1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, vận dụng vào xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

29 443 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 388,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng một sự vật hiện tượng, nếu xét ở cấp ñộ này nó là cái chung, nhưng xét ở cập ñộ khác nó lại tồn tại với tư cách là cái riêng trong ñó có những cái ñơn nhất.Ví dụ như : công nghiệp h

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong lịch sử kinh tế thế giới, kinh tế thị trường như một tất yếu gắn

liền với sự tồn tại của mọi quốc gia, là con ñường dẫn tới giàu có, văn minh

Nhân loại ñã ñược chứng kiến sự lớn mạnh chưa từng có của nền kinh tế thị

trường.Nó ñã tạo ra lượng vô cùng lớn hàng hoá, dịch vụ và góp phần phát

triển xã hội Điều ñó cho thấy tính tất yếu khi chuyển sang nền kinh tế thị trường

ở Việt Nam Thực tế cho ta nhiều bài học kinh nghiệm quí báu, song với ñiều

kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên riêng, sự vận dụng sáng tạo những cái chung của

kinh tế thị trường vào nước ta là rất cần thiết Trong quá trình vận dụng ñó,

triết học Mác-Lênin, ñặc biệt là phạm trù triết học cái chung, cái riêng ñóng

vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt ñộng lý luận về kinh tế thị trường

Để góp thêm một tiếng nói ñồng tình với ñường lối phát triển kinh tế thị

trường của Đảng tôi chọn ñề tài : Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và

cái riêng, vận dụng vào xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam làm

nội dung nghiên cứu của mình

Hoàn thành tiểu luận này, tôi muốn một lần nữa cũng cố thêm niềm tin,

ý chí của mọi người vào con ñường xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt

Nam, nền kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 2

1 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG

THEO QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC XÍT

1.1 Khái niệm cái chung, cái riêng:

Cái riêng: Cái riêng là một phạm trù triết học dùng ñể chỉ một sự vật,

một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất ñịnh trong thế giới khách quan.Ví

dụ như ngôi nhà, cái bàn, hiện tượng ô nhiễm môi trường, quá trình nghiên

cứu thị trường của một công ty

Sự tồn tại cá thể của cái riêng cho thấy nó chứa ñựng trong bản thân

những thuộc tính không lặp lại trong các cấu trúc sự vật khác Tính chất này

ñược diễn ñạt bằng khái niệm cái ñơn nhất Cái ñơn nhất là một phạm trù triết

học dùng ñể chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ tồn tại ở một kết

cấu vật chất nhất ñịnh và không lặp lại ở kết cấu vật chất khác.Tính cách của

một con người, vân tay, nền văn hoá của một dân tộc là những cái ñơn nhất

Như vậy cái ñơn nhất không phải là một sự vât, một hiện tượng ñơn lẻ mà nó

tồn tại trong cái riêng Nó chỉ là ñặc trưng của cái riêng

Cái chung: Cái chung là một phạm trù triết học dùng ñể chỉ những mặt,

những thuộc tính, những mối liên hệ ñược lặp lại ở nhiều sự vật hiện tượng quá

trình riêng lẻ khác nhau Ví dụ cái chung của người Việt Nam là có một lòng

nồng nàn yêu nước, cái chung của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư

của công nhân làm thuê, hay ngẫu nhiên mười bạn ñạt học bổng của trường

ñều quê ở Thanh Hoá Ta cần phân biệt cái chung bản chất và cái chung không

bản chất

Cái chung bản chất là cái chung qui ñịnh sự tồn tại và phát triển của sự vật.Còn cái chung không bản chất là cái chung thường do sự ngẫu hợp mà

có.Chẳng hạn cái chung bản chất với phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Mác-xit là vật chất luôn vận ñộng Như vậy tính lặp lại là ñặc trưng của cái

chung.Tính chất này cho thấy những mặt, những mối liên hệ cơ bản chi phối

Trang 3

nhiều quá trình vật chất khác nhau.Nó cho ta một cách nhìn sự vật trong mối

liên hệ qua lai, gắn kết với nhau

1.2 Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng:

Phạm trù cái chung, cái riêng ñược bàn ñến nhiều trong triết học phương

tây thời trung cổ.phái duy thực ñồng nhất thượng ñế vối cái chung và nhấn mạnh

rằng : Chỉ có cái chung mới tồn tại ñộc lập khách quan, là cội nguồn sản sinh ra

cái riêng.Phát triển ý tưởng của Platôn về ý niệm, và của Arirstote về ''hình

dạng thuần tuý'', các ñại biểu nổi tiếng của trường phái này như G.Ơrigenơ và

Thomas d Aquincho rằng chỉ có khái niệm phổ biến là tồn tại thực sự, có trước

các sự vật riêng biệt Chủ nghĩa duy danh lại cho rằng chỉ có những sự vật hiện

tượng tồn tậi riêng biệt với những chất lượng riêng của chúng mới là có thực,

còn các khái niệm chung (cái phổ biến) là sản phẩm của tư duy con người

Khắc phục nhựơc ñiểm của chủ nghĩa duy thực và duy danh, tách biệt

cái riêng khỏi cái chung một cách trừu tượng và tuyệt ñối, chủ nghĩa duy vật

biện chứng cho rằng có một mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái

riêng Chúng là hai mặt ñối lập tồn tại trong cùng một sự vật hiện tượng và sự

tồn tại ñó là khách quan

Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn ñến cái chung.Không có cái

riêng nào tồn tại ñộc lập, tách biệt Bất cứ cái riêng nào cũng liên hệ với cái

riêng khác, cũng nằm trong mối liên hệ với cái chung tổng thể Thực ra hai mối

liên hệ này là một vì suy cho cùng cái chung nằm trong những cái riêng, ñược

suy ra từ những cái riêng cùng loại

Ví dụ khi xem xét nguyên nhân biểu tình của công nhân ở một công ty

có thể do các nguyên nhân trực tiếp như : ñến kỳ trả lương nhưng không

trả thời gian lao ñộng quá dài mà tiền lương không thoả ñáng Đó là những cái

riêng trong từng ñiều kiện Song ñằng sau tất cả những cái riêng ñó là một cái

chung bản chất ñều do tư bản bóc lột giá trị thặng dư của công nhân

Hay ñơn giản ta quan sát các hiện tượng : qủa táo rơi, viên phấn rơi từ

trên cao xuống Các hiện tượng này là những hiện tượng riêng lẻ, là cái riêng

Trang 4

Mối liên hệ này phải chăng do cái riêng vốn dĩ bao hàm cả cá chung nó

chứa trong nó cái chung nên có mối liên hệ này

Ngược lại, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà

biểu hiện sự tồn tại.Không có cái chung tồn tại ñộc lập ở ñâu ñó Cái chung chỉ

tồn tại trong cái riêng Bởi lẽ cái chung vốn dĩ chỉ là những mặt, những thuộc

tính, những ñặc ñiểm ñược lặp ñi, lặp lại ở nhiều kết cấu sự vật khác nhau Nó

không phải là sự vật, hiện tượng hay quá trình Ta chỉ biết ñược lực hút của trái

ñất qua những hiện tượng trong không gian thất ñịnh

Phép biện chứng của cái chung và cái riêng nói trên có thể thấy rõ

trong vấn ñề lợi ích kinh tế

Lợi ích kinh tế là một trong những ñộng lực quyết ñịnh ñến sự tồn tại và

phát triển của xã hội loài người.Đó là sự biểu hiện một cách trực tiếp các quan

hệ xã hội

Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, lợi ích kinh tế

chỉ ñược biểu hiện qua lợi ích của từng thanh phần kinh tế, với những hình thức

sở hữu khác nhau, ñối lập nhau Vì vậy phải làm thế nào ñể vừa bảo ñảm lợi ích

toàn dân, vừa không rơi vào triệt tiêu lợi ích chính ñáng của từng công dân

Trong ''Chiến lược phát triển kinh tế ñến năm 2000'', Đảng ta ñã khẳng ñịnh

:Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội ñặt con người vào vị trí trung tâm, giải

phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao

ñộng và của cả cộng ñồng dân tộc, ñộng viên và tạo ñiều kiện cho mọi người

Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho ñất nước.Lợi ích của cá nhân, tập thể và

của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau, trong ñó lợi ích cá nhân là ñộng lực

trực tiếp

Ngoài ra, bất cứ cái riêng cũng luôn luôn vận ñộng, không có cái

riêng nào là vĩnh viễn Nó luôn biến ñổi, chuyển hoá, phát triển thành những

cái riêng khác Sự chuyển hoá ñó cứ thế diễn ra, kết quả của sự chuyển hoá này

Trang 5

là các cái riêng ñều có mối liên hệ với nhau Cuối cùng giữa chúng có những

cái chung nhất ñịnh Như vậy, sự liên hệ giữa các cái riêng còn do chính qúa

trình vận ñộng, phát triển của nó, do khả năng tự chuyển hoá dể xích lại gần

nhau hơn Những cái riêng cùng loại tự tìm thấy nhau và giữa chúng hình thành

nên một cái chung quy luật nào ñó

Chẳng hạn, ở những năm ñầu thập niên chín mươi của thế kỉ XX,

nền kinh tế thị trường nước ta còn rất sơ khai Các quan hệ hàng hoá tiền tệ

còn ở dạng manh nha, các phạm trù của kinh tế thị trường chưa rõ ràng, sự

khác biệt giữa nền kinh tế thị trường nước ta và nền kinh tế thị trường một số

nước phát triển khác rất sâu sắc Nhưng mấy năm gần ñây, cùng với sự phát

triển của nền kinh tế thế giới, chúng ta ñã từng bước xây dựng nền kinh tế thị

trường của ta phát triển hoà nhập với nền kinh tế thị trường thế giới

Cái riêng là cái toàn thể hơn cái chung Nó bao gồm cả cái chung và cái

ñơn nhất Kinh tế thị trường Việt Nam phải tuân theo qui luật nói chung của

kinh tế thị trường thế giới, song luôn có nét ñặc sắc riêng của kinh tế thị trường

Việt Nam, tồn tại trên ñất Việt Nam, do con người Việt Nam dây dựng Cái

chung chiếm giữ phần bản chất, hình thành nên chiều sâu của sự vật Cái chung

ở tầm bản chất qui ñịng sự tồn tại, phát triển của sự vật Cái riêng là cái toàn bộ

vì nó là một thực thể hoàn chỉnh và sống ñộng Cái riêng tồn tại trong sự ''va

chạm '' với những cái riêng khác Sự va chạm này vừa làm cho sự vật xích lại

gần nhau bởi cái chung, với tư cách là một bộ phận tồn tại trong cái chung, vừa

làm cho chúng xa nhau bởi cái ñơn nhất, không lặp lại ở cái riêng khác

Như vậy cái chung và cái ñơn nhất cùng tồn tại trong cái riêng làm sâu

sắc và phong phú cho cái riêng Nếu cái chung làm sâu sắc, thì cái ñơn nhất lại

làm ña dạng, phong phú cho cái riêng, làm sinh ñộng hoá thế giới sự vật

Bất cứ cái riêng nào bao giờ cũng nằm trong một môi trường, một hoàn

cảnh nhất ñịnh Cùng một sự vật hiện tượng, nếu xét ở cấp ñộ này nó là cái

chung, nhưng xét ở cập ñộ khác nó lại tồn tại với tư cách là cái riêng trong ñó

có những cái ñơn nhất.Ví dụ như : công nghiệp hoá, hiện ñại hoá- quá trình tất

yếu của mọi quốc gia khi bước sang kinh tế thị trường Tuy nhiên, ñối với Việt

Trang 6

Nam xét trên từng mặt của công nghiệp hoá, hịên ñại hoá lại nảy sinh các vấn

ñề mang tính ñặc trưng của nước ta : huy ñộng vốn trong ñiều kiện vốn ít ỏi, thị

trường vốn chưa phát triển…

Trong những ñiều kiện nhất ñịnh, cái ñơn nhất và cái chung có thể

chuyển hoá cho nhau Đây là chuyển hoá của các mặt ñối lập trong cùng một sự

vật.Sự chuyển hoá này phản ánh quá trình vận ñộng ña dạng của các kết cấu vật

chất trong thế giới

Qúa trình chuyển hoá từ cái ñơn nhất thành cái chung thể hiện quá trình

phát triển biện chứng của sự vật.Ngược lại sự chuyển hoá từ cái chung thành cái

ñơn nhất thể hiện sự thoái bộ của một sự vật, hiện tượng trong quá trình phát

triển của nó Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước cho ta một dẫn

chứng.Sự tồn tại phổ biến của doanh nghiệp nhà nước từ trước ñến nay (vốn

ñược xem là ñặc trưng că bản của kinh tế xã hội chủ nghĩa) ñang dần dần ñược

thay thế bởi sự ra ñời của các công ty ( hình thành từ cổ phần hoá doanh nghiệp

nhà nước).Hình thức mới này có sức hấp dẫn hơn so với doanh nghiệp.Sự tồn tại

ñơn thất của nó dần dần phát triển thành phổ biến và trở thành nét chung của

kinh tế xã hội chủ nghĩa.Ngược lại, những biểu hiện phổ biến trước ñây (như

tính chất kế hoạch hoá tập chung cao ñọ, cơ chế hành chính, bao cấp ) sẽ dần

dần mất ñi, cá biệt hoá trong một số trường hợp củ thể và không ñiển hình

Sự chuyển hoá trên cho ta một cách nhìn các phạm trù cái chung, cái

riêng, cái ñơn nhất một cách tương ñối, trong một mối quan hệ biện chứng

Trong một số trường hợp, ta gần như ñồng nhất cái riêng với cái

chung.Ví dụ như khi ta nói : du lịch là một loại dịch vụ, quần áo là một loại

hàng tiêu dùng Tuy nhiên, ñiều ñó chỉ nhằm tách sự vật ra khỏi phạm trù khác

của nó, và nhấn mạnh sự tác ñộng của cái chung ñến cá thể

Từ việc nghiên cứu mối quan hệ biện giữa cái chung và cái riêng, ñã cho

ta một số cơ sở lý luận ñể tìm hiểu quá trình xây dựng kinh tế thị trường nước ta

trong tổng quan kinh tế thị trường thế giới và theo ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa

mà Đảng, nhân dân ta ñã chọn

Trang 7

2 VẬN DỤNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁI CHUNG, CÁI RIÊNG VÀO

XÂY DỰNG NỀN KINH KẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Khái niệm kinh tế thị trường

Loài người ñã chứng kiến sự phát triển của kinh tế hàng hoá, sự hình

thành, phát triển của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Kinh tế thị trường là

hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong ñó từ sản suất ñến tiêu dùng

ñều thông qua thỉtường, Nói cách khác, kinh tế hàng hoá phát triển, trong ñó

mọi quan hệ kinh tế ñều ñược tiền tệ hoá thì gọi là kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường, cơ

chế tự ñiều tiết nền kinh tế hàng hoá do sự tác ñộng của các quy luật kinh tế vốn

có của nó, cơ chế ñó giải quyết ba vấn ñề cơ bản của tổ chức kinh tế là gì, như

thế nào và cho ai Một cơ chế bao hàm các nhân tố cơ bản là cung, cầu, giá cả

Cơ chế thị trường không phải là một sự hỗn ñộn, mà là một trật tự kinh tế,

là bộ máy vi tính phối hợp một cách không có ý thức hoạt ñộng của người tiêu

dùng với các nhà sản xuất thông qua hệ thống giá cả thị trường.Không ai tạo ra

nó, nó tự phát sinh và phát triển cùng với sự ra ñồi và phát triển của kinh tế hàng

hoá

2.2 Chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan

Như một số nước xã hội chủ nghĩa khác, trong một thời gian dài chúng ta

ñã duy trì mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan lưu, bao cấp Nó ñã ñẻ

lại những hậu quả nghiêm trọng ñối với nền kinh tế : sản suất trì trệ, ñời sống

nhân dân sa sút, trong quản lý ñã toả ra sự bất lực.Trong nông nghiệp, khoán

chui trở thành phổ biến ở nhiều ñịa phương.Trong công, thương nghiệp, các

nhà máy, xí nghiệp không thể bằng lòng với cơ chế ''cấp phát, giao nộp " ñã tự

ñộng "xé giào" do thiếu vật tư nguyên liệu, vốn liếng, do sự bất lực của công cụ

kế hoạch kiểu cũ Cộng vào sự yếu kém của kinh tế là tồn tại những biểu hiện

tiêu cực về mặt chinh trị, xã hội Tình hình càng gay gắt hơn khi Liên Xô và các

nước Đông Âu sụp ñổ, chứng kiến sự thất bại của mô hình kinh tế kế hoạch hoá

tập chung

Trang 8

Nhìn ra thế giới, ñó là sự thành công của kinh tế thị trường ở các nước tư

bản chủ nghĩa : Anh, Mĩ, Nhật Bản Kinh tế thị trường ñã có tác dụng phát

triển lực lượng sản xuất, ñạt ñược những tiến bộ xã hội nhất ñịnh, ñặc biệt là

xây dựng ñược những con người có kỉ luật, năng suất lao ñộng cao, năng

ñộng, nhạy bén

Thế giới càng phát triển, ở Việt Nam hoà bình ñã lặp lại, nhân ñân không

thể chịu mãi cuộc sống quá thấp, quá lạc hậu như trước.Nhu cầu ñặt ra của xã

hội với nền kinh tế ngày càng cao.Sản xuất không những ñủ tiêu dùng mà còn

phải tích luỹ, tái sản xuất mở rộng, trong khi nền sản xuất trì trệ, không ñủ tiêu

dùng tối thiểu, có khi còn tiêu lạm sang vốn vay nước ngoài

Trong ñiều kiện ñó, sự phát triển của thị trường tự do chen lẫn thị trường

có tổ chức.Sự lẵng lặng vi pham những ''quy tắc'', ''chuẩn mực'' lúc bấy giờ, là

những phản ứng kinh tế xã hội phản ánh sự bấp cập, bất lực của một cơ chế

quản lý cứng nhắc.Những tìm tòi thử nghiệm trong cuộc sống của ñông ñảo

quần chúng là những hiện tượng kinh tế mới lạ có sức thuyết phục như những

giải pháp kinh tế ñích thực cả tích cực lẫn tiêu cực ñể tồn tại

Tình hình ñó ñòi hỏi cần thiết phải thay ñổi

Tuy nhiên, có quan ñiểm cho rằng kinh tế thị trường không thể dung hợp

với chủ nghĩa xã hội, với một ñịnh hướng công bằng xã hội, tự do, hạnh phúc

mà cả xã hội loài người ñang hướng tới.Điều ñó là hoàn toàn vô căn cứ, chủ

quan duy ý chí Theo Các-Mác : kinh tế hàng hoá, cái gốc của kinh tế thị

trướng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau Kinh tế thị trường

không phải là cơ sở kinh tế Vì theo nghĩa ñó tất nhiên sẽ dẫn ñến một hệ quả :

kinh tế thị trường chỉ tồn tại trong chủ nghĩa tư bản Mà kinh tế thị trường là

một thể chế kinh tế, là cách thức sản xuất của xã hội Do ñó nó hoàn toàn có

thể dung dưỡng trong chủ nghĩa xã hội

Hơn nữa, kinh tế thị trường không những tồn tại khách quan mà còn

cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường tồn tại khách quan vì

vẫn còn cơ sở cho nó tồn tại và phát triển là :

Trang 9

Sự phân công lao ñộng xã hội không mất ñi mà sự chuyên môn hoá sản

xuất ngày càng cao diễn ra trên phạm vi cả nước và thế giới

Trong quá trình ñó và dưới chủ nghĩa xã hội, vẫn tồn tại những hình thức

sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, tức vẫn còn sự tách biệt về kinh tế giữa

những người sản xuất hàng hoá

Nó cũng cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.Chủ nghĩa tư

bản ñã biết sử dụng vai trò to lớn của kinh tế thị trường ñể thúc ñẩy sự tăng

trưởng và phát triển kinh tế.Chúng ta cũng phải biết khai thác vai trò to lớn của

kinh tế thị trường và những mặt tích cực của nó : thúc ñẩy lực lượng sản xuất

phát triển, ñẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao ñộng, thúc ñẩy

phân công lao ñông xã hội phát triển Hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế

thị trường ñể phát triển

Tất cả những nguyên nhân trên ta có thể kết luận rằng : chuyển sang kinh

tế thị trường ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, chuyển sang cơ chế thị

trường ñịng hướng xã hội chủ nghĩa là mục tiêu chiến lược của toàn Đảng, toàn

dân ta, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới

2.3 Nền kinh tế thị trường nước ta là một bộ phận của nền kinh tế thị

trường thế giới

Không cái riêng nào là ñộc lập hoàn toàn, kinh tế thị trường nước ta luôn

nằm trong tổng quan kinh tế thị trường thế giới.Nó liên hệ với những nền kinh tế

khác hình thành nên nét chung qui luật của một nền kinh tế thị trường

Bản chất của kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa là : kiểu tổ

chức kinh tế phản ánh sự kết hợp giữa cái chung là kinh tế thị trường với cái ñặc

thù là ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa vào từng ñiều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên,

vào từng lĩnh vực khác nhau.Với tư cách là cái chung, kinh tế thị trường ở Việt

Nam cũng là kinh tế thị trường nên trong quá trình xây dựng phải tạo lập và vận

dụng ñồng bộ các yếu tố :

a) Cơ sở kinh tế mang tính ña dạng về sở hữu và các thành phần kinh

tế ñể nền kinh tế có '' tự do hoá về kinh tế '' ( tự do cạnh tranh, tự do kinh

Trang 10

doanh và tự chủ), dẫn tới các chủ thể kinh tế có tính tự chủ cao, tự lực, tự

cường phát huy nội lực

b) Các phạm trù vốn có của KTTT như : hàng hoá, tiền tệ, thị trường

cạnh tranh, cung cầu, giá trị thị trường, giá cả thị trường và lợi nhuận

c) Kinh tế thị trường là hình thức phát triển của kinh tế hàng hoá nên nó

chịu sự tác ñộng của các qui luật vốn có của kinh tế hàng hoá là : qui luật giá

trị, qui luật cung cầu, qui luật lưu thông tiền tệ và qui luật cạnh tranh

d) Hình thành một lớp người năng ñộng, nhạy cảm, giám nghĩ, dám làm,

ham mê làm giàu chính ñáng, quan niệm ñúng ñắn về mục ñích kiếm tiền

e) Một ñặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường là mọi biến ñộng kinh tế

ñều ñược ñiều tiết qua giá cả.Gía cả sản xuất lại ñược ñiều tiết qua thị trường

dưới tác ñộng của quan hệ cung cầu

Cạnh tranh là tất yếu và lợi nhuận là mục tiêu của cạnh tranh Có lẽ không

một môi trường nào thúc ñẩy phát triển hơn là môi trường cạnh tranh Môi

trường cạnh tranh bắt buộc mọi chủ thể kinh tế phải tự lựa chọn hai con ñường

hoặc tiến lên hoặc bị tiêu diệt Sự cạnh tranh càng gay gắt, ñộng lực thúc ñẩy

sự phát triển càng mạnh mẽ.Từ ñó mà tự nhiên tạo ra thứ ñòn bẩy thần kì, một

chất xúc tác hiệu quả, làm tăng năng suất lao ñộng, cải tiến phương thức sản

xuất nhằm giảm chi phí, tăng cả số lượng và chất lượng Đặc biệt, là cách mạng

hoá phong cách làm việc của người lao ñộng vốn không ñược chăm sóc trong

nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung

Vấn ñề ñặt ra là tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu

quả.Cạnh tranh không chỉ ở phạm vi trong nước mà còn ở phạm vi thế giới

thông qua mở của và hội nhập quốc tế Mà cơ sở của cạnh tranh là tính công

bằng và tự do

Ngay từ buổi sơ khai của nền kinh tế thị trường thế giới, bên cạnh tính tự

do của nó là một cơ chế vận hành theo sự quản lý vĩ mô của nhà nước Và ngay

trong thời ñại ngày nay, sự quản lý vĩ mô của nhà nước cũng là một xu hướng

khách quan ñối với tất cả các nước không phân biệt chế ñộ chính trị Không có

một nhà nước nào ñứng ngoài nền kinh tế, không có một nền kinh tế thị trường

Trang 11

nào thuần tuý mà ở những mức ñộ khác nhau ñều có sự can thiệp của nhà

nước.Nhà nước ñiều tiết kinh tế thông qua phương pháp ''chương trình hoá'' với

khả năng ñiều hành các ngân hàng lớn, các hệ thống tín dụng và thương

mại.Nhà nước có thể ñiều tiết ở một mức ñộ nào ñó giá cả thị trường, giảm chi

phí sản xuất, ñầu tư vào các lĩnh vực khoa học - kĩ thuật thúc ñẩy nền kinh tế

phát triển

Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội chứng minh rằng cơ chế thị trường

là cơ chế ñiều tiết nền kinh tế hàng hoá ñạt hiệu quả cao.Song cơ chế thị trường

không phải là hiện thân của sự hoàn hảo, mọi sự vật hiện tượng ñều có tính hai

măt, tính biện chứng, nó vốn có những khuyết tật, ñặc biệt là về mặt xã

hội.Cũng như các nước khác trên thế giới, Việt Nam phải ñối mặt với những

hiện tượng : ô nhiễm môi trường, lạm dụng tài nguyên, sự phân hoá giàu

nghèo, vấn ñề ñạo ñức, tình người, văn hoá dân tộc có xu hướng bị mai một do

quá trình hội nhập Một nhà nghiên cứu phương Tây ñã nhận xét về xã hội của

các nước phát triển cao như sau :'' Trong các nền văn minh ñược gọi là phát triển

của chúng ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển thảm hại về văn hoá, trí não,

ñạo ñức và tình người''.Người ta nhận thấy rằng một nền kinh tế hiện ñại ñứng

trước một vấn ñề nan giải của kinh tế vĩ mô không một nước nào trong thời gian

dài lại có ñược lạm phát thất nghiệp thấp và công ăn việc làm ñầy ñủ

Đó là những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường mà bất cứ

quốc gia nào khi xây dựng kinh tế thị trường cũng phải ñối mặt Chỉ khác nhau ở

chỗ mỗi nhà nước có một cách ñối sử với chúng riêng

Nền kinh tế thị trường nước ta cũng tuân theo xu hướng toàn cầu hoá, hội

nhập và hợp tác quốc tế.Qúa trình này ñang diễn ra ngày càng mạnh mẽ cuốn

hút tất cả các nền kinh tế trên thế giới Nó có những nguyên tắc, những thiết

chế riêng bắt buộc các chủ thể tham ra ñều phải tuân theo Qua ñó mà có mối

quan hệ biện chứng lẫn nhau.Kinh tế thị trường Việt Nam chịu sự tác ñộng của

kinh tế thị trường thế giới và ngược lại nó cũng tham gia ñóng vai trò là bộ

phận của chỉnh thể ñó

Trang 12

Qúa trình hình thành các loại thị trường ở Việt Nam là quá trình phát triển

từ thấp ñến cao, từ rối loạn ñền ổn ñịnh, hoà nhập thị trường quốc tế.Đây là một

trình tự mà nền kinh tế thế gới ñã trãi qua

2.4 Kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa, ñặc trưng của kinh

tế thị trường Việt Nam

Với tư cách là cái riêng, ngoài những nét chung ñã trình bày ở trên

kinh tế thị trường nước ta còn có những ñặc ñiểm riêng phân biệt với nền kinh

tế thị trường của các nước khác Điều này ñược quy ñinh bởi những ñiều ñiều

kiện mang tính chất lịch sử, xã hội ñặc biệt là chế ñộ chính trị

2.4.1 Một số ñiều kiện mang tính lịch sử của nền kinh tế Việt Nam

trước khi bước sang kinh tế thị trường

Đặc ñiểm kinh tế: nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, mang

nặng tính tự cung, tự cấp, cơ sở hạ tầng thấp kém, lực lượng sản xuất thô sơ,

lạc hậu, ñối với người lao ñộng trình ñộ thấp kém, mang nặng tư tưởng tiểu

nông

Bị chiến tranh tàn phá nặng nề

Chịu sự kìm hãm của mấy chục năm xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá

tập trung, quan lưu, bao cấp.Cụ thể là :

- Nhà nước quản lý kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu,

thể hiện ở sự chi tiết hoá các nhiệm vụ do trung ương giao bằng một hệ thống

chỉ tiêu pháp lệnh từ trung tâm.Điều ñó ñã làm sơ cứng nền kinh tế, nền kinh tế

không có ñộng lực, không có ñua tranh, không phát huy ñược tính chủ ñộng

sáng tạo của người lao ñộng, của chủ thể sản xuất kinh doanh, sản xuất không

gắn liền với nhu cầu, ý chí chủ quan ñã lấn át khách quan và triệt tiêu mọi ñộng

lực và sức mạnh nội sinh của bản thân nền kinh tế

- Các quan hệ căn bản của nền kinh tế : hàng hoá - tiền tệ, tín dụng,

thương mại chỉ còn là hình thức

- Các quan hệ hành chính - kinh tế can thiệp qúa sâu vào hoạt ñộng

sản xuất kinh doanh của các ñơn vị kinh tế cơ sở, nhưng không chịu trách nhiệm

Trang 13

Bộ máy quản lý cồng kềnh, có nhiều khâu trung gian và kém năng ñộng

từ ñó phát sinh một ñội ngủ cán bộ kém năng lực quản lý, không thạo nghiệp vụ

kinh doanh, nhưng phong cách thì quan lưu cửa quyền

Tất cả ñã làm cho nền kinh tế suy thoái, thiếu hụt, hiệu qua thấp, nhiều

mục tiêu của chủ nghĩa xã hội không thực hiện ñược

2.4.2 Những ñặc ñiểm riêng phân biệt kinh tế thị trường nước ta với

các nước khác

Xuất phát từ ñiều kiện lịch sử trên, kinh tế thị trường Việt Nam có những

ñặc trưng sau :

a Nền kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa

Chúng ta không coi kinh tế thị trường là mục tiêu mà chỉ là phương tiện

ñể phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa

xã hội và thiết lập quan hệ sản xuất mới.Mục ñích của chúng ta là xây dựng

nước ta thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ văn minh

Nếu kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản như ở Anh, Pháp, Mĩ

dựa trên cơ sở cơ cấu ña dạng về hình thức sở hữu, trong ñó sở hữu tư nhân về

tư liệu sản xuất là nền tảng thì kinh tế thị trường ở nước ta lấy sở hữu tập thể,

toàn dân, nhà nước làm chủ ñạo.Do ñó nền kinh tế gồm nhiều thành phần, trong

ñó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ ñạo

Trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cũng có nhiều hình thức phân

phối trong ñó phân phối theo tư bản là chủ yếu thì kinh tế thị trường xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam cũng thực hiện nhiều hình thức phân phối : phân phối theo kết

quả lao ñộng và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức ñóng góp các nguồn

lực vào sản xuất, kinh doanh, và phân phối thông qua các quĩ phúc lợi xã hội,

trong ñó phân phối theo kết quả lao ñộng giữ vai trò nòng cốt, ñi ñôi với chính

sách ñiều tiết thu nhập một cách hợp lý Trong khi ở các nước tư bản chủ nghĩa

80% tổng thu nhập của toàn xã hội lại nằm trong tay 20% dân số, còn 20% của

cải còn lại giành cho 4/5 dân số nghèo ñói Thì chúng ta thực hiện phân phối

Trang 14

theo nguyên tắc công bằng, phân phối theo lao ñộng, theo vốn, trên cơ sở

khuyến khích mội người tự do sản xuất kinh doanh công khai hợp pháp, ñồng

thời thực hiện chính sách công bằng xã hội Tuy nhiên ñể có ñộng lực cho sự

phát triển, chúng ta chấp nhận phân hoá khi phân phối Điều quan trọng là phải

phân biệt : phân hoá theo bất công thì kiên quyết xoá bỏ, nhưng phân hoá do lao

ñộng sáng tạo cần khuyết khích Chúng ta không coi bất bình ñẳng xã hội như

một trật tự tự nhiên, là ñiều kiện của sự tăng trưởng kinh tế, mà thực hiện mỗi

bước tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện ñời sống nhân dân, với tiến bộ

và công bằng xã hội

Mỗi chế ñộ xã hội có một chế ñộ phân phối tương ứng với nó.Chế ñộ

phân phối do quan hệ sản xuất thống trị, trước hết là quan hệ sở hữu quyết

ñịnh.Phân phối có liên quan ñến chế ñộ xã hội, ñến chính trị.Dưới chủ nghĩa tư

bản phân phối theo nguyên tắc giá trị: ñối với người lao ñộng theo giá trị sức lao

ñộng, còn theo tư bản theo giá trị tư bản.Như vậy thu nhập của người lao ñộng

chỉ giới hạn ở giá trị sức lao ñộng ma thôi.Chủ nghĩa xã hội có ñặc trưng riêng

về sở hữu, do ñó chế ñộ phân phối cũng có ñặc trưng riêng.phân phối theo lao

ñộng là ñặc trưng của chủ nghĩa xã hội Thu nhập của người lao ñộng không chỉ

giới hạn ở giá trị sức lao ñộng, mà nó phải vượt qua giới hạn ñó.Nó phụ thuộc

chủ yếu vào kết quả lao ñộng và hiệu quả kinh tế

Nền kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta gồm nhiều

thành phần kinh tế.Vì vậy, cần thực hiện nhiều hình thức phân phối thu

nhập.Chỉ có như vậy mới khai thác ñược khả năng của cơ cấu kinh tế nhiều

thành phần, huy ñộng ñược mọi nguồn lực kinh tế vào phát triển kinh tế

Trong kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN ở nước ta, sự tăng trưởng và

phát triển kinh tế gắn liền với sự tiến bộ, công bằng xã hội trong mỗi bước phát

triển.Tăng trưởng và phát triển kinh tế ñi ñôi với việc ñẩy mạnh văn hoá, giáo

dục ñể nâng cao dân trí, ñảm bảo nguồn nhân lực và xây dựng một nền văn hoá

ñậm ñà bản sắc dân tộc

Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của

nhà nước theo ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa Trong bước chuyển sang kinh tế thị

Ngày đăng: 01/08/2016, 04:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w