Tiểu luận Xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách nhằm bảo vệ trẻ em bị xâm hại tình dục ở việt nam. Phục vụ sinh viên chuyên ngành Quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng chính quyền nhà nước, luật.... Bài tiểu luận viết tay đạt kết quả cao.
Trang 1XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH NHẰM BẢO VỆ TRẺ EM BỊ XÂM HẠI
TÌNH DỤC Ở VIỆT NAM
Mở đầu.
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Trẻ em như bút trên cành/ biết ăn biết ngủ biết học hành là
ngoan” – Hồ Chí Minh Trẻ em là chủ nhân tương lai của mỗi quốc gia
và dân tộc Là đối tượng cần được quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ và
những gì tốt đẹp nhất Tuy nhiên không phải bất kì trẻ em nào sinh ra cũng được thừa hưởng những quyền lợi căn bản đó, trong sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta hiện nay đã dẫn tới nhiều hệ quả trong
sự phân hóa giàu nghèo, người lao động di cư tới các khu đô thị lớn tìm việc, sự xâm nhập và làm xói mòn đạo đức lối sống gia đình truyền thống,… đã làm cho tỷ lệ trẻ em bị bỏ rơi, quên lãng, bị lạm dụng và bị bóc lột ngày càng cao Đặc biệt trẻ em bị xâm hại tình dục ngày càng diễn ra hết sức phức tạp trong xã hội hiện nay
Theo ước tính của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội năm 2007 có hơn 2,5 triệu trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn chiếm gần
10 (%) tổng số trẻ em ở Việt Nam, trong đó có hơn 850 trẻ bị lạm dụng tình dục Đến cuối năm 2010 con số trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được giảm xuống còn hơn 1,5 triệu trẻ em chiếm 6,5 (%)
số trẻ em ở Việt Nam, nhưng số trẻ bị lạm dụng tình dục lại tăng hơn
1000 trẻ Các vấn đề như khai thác tình dục trẻ em vì mục đích thương mại và hành vi cưỡng hiếp tình dục trẻ em cũng đang ở mức độ nghiêm trọng song chưa có số liệu cụ thể do không có nguồn số liệu đáng tin cậy Như vậy, mặc dù sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990 và ban hành luật quy định về bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em dựa trên căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã cho thấy sự cam kết
Trang 2mạnh mẽ của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghiã Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đảm bảo cho mọi trẻ em được đối xử bình đẳng, có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển thể chất
và trí tuệ, được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản và làm tròn bổn phận của mình đã khẳng định hơn nữa những quyền và nghĩa vụ cơ bản của xã hội đối với trẻ em, đặcbiệt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nhưng qua con số thống kê trên cho thấy tỉ lệ này trẻ có hoàn cảnh đặc biệt có giảm nhưng lại tỉ lệ nghịch với trẻ bị xâm hại tình dục, thực sự đã trở thành con số đáng báođộng và cần có nhiều biện pháp tích cực của pháp luật và chính sách nước ta, sự đồng nhất từ mọi cấp, mọi người dân hơn nữa sao cho phù hợp Để phát huy hơn nữa vấn đề này đã có rất nhiều đề tài tham gia vào việc nghiên cứu và đưa ra bàn luận trong các cuộc họp, hội thảo nhằm góp phần nâng cao vai trò của hệ thống pháp luật, chính sách Nhưng vấn đề này vẫn còn rất mới và chưa phổ biến rộng rãi tới mọi mặt của đời sống xã hội, chưa có sự quyết liệt của cơ quan chính có thẩm quyền, trách nhiệm, hệ thống phát luật còn lỏng lẻo chưa đi sâu Cho nên, được sự hướng dẫn của giảng viên Khoa Nhà Nước – Pháp Luật, học viện Báo chí – Tuyên truyền qua môn học Lí luận về Nhà nước – pháp luật tôi quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu vấn đề bảo vệ trẻ em đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố như: Bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em của nhiều tác giả được nhà xuất bản Phụ nữ xuất bản năm 1987 Đề tài nghiên cứu bảo vệ quyền trẻ em bằng hệ thống tư pháp hình sự ở Việt Nam – tiến sĩ Lê Thị Nga giảng viên đại học Xã hội và Nhân văn Bảo
vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam – Nguyễn Đức Giao, Hoàng Thế Liên…
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích của đề tài nghiên cứu này nhằm làm rõ và nâng cao hơn nữa tính pháp lí của hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay, tạo nên sự
Trang 3đồng nhất của các cơ quan chức năng có trách nhiệm và trong toàn cộngđồng xã hội.
Đề tài bao gồm 3 nhiệm vụ: Nhiệm vụ thứ nhất là làm rõ cơ sở lí luận, nhiệm vụ thứ hai đánh giá những thành tựu đã đạt được và những mặt hạn chế của hệ thống pháp luật Nhiệm vụ thứ ba là một số giải pháp trong hệ thống pháp luật nhằm phát huy hơn nữa tính cấp thiết củapháp luật ở nước ta
4 Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử - lôgic: Phương pháp nàycho phép đi sâu phân tích sự biến đổi, phát triển của GCND trong
những năm vừa qua, đánh giá, nhận xét được ưu, khuyết điểm của
Phương pháp thống kê và một số phương pháp mang tính bổ trợ khác (khoa học kinh tế, khoa học pháp lý, khoa học quản lý,…)
5 Kết cấu.
Trang 4Kết cấu của đề tài ngoài phần mở đầu, 3 chương thể hiện các nội dung nghiên cứu thì còn phần mục lục, tên đề tài và các tài liệu tham khảo.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Hệ thống khái niệm:
Trẻ em: theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004, khẳng định ở điều 1: Trẻ em là người dưới 16 tuổi Trong Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, trẻ em lại được xác định là người dưới 18 tuổi Do đó, “trẻ em” trong đề tài nghiên cứu này được xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Trẻ em có nguy cơ: Được xác định là trẻ em chưa hoàn toàn rơi vào hoàn cảnh đặc biệt nhưng có nhiều nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, do có xuất hiện một số nguy cơ trong gia đình và cộng đồng, trong
đó bao gồm: trẻ em từ các gia đình khó khăn, trẻ em sống trong gia đìnhkhuyết thiếu chỉ có cha hoặc mẹ, trẻ em khuyết tật chậm phát triển, và trẻ em từ vùng các dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Khoản1, Điều 3, Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiệnquyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng
Trẻ em bị xâm hại tình dục: bao gồm trẻ em bị lạm dụng tình dục,
bị cưỡng hiếp, hoặc bị lạm dụng bởi các hành vi dâm ô ; trẻ em bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, thực hiện hành vi giao cấu, xâm hại đến thể chất và tinh thần
Trang 51.2 Phân loại và khái niệm cụ thể về trẻ em bị xâm hại tình
dục:
Trẻ em bị xâm hại tình dục là một khía cạnh trong khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được quy định tại Điều 40 Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em như sau: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật”
Trong luật Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không định nghĩa rõ và cụ thể khái niệm trẻ em bị xâm hại tình dục, thuật ngữ này
đã bị sử dụng một cách không thống nhất trong một số luật và quy định.Nhưng bằng một số văn bản pháp luật của Việt Nam và các tổ chức bảo
vệ trẻ em bị xâm hại tình dục được chia thành các khái niệm nhỏ như sau:
1 Trẻ em bị xâm hại tình dục: bao gồm trẻ em bị lạm dụng tình dục; bị cưỡng hiếp; hoặc bị lạm dụng bởi các hành vi dâm ô; trẻ em bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại; bị mua chuộc để thực hiện hành vi giao cấu, xâm hại đến thể chất và tinh thần
2 Trẻ em phải lao động trong môi trường độc hại và nguy hiểm:
là trẻ em phải lao động trong điều kiện môi trường độc hại và nguy hiểm, những công việc mang tính chất gây hại cho sức khỏe, sự an tòan
và đạo đức của trẻ em (trong đó có hoạt động mua bán mại dâm có sự tham gia của trẻ em…)
3 Lạm dụng tình dục theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới:
“sự tham gia của một đứa trẻ vào hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó không có ý thức đầy đủ, không có khả năng đưa ra sự chấp thuận tham
Trang 6gia, hoặc hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chưa đủ phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các thuần phong
mỹ tục của xã hội”
4 Mua bán tình dục đối với trẻ em là hành vi thương mại bao gồmviệc lôi kéo đứa trẻ đó vào các hoạt động mại dâm, khiêu dâm bất hợp pháp, hành vi bóc lột trẻ em trong các hoạt động mại dâm và các hoạt động tình dục, hành vi bóc lột trẻ em trong việc biểu diễn và thực hiện các tài liệu khiêu dâm Bộ luật Hình sự không quy định riêng hẳn một tội danh về “mại dâm trẻ em” Tuy nhiên, Điều 256 của Bộ luật Hình sự
về “mua dâm với người chưa thành niên” quy định những người có hành vi mua dâm với người chưa thành niên (ví dụ người dưới 18 tuổi)
sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự “Mua dâm” được định nghĩa là hành
vi của một người mua chuộc một trẻ chưa thành niên bằng lợi ích vật chất để trẻ đồng ý với hành vi giao cấu Do bản chất và mức độ nghiêm trọng của mại dâm trẻ em và mại dâm người lớn là khác nhau nên bất
kỳ hành động tổ chức, môi giới, bảo kê, hoặc cung cấp gái mại dâm là người chưa thành niên đều bị coi là vi phạm hình sự nghiêm trọng
5 Hiếp dâm trẻ em Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định đó là bất
kỳ hành vi giao cấu và dâm ô với trẻ em
1.3 Quan điểm chính sách của Đảng và Nhà Nước ta hiện
nay trong việc bảo vệ trẻ em, đặc biệt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bướcxây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hài hoà với pháp luật quốc tế, sự tin cậy và ứng phó kịp thời với những mối quan hệ xã hội mới, cũng như hội nhập một cách vững chắc vào các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế Do
Trang 7đó, hệ thống luật pháp ngày càng được hoàn thiện này có thể được coi
là đặt nền tảng cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, tạo điều kiện cho các em phát triển toàn diện, đảm nhận sứ mệnh là chủ nhân tương lai của đất nước
1.3.1 Các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đã
xây dựng trong thời gian qua.
Có rất nhiều những văn bản quy phạm pháp luật đã được xây dựng và giới thiệu nhằm giải quyết những khía cạnh khác nhau trong vấn đề bảo vệ trẻ em đặc biệt trẻ em bị lạm dụng tình dục Những
nguyên tắc, vai trò và trách nhiệm cơ bản của hệ thống bảo vệ trẻ em đãđược quy định trong khung pháp lý và chính sách phòng chống bạo lực trên cơ sở giới, bảo vệ nạn nhân và trừng phạt các hành vi bạo lực được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua thể hiện tại : Hiến pháp (2013), Luật Bình đẳng giới (2006), Luật phòng, chống bạo lực gia đình (2007), Pháp lệnh dân số (2003), Pháp lệnh phòng, chống mại dâm (2003)… Bên cạnh đó một số các chương trình
đã được xây dựng và triển khai nhằm giúp đỡ một số đối tượng trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, trẻ em bị xâm hại tình dục nói riêng như:
Chương trình bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn
1999-2002 (được phê duyệt bởi Quyết định số 134/1999/ QĐ-TTg, ngày 31/5/1999)
Năm 2001, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Nghi định thư bổ sung cho Công ước quốc tế về quyền trẻ em về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em, và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang
Trang 8thang, trẻ em bị xâm hại tình dụng và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010.
Quyết định 65/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học
và trẻ em nhiễm HIV/AIDS”
Ngày 14 tháng 01 năm 2005, Bộ LĐTB&XH đã ban hành Công văn số 120/BLĐTB&XH-PCTNXH hướng dẫn việc thực hiện Dự án Phòng ngừa lạm dụng tình dục trẻ em theo Quyết định 19
Kế hoạch Quốc gia về phòng, chống tội phạm giai đoạn
2005-2010 (bao gồm các điều khoản về các hành vi phạm tội do trẻ em thực hiện và tội phạm chống lại trẻ em)
Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế tiếp nhận và
hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ và trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về Chính phủ Việt Nam đã xác định lạm dụng tình dục trẻ em, trong đó có mại dâm trẻ em, là một vấn đề ưu tiên trong
Quyết định số 267/ QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia bảo
Trang 9đảm nhiệm Tuy nhiên trong hệ thống pháp luật hiện nay vẫn chưa quy định và giao nhiệm vụ cho một cơ quan đầu mối hoặc chủ trì chịu trách nhiệm chung về tất cả các khía cạnh của công tác bảo vệ trẻ em trên toàn quốc Trách nhiệm thực hiện các lĩnh vực khác nhau trong công tácbảo vệ trẻ em lại được giao cho nhiều bộ, ngành khác nhau, dựa theo chức năng của các bộ, ngành này cũng như việc phân loại đối tượng trẻ
em Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nghị định số
36/2005/NĐ-CP hướng dẫn việc thực hiện luật, có quy định trách
nhiệm như sau:
* UBDSGĐ&TE: Quản lý nhà nước đối với các vấn đề về trẻ em, trong đó có việc xây dựng luật pháp và chính sách về trẻ em, tổ chức thực hiện các chương trình về bảo vệ và chăm sóc trẻ em thiệt thòi, điềuphối hoạt động giáo dục và nhận thức về bảo vệ trẻ em, quản lý nhà nước về các cơ sở hỗ trợ trẻ em với nhiều thành phần khác nhau, thu thập và phân tích số liệu về bảo vệ trẻ em, ban hành các tiêu chuẩn, nguyên tắc, hướng dẫn về bảo vệ trẻ em và các cơ sở trợ giúp trẻ em
* Bộ LĐTB&XH: có trách nhiệm ban hành cơ chế và chính sách đối với trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em mồ côi, và trẻ em đường phố, quản lý nhà nước đối với các cơ sở bảo trợ xã hội, các cơ sở điều trị cai nghiện, các cơ sở dạy nghề, ban hành luật pháp về lao động trẻ em và thanh tra việc thực thi luật pháp này Theo Chương trình 19,
BLĐTB&XH chịu trách nhiệm chính về các kế hoạch ngăn chặn và giảiquyết tình trạng lạm dụng tình dục trẻ em, sử dụng lao động trẻ em làm các công việc nặng trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm BLĐTB&XH cũng chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức giáo dục dạy nghề, hỗ trợ việc làm, tái hoà nhập cộng đồng cho phụ nữ và trẻ emtừng bị buôn bán qua biên giới nay đã trở về
* Bộ Công an: Có trách nhiệm áp dụng các biện pháp phòng ngừa
và đấu tranh với các hành vi xâm phạm quyền trẻ em, giáo dục và cải
Trang 10tạo người chưa thành niên vi phạm pháp luật; phối hợp thực hiện
Chương trình hành động quốc gia về phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ
em và Chương trình đấu tranh phòng, chống mại dâm
* Bộ Tư pháp: Hỗ trợ pháp lý cho trẻ em thiệt thòi, trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ bị xâm hại tình dục, quản lý việc nhận con nuôi (trong nước và nước ngoài), tăng cường nhận thức và giáo dục về luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
* Bộ Y tế: trách nhiệm cải thiện chất lượng điều trị y tế cho trẻ em
bị xâm hại tình dục nói riêng, những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung
* Bộ Giáo dục và đào tạo: Trách nhiệm xây dựng các chương trình nâng cao nhận thức và giáo dục về bảo vệ trẻ em, thực hiện chính sách về miễn giảm học phí, áp dụng những biện pháp phù hợp để hòa nhập trẻ quay trở lại trường học, phối hợp với Bộ LĐTB&XH để xác định những chương trình giáo dục cho những trường lớp có trẻ em khuyết tật, xác định các chương trình giáo dục trong các trường giáo dưỡng
* Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Xây dựng kế hoạch bảo vệ trẻ em, đưa nội dung kế hoạch vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, huy động nguồn lực trong nước và quốc tế cho công tác bảo vệ trẻ em
* Bộ Tài chính: Hướng dẫn các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc đưa ra dự trù ngân sách hàng năm và dài hạn cho hoạt động bảo vệ trẻ em, đề xuất chính sách huy động nguồn lực tài chính chọn công tác bảo vệ trẻ em
1.3.2 Các tổ chức xã hội và các quỹ hỗ trợ tham gia
bảo vệ trẻ em ở nước ta hiện nay.
Trang 11Hiện nay Việt Nam có 54 trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xãhội do Bộ LĐTB&XH quản lý Trong số những trung tâm này, 4 trung tâm chuyên cho gái mại dâm và 50 trung tâm có đối tượng gái mại dâm
và nghiện ma tuý Trong số 4 trung tâm cho gái mại dâm, hai trung tâm đặt ở thành phố Hồ Chí Minh, một ở Hà Nội và một ở thành phố Hải Phòng Thống kê cho thấy trong năm 2004, có tổng cộng 3,575 đối tượng, trong đó 124 em (chiếm 3%) là dưới 18 tuổi
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Việt Nam
Tổ chức trẻ em Rồng Xanh tổ chức tại Hà Nội
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA HÀNH VI XÂM PHẠM TÌNH DỤC Ở TRẺ EM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Những con số thống kê về tình trạng xâm hại tình dục
ở nước ta trong những năm qua.
Trong những năm qua, mặc dù Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Trung ương, các cấp chính quyền địa phương ở nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nhiều chính sách, chương trình, dự
án nhằm thực hiện quyền trẻ em, giải quyết tình trạng bạo lực, xâm hại đối với trẻ em, nhưng qua các con số thống kê của UBDSGĐ&TE vấn
đề trẻ em bị bạo lực và lạm dụng vẫn rất nhức nhối, số lượng không những chưa giảm mà còn tăng với số lượng lớn qua các năm, tính chất xâm hại cũng tăng mạnh bởi mức độ tàn bạo, nguy hiểm lớn hơn trước rất nhiều
Mặc dù tỉ lệ tội phạm chung có giảm nhưng năm 2014 số vụ liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em lại tăng 6,3% so với năm 2013 Theo số liệu thống kê của Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em (Bộ LĐTBXH) năm