Khái niệm Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về tăng trưởng, hầu hết đều thống nhất tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong giai đoạn nhất
Trang 1Viện Khoa học Thống kê
CN Nguyễn Thị Việt Hồng
MỞ ĐẦU Sau hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi cơ chế kinh tế kế hoạch sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với bảo đảm công bằng ở mức tương đối trong xã hội, giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và sự hội nhập quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho Việt nam có thể rút ngắn được khoảng cách phát triển so với thế giới nhưng cũng tạo ra không ít thách thức, khó khăn đối với nền kinh tế thị trường còn non trẻ
Nhận thức được thách thức và nguy cơ đối với mức tăng trưởng trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách nhằm cải thiện Chất lượng tăng trưởng (CLTT) Song trên thực tế, đánh giá CLTT là việc làm vô cùng khó khăn vì sự thay đổi giữa các yếu tố về lượng và chất không phải luôn theo cùng một xu hướng hoặc theo cùng một
tỷ lệ nhất định mà thế cân bằng giữa chúng luôn bị phá vỡ do sự chi phối của các qui luật kinh tế, qui luật tự nhiên và qui luật xã hội Để tạo điều kiện cho việc xây dựng báo cáo phân tích CLTT trong những năm tiếp theo, năm
2011, Tổng cục Thống kê đã chủ động triển khai Đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu xây dựng nội dung báo cáo thống kê về CLTT Việt Nam và áp dụng cho giai đoạn 2006-2010” là hết sức cần thiết
ĐỀ TÀI KHOA HỌC SỐ 2.1.3-B11-12
Trang 2Mục tiêu của đề tài nhằm tạo lập được một khung báo cáo phân tích với
đầy đủ nội dung phản ánh CLTT kinh tế Việt nam có thể ứng dụng trong tương lai Đồng thời áp dụng khung phân tích để xây dựng báo cáo CLTT kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2006-2010
Các phương pháp được nhóm nghiên sử dụng trong đề tài chủ yếu gồm phương pháp khảo sát, đánh giá, phân tích, tổng hợp và chú trọng đến việc sử dụng kết hợp phương pháp toán với kinh nghiệm của các chuyên gia
Sau hai năm nghiên cứu với sự hợp tác chặt chẽ của các thành viên và
sự tạo điều kiện của Lãnh đạo Tổng cục Thống kê và Lãnh đạo Viện Khoa học Thống kê, BCN đề tài đã thực hiện các chuyên đề nghiên cứu tập trung vào các nhóm nội dung đề cập ở trên và kết quả nghiên cứu đã được biên soạn thành báo cáo tổng hợp Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, báo cáo gồm hai chương: Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất nội dung chất lượng tăng trưởng kinh tế; Chương II: Xác định chỉ tiêu phân tích và đề xuất khung báo cáo thống kê phân tích chất lượng tăng trưởng
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ XUẤT
NỘI DUNG CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế
1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và nhân tố tác động đến tăng trưởng
1.1 Khái niệm
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về tăng trưởng, hầu hết đều thống nhất tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong giai đoạn nhất định, đó là kết quả được tạo ra bởi tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế Song chúng tôi thấy, khái niệm
về tăng trưởng kinh tế như được trình bày dưới đây là đầy đủ và phù hợp nhất với nội dung nghiên cứu của Đề tài, cụ thể là:
“Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng năng lực sản xuất hàng hóa và dịch
vụ của nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Năng lực sản xuất của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào số lượng của các nguồn lực và trình
độ công nghệ được sử dụng trong quá trình sản xuất Vì vậy, tăng trưởng kinh tế luôn liên quan đến quá trình mở rộng và hoàn thiện các yếu tố tạo nên nguồn lực sản xuất Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng
Trang 3hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển và sự thịnh vượng của đất nước”( 6
và công nghệ là những yếu tố cơ bản quyết định tăng trưởng
1.2 Các nhân tố kinh tế tác động đến tăng trưởng
Sơ đồ vận hành của nền kinh tế vĩ mô có thể được thể hiện như sau:
Nền kinh tế
Vai trò của tổng cung và tổng cầu: toàn bộ kết quả của các hoạt động
kinh tế vĩ mô là kết quả của quá trình giao dịch trên thị trường, tác động qua lại giữa cung và cầu Bởi vậy, bất kỳ ảnh hưởng nào tới nền kinh tế vĩ mô đều thông qua quan hệ cung - cầu Do đó, khi nghiên cứu chất lượng tăng trưởng cần tập trung chú ý vào các yếu tố tạo nên quan hệ giữa cung và cầu Tổng
(6) TS Nguyễn Bích Lâm: “Mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Báo cáo Hội thảo khoa học “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Tháng 5/2013
Trang 4cung và tổng cầu xác định mức cân bằng, tức là nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng giữa sản lượng và giá cả
1.2.1 Nhóm các nhân tố bên cung chủ yếu tác động tới tốc độ tăng
trưởng kinh tế
a Vốn sản xuất/tài sản cố định: yếu tố quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất của bất kỳ một nền sản xuất nào, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và các nước công nghiệp phát triển Tài sản cố định được hình thành từ vốn đầu tư Việc đầu tư thường do Nhà nước và doanh nghiệp thực hiện; tuy nhiên, một phần đầu tư của hộ gia đình cũng làm tăng tài sản cố định
b Lao động: là yếu tố không thể thiếu của mọi quá trình sản xuất Theo
mô hình tăng trưởng cổ điển, lao động được xem quan trọng như yếu tố vật chất và được xác định là số lượng lao động làm việc trong nền kinh tế Tuy nhiên, trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển, nhất là những mô hình gần đây, lao động được xem là vốn con người, tức là lao động có kỹ năng sản xuất, có trình độ công nghệ để vận hành được các loại máy móc thiết bị ngày càng phức tạp, có khả năng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật
c Tiến bộ công nghệ được đề cập ngày càng nhiều trong các mô hình tăng trưởng tân cổ điển, và đang ngày càng đóng vai trò quan trọng tới tốc
độ tăng trưởng kinh tế trong thời đại ngày nay Các nghiên cứu lý thuyết nêu trên cho thấy đây là nhân tố chủ yếu quyết định quá trình tăng trưởng bền vững
d Tài nguyên: là một nhân tố tăng trưởng quan trọng Nếu như các mô hình tăng trưởng cổ điển chỉ đề cập đến đất đai như là loại tài nguyên duy nhất tác động tới quá trình sản xuất thì càng ngày người ta càng nhấn mạnh đến nhiều nhân tố khác như dầu mỏ, khoáng sản Trong giai đoạn hiện nay,
do xu hướng phải sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên, nên nhân tố tài nguyên không còn được sử dụng trong các mô hình để phân tích tăng trưởng kinh tế như trước đây
1.2.2 Nhóm các nhân tố bên cầu chủ yếu tác động tới tốc độ tăng trưởng kinh tế
a Tích lũy tài sản cố định: khi phân tích nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế, cần đặc biệt lưu ý tới nhân tố đầu tư vì đầu tư không chỉ là nhân tố cung (đầu vào) đối với sản xuất mà còn là nhân tố cầu (đầu ra: tăng tài sản);
Trang 5do đó đây là một nhân tố rất đặc biệt có thể tham gia giải thích tăng trưởng kinh tế trong cả mô hình cung lẫn mô hình cầu, trong cả dự báo ngắn hạn tới
dự báo tăng trưởng dài hạn
b Xuất khẩu: cũng như đầu tư, xuất khẩu là một trong những nhân tố quan trọng tạo ra bước phát triển kinh tế nhanh cho các nước đang phát triển trong khoảng nửa thế kỷ gần đây
c Tiêu dùng cuối cùng: việc nghiên cứu quá trình tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước và dân cư và ảnh hưởng của chúng tới tăng trưởng có vai trò rất quan trọng Thực tế tại các nước đang phát triển phản ánh: trong trung hạn, các nhân tố bên cung tác động đến quá trình tăng trưởng thường đóng vai trò quan trọng hơn so với các nhân tố bên cầu Tuy nhiên, khi nền kinh tế
ở trong tình trạng cung vượt cầu đối với nhiều loại hàng hóa thì những biến động của cầu vẫn có ảnh hưởng rất lớn nhằm điều chỉnh sản xuất và tạo ra quá trình ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó bảo đảm cho quá trình tăng trưởng diễn
ra thuận lợi Như vậy, trong trường hợp này, tiêu dùng đóng vai trò chủ yếu đối với tăng trưởng kinh tế
1.3 Các nhân tố xã hội, môi trường
Khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố xã hội có tác động gián tiếp tới tốc độ và CLTT kinh tế nên rất khó lượng hóa và đưa vào tính toán trong các
mô hình phân tích, đánh giá CLTT Tuy vậy, theo tiến trình phát triển của khoa học xã hội, người ta đã cố gắng lựa chọn những nhân tố xã hội quan trọng nhất có ảnh hưởng tới CLTT kinh tế để nghiên cứu lượng hóa và đưa vào các mô hình phân tích Một số nhân tố đó là:
1.3.1 Đặc điểm văn hóa – xã hội: nhân tố này được thể hiện thông qua
nhiều khía cạnh, từ trình độ phổ cập kiến thức phổ thông đến khả năng tiếp thu và phát triển những tri thức bậc cao của nhân loại về khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật, phong tục tập quán và lối sống Nhìn chung, trình độ văn hóa – xã hội của một quốc gia càng cao thì chất lượng lao động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực, trình độ quản lý của quốc gia đó càng cao; nhờ đó, CLTT kinh tế sẽ càng cao Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, khi tri thức đóng vai trò cơ bản đối với mọi quá trình phát triển thì vai trò của văn hóa - xã hội tới CLTT kinh tế sẽ càng cao
1.3.2 Thể chế: thể chế gồm các quy định do con người tạo ra nhằm quản
lý các hoạt động và mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân trong quá trình
Trang 6hoạt động Khi thể chế được xây dựng hợp lý, tạo ra môi trường hoạt động công khai, minh bạch và bình đẳng cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp thì chi phí đầu tư, sản xuất, kinh doanh sẽ giảm xuống; hiệu quả tăng lên Kết quả cuối cùng là CLTT kinh tế sẽ tăng lên
1.3.3 Vai trò của Nhà nước: ngày nay vai trò của Nhà nước đang được
đề cao, nhất là vai trò xây dựng thể chế và hệ thống các cơ chế chính sách để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững đi đôi với phát triển xã hội và bảo
vệ môi trường; tức là tăng trưởng với chất lượng cao Thực tế, chỉ có dưới sự quản lý, điều tiết của Nhà nước thì mới có sự phát triển cân đối, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường Ngay trong lĩnh vực kinh tế, tăng trưởng kinh
tế cũng phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý của bộ máy Nhà nước; nếu không có sự quản lý của Nhà nước thì với sự độc quyền của nhiều doanh nghiệp lớn, sẽ khó có thể đạt được sự phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế
1.3.4 Nhân tố tài nguyên, môi trường: thông thường tài nguyên, môi
trường là yếu tố chịu ảnh hưởng của quá trình tăng trưởng kinh tế Một quá trình tăng trưởng đi kèm với tàn phá tài nguyên, môi trường dĩ nhiên phải là quá trình tăng trưởng không có chất lượng tốt vì sẽ không thể bền vững qua các thế hệ Ngược lại, nếu quá trình phát triển đi kèm với sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, môi trường và phát triển các nguồn này mạnh hơn, thì sẽ tạo cơ hội phát triển cao hơn cho các giai đoạn tiếp theo; chất lượng cuộc sống của các thế hệ càng về sau càng tốt hơn Do vậy, có thể nói, sử dụng hợp lý và phát triển các nguồn tài nguyên, môi trường sẽ tạo thêm cơ hội để phát triển với chất lượng ngày càng cao hơn
2 Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và CLTT
Dưới góc độ triết học, tăng trưởng kinh tế có thể được phân tích mô tả theo hai mặt của cùng một hiện tượng hay quá trình phát triển, đó là mặt lượng và mặt chất Lượng của tăng trưởng được thể hiện ở quy mô, tốc độ, còn mặt chất của tăng trưởng là sự thống nhất hữu cơ với mặt lượng, tạo cho hiện tượng tăng trưởng kinh tế khác với các hiện tượng khác
Chính vì hai mặt của một hiện tượng, trong quá trình nghiên cứu xác định nội hàm của CLTT cần nghiên cứu các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CLTT thông qua một số yếu tố sau:
Trang 72.1 Đầu tư hình thành các loại tài sản vốn
Các nhân tố sản xuất đóng góp vào quá trình tạo tăng trưởng, hình thành nên mô hình tăng trưởng của một nước và như vậy có nghĩa là cũng đóng góp vào tạo phúc lợi Vì vậy, việc đầu tư hình thành các loại tài sản vốn
là vấn đề cần thiết để có tăng trưởng Tuy nhiên, để mang lại CLTT thì mức đầu tư và cách thức đầu tư đều quan trọng như nhau Vì vậy, sự đầu tư mất cân đối, chẳng hạn đầu tư thiên lệch hay các chính sách làm méo mó sự hình thành các loại tài sản vốn, sẽ không hứa hẹn duy trì được tăng trưởng trong dài hạn và nâng cao phúc lợi xã hội Lập luận này trái với nhiều quan niệm trước đây cho rằng chỉ cần đầu tư, nhất là vốn vật chất ở mức cao sẽ đạt tăng trưởng như mong đợi
2.2 Phân phối các thành tựu tăng trưởng thực hiện công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo
Công bằng cần được hiểu là sự bình đẳng trước các cơ hội về việc làm,
về đầu tư, bình đẳng trước các cơ hội để nâng cao nguồn vốn nhân lực và có mức sống cao hơn Hay nói cách khác, mọi người đều có cơ hội tham gia vào quá trình tăng trưởng và được hưởng các thành quả do mình đóng góp tương xứng với năng lực của mình Khi tài sản tập trung trong một nhóm nhỏ những người giàu thì lực lượng xã hội không thể phát triển được Tuy nhiên, nếu đem chia đều phúc lợi hoặc đầu tư quá nhiều cho phúc lợi xã hội thì mục tiêu tăng trưởng nhanh có thể bị đe dọa và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển
Ở một mức độ nhất định, xét về ngắn hạn, khi phân phối một phần đáng
kể thu nhập xã hội cho chương trình xóa đói giảm nghèo thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị ảnh hưởng, song xét một cách toàn diện thì
về dài hạn kết quả xóa đói giảm nghèo lại tạo điều kiện cho tăng trưởng nhanh và bền vững, đóng góp chung vào quá trình phát triển Phân phối thu nhập công bằng hơn lại được coi là có lợi cho tăng trưởng trong dài hạn
2.3 Môi trường
Đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò rất lớn, đóng góp đáng kể vào tỷ lệ tăng trưởng Tuy nhiên, nhiều nước đã khai thác quá mức nguồn vốn thiên nhiên quý báu này, dẫn tới tình trạng hệ sinh thái bị mất
Trang 8cân đối nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường gia tăng, gây ảnh hưởng xấu về mặt môi trường và kinh tế không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả thế hệ mai sau
2.4 Thực hiện mục tiêu phát triển con người
Tăng trưởng có thể mang lại cho người dân cơ hội tiếp cận các hệ thống giáo dục, y tế tốt và tạo điều kiện cho họ tự vươn lên làm giàu Thực tiễn cho thấy, giáo dục có ảnh hưởng lớn tới mọi khía cạnh của đời sống kinh tế -
xã hội và tư duy về vai trò của giáo dục trong việc thúc đẩy kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng ngày càng được đề cao Trong quá trình tăng trưởng, quốc gia nào thực hiện thành công các chính sách giáo dục, thì con đường đến thành công được rút ngắn rất nhiều Một vấn đề nữa được đặt ra là phải có được một nền giáo dục công bằng thông qua các chính sách đầu tư hợp lý, giúp cho mọi người dân, cả giàu và nghèo đều có cơ hội đón nhận những kiến thức khoa học tiên tiến nhất, tăng năng suất lao động, tạo ra được nhiều của cải vật chất hơn cho xã hội
Trên đây là một số cơ sở lý luận để đề xuất nội hàm của CLTT Ngoài những cơ sở trên, Đề tài còn tham khảo thêm một số quan niệm về CLTT dưới các góc độ khác nhau làm cơ sở để đề xuất đầy đủ nội hàm của CLTT kinh tế như: CLTT gắn với phát triển bền vững; với quan niệm hiệu quả; nâng cao phúc lợi của công dân và gắn liền tăng trưởng với công bằng xã hội;
là cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu của tăng trưởng kinh tế; là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, ngành hoặc doanh nghiệp; là thể chế dân chủ trong môi trường chính trị xã hội của nền kinh tế
3 Các lý thuyết về tăng trưởng đã xét đến CLTT kinh tế
3.1 Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển hiện đại
Các mô hình của Solow và Meade đã có những ảnh hưởng rất mạnh tới
lý thuyết tăng trưởng kinh tế trong khoảng ba thập niên, từ khi xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thập kỷ 50 đến giữa những năm 80 Joan Robinson, Kaldor, Kendrick, Deninson, Ambramovitz và nhiều người khác đã phát triển mô hình này thành nhiều nhánh khác nhau của lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển
Từ những năm 60 của thế kỷ trước trở lại đây, lý thuyết tân cổ điển đã
có những bước phát triển mới để thích nghi với trình độ ngày càng cao của nền kinh tế Theo phân tích của các nhà tân cổ điển hiện đại, tổng thu nhập quốc gia tăng lên là kết quả tổng hợp của tăng tích lũy vốn, mở rộng lực lượng lao động và thay đổi công nghệ trong điều kiện cân bằng cạnh tranh
Trang 9Các nhà kinh tế tân cổ điển nhận thấy trên thực tế, tốc độ tăng trưởng dân số
có xu hướng giảm dần, nhất là tại các nước công nghiệp, đồng thời vai trò của tiến bộ công nghệ đã tăng lên nhanh chóng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, quá trình này đi kèm với tăng nhanh thu nhập và đầu tư Tiến bộ công nghệ không những giảm nhẹ những khó khăn do nguồn tài nguyên thiên nhiên giảm sút mà còn tạo ra những cơ hội tốt hơn để đầu tư sinh lợi cao hơn Do đó, các nhà kinh tế tân cổ điển đã đưa yếu tố điều kiện
tự nhiên ra khỏi mô hình, đồng thời lại đưa biến số tiến bộ công nghệ vào
mô hình (Solmon, 1994) Tuy nhiên, lý thuyết tân cổ điển hiện đại vẫn coi tiến bộ kỹ thuật như một hằng số, được biểu thị bằng một tỷ lệ hoàn toàn không phụ thuộc vào các nhân tố tăng trưởng khác, do đó nó vẫn được xem
là biến ngoại sinh
Nhờ sự phát triển của các thể chế tài chính, không chỉ người sản xuất kinh doanh bỏ vốn ra đầu tư thu lợi nhuận mà cả người tiêu dùng cũng vậy Khi người tiêu dùng không sử dụng hết số thu nhập của mình cho mục đích tiêu dùng thì phần thu nhập còn lại có thể được sử dụng đầu tư vào đâu đó để sinh lời Cơ chế lãi suất xuất hiện và ảnh hưởng tới tiết kiệm và đầu tư Tỷ lệ tiết kiệm được xác định bởi thu nhập trong khi tỷ lệ đầu tư được xác định bởi
tỷ suất lợi nhuận mong đợi, tức là theo hai phương thức khác nhau, nên cũng
có thể khác nhau Tuy nhiên, mỗi khi hiện tượng mất cân bằng xảy ra, quan
hệ giữa các nhân tố trên sẽ được tự động điều chỉnh để lập lại cân bằng Quan
hệ giữa ba nhân tố này ảnh hưởng rất mạnh tới tăng trưởng kinh tế dài hạn
3.2 Lý thuyết tăng trưởng Keynes (1883-1948)
Keynes cho rằng cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thường cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng Theo Ông, thu nhập của các cá nhân được sử dụng cho tiêu dùng và tích luỹ Nhưng xu hướng chung là khi mức thu nhập tăng thì xu hướng tiêu dùng trung bình sẽ giảm, xu hướng tiết kiệm trung bình tăng Xu hướng tiêu dùng giảm sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm, đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn dến sự trì trệ trong hoạt động kinh tế
Mặt khác, Keynes cũng cho rằng đầu tư đóng vai trò quyết định đến quy
mô việc làm, khối lượng đầu tư phụ thuộc lãi suất cho vay và năng suất cận biên của vốn Keynes sử dụng lý luận về việc làm và sản lượng do cầu quyết định để giải thích mức sản lượng thấp và thất nghiệp kéo dài trong những năm
Trang 10ba mươi ở hầu hết các nước công nghiệp Phương Tây, do đó lý thuyết này còn
gọi là thuyết trọng cầu
Qua phân tích tổng quan về việc làm, Keynes đã đi đến kết luận: muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, Nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng
các chính sách kinh tế, những chính sách này nhằm tăng cầu tiêu dùng Ông cũng cho rằng Chính phủ có vai trò to lớn trong việc sử dụng những chính sách kinh tế: chính sách thuế, chính sách tiền tệ, lãi suất nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Quan điểm tăng trưởng hậu Keynes
Trường phái phân tích cơ cấu của thế hệ sau Keynes đi ngược với quan điểm truyền thống của thuyết tân cổ điển Những nhà hậu Keynes phân tích quá trình tăng trưởng với cách nhìn rộng hơn, theo đó tăng trưởng kinh tế là một quá trình biến đổi cơ cấu sản xuất cần thiết để phù hợp với thay đổi của cầu và trình độ sử dụng công nghệ cao hơn Do tính không hoàn hảo của thị trường và khả năng di chuyển vốn bị hạn chế, quá trình dịch chuyển cơ cấu trên thường diễn ra trong điều kiện phi cân bằng Từ đặc điểm này, việc mô hình hóa lý thuyết tăng trưởng của trường phái này không rõ ràng như cách
mô hình hóa của lý thuyết cân bằng tổng thể Các nhà kinh tế hậu Keynes cho rằng các nhân tố xác định tăng trưởng dài hạn bao gồm các nhân tố như của Thuyết Tân cổ điển và những nhân tố về cơ cấu như phân bố lại các nguồn lực từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao, vai trò quan trọng của kinh tế quy mô và kiến thức kỹ năng, và giảm các trở ngại bên trong và ngoài Giải thích cơ bản của thuyết này dựa trên mô hình tăng trưởng phi cân bằng
3.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh
Mục tiêu của lý thuyết tăng trưởng nội sinh là phân tích, làm rõ cơ chế nội sinh tạo ra các quá trình tăng trưởng kinh tế, từ đó giải thích tại sao một số nước đã phát triển nhanh, trở nên giàu có, trong khi một số quốc gia khác không cất cánh được, thậm chí ngày càng lụi bại, từ đó rút ra các bài học và đề xuất các con đường để đưa các nền kinh tế vào quỹ đạo phát triển dài hạn, ổn định, bền vững, tức là một quá trình phát triển với tốc độ cao, có chất lượng Theo lý thuyết này, về cơ bản, tăng trưởng xuất phát từ những nỗ lực đổi mới trong sản xuất; trong đó đổi mới mang tính nội sinh Mô hình tăng trưởng nội sinh cũng chỉ ra nhiều kênh ngoại sinh qua đó cho phép chính
Trang 11phủ có thể tác động trực tiếp và mang lại hiệu quả tích cực tới tăng trưởng kinh tế Lý thuyết tăng trưởng nội sinh cơ bản vẫn dựa trên khuôn khổ của
lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển vì vẫn cho rằng một trong những kênh quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế theo lý thuyết tăng trưởng nội
sinh là vốn đầu tư Thậm chí lý thuyết tăng trưởng nội sinh còn cho rằng vốn sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất tới tăng trưởng và là nhân tố cơ bản tạo cơ sở cho sự ra đời và tích tụ các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, nguồn gốc của tăng trưởng
II Cơ sở thực tiễn để xác định nội dụng của CLTT
1 Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Đại hội đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 Phát triển kinh tế - xã hội của nước ta là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 được Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua khẳng định: “Phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh
tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững”
Với các vấn đề được nêu ra, có thể nói các nội dung của các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước cũng chính là các nội dung phản ánh CLTT nếu xem xét CLTT ở phạm vi rộng, bao gồm các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Chính vì vậy, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở thực tiễn quan trọng trong việc xác định các nội dung của CLTT kinh tế
Trang 122 Sự tồn tại của các hệ thống chỉ tiêu thống kê
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Hệ thống chỉ tiêu thống kê
bộ/ngành; Hệ thống chỉ tiêu thống kê tỉnh, huyện, xã là những chỉ tiêu thống
kê cơ bản, có tính pháp lý phục vụ cho quản lý các lĩnh vực kinh tế, xã hội
Vì vậy trong các hệ thống chỉ tiêu thống kê nói trên nhất định phải có những chỉ tiêu phản ảnh về ổn định kinh tế vĩ mô, các yếu tố bên cung và bên cầu, nguồn lực của sản suất, cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, môi trường
và an sinh xã hội Việc căn cứ vào các hệ thống chỉ tiêu thống kê đã được thể chế hóa vừa bảo đảm cho xây dựng và lựa chọn các tiêu chí phân tích CLTT kinh tế dưới các góc độ không mất nhiều thời gian, đồng thời bảo đảm tính pháp lý, tính thống nhất, cũng như tiết kiệm chi phí và thời gian trong quá trình thu thập tổng hợp các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu cần thu thập
3 Một số nghiên cứu, bài báo phân tích và đánh giá CLTT đã thực hiện
Từ năm 2005 trở lại đây, có rất nhiều báo cáo, bài viết phân tích và đánh giá CLTT dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Chính các nội dung phân tích và đánh giá CLTT trong các báo cáo đã được thực hiện là một trong những căn cứ thực tiễn quan trọng giúp nhóm tác giả thực hiện Đề tài tham khảo khi xác định nội dung phản ánh CLTT Vì số lượng các báo cáo, bài viết rất nhiều và có nhiều nội dung trùng lặp nên trong phạm vi Đề tài này, chúng tôi chỉ trình bày đại ý của những báo cáo, bài viết nhận được nhiều sự đồng thuận từ các nhà nghiên cứu và phù hợp với nội dung nghiên cứu của Đề tài,
cụ thể là:
3.1 Nguyễn Thị Tuệ Anh, Lê Xuân Bá (2005)
Trong ấn phẩm “Chất lượng tăng trưởng kinh tế: Một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam”, theo các tác giả, cho đến nay chưa có một khung phân
tích thống nhất về CLTT trên thế giới Phân tích, đánh giá CLTT là vấn đề phức tạp và trong hoàn cảnh thiếu thông tin nên các tác giả chỉ đưa ra một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam ở các nội dung: (1) đầu tư vào hình thành tài sản vốn vật chất và vốn con người; (2) nhận dạng mô hình tăng trưởng của Việt Nam và (3) phân phối thu nhập và mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng của Việt Nam Vấn đề hiệu quả quản lý Nhà nước không được đề cập trực tiếp trong nghiên cứu này, song nghiên cứu cũng đã rút ra một số nhận xét liên quan đến hiệu quả quản lý khi phân tích ba nội dung nói trên để đánh giá CLTT
Trang 133.2 Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội quốc gia (2006)
Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội quốc gia
năm 2006 (ấn phẩm “Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á”, Đặc san chuyên đề phục vụ lãnh đạo, số 23/2006) Nội dung phân
tích và đánh giá CLTT của Việt Nam trong báo cáo được thể hiện qua các khía cạnh (1) CLTT xét trên khía cạnh kinh tế; (2) CLTT xét trên khía cạnh môi trường; (3) Hiệu lực quản lý của Nhà nước, các chính sách vĩ mô; (4) Tăng trưởng gắn với phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo
vệ môi trường)
3.4 Nguyễn Ngọc Sơn (2011)
Tác giả phân tích CLTT kinh tế theo chiều rộng bao gồm hiệu quả của tăng trưởng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cấu trúc tăng trưởng theo các yếu tố bên cầu và bên cung cũng như các tác động lan tỏa của tăng trưởng đến đói nghèo, bất bình đẳng và ô nhiễm môi trường
Để phân tích về số lượng tăng trưởng, tác giả dựa vào tốc độ tăng trưởng GDP chung của cả nước và đối với từng nhóm ngành (nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ) Khi phân tích sự tăng trưởng đối với các nhóm ngành, tác giả có đề cập tới sự chuyển dịch cơ cấu của nội
bộ ngành đó Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng GDP bình quân đầu người trong khi phân tích Để đánh giá CLTT, tác giả dựa trên các khía cạnh như: hiệu quả của tăng trưởng kinh tế; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; cấu trúc của
Trang 14các yếu tố bên cầu cho sự tăng trưởng; cơ cấu tăng trưởng theo yếu tố bên cung; cấu trúc tăng trưởng theo ngành; CLTT theo mức độ lan tỏa
tố tài sản, lao động và năng suất Nội dung phân tích CLTT của các tác giả bao gồm:
- Phân tích cơ cấu GDP với cơ cấu đầu tư theo thành phần và ngành kinh tế; Tính và so sánh “Hệ số ổn định tăng trưởng”; yếu tố bên cầu cho sự tăng trưởng, cơ cấu tăng trưởng, năng suất lao động, năng suất vốn và mức đóng góp của các yếu tố bên cầu; lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng xuất, nhập, khẩu chủ yếu của Việt Nam; phân tích về tỷ lệ nghèo; khả năng tiếp cận các điều kiện và cơ hội của các tầng lớp dân cư; tăng trưởng với môi trường và xây dựng hạ tầng kỹ thuật
4 Năng lực của ngành Thống kê và khả năng sử dụng thông tin của người dùng tin
Như trên đã đề cập, việc xây dựng nội dung báo cáo phân tích, đánh giá CLTT của ngành Thống kê được xác định còn phụ thuộc vào năng lực và trình độ thu thập, tổng hợp, xử lý của ngành Thống kê Nếu năng lực cán bộ
có trình độ tốt, tiếp cận được các kiến thức tiên tiến hiện đại, cho phép thu thập xử lý, tổng hợp được khối lượng thông tin tối đa, phong phú và chi tiết, nhưng ngược lại, năng lực ở trình độ thấp, còn hạn chế, thì khối lượng thông tin thu thập xử lý, tổng hợp sẽ có giới hạn, không đưa ra được các nhận định
có tính thuyết phục và hiệu quả Mặt khác, công tác phân tích, đánh giá chất lượng tăng trưởng còn phụ thuộc nhiều vào trình độ cán bộ phân tích và đối tượng sử dụng thông tin được đưa ra Nếu số liệu đầy đủ, phân tích ở trình độ cao, có thể áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại như phân tích phương sai, sử dụng hồi quy tương quan, phân tích mô hình Ngược lại, nếu trình độ cán bộ phân tích còn hạn chế, việc tiếp nhận thông tin của người dùng tin còn có giới hạn về kinh tế lượng và thống kê toán thì không nên đưa trong báo cáo các kiến thức khó hiểu và trình bày theo các công thức phức
Trang 15tạp, cần đơn giản hóa và trình bày theo các bảng biểu đơn giản, dễ hiểu để thông tin truyền tài trở nên hữu dụng hơn Tuy nhiên, các số liệu trình bày trong báo cáo cần được bảo đảm thực hiện theo các phương pháp khoa học
III Nội dung chất lượng tăng trưởng
Mô hình thứ nhất (mô hình tăng trưởng trì trệ): Ở mô hình này, trong
một vài giai đoạn, kinh tế phát triển rất nhanh nhưng sau đó tốc độ phát triển giảm đi và thậm chí dẫn đến sự trì trệ và hoặc gần như trì trệ Lý do chính là đầu tư quá thấp vào hình thành các loại tài sản vốn và hiệu quả đầu tư công rất thấp Nền kinh tế có thể rơi vào vòng luẩn quẩn do tăng trưởng thấp dẫn đến thiếu nguồn lực để đầu tư, nhất là vào vốn con người và vốn tài nguyên v.v Sự phát triển theo mô hình thứ nhất, tốc độ tăng trưởng thường chậm và tính ổn định không cao Điều này làm cản trở quá trình giảm nghèo và dẫn đến đầu tư không thỏa đáng cho nguồn vốn vật chất và nguồn nhân lực Mô hình thứ nhất thường diễn ra trong bối cảnh của một quốc gia có nhiều tham nhũng làm cho hiệu quả đầu tư thấp và không hữu ích trong việc phân phối chi tiêu công của Chính phủ
Mô hình thứ hai (mô hình tăng trưởng bị bóp méo): Đặc điểm nổi bật
của mô hình này là đầu tư thiên lệch, quá chú trọng ưu tiên đầu tư vốn vật chất thông qua các chính sách ưu đãi vốn và tăng đầu tư công, ví dụ như: định giá tài sản quá thấp; thiếu đầu tư nguồn nhân lực, thiếu sự an toàn và không bảo vệ được lao động trẻ em; thực hiện chính sách trợ cấp cho nguồn vốn vật chất, chẳng hạn như sử dụng một số chính sách ưu đãi thuế, cho phép giảm thuế, miễn thuế, hoặc là trợ cấp về tài chính cho một số khoản đầu tư hoặc trợ cấp tín dụng cho các dự án đầu tư Tuy nhiên, trong dài hạn nền kinh
tế sẽ phải đối mặt với những méo mó về cơ cấu và hệ quả là tăng trưởng không bền vững, đặc biệt đối với các nước nghèo có quy mô ngân sách nhỏ
và quản lý đầu tư không hiệu quả So sánh với mô hình thứ nhất, mô hình thứ hai tốt hơn cho việc cải thiện đời sống người dân và giảm nghèo nhưng mô
Trang 16hình thứ hai bị lệ thuộc nhiều vào sự ưu đãi của chính phủ đối với nguồn vốn vật chất và điều này lại rất khó duy trì được lâu dài
Mô hình thứ ba (mô hình tăng trưởng bền vững): Tốc độ tăng trưởng
ổn định và được duy trì hoặc tích lũy tài sản được cân đối, tạo điều kiện cho phát triển giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, nâng cao sức khỏe cộng đồng
và bảo vệ môi trường Điều này khuyến khích đầu tư tư nhân và cung cấp nguồn nhân lực ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới kỹ thuật và tăng trưởng về năng suất nhân tố tổng hợp Mô hình thứ ba được coi
là tốt hơn cho sự phát triển và giảm nghèo vì tốc độ tăng trưởng ổn định, không trì trệ giúp cho sự phát triển công bằng, giảm được khoảng cách giàu - nghèo và mang lại nhiều lợi ích hơn cho người nghèo - những người thường phải chịu sự tác động nhiều nhất của tiến trình tăng trưởng kinh tế Theo mô hình này, vốn con người là một trọng tâm của chính sách đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình phổ biến, tiếp thu và đổi mới công nghệ So với hai loại mô hình trên, tăng trưởng theo mô hình này đạt được mục tiêu tăng phúc lợi và xoá đói nghèo Tốc độ tăng trưởng không nhất thiết quá cao nhưng có thể duy trì trong dài hạn nhờ vào sự đầu tư và hình thành hài hoà, cân đối, không méo mó các loại tài sản vốn Các nền kinh tế tiến tới mô hình tăng trưởng này thường có một chính phủ khá trong sạch và quản lý hiệu quả Tuy nhiên, để đánh giá nền kinh tế Việt Nam thuộc mô hình tăng trưởng nào trong ba mô hình trên cần đi sâu phân tích các chỉ tiêu cụ thể và có sự cân nhắc cẩn thận Hơn nữa ba mô hình trên chỉ là những mô hình được đưa
ra có tính chất để tham khảo, chưa phải là những mô hình chuẩn được khuyến nghị để đánh giá CLTT của một quốc gia
2 Xác định nội dung chất lượng tăng trưởng
Hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về CLTT kinh tế và chưa có tài liệu chính thống nào đưa ra được một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ
“CLTT” Trong khuôn khổ của Đề tài nhằm xây dựng một báo cáo thống kê mang tính tổng hợp chung về “CLTT”, nhóm nghiên cứu không bàn luận về các quan điểm và đặc trưng thể hiện của CLTT mà đồng tình và chấp nhận các ý kiến cho rằng “nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, cần phải xem xét một cách đầy đủ cả mặt lượng và mặt chất cũng như những đặc trưng thể hiện của chúng” Trên cơ sở các đặc trưng đã được các nghiên cứu trước đề cập, xét trong điều kiện cụ thể của ngành Thống kê, báo cáo thống kê về CLTT được xác định bao gồm các phân tích liên quan đến năm nội dung chủ yếu như sau:
Trang 17(1) Tăng trưởng kinh tế gắn liền với hiệu quả sử dụng các nguồn lực và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế;
(2) Tăng trưởng kinh tế với ổn định kinh tế vĩ mô;
(3) Tăng trưởng kinh tế theo cơ cấu cấu ngành và thành phần kinh tế (hoặc khu vực thể chế);
(4) Tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội;
(5) Tăng trưởng kinh tế với bền vững môi trường
3 Đặc trưng cơ bản của các nội dung thể hiện chất lượng tăng
Trong báo cáo này, nội dung “hiệu quả” chỉ được sử dụng trong phạm vi hẹp để so sánh giữa mức tăng trưởng kinh tế đạt được với mức tiêu dùng, sử dụng các yếu tố bên cầu của quá trình sản xuất của một nền kinh tế như: tài sản, lao động, tiến bộ khoa học kỹ thuật, nguồn tài nguyên thiên nhiên Tăng trưởng của một nền kinh tế được coi là có chất lượng, trước tiên là phải sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào, không thể sản xuất ra của cải vật chất với bất kỳ giá nào, phải tính đến mức chi phí về tài sản, lao động và bảo vệ nguồn tài nguyên của đất nước Riêng phần “hiệu quả quản lý của Nhà nước”, trong nghiên cứu này không đề cập vì đo lường và đánh giá quản lý của một chính phủ là một việc làm không dễ cả về lý thuyết và thực tiễn, phải thu thập thông tin từ nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau, hơn nữa đây lại là một vấn đề rất nhạy cảm nên cần có sự đầu tư lớn và tính khách quan cao
Năng lực cạnh tranh được xác định là một tập hợp về những thể chế, chính sách và các nhân tố quyết định để tạo ra mức năng suất; là sự thể hiện
về nhận thức và mức đo sự thịnh vượng của một quốc gia Đây là một phạm trù tương đối rộng, liên quan đến việc huy động các nguồn vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn con người để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ Nền kinh tế có khả năng cạnh tranh cao là nền kinh tế tạo ra được các sản phẩm và
Trang 18dịch vụ với giá cả hợp lý và chất lượng cao hơn so với nền kinh tế khác, có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước, đạt được mục tiêu cuối cùng là nâng cao mức sống người dân Khả năng cạnh tranh phải được đánh giá cả ở cấp vĩ mô và vi mô
Hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tưởng chừng như hai thuật ngữ tách bạch nhau, phản ánh hai khía cạnh của CLTT kinh tế, nhưng thực tế chúng gắn liền với nhau, tác động qua lại với nhau: năng lực cạnh tranh được xem xét thông qua sự tăng lên của năng suất, mức sống và sự thịnh vượng Hiệu quả của nền kinh tế được cải thiện nhờ nâng cao năng lực cạnh tranh Chúng ta có thể nói rằng: một nền kinh tế sản xuất và quản lý có hiệu quả thì khả năng cạnh tranh của nền kinh tế được nâng cao Hơn nữa, qua các biểu hiện về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế như trên, ngoài các yếu tố thuộc về lợi thế tự nhiên, các yếu tố còn lại đều phụ thuộc vào năng lực sản xuất và quản lý của nền kinh tế, do đó phấn đấu cho một nền kinh tế
có khả năng cạnh tranh cao cũng đồng thời là phấn đấu để có được hiệu quả trong sản xuất và quản lý kinh tế Chính vì lý do như vậy, khi thực hiện nghiên cứu, chúng tôi không phân tách riêng hai yếu tố hiệu quả và khả năng cạnh tranh mà coi đó như là đặc trưng cơ bản chung phản ánh CLTT
3.2 Ổn định kinh tế vĩ mô thể hiện chất lượng tăng trưởng
CLTT của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chủ yếu do chất lượng công tác kế hoạch hóa của Nhà nước quyết định Còn CLTT của nền kinh tế thị trường lại do ổn định của cả một hệ thống kinh tế vĩ mô quyết định
Một nền kinh tế thị trường muốn đạt được CLTT tốt, trước hết phải dựa vào các yếu tố kinh tế vĩ mô ổn định Các yếu tố kinh tế vĩ mô ổn định có tác động kích thích các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ luật pháp quy định, đạt hiệu quả kinh tế cao, đó là những nhân tố cốt lõi bảo đảm cho CLTT của nền kinh tế bền vững Ngược lại, nền kinh tế đạt được CLTT bền vững, sẽ tác động trở lại đến các yếu tố kinh tế vĩ mô không ngừng được hoàn thiện và ổn định hơn CLTT kinh tế cao là cơ sở để khẳng định và giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế như: lạm phát, xuất nhập khẩu, hoạt động tín dụng, dự trữ ngoại hối, tích luỹ CLTT cao cũng khẳng định hệ thống chính sách và cơ chế quản lý
vĩ mô của Nhà nước có hiệu quả cần được hoàn thiện phát huy, đồng thời những yếu kém cũng được bộc lộ để bổ sung sửa đổi, tạo được niềm tin và
Trang 19tính đồng thuận trong xã hội cao hơn, đó cũng là cơ sở để giữ vững ổn định chính trị xã hội
3.3 Cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế thể hiện CLTT
- Đặc trưng của cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế hợp lý sẽ tạo điều kiện và cơ hội khai thác triệt để
và có hiệu quả cao nhất những tiềm năng và thế mạnh của mỗi địa phương, mỗi quốc gia để phát triển nhanh, có chất lượng của nền kinh tế
Với ý nghĩa quyết định của cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế như trên thể hiện cơ cấu ngành là một khía cạnh phản ánh mặt chất của tăng trưởng kinh tế Vì vậy, thống kê nghiên cứu CLTT kinh tế của toàn quốc hoặc một địa phương không thể không nghiên cứu đến cơ cấu ngành kinh tế
và các chỉ tiêu phân tích đánh giá hiệu quả của cơ cấu ngành kinh tế Ngược lại CLTT của nền kinh tế cao hay thấp sẽ chỉ ra cơ cấu ngành kinh tế hiện tại
là phù hợp hay không phù hợp để Chính phủ có các giải pháp điều chỉnh hoặc tái cấu trúc lại cơ cấu ngành kinh tế hợp lý hơn
- Cơ cấu thành phần kinh tế với chất lượng tăng trưởng
Mỗi thành phần kinh tế có những vị trí, vai trò và thế mạnh riêng đối với
sự phát triển và nâng cao CLTT của nền kinh tế Do đó, nếu tổ chức phối hợp tốt giữa các thành phần kinh tế và có sự quan hệ hỗ trợ lẫn nhau chặt chẽ, hài hòa sẽ tạo cho tăng trưởng và nâng cao CLTT của nền kinh tế bền vững hơn Ngược lại, khi kinh tế phát triển, CLTT được nâng cao sẽ củng cố và phát triển các thành phần kinh tế hài hòa, hợp lý hơn nhằm phát huy tối đa thế mạnh của mỗi thành phần kinh tế Bởi vậy phân tích đánh giá CLTT kinh tế của nước ta trong thời kỳ đổi mới không thể không đề cập đến cơ cấu thành phần kinh tế và những thay đổi sâu sắc về các thành phần kinh tế đã phát huy được mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong hơn 20 năm đổi mới
3.4 Công bằng xã hội với chất lượng tăng trưởng kinh tế
Hiện tại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về công bằng xã hội Tuy nhiên, qua nghiên cứu, chúng tôi thấy quan điểm về công bằng nhận được sự
đồng tình hơn trong giai đoạn hiện nay, đó là: công bằng xã hội phải được hiểu là tạo ra sự công bằng trong việc tiếp cận với các cơ hội cho mọi người
mà do tăng trưởng kinh tế mang lại, đó là cơ hội tiếp cận với: giáo dục (để cung cấp kiến thức), y tế (để cung cấp sức khỏe), việc làm (để tạo thêm thu