mang lại lợi ích tốt nhất của trẻ sơ sinh Chống chỉ định chủ yếu nuôi con bằng sữa mẹ là khi bà mẹ bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Việc lây truyền HIV trong khi cho con bú là một quá trình đa yếu tố Các yếu tố nguy cơ là tải lượng virus của mẹ, tình trạng miễn dịch của mẹ, tình trạng của vú, mô hình và thời gian cho con bú
Để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV, WHO khuyến cáo "khi việc cho ăn thay thế là chấp nhận được, khả thi, giá cả phải chăng, bền vững và an toàn, khuyến cáo tất cả các bà mẹ nhiễm HIV tránh
cho con bú, nếu không thể, nên cho con bú mẹ hoàn toàn trong tháng đầu tiên của cuộc sống" 87 Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện tại Nam Phi cho thấy rằng cho con bú mẹ hoàn toàn có liên quan với giảm nguy cơ lây truyền sau khi sinh vào lúc 6, 12 và 18 tháng so với bú mẹ là chính hoặc chế độ bú hỗn hợp 88 Một nghiên cứu đoàn hệ can thiệp tại Nam Phi cũng cho thấy trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ được ăn thực phẩm rắn trong 6 tháng đầu có khả năng bị lây nhiễm HIV nhiều hơn 11 lần so với những trẻ bú mẹ hoàn toàn, và trẻ sơ sinh 14 tuần tuổi được cho ăn cả sữa mẹ và sữa công thức có khả năng bị nhiễm gần gấp đôi những trẻ bú mẹ hoàn 89 Tại châu Âu, phụ nữ nhiễm HIV nên được
tư vấn không nuôi con bằng sữa mẹ
Chống chỉ định cho con bú cũng áp dụng cho bà
mẹ nhiễm virus T-cell lymphotropic ở người (HTLV) loại I hoặc II, và bà mẹ có tổn thương herpes simplex trên vú 90. Không chống chỉ định bú sữa mẹ trong trường hợp mẹ có kháng nguyên bề mặt viêm gan B dương tính và những bà mẹ bị nhiễm virus viêm gan C 90 Việc lây nhiễm Cyto-megalovirus (CMV) qua sữa mẹ thường không biểu hiện triệu chứng ở trẻ sơ sinh đủ tháng, trong khi nguy cơ biểu hiện triệu chứng ở trẻ sinh non nhiễm CMV là cao hơn, chẳng hạn như triệu chứng giống nhiễm trùng huyết 91 Ở trẻ sơ sinh rất nhẹ cân (<1500g hoặc tuổi thai <32 tuần) con của những người mẹ có huyết thanh dương tính với CMV, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ nên được cân nhắc với nguy cơ lây truyền CMV Việc tiệt trùng sữa sẽ ngăn ngừa nhiễm CMV Làm lạnh cũng làm giảm đáng kể tải lượng virus CMV trong sữa mẹ và cũng có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng
Trong các biến thể cổ điển của nhiễm galactose máu, khi men galactose 1-phosphate uridyl trans-ferase (gal-1-put) hồng cầu không hoạt động, trẻ không thể chuyển hóa galactose, nên tránh cho con
bú Trong các biến thể nhẹ hơn của bệnh, gal-1-put chỉ giảm một phần, trẻ có thể bú sữa mẹ hay ít nhất
bú sữa mẹ một phần do khả năng dung nạp galac-tose cao hơn 90 Một vài lỗi chuyển hóa di truyền khác cần chống chỉ định tuyệt đối cho con bú, ví dụ, rối loạn quá trình oxy hóa acid béo chuỗi dài và các rối loạn liên quan, cũng như thiếu lactase bẩm sinh, trong khi trẻ có thể dung nạp một chút sữa mẹ trong các rối loạn khác như tăng chylomicron trong máu (tăng mỡ máu loại 1) và rối loạn chuyển hóa lipoprotein máu Mặc dù không có bằng chứng xác định rằng bú sữa mẹ cải thiện kết quả của chứng rối loạn chuyển hóa phenylalanine từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, một số nghiên cứu quan sát đã chỉ ra một số lợi ích và cho rằng nên khuyến khích cho con
bú ở mức độ trẻ có thể dung nạp được phenylala-nine 92,93 Cần thực hiện những việc tiếp theo để phát
triển các hướng dẫn cho ăn và theo dõi lâm sàng, sinh hóa cho trẻ bú sữa mẹ bị rối loạn chuyển hóa di truyền 94
Chống chỉ định cho con bú khi bà mẹ nhận được chẩn đoán và điều trị bằng đồng vị phóng xạ hoặc có tiếp xúc với chất phóng xạ, và đang điều trị bằng các thuốc đặc biệt 95
Hầu hết các thuốc đều được chuyển vào sữa mẹ, nhưng hầu hết chỉ với số lượng ít và thường là an toàn khi cho con bú trong khi sử dụng một loại thuốc nào đó Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc là rất quan trọng Các chuyên gia y tế và các bậc cha mẹ nên cẩn thận lựa chọn những thuốc có ít tác dụng phụ Trong hầu hết trường hợp, nếu đã lựa chọn thuốc kỹ càng, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con
bú trong khi điều trị bằng thuốc 14 Sữa mẹ có thể bị tổn hại bởi các hóa chất không mong muốn từ môi trường, đặc biệt là các chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại lâu dài, tích tụ trong chuỗi thức
ăn, hậu quả của việc ăn, uống, và sống trong một thế giới công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, sự hiện diện của hóa chất môi trường trong sữa mẹ không nhất thiết gây nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh
bú sữa mẹ Chưa có tác dụng phụ nào được chứng minh về lâm sàng hoặc dịch tễ học liên quan đến việc bú sữa mẹ có hóa chất môi trường như là yếu tố duy nhất 96 Tại châu Âu, xu hướng giảm các chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, chẳng hạn như dioxin, dibenzofurans, chất giống dioxin như polychlorobi-phenyls, cho thấy liên tục có sự giảm phơi nhiễm do thực hiện các biện pháp giảm lượng khí thải Những lợi ích sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ nhiều hơn rất nhiều các tác hại tiềm năng liên quan đến sự hiện diện của chất gây ô nhiễm môi trường trong sữa mẹ
Kết luận
Cho con bú là cách tự nhiên và khuyến khích
hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của trẻ nhỏ Có nhiều chỉ số lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe trẻ em, cả trong giai đoạn sơ sinh và sau này trong cuộc sống, nhất là giảm nguy cơ tiêu chảy nhiễm trùng và viêm tai giữa cấp tính
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu là mục tiêu mong muốn, nhưng cho con
bú một phần cũng như cho con bú trong thời gian ngắn hơn cũng vẫn có giá trị.
Việc tiếp tục cho con bú sau khi cho trẻ ăn bổ sung nên được khuyến khích, miễn là cả mẹ và bé đều mong muốn điều đó.
Mặc dù phải thừa nhận rằng cha mẹ là người
chịu trách nhiệm về quyết định có cho con bú hay không, nhưng vai trò của các nhân viên y tế, bao gồm các bác sĩ nhi khoa, là bảo vệ, thúc đẩy và hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Nhân viên y tế cần được đào tạo về nuôi con bằng sữa mẹ và tư vấn, và họ nên khuyến khích các thực hành tuân theo Luật Quốc té về Các thực phẩm thay thế sữa mẹ Nên có các chuẩn mực xã hội và các quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi con bằng sữa mẹ, chẳng hạn như cho nghỉ thai sản ít nhất 6 tháng và bảo vệ những
bà mẹ đang đi làm.
Nên theo dõi thường xuyên những thực hành cho con bú, áp dụng những xác định đã nhất trí về việc nuôi con bằng sữa mẹ, và các chiến lược cải thiện thực hành cần được đánh giá một cách khoa học.
Tài liệu tham khảo
1 Jones G, Steketee RW, Black RE, et al How many child deaths can we prevent this year? Lancet 2003;362:65 – 71.
2 Lauer JA, Betran AP, Barros AJ, et al Deaths and years of life lost due to suboptimal breast-feeding among children in the developing world: a global ecological risk assessment Public Health Nutr 2006;9:673 – 85.
3 Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, et al Maternal and child under- nutrition:
global and regional exposures and health consequences Lancet 2008;371:243 – 60.
4 Dutch State Institute for Nutrition and Health Van Rossum CMT, Bu chner
FL, Hoekstra J Quantification of health effects of breast- feeding Review of the literature and model situation RIVM Report 350040001/2005 Available at: http://www.rivm.nl/bibliotheek/ rapporten/350040001.pdf Accessed December 13, 2008.
5 Agency for Healthcare Research and Quality Breastfeeding andmaternal and infant health outcomes in developed countries AHRQ Publication No
07-E007, April 2007, 524 pages Available at:
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/bv.fcgi?rid=hstat1b.chapter 503
106732 Accessed December 13, 2008.
6 Quigley MA, Kelly YJ, Sacker A Breastfeeding and hospitalization for diarrheal and respiratory infection in the United Kingdom Millenium Cohort Study Pediatrics 2007;119:e837 – 42.
7 Chen A, Rogan WJ Breastfeeding and the risk of postneonatal death in the United States Pediatrics 2004;113:e435 – 9.
8 Taveras EM, Li R, Grummer-Strawn L, et al Opinions and practices of clinicians associated with continuation of exclusive breastfeeding Pediatrics 2004;113:e283 – 90.
9 Taveras EM, Capra AM, Braveman PA, et al Clinician support and psychosocial risk factors associated with breastfeeding discontinuation
Pediatrics 2003;112:108 – 15.
10 Cattaneo A, Yngve A, Koletzko B, et al Protection, promotion and support of breastfeeding in Europe: current situation Public Health Nutr 2005;8:39 – 46.
11 World Health Organization International Code of Marketing of Breastmilk Substitutes, Geneva, 1981, 24 pages ISBN 92 4 154160 1 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/code_ english.pdf Accessed December 13, 2008.
12 Heiberg Endresen E, Helsing E Changes in breastfeeding practices in Norwegian maternity wards: national surveys 1973, 1982, and 1991 Acta Paediatr 1995;84:719–24.
13 Lawrence RA, Lawrence RM Biochemistry of human milk In: Lawrence
RA, Lawrence RM (eds) Breastfeeding A guide for the medical profession
6th ed Philadelphia: Elsevier Mosby; 2005 pp 105 – 70.
14 Hale TW, Hartmann PE Textbook of human lactation 1st ed Amarillo: Hale Publishing; 2007.
15 Hosea Blewett HJ, Cicalo MC, Holland CD, et al The immuno- logical components of human milk Adv Food Nutr Res 2008;54: 45–80.
16 Gonzalez-Cossio T, Habicht JP, Rasmussen KM, et al Impact of food supplementation during lactation on infant breast-milk intake and on the proportion of infants exclusively breast-fed J Nutr 1998;128:1692 – 702.
17 Roschitz B, Plecko B, Huemer M, et al Nutritional infantile vitamin B12 deficiency: pathobiochemical considerations in seven patients Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2005;90:F281–2.
18 Kramer MS, Kakuma R The optimal duration of exclusive breast feeding: a systematic review Adv Exp Med Biol 2004;554:63– 77.
19 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Infant growth and health outcomes associated with 3 compared with 6 mo of exclusive breastfeeding Am J Clin Nutr 2003;78:291–5.
20 World Health Organization The optimal duration of exclusive breastfeed-ing: report of an expert consultation Geneva: World Health Organization;
March 28 – 30, 2001 Available at:
http://www.who.int/nutrition/publications/optimal_duration_of_exc_bfeedi ng_report_eng.pdf Accessed December 13, 2008.
21 Fewtrell MS, Morgan JP, Duggan C, et al Optimal duration of exclusive breastfeeding: what is the evidence to support current recommendations?
Am J Clin Nutr 2007;85 (suppl):635S – 8S.
22 Foote KD, Marriott LD Weaning of infants Arch Dis Child 2003;88:488 – 92.
23 Agostoni C, Decsi T, Fewtrell M, et al Complementary feeding: a commen-tary by the ESPGHAN Committee on Nutrition J Pediatr Gastroenterol Nutr 2008;46:99 – 110.
24 Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al Breastfeeding and the use of human milk American Academy of Pediatrics Section on Breastfeeding
Pediatrics 2005;115:496 – 506.
25 Hamill PV, Drizd TA, Johnson CL, et al Physical growth: National Center for Health Statistics percentiles Am J Clin Nutr 1979;32: 607 – 29.
26 Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, et al Growth of breast-fed infants
deviates from current reference data: a pooled analysis of US, Canadian, and European data sets World Health Organiza- tion Working Group on Infant Growth Pediatrics 1995;96:495–503.
27 Nielsen GA, Thomsen BL, Michaelsen KF Influence of breastfeed- ing and complementary food on growth between 5 and 10 months Acta Paediatr 1998;87:911 – 7.
28 Agostoni C, Grandi F, Gianni ML, et al Growth patterns of breast fed and formula fed infants in the first 12 months of life: an Italian study Arch Dis Child 1999;81:395 – 9.
29 Kramer MS, Guo T, Platt RW, et al Breastfeeding and infant growth:
biology or bias? Pediatrics 2002;110:343 – 7.
30 de Onis M, Garza C, Victora CG, et al WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS): Rationale, planning and implementa- tion Food Nutr Bull 2004;25 (Suppl 1):S1 – 89.
31 de Onis M, Garza C, Onyango AW, et al WHO Child Growth Standards
Acta Paediatr Suppl 2006;450:1 – 101.
32 World Health Organization Multicentre Growth Reference Study Group
WHO Child Growth Standards: Length/height-for-age, weight-for-age, weight-for-length, weight-for-height and body mass index-for-age: methods and development Geneva: World Health Organization, 2006 Available at:
http://www.who.int/childgrowth/ standards/technical_report/en/ Accessed December 13, 2008.
33 Cole TJ, Paul AA, Whitehead RG Weight reference charts for British long-term breastfed infants Acta Paediatr 2002;91:1296 – 300.
34 Baird J, Fisher D, Lucas P, et al Being big or growing fast: systematic review
of size and growth in infancy and later obesity BMJ 2005;331:929 – 31.
35 Monteiro POA, Victora CG Rapid growth in infancy and childhood and obesity in later life – a systematic review Obes Rev 2005;6:143 – 54.
36 Schack-Nielsen L, Michaelsen KF Breast feeding and future health Curr Opin Clin Nutr Metab Care 2006;9:289 – 96.
37 Lucas A, Morley R, Cole TJ, et al Early diet in preterm babies and develop-mental status in infancy Arch Dis Child 1989;64:1570 – 8.
38 Kramer MS, Chalmers B, Hodnett ED, et al Promotion of Breast- feeding Intervention Trial (PROBIT): a randomized trial in the Republic of Belarus
JAMA 2001;285:413 – 20.
39 World Health Organization Horta BL, Bahl R, Martines JC, Victora CG
Evidence on the long-term effects of breastfeeding Systematic reviews and meta-analyses WHO Press, World Health Organization, Geneva, Switzer-land, ISBN 978 92 4 159523 O, 2007 52 pages Available at:
http://whqlibdoc.who.int/publications/2007/ 9789241595230_eng.pdf
Accessed December 13, 2008.
40 Chien PF, Howie PW Breast milk and the risk of opportunistic infection in infancy in industrialized and non-industrialized set- tings Adv Nutr Res 2001;10:69 – 104.
41 Quigley MA, Cumberland P, Cowden JM, et al How protective is breastfeeding against diarrhoeal disease in 1990s England? A case- control study Arch Dis Child 2006;91:245 – 50.
42 Bachrach VR, Schwarz E, Bachrach LR Breastfeeding and the risk of hospitalization for respiratory disease in infancy: a meta-analy- sis Arch Pediatr Adolesc Med 2003;157:237 – 43.
43 Singhal A, Cole TJ, Lucas A Early nutrition in preterm infants and later blood pressure: two cohorts after randomised trials Lancet 2001;357:413 – 9.
44 Owen CG, Whincup PH, Gilg JA, et al Effect of breast feeding in infancy on blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis BMJ 2003;327:1189 – 95.
45 Martin RM, Gunnell D, Davey Smith G Breastfeeding in infancy and blood pressure in later life: systematic review and meta- analysis Am J Epidemiol 2005;161:15 – 26.
46 Kramer MS, Matush L, Vanilovich I, et al Effects of prolonged and exclusive breastfeeding on child height, weight, adiposity, and blood pressure at age 6.5 y: evidence from a large randomized trial Am J Clin Nutr 2007;86:1717 – 21.
47 Geleijnse JM, Hofman A, Witteman JC, et al Long-term effects of neonatal sodium restriction on blood pressure Hypertension 1997;29:913 – 7.
48 Forsyth JS, Willatts P, Agostoni C, et al Long chain polyunsatu- rated fatty acid supplementation in infant formula and blood pressure in later childhood:
follow-up of a randomised controlled trial BMJ 2003;326:953 – 9.
49 Damsgaard CT, Schack-Nielsen L, Michaelsen KF, et al Fish oil affects blood pressure and the plasma lipid profile in healthy Danish infants J Nutr 2006;136:94 – 9.
50 Ebrahim S, Davey Smith G Lowering blood pressure: a systematic review
of sustained effects of non-pharmacological interventions J Public Health Med 1998;20:441 – 8.
51 Owen CG, Whincup PH, Odoki K, et al Infant feeding and blood cholesterol: a study in adolescents and a systematic review Pedia- trics
2002;110:597 – 608.
52 Owen CG, Whincup PH, Kaye SJ, et al Does initial breastfeeding lead to lower blood cholesterol in adult life? A quantitative review of the evidence
Am J Clin Nutr 2008;88:305 – 14.
53 Leeson CPM, Kattenhorn M, Deanfield JE, et al Duration of breastfeeding and arterial distensibility in early adult life: popula- tion based study BMJ 2001;322:643 – 7.
54 Schack-Nielsen L, Molgaard C, Larsen D, et al Arterial stiffness in 10-year-old children: current and early determinants Br J Nutr 2005;94:1004 – 11.
55 Ja rvisalo MJ, Hutri-Ka ho nen N, Juonala M, et al Breast feeding in infancy and arterial endothelial function later in life The Cardi- ovascular Risk in Young Finns Study Eur J Clin Nutr [Epub ahead of print] doi:
10.1038/ejcn.2008.17.
56 Martin RM, Ebrahim S, Griffin M, et al Breastfeeding and athero- sclerosis
Intima-media thickness and plaques at 65-year follow-up of the Boyd-Orr cohort Arterioscler Thromb Vasc Biol 2005;25: 1482 – 8.
57 Martin RM, Davey Smith G, Mangtani P, et al Breastfeeding and cardiovas-cular mortality: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta-analysis Eur Heart J 2004;25:778 – 86.
58 Martin RM, Ben-Shlomo Y, Gunnell D, et al Breast feeding and cardiovas-cular disease risk factors, incidence, and mortality: the Caerphilly study J Epidemiol Community Health 2005;59:121– 9.
59 Rich-Edwards JW, Stampfer MJ, Mason JE, et al Breastfeeding during infancy and the risk of cardiovascular disease in adulthood Epidemiology 2004;15:550 – 6.
60 Harder T, Bergmann R, Kallischnigg G, et al Duration of breastfeeding and the risk of overweight Am J Epidemiol 2005;162:397–403
61 Dewey KG Is breastfeeding protective against child obesity? J Hum Lact 2003;19:9 – 18.
62 Singhal A, Lucas A Early origins of cardiovascular disease: is there a unifying hypothesis? Lancet 2004;363:1642 – 5.
63 Butte NF, Wong WW, Hopkinson JM, et al Infant feeding mode affects early growth and body composition Pediatrics 2000;106: 1355 – 66.
64 Owen CG, Martin RM, Whincup PH, et al Does breastfeeding influence risk
of type 2 diabetes in later life? A quantitative analysis of published evidence
Am J Clin Nutr 2006;84:1043 – 54.
65 Grulee CG, Sanford HN The influence of breast and artificial feeding on infantile eczema J Pediatr 1936;9:223 – 5.
66 Kramer MS, Kakuma R Maternal dietary antigen avoidance during pregnancy or lactation or both, for preventing or treating atopic disease in the child Cochrane Database Syst Rev 2006;3: CD000133.
67 Muraro A, Dreborg S, Halken S, et al Dietary prevention of allergic diseases
in infants and small children Part III: critical review of published peer-reviewed observational and interventional studies and final recommen-dations Pediatr Allergy Immunol 2004;15: 291 – 307.
68 TRIGR Study Group Study design of the trial to reduce IDDM in genetically
at risk (TRIGR) Pediatr Diabetes 2007;8:117 – 37.
69 Akobeng AK, Ramanan AV, Buchan I, et al Effect of breast feeding on risk
of coeliac disease: a systematic review and meta-analysis of observational studies Arch Dis Child 2006;91:39 – 45.
70 Norris JM, Barriga K, Hoffenberg EJ, et al Risk of celiac disease autoimmunity and timing of gluten introduction in the diet of infants at increased risk of celiac disease JAMA 2005;293: 2343 – 51.
71 Klement E, Cohen RV, Boxman J, et al Breastfeeding and risk of inflamma-tory bowel disease: a systematic review and meta-analy- sis Am J Clin Nutr 2004;80:1342 – 52.
72 Baron S, Turck D, Leplat C, et al Environmental risk factors in paediatric inflammatory bowel diseases: a population based control study Gut 2005;54:357 – 63.
73 Kwan ML, Buffler PA, Abrams B, et al Breastfeeding and the risk of childhood leukaemia: a meta-analysis Public Health Rep 2004;119:521 – 35.
74 Martin RM, Middleton N, Gunnell D, et al Breast-feeding and cancer: the Boyd-Orr cohort and a systematic review with meta- analysis J Natl Cancer Inst 2005;97:1446 – 57.
75 Anderson JW, Johnstone BM, Remley DT Breast-feeding and cognitive development: a meta-analysis Am J Clin Nutr 1999; 70:525 – 35.
76 Daniels MC, Adair LS Breastfeeding influences cognitive devel-opment in Filipino children J Nutr 2005;135:2589 – 95.
77 Kramer MS, Aboud F, Mironova E, et al Breast feeding and child cognitive development New evidence from a large randomized trial Arch Gen Psychiatry 2007;65:578 – 84.
78 Mortensen EL, Michaelsen KF, Sanders SA, et al The associa- tion of breastfeeding and adult intelligence JAMA 2002;287:2365– 71.
79 Elwood PC, Pickering J, Gallacher JEJ, et al Long term effect of breastfeed-ing: cognitive function in the Caerphilly cohort J Epi- demiol Community Health 2005;59:130 – 3.
80 Evenhouse E, Reilly S Improved estimates of the benefits of breastfeeding using sibling comparisons to reduce selection bias Health Serv Res 2005;40:1781 – 802.
81 Der G, Batty GD, Deary IJ Effect of breast feeding on intelligence in children: prospective study, sibling pairs analysis, and meta- analysis BMJ 2006;333:929 – 30.
82 Makrides M, Neumann MA, Byard RW, et al Fatty acid composi- tion of brain, retina, and erythrocytes in breast- and formula-fed infants Am J Clin Nutr 1994;60:189 – 94.
83 Jensen CL, Voigt RG, Prager TC, et al Effects of maternal docosahexaenoic acid intake on visual function and neurodevelop- ment in breastfed term infants Am J Clin Nutr 2005;82:125– 32.
84 Caspi A, Williams B, Kim-Cohen J, et al Moderation of breast- feeding effects on the IQ by genetic variation in fatty acid meta- bolism Proc Natl Acad Sci USA 2007;104:18860 – 5.
85 Wang B, McVeagh P, Petocz P, et al Brain ganglioside and glycoprotein sialic acid in breast-fed compared with formula-fed infants Am J Clin Nutr 2003;78:1024 – 9.
86 van Hasselt PM, de Koning TJ, Kvist N, et al Prevention of vitamin K deficiency bleeding in breastfed infants: lessons from the Dutch and Danish biliary atresia registries Pediatrics 2008;121: e857 – 63.
87 UNICEF-UNAIDS-WHO-UNFPA HIV and infant feeding Guide- lines for decision-makers, 2003 ISBN 9241591226 Available at: http://www.unfpa.org/upload/lib_pub_file/340_filename_HI- V_IF_DM.pdf Accessed December 13, 2008.
88 Iliff PJ, Piwoz EG, Tavengwa NV, et al Early exclusive breastfeed- ing reduces the risk of postnatal HIV-1 transmission and increases HIV-free survival AIDS 2005;19:699–708.
89 Coovadia HM, Rollins NC, Bland RM, et al Mother-to-child transmission of HIV-1 infection during exclusive breastfeeding in the first 6 months of life:
an intervention cohort study Lancet 2007;369:1107 – 16.
90 Lawrence RM, Lawrence RA Given the benefits of breastfeeding, what contraindications exist? Pediatr Clin North Am 2001;48:235– 51.
91 Hamprecht K, Maschmann J, Vochem M, et al Epidemiology of transmis-sion cytomegalovirus from mother to preterm infants by breast-feeding Lancet 2001;357:513 – 8.
92 Riva E, Agostoni C, Biasucci G, et al Early breastfeeding is linked to higher intelligence quotient scores in dietary treated phenylk- etonuric children Acta Paediatr 1996;85:56 – 8.
93 Agostoni C, Verduci E, Massetto N, et al Plasma long-chain polyunsaturated fatty acids and neurodevelopment through the first 12 months of life in phenylketonuria Dev Med Child Neurol 2003;45:257 – 61.
94 MacDonald A, Depondt E, Evans S, et al Breast feeding in IMD J Inherit Metab Dis 2006;29:299 – 303.
95 American Academy of Pediatrics Children’s Health Topics Breastfeeding Available at: http://www.aap.org/healthtopics/ breastfeeding.cfm Accessed December 13, 2008.
96 World Health Organization Biomonitoring of human milk for persistent organic pollutants (POPs), 2008 http://www.who.int/ foodsafety/chem/pops/en/ Accessed December 13, 2008