1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

99 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 227,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1.Lí do chọn đề tài. 1 2.Lịch sử vấn đề. 2 3. Nhiệm vụ phạm vi nghiên cứu 8 4. Phương pháp nghiên cứu 9 5.Những đóng góp mới của đề tài 9 6.Cấu trúc của luận văn 10 NỘI DUNG 11 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG VĂN HỌCVÀ VỀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 11 1.1. Khái quát về cảm hứng bi kịch trong văn học. 11 1.1.1. Khái niệm bi kịch 11 1.1.2. Bản chất thẩm mĩ của bi kịch 15 1.1.3. Sơ lược về sự biểu hiện của cảm hứng bi kịch trong lịch sử văn học 17 1.2. Khái quát về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong hành trình truyện ngắn Việt Nam đương đại. 25 1.2.1. Nguyễn Ngọc Tư luồng gió mới của truyện ngắn Nam Bộ 25 1.4.2 Hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 29 1.2.3. Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư 34 Chương 2: CÁI NHÌN VỀ ĐỜI SỐNG MANG MÀU SẮC BI KỊCHTRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC 42 2.1. Các sắc thái của bi kịch đời sống trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 42 2.1.1.Bi kịch của cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn 42 2.1.2.Bi kịch của tình yêu lỡ làng, không trọn vẹn 45 2.1.3. Bi kịch của hạnh phúc gia đình tan vỡ 47 2.1.4Bi kịch của người nghệ sĩ cô đơn, lạc loài 55 2.2. Ý nghĩa nhân văn của cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 59 2.2.1. Niềm cảm thông sâu sắc với số phận những con người bé nhỏ, thua thiệt 59 2.2.2. Ý thức phản tỉnh và niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của con người . 61 Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 70 3.1.Nghệ thuật tạo dựng tình huống bi kịch 70 3.2Hệ thống ngôn ngữ, biểu tượng gợi sắc thái bi kịch 73 3.3.Giọng điệu xót xa, thương cảm và nhịp điệu chậm rãi, dàn trải 80 3.4.Kết cấu tác phẩm với lối kết thúc không có hậu 87 KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Lịch sử vấn đề 2

3 Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5.Những đóng góp mới của đề tài 9

6 Cấu trúc của luận văn 10

NỘI DUNG 11

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG VĂN HỌC VÀ VỀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 11

1.1 Khái quát về cảm hứng bi kịch trong văn học 11

1.1.1 Khái niệm bi kịch 11

1.1.2 Bản chất thẩm mĩ của bi kịch 15

1.1.3 Sơ lược về sự biểu hiện của cảm hứng bi kịch trong lịch sử văn học 17

1.2 Khái quát về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong hành trình truyện ngắn Việt Nam đương đại 25

1.2.1 Nguyễn Ngọc Tư - luồng gió mới của truyện ngắn Nam Bộ 25

1.4.2 Hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 29

1.2.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư 34

Chương 2: CÁI NHÌN VỀ ĐỜI SỐNG MANG MÀU SẮC BI KỊCH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC 42

2.1 Các sắc thái của bi kịch đời sống trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 42

2.1.1 Bi kịch của cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn 42

2.1.2 Bi kịch của tình yêu lỡ làng, không trọn vẹn 45

2.1.3 Bi kịch của hạnh phúc gia đình tan vỡ 47

2.1.4 Bi kịch của người nghệ sĩ cô đơn, lạc loài 55

2.2 Ý nghĩa nhân văn của cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 59

Trang 2

2.2.1 Niềm cảm thông sâu sắc với số phận những con người bé nhỏ,

thua thiệt 59

2.2.2 Ý thức phản tỉnh và niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của con người 61

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 70

3.1 Nghệ thuật tạo dựng tình huống bi kịch 70

3.2 Hệ thống ngôn ngữ, biểu tượng gợi sắc thái bi kịch 73

3.3.Giọng điệu xót xa, thương cảm và nhịp điệu chậm rãi, dàn trải 80

3.4 Kết cấu tác phẩm với lối kết thúc không có hậu 87

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

Cảm hứng bi kịch là một trong những nguồn cảm hứng xuyên suốttrong văn học Việt Nam từ xưa đến nay, từ những tác phẩm văn học dân gianđến văn học trung đại, sang các sáng tác 1930 – 1945 Đếngiai đoạn 1945 –

1975, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cảm hứng bi kịch trong văn học dườngnhư xuất hiện mờ nhạt hơn và mang một sắc thái khác biệt hơn.Cái bi tronggiai đoạn này thường nghiêng về cái bi tráng, cái bi hùng đã nung nấu Sau

1975, đặc biệt là năm 1986, khi đất nước hoàn toàn giải phóng bước vào thời

kì đổi mới, hệ thống giá trị trong đời sống xã hội có nhiều biến đổi nhất địnhthì cảm hứng bi kịch lại có điều kiện để trỗi dậy trở thành một trong nhữngnguồn cảm hứng chủ đạo trong văn học giai đoạn này Hàng loạt các tác phẩm

như: Thời xa vắng(Lê Lựu), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai) đều thấm đẫm một nỗi buồn thường khi viết về thân phận

con người

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của miền đất Nam Bộ, xuất hiện trênvăn đàn một cách đầy ấn tượng Với hương vị mặn mòi của ruộng đồng NamBộ,Nguyễn Ngọc Tư ngay lập tức làm ngỡ ngàng người đọc, lôi cuốn họ vào

“một vùng văn chương Nam Bộ” đặc sệt từ phương diện nội dung đến ngônngữ nghệ thuật Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư rất phong phú, đa dạng về thểloại: Truyện ngắn, tản văn, tạp văn và tiểu thuyết Chị đạt nhiều giải thưởng

có uy tín (giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ II với tác

phẩmNgọn đèn không tắt, tháng 10/ 2008, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư được

trao giải thưởng văn học ASEAN).Nguyễn Ngọc Tư đã tìm được chỗ đứngcho mình trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại, đã để lại một dấu ấn khóphai mờ trong lòng người đọc bởi phong cách riêng, cá tính độc đáo Một

Trang 4

trong những điều trở đi trở lại làm day dứt lòng người đọc khi đọc truyệnngắn Nguyễn Ngọc Tư đó là cảm hứng bi kịch trong các truyện ngắn của chị.Như những nhà văn khác, Nguyễn Ngọc Tư cũng có một tâm hồn nhạy cảmtrước cái đẹp, cái thiện mà còn có cả những cái ác, cái xấu xung quanh mình.Hơn ai hết, chị thấy những đổi thay đời sống, con người nơi quê hương chị.

Xã hội phát trển, những mối quan hệ và những giá trị đạo đức, tinh thần vốn

có được coi là bền vững bỗng nhiên ran nứt, đổ vỡ, xuống cấp Con ngườisống thực dụng hơn, họ chạy theo nhiều thứ để đánh mất mình Nguyễn Ngọc

Tư quan tâm đến vấn đề con người cá nhân với tất cả những gì nó có Nhữngtruyện ngắn của chị là những day dứt, suy tư về cuộc đời đầy bi kịch, nhữngcảnh đời bi thương, lầm lỡ

Chọn đề tài: Cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư,

chúng tôi muốn khám phá một trong những yếu tố làm nên nét đặc sắc trongtruyện ngắn của chị đồng thời cũng phần nào thấy được sự thay đổi về giá trịthẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam hiện nay

2.Lịch sử vấn đề.

2.1 Những ý kiến bàn về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói chung

Xuất hiện lần đầu tiên với tập truyện Ngọn đèn không tắt, Nguyễn

Ngọc Tư ngay lập tức chiếm được cảm tình của đông đảo độc giả bằng mộtvăn phong nhẹ nhàng, một tấm lòng trong trẻo, một sự tài hoa mộc mạc đầynắng gió Phương Nam Từ sự hứng khởi ban đầu đó, người đọc tiếp tục chào

đón những tập truyện khác của chị như: Biển người mênh mông (2003); Giao

thừa (2003); Nước chảy mây trôi (2004); Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005); Cánh đồng bất tận - Những truyện ngắn hay và mới nhất (2005); Gió

lẻ và 9 câu chuyện khác (2008) với một sự thích thú đặc biệt Đọc truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta thấy truyện ngắn của chị hàm chứa một nghịchlý: đề tài sáng tác của chị không mới (chỉ là những câu chuyện đời thườngcủa những người nông dân bình dị quê mùa), thế nhưng những câu chuyệnđơn sơ mà hấp dẫn ấy vẫn lôi cuốn được người đọc bởi cái nhìn nhân hậu,

Trang 5

bởi nghĩa tình của một người viết trẻ vừa ngây thơ lại vừa chín chắn, hiềnlành đấy nhưng không kém phần bản lĩnh Nữ nhà văn trẻ này luôn thu hút

sự quan tâm của giới chuyên môn, những bài phê bình, nghiên cứu, nhữngcuộc tranh luận

Tiêu biểu nhất và sớm nhất có thể kể đến bài viết Nguyễn Ngọc Tư, đặc

sản miền Nam của Trần Hữu Dũng Ông đã xem xét truyện ngắn của chị một

cách tường tận và thấu đáo trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.Trần Hữu Dũng đặc biệt đề cao tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ củaNguyễn Ngọc Tư Ông đánh giá đó là một cái riêng đặc sắc không thể trộn lẫn

với bất kì nhà văn nào khác, như là một “đặc sản miền Nam” bởi từ ngữ,

giọng điệu đến việc lựa chọn chi tiết,cốt truyện đều đậm chất Nam bộ Theoông: “Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư hay khóc và nhiều khi cô khuyến khíchnhân vật của mình khóc nhưng để ý cái khóc của Nguyễn Ngọc Tư là vì yêuthương,không vì oán giận Không phải cái khóc nghẹn ngào,day dứt Đây làcái khóc nghẹn ngào như cơn mưa miền Namvà người đọc biết(hay mongmỏi) chỉ khoảnh khắc thì mưa sẽ tạnh, nắng sẽ lên và nhân vật của NguyễnNgọc Tư sẽ quẹt nước mắt xông vai trở lại cuộc sống bận rộn của mình”[13]Bằng tất cả sự yêu mến chân thành, Trần Hữu Dũng cũng không quên cảnhbáo những nguy cơ có thể khiến tác giả trẻ này đi vào lối mòn trong sáng tácbên cạnh sự nhìn nhận và tán thưởng tài năng của chị

Hữu Thỉnh nhận xét trong cuộc trao đổi cùng nhà văn Trung Trung

Đỉnh và Chu Lai:"Với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã có sự bứt phá

rất ngoạn mục, tự vượt lên chính mình và tạo nên những bất ngờ thú vị cho

giới nhà văn" Cánh đồng bất tậnviết về những con người Nam Bộ với tính

cách đặc thù: chân thực, hồn nhiên, chất phác và bản năng Hai nhân vật đứatrẻ trong tác phẩm như là những nạn nhân lớn lên tự nhiên như đàn vịt, thiếuthốn sự quan tâm và và những cử chỉ âu yếm của người thân.Điều đó đã làmlay động trái tim hàng nghìn độc giả” Hà Linh – chia sẻ cùng Nguyễn Ngọc

Tư và Cánh đồng bất tận Khi được hỏi “Điều gì ở Cánh đồng bất tận thuyết

Trang 6

phục ông nhất,với tư cách là một nhà văn”, Hữu Thỉnh trả lời: “Đó là khôngkhí của tác phẩm: cuộc sống Nam Bộ,hơi thở Nam Bộ thấm đẫm nồng nàntrong “cánh đồng” Đó là điều Nguyễn Ngọc Tư rất giỏi trong các truyệntrước đây và điều khẳng định bản sắc và bản lĩnh vượt trội trong tác phẩm

này”[41].

Huỳnh Công Tín với bài viết Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam

Bộ trên trang web Văn nghệ Sông Cửu Long cũng dành cho Nguyễn Ngọc Tư

những lời khen tặng xứng đáng với tài năng của chị Ông đánh giá cao khảnăng xây dựng những không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư và thừa nhận: “Đặc biệt, vùng đất và con người Nam Bộ trong các sángtác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phongnhiều chất Nam Bộ của chị” [63] Huỳnh Công Tín cũng đánh giá cao khảnăng miêu tả tâm lý người và vật hết sức sắc sảo của Nguyễn Ngọc Tư Côngbằng với điều kiện và hoàn cảnh sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, ông cũng yêucầu chúng ta cần có cái nhìn thông cảm hơn khi những vấn đề chị quan tâmcòn nhỏ nhặt và chưa có tầm bao quát Ông cũng khẳng định cái đáng quý cầnphải phát huy ở chị chính là chất Nam Bộ trong sáng tác

Trên mục “Phê bình” của trang web “E-văn” ngày 14/06/2006 có đăng

bài viết của Trần Phỏng Diều với tựa đề Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư Với cách hiểu: “đi tìm thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư thực chất là đi tìm những hình tượng văn học trong sáng táccủa tác giả Các hình tượng văn học này cứ trở đi trở lại và trở thành một ámảnh khôn nguôi, buộc người viết phải thể hiện ra tác phẩm của mình” [18].Trần Phỏng Diều đã chỉ ra thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư thể hiện qua ba hình tượng: hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người

nông dân và hình tượng dòng sông Sau khi phân tích vẻ đẹp của từng hình

tượng, anh cũng đánh giá rất cao văn phong mộc mạc, cách viết như nói củaNguyễn Ngọc Tư Theo anh, nếu chị đánh mất đi vùng thẩm mỹ này thì đồngthời cũng làm mất đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm của mình

Trang 7

Chúng tôi cũng thu thập được hai bài viết tìm hiểu một số khía cạnh vềkhông gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn

Ngọc Tư Đó là bài viết Không gian sông nước trong truyện ngắn của

Nguyễn Ngọc Tư của Thụy Khuê [36] và bài viếtThời gian huyền thoại trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư” của Mai Hồng cùng

được đăng trên trang web “Viet-studies” [31] Nhìn chung Thụy Khuê thốngnhất ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không gianNam Bộ với ruộng đồng sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình, gópphần to lớn vào việc phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả Việc chỉ ra kiểu

thời gian huyền thoại trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận cũng là một góc

nhìn mới lạ của Mai Hồng trong việc tìm hiểu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư ở nước ta hiện nay

Một phương diện nữa vềtruyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, cũng đã

được Nguyễn Trọng Bình đề cập đến trong bài viết Đặc trưng ngôn ngữ trong

truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư [10] Tác giả cho rằng: Qua cách sử dụng

ngôn ngữ trong truyện ngắn khi viết về phẩm chất văn hoá, con người đồngbằng sông Cửu Long, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện được cảm hứng về nguồn

và tiếp cận hiện thực một cách cụ thể sinh động Cũng bàn về ngôn ngữ trongtruyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, nhà phê bình Văn Công Hùng đã khẳngđịnh: “Cái làm nên Nguyễn Ngọc Tư là ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư đã thiếtlập cho riêng mình một hệ thống ngôn ngữ đặc chất Nam Bộ nhưng không dị

mọ ăn theo mà tung tẩy, thăng hoa trong từng ngữ cảnh cụ thể”[32]

2.2 Những ý kiến bàn về cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Bàn về cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư,dườngnhư chưa có một tài liệu nào nghiên cứu một cách có hệ thống, tỉmỉ.Chúng tôi chỉ tìm hiểu được một số bài viết đơn lẻ nghiên cứu về một

số phương diện biểu hiện cụ thể của cảm hứng bi kịch trong truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư

Trang 8

Trần Thị Dung trong bài viết: Nghệ thuật xây dựng nhân

vật của NguyễnNgọc Tư qua tập truyện Cánh đồng bất tậnđã

có phát hiện về thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn

Ngọc Tư: "Trong Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã xây

dựng được một thế giới nhân vật có tính cách, số phận riêngkhá độc đáo Quả thật, những nhân vật của Nguyễn Ngọc Tưluôn gây cho chúng ta những day dứt, ám ảnh khi đọc xongtác phẩm"[15] Nguyễn Ngọc Tư đã có sự tìm tòi và thể hiệnnhân vật qua việc miêu tả ngoại hình, hành động hay nhữngtình huống cụ thể và đặc biệt qua việc khám phá đời sốngnộitâm của nhân vật Vì thế, nhân vật của Nguyễn Ngọc Tưmang một nét riêng và có sức ám ảnh riêng đối với bạn đọc

Phạm Thái Lê với bài viết Hình tượng con người cô đơn trong truyện

ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội cũng là một

bài viết có giá trị khi chỉ ra môtíp người nghệ sĩ cô đơn thường thấy trongtruyện ngắn của chị Tác giảkết luận: “Cũng đề cập đến nỗi cô đơn của conngười nhưng chúng tôi nhận thấy quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư rất khác

Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi kịch tinh thần lớn nhất của con người Nhưngđọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận rất rõ niềm cô đơn mà không thấy

sự bi quan tuyệt vọng Nhân vật của chị tự ý thức về sự cô đơn Họ chấp nhậnbởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống Và, từ trong nỗi đau ấy, họvươn lên, làm người Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là độnglực của cái “Đẹp”, cái “Thiện.”[39]

Trên báo Tiền phong số ra ngày 31 - 1 – 2006, tác giả Trần Hoàng

Thiên Kimvới bài Nguyễn Ngọc Tư, nhón chân hái trái ở cành quá cao!lại

viết : “Văn phong dung dị, ngôn ngữ truyện cứ như được bê vào từ đờithường nhưng chính nỗi đau của những kiếp người, những số phận nhỏ bé ở

Trang 9

một vùng quê nghèo và triết lí nhân quả của cuộc đời lại làm nên sức ám ảnhcủa truyện ….”[35].

Trong bài viết Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc

Tư, Nguyễn Trọng Bính đã chỉ ra hai giọng điệu chủ đạo trong sáng tác của

Nguyễn Ngọc Tư là giọng buồn nhưng không chán chường và giọng điềmnhiên trầm tỉnh Qua cách nhận diện này, tác giả đã khái quát những giá trịcủa giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Tất cả vấn đềtrên đều góp phần cụ thể hoá vấn đề “cái nhìn khắc khoải” về thân phận conngười cũng như quan niệm “con người hướng thiện” trong truyện ngắn củaNguyễn Ngọc Tư”[11]

Thảo Vy với bài viết: Nỗi đau trong Cánh đồng bất tận đã cho ta thấy:

Cánh đồng bất tận được bao trùm bởi nỗi hận: nỗi hận bị vợ bỏ Với nỗi hận

ghê gớm ấy người cha đã thực hiện việc trả thù toàn giới phụ nữ Trút giận

lên các con Nhưng điểm nỗi bật trong Cánh đồng bất tận là thông điệp: Hãy

sống nhân ái để khỏi bị quả báo [81]

Bên cạnh đó, cũng có nhiều khoá luận tốt nghiệp, luận văn tìm hiểu về

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Có thể điểm qua như: Luận văn: Quan niệm

nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư của Phạm

Thị Thái Lê có phát hiện: thế giới trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là thếgiới lao động nghèo, họ mang đậm màu sắc của vùng đất Nam Bộ giống nhưchính tác giả Bản sắc ấy càng được tô đậm khi nhân vật được xây dựng vớingôn ngữ và giọng điệu mang đậm chất Nam Bộ [40]

Luận văn Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của

Nguyễn Thị Kiều Oanh đã chỉ ra: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư là thế giới của những người lao động bình thường và ngườinông dân nghèo khổ nhưng đầy tính thiện [54]

Lê Hải Vân trong báo cáo Khế ước của tự nhiên và kiểu xây dựng nhân

vật nữ trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư chỉ ra đặc

điểm: nhân vật mang bản năng và mang vẻ đẹp thiên tính nữ Thành công của

Trang 10

Nguyễn Ngọc Tư là đã hiện đại hoá hình tượng người phụ nữ trong văn học

và xây dựng nhân vật đậm chất Nam Bộ [77]

Qua việc điểm qua một số công trình nghiên cứu trên, chúng tôi có thẻkhẳng chưa có công trình nào đề cập đến một cách có hệ thống, toàn diện vềcảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Đa phần các bài viếtchỉ dừng lại ở việc chỉ ra một vài dấu hiệu, những biểu hiện cụ thể về cảmhứng bi kịch trong truyện ngắn của nữ tác giả này Trên cơ sở kế thừa ý kiếncủa những người đi trước, luận văn chúng tôi có lẽ là công trình đầu tiên đivào nghiên cứu một cách khái quát, hệ thống, tỉ mỉ về cảm hứng bi kịch trongtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, giúp cho độc giả có cái nhìn toàn diện hơn vềtruyện ngắn của chị, thấy được vị trí của nữ tác giả này trong dòng chảy vănhọc Nam Bộ nói riêng và trên văn đàn văn học Việt Nam nói chung

3 Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu khái quát về cảm hứng bi kịch trong văn học và những biểuhiện của cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Qua đó,chúng tôigóp phần làm rõ nét phong cách độc đáo của chị cũng như muốn xácđịnh đóng góp của nhà văn với văn học Nam Bộ nói riêng và nền văn họcViệt Nam nói chung

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát chúng tôi chủ yếu tập trung vào một số tập truyệnngắn tiêu biểu như sau:

1.Ngọn đèn không tắt (Tập truyện - NXB Trẻ- 2000)

2 Biển người mênh mông (Tập truyện - NXB Kim Đồng- 2003)

3 Giao thừa (Tập truyện - NXB Trẻ- 2003)

4 Cánh đồng bất tận – Những truyện ngắn hay và mới nhất (Tập truyện – NXB Trẻ- 2005)

5 Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn- NXB Trẻ - 2008)

6 Khói trời lộng lẫy (Ttập truyện ngắn – NXB Thời đại – 2010)

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài các phương pháp được sử dụng như những thao tác thườngxuyên trong nghiên cứu văn học như so sánh,phân loại, phân tích, tổng hợp luận văn còn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp phân tích thẩm mĩ: Để làm rõ cảm hứng bi kịch trongtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không thể không phân tích những phẩm chấtthẩm mĩ của nó Nhiệm vụ này đòi hỏi phân biệt giá trị thẩm mĩ và giá trịnghệ thuật Giá trị thẩm mĩ là những phẩm chất tạo nên khoái cảm thẩm mĩ,khoái cảm tinh thần, như cái đẹp, cái cao cả, cái hài, cái bi Giá trị nghệ thuật

là phẩm chất của các phương tiện nghệ thuật tạo nên giá trị thẩm mĩ Phươngpháp phân tích thẩm mĩ được vận dụng đối với nhiều cấp độ của đối tượng vàthường xuyên kết hợp với các phương pháp khác

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Thi pháp học hiện đại đã đượcứng dụng nghiên cứu thành công ở Việt Nam Văn học qua sự cắt nghĩa thipháp học đã bộc lộ được bản chất sáng tạo trong tính quan niệm, giá trị sâusắc củabản thể văn chương Những biểu hiện của thi pháp tác phẩm, tác giả,lịch sử văn học là căn cứ để xác thực cảm hứng bi kịch trong truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Với cái nhìn hệ thống, chúng tôimuốn chỉ ra những biểu hiện phong phú đa dạng của cảm hứng bi kịchtrongtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Cái nhìn hệ thống cũng sẽ phần nào giúpchúng tôi lí giải sự tương tác, chuyển hoá giữa các phẩm chất thẩm mĩ trongtruyện ngắn của chị

5 Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn giới thiệu một cách khái quát về cảm hứng bi kịch trong vănhọc, sơ lược về sự biểu hiện của cảm hứng bi kịch qua các giai đoạn văn họckhác nhau Trên cơ sở đó, luận văn đi vào khảo sát một cách tỉ mỉ sự biểu hiện

Trang 12

của cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trên cả hai phươngdiện: cái nhìn về đời sống và những phương thức nghệ thuật biểu hiện

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo,luận văn gồm 3chương:

Chương 1: Khái quát về cảm hứng bi kịch trong văn học và về truyện

ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 2: Cảm quan về đời sống mang màu sắc bi kịch trong truyện

ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 3: Một số phương thức nghệ thuật biểu hiện cảm hứng bi kịch

trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 13

[22] Phạm trù thẩm mĩ chính là những khái niệm thẩm mĩ chung nhấtphản ánh những tri thức khái quát của con người về những hiện tượng thẩm

mĩ được bộc lộ trong quan hệ thẩm mĩ giữa con người đối với tự nhiên và xãhội Cũng như mọi khoa học, mỹ học chỉ có thể tồn tại trên cơ sở một hệthống những phạm trù thẩm mĩ Lịch sử mỹ học cũng chính là lịch sử loàingười đi xây dựng cho khoa mỹ học của mình một hệ thống các khái niệm,phạm trù càng ngày càng phong phú, chặt chẽ, sâu sắc và khái quát Ðó cũng

là sự biểu hiện của việc mỹ học càng ngày càng tiếp cận được với đối tượngcủa mình

Ðối với những người nghiên cứu và học tập mỹ học, hệ thống các kháiniệm, phạm trù của khoa học này vừa là công cụ để đào xới mảnh đất mỹ học,vừa là phương tiện để tư duy, mà cũng lại vừa là mục đích ta cần vươn tới Vìrằng, nắm được các khái niệm thì cũng thực chất là nắm được mỹ học Trong

số các phạm trù mỹ học, phạm trù rộng nhất là thẩm mĩ, trong nó bao gồm cácphạm trù phổ biến: cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài

Là một trong những phạm trù cơ bản của khách thể thẩm mĩ, cái bi làmột hiện tượng thẩm mĩ đặc biệt Cái bi là phạm trù mỹ học cơ bản chỉ sự thấtbại hay cái chết của cái đẹp trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với lựclượng đối lập; là thắng lợi của lực lượng phản động, lạc hậu trước các lựclượng cách mạng, tiến bộ; là những hy sinh, tổn thất mà phía cách mạng phảigánh chịu trong cuộc đấu tranh với giai cấp lạc hậu

Cái bi được đề cập đến một cách sâu sắc và có hệ thống lần đầu tiên

trong Nghệ thuật thơ cacủa Arixtot [1] Ông cho rằng: Bi kịch là sự bắt

chước các hành động nghiêm túc và cao thượng, hành động này có một qui

mô nhất định Bi kịch nhằm miêu tả những con người tốt nhất so với nhữngngười trong thực tế Vì bi kịch miêu tả những người tốt hơn mọi người nên tacần bắt chước những nghệ sĩ vẽ chân dung giỏi: khi vẽ người nào đó thì đồngthời với việc làm cho các bức chân dung giống người được vẽ, họ còn vẽngười đó trở thành người đẹp hơn thực, bi kịch làm trong sạch hóa những cảm

Trang 14

xúc tương tự qua cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp Những ý kiếntrên của Arixtot có thể tóm gọn được những nét chung nhất về bản chất củacái bi kịch chân chính.

Là một phạm trù thẩm mĩ cơ bản, cái bi được rất nhiều học giả quantâm Gắn cái bi với nỗi buồn, với đau thương mất mát, các tác giả trong cuốn

giáo trình Lí luận văn học khẳng định: “Cái bi là sự mất mát, nhưng là sự mất

mát của lí tưởng, của cái cao cả, cái đẹp Bởi vậy cái bi rất gần gũi với cái caocả”[44;160] Cái bi vì thế còn được hiểu như là cái buồn đau, cảm thương,mất mát do cái lí tưởng, cái cao cả phải đối mặt với những cái tiêu cực,nghịch cảnh, oan khiên để giành lấy chân lí, chính nghĩa

Theo Từ điển ngữ văn học: “Cái bi là phạm trù mĩ học phản ánh một

hiện tượng có tính quy luật của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trongcuộc chiến tranh không ngang sức giữa cái thiên và cái ác, cái tiến bộ với cácphản động trong điều kiện những cái sau này còn mạnh hơn cái trước Đó là

sự trả giá tự nguyện cho những chiến thắng và sự bất tử về tinh thần bằng nỗiđau và cái chết của nhân vật chính diện Cái bi tạo một cảm xúc thẩm mĩ phứchợp bao hàm cả nỗi đau xót và cái chết, song bản thân nỗi đau và cái chếtchưa phải là cái bi Chúng chỉ trở thành cái bi khi hướng tới và khẳng định cái

bất tử về mặt tinh thần của con người”[22].

Trong Từ điển văn học các nhà nghiên cứu cho rằng:“Cái bi là một

phạm trù mĩ học cơ bản dùng để chỉ tính chất của cuộc đấu tranh không khoannhượng giữa cái mới và cái cũ, thường kết thúc bằng sự thất bại của nhân vậttiên tiến nhưng vẫn biểu dương sức mạnh chiến thắng của cái mới trong tươnglai ( ) Chỉ thuộc vào cái bi những sự hi sinh tổn thất có ý nghĩa xã hội, mangtính quy luật trong sự phát triển của lịch sử Cái bi được thể hiện đậm néttrong thể loại văn học bi kịch, nhưng cũng có thể có ở trong nhiều loại hình

và loại thể văn học nghệ thuật khác Nhưng dù ở đâu, việc thể hiện cái bikhông chỉ là việc trình bày sự thất bại của các anh hùng mà trước hết là sựphân tích các nguyên nhân dẫn tới những hành động của họ, là sự miêu tả

Trang 15

hoàn cảnh hình thành bi kịch cùng sự phát triển ngày càng căng thẳng củacuộc đấu tranh này”[22;101]

Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học nhận định: “Cái bi là

phạm trù mĩ học xác định giá trị thẩm mĩ của những xung đột không thểgiải quyết, được triển khai trong tiến trình hành động tự do của nhân vật,kèm theo xung đột này là những đau khổ và sự tiêu vong của nhân vật hoặc

sự mất mát các giá trị đời sống của nó Tính thảm họa của cái bi chủ yếuđược quy định bởi bản chất nội tại của cái bị diệt vong, bởi sự không phùhợp của nó với trật tự hiện hữu”[3; 23] Vì vậy, bi kịch được hiểu như là cáinhìn mang nỗi thương đau, mang niềm xót xa, mang nỗi quan hoài thống thiết

về hiện thực, về con người Cái buồn đau ấy được cất lên từ chính nhữngngang trái, những oái oăm phạm vào cõi thiêng liêng của cái đẹp, cáithiện.Nói đến cảm hứng bi kịch là nói đến nỗi buồn đau chứ không phải niềmvui Với bản chất là xung đột, cái bi được biểu hiện trong phạm trù nội dungcủa tác phẩm văn học là chủ yếu Thì cảm hứng bi kịch có một bình diện biểuhiện rộng hơn – cả về mặt nội dung và nghệ thuật trong mối quan hệ tươnggiao phức hợp của nó Vì vậy, trong văn học nghệ thuật, cảm hứng bi kịch có

sự vận động và thay đổi về nội dung biểu hiện và hình thức của nó

Cái bi gắn với nỗi buồn, nỗi đau thương mất mát, nhưng là “sự mất mátcủa lý tưởng, của cái cao cả, cái đẹp Bởi vật cái bi rất gần gũi với cái caocả[22;160] Mặt khác, bàn về cái bi, Mác cho rằng: “Bản chất của cái bi là sựxung đột”, đó là “xung đột giữa yêu cầu về mặt lịch sử với việc không có khảnăng thực hiện được yêu cầu đó trong thực tiễn” [34;495].Chính xung độttrong đời sống là nguồn gốc của những xung đột được phản ánh trong nghệthuật và là nguyên nhân dẫn tới cái bi

Trong giáo trình Lí luận văn học, tác giả Lê Lưu Oanh, cho rằng cái bi

có hai dạng: cái bi mang tính lịch sử và cái bi đời thường thuộc chủ yếu trongnội dung tác phẩm văn học Cái bi mang tính lịch sử đó là loại gắn liền với cáicao cả (còn gọi là cái bi chân chính), thường được thể hiện trong thể loại bi

Trang 16

kịch Bên cạnh cái bi lịch sử mang tính cao cả, còn có cái bi gắn với đời sốnghàng ngày, vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội Đó là cái bi đờithường Hình thức cái bi này có khi không mang âm hưởng lạc quan, nhiềukhi nó dừng lại ở mức độ bi thương Nhưng đó là cái bi phổ biến của thời đạihiện nay [55, 54 - 57].

Vũ Minh Tâm trong Mĩ học Mác – Lênin, cho rằng: “Cái bi là một

trong những phạm trù cơ bản của mĩ học, phản ánh giá trị thẩm mĩ của conngười đấu tranh cho những mục đích, lí tưởng nhân đạo đã bị thất bại trướccác lực lượng đối lập” [61;79]

Như vậy, cái bi (cái bi kịch) là một phạm trù thẩm mĩ phản ánh mộthiện tượng có tính qui luật của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trongcuộc đấu tranh không ngang sức giữa cái thiện và cái ác, cái mới và cái cũ, cáitiến bộ và lạc hậu, cách mạng và phản cách mạng trong điều kiện những cáisau còn mạnh hơn những cái trước Ðó là sự trả giá tự nguyện cho chiến thắng

và bất tử về tinh thần bằng sự thất bại, nỗi đau và cái chết của những conngười tốt Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mĩ phức hợp bao gồm nỗi đau xót,

sự tự hào lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp Có thể nói đến nhiều cái bi khác nhautrong đời sống

1.1.2 Bản chất thẩm mĩ của bi kịch

Trong lịch sử nghiên cứu về cái bi kịch, có lẽ Arixtot là người đầu tiên

đề cập đến một cách sâu sắc và hệ thống trong tác phẩm Nghệ thuật thơ ca.

Sau Arixtot, cái bi được nhiều nhà lí luận, nhà mỹ học khác dụng tâm tìmhiểu, nghiên cứu như Hêghen, Mác, Ăngghen, Lenin, Tsecnưepki Dù họtiếp cận cái bi và kiến giải nó từ nhiều góc độ khác nhau nhưng họ đều đồng ý

với nhau ở một điểm, đó là bản chất của cái bi là sự xung đột: xung đột giữa

cái đẹp – cái xấu, cái chính nghĩa – cái gian tà, ánh sáng – bóng tối, hiểu theokhía cạnh khác là biểu hiện của cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái tiến

bộ với cái lạc hậu, cái thiện với cái ác Nhưng không phải tất cả mọi xung độtđều trở thanh cái bi “Cái bi càng không phải là xung đột phổ biến đối với

Trang 17

toàn bộ lịch sử nhân loại, như Căng quan niệm”[44;159] Cái bi nào cũng gắnliền với nỗi bất hạnh, với cái chết cho nên Tsecnưepki, nhà mỹ học dân chủcách mạng Nga đã coi cái bi là sự buồn thương do chết chóc mang lại Đốivới Tsecnưepki, cái chết là chân lý vĩnh cửu của cái bi Cái bi gắn liền với nỗibất hạnh, với cái chết nhưng phải mang ý nghĩa thẩm mĩ.

Thứ nhất, cái bi thường gắn với sự thương xót, sự ảm đạm, sự thốngkhổ, sự bất hạnh, các hình thức éo le trong cuộc sống Vì thế nhiều ngườiđồng nhất cái bi với sự bi quan Thực ra sự bi quan là một tình cảm chán nản,tuyệt vọng, thiếu niềm tin về một cái gì đó trong cuộc sống Chủ nghĩa biquan hoài nghi những giá trị chân chính của cuộc sống, nhưng cái bi lại phảnánh sự ẩn dấu trong cái bản chất nỗi buồn thương, mất mát và bất hạnh vớimột tinh thần khoa học và nhân văn

Thứ hai, cái bi gắn với sự xung đột, cái khủng khiếp, sự thống khổ.Người ta thương cảm với số phận bi đát, căm giận nguyên nhân tạo ra cái bikịch và tự ý thức, trách nhiệm trước những nỗi thống khổ đó Nhưng khôngphải nỗi thống khổ nào đều có ý nghĩa của cái bi Sự đau đớn, sự thống khổcủa một tên đại bịp, của những kẻ tàn bạo trong lịch sử, hoặc sự mất trộm củamột tên địa chủ bóc lột cũng không hề mang ý nghĩa thẩm mỹ của cái bi

Thứ ba, cái bi thường gắn liền với sự bất hạnh chết chóc Tuy nhiênkhông phải bất kỳ một cái bất hạnh và chết chóc nào cũng có ý nghĩa của cái

bi Chỉ có những cái chết được hiểu như sự mất mát, tiêu vong, hy sinh cótính chất tạm thời, nhưng được xã hội tôn vinh, ca ngợi, noi gương vì lý tưởngcao đẹp mới là cái bi

Từ việc điểm qua một số ý kiến trên, chúng tôi có thể khẳng định cái bi(cái bi kịch) là một phạm trù thẩm mĩ cơ bản chỉ sự thất bại hay cái chết củacái đẹp trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với lực lượng đối lập; làthắng lợi của lực lượng phản động, lạc hậu trước các lực lượng cách mạng,tiến bộ; là những hy sinh, tổn thất mà phía cách mạng phải gánh chịu trongcuộc đấu tranh với giai cấp lạc hậu Khi nói đến cảm hứng bi kịch trong

Trang 18

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là chúng tôi muốn khẳng định truyện ngắn của

nữ tác giả này thể hiện cái nhìn mang màu sắc bi kịch về đời sống, về số phậncon người Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư thường tập trung

đi vào khai thác những bi kịch của cuộc sống lam lũ nhọc nhằn, bi kịch vềtình yêu không trọn vẹn, bi kịch về gia đình tan vỡ và bi kịch về người nghệ sĩ

cô đơn Bên cạnh đó, truyện ngắn của chị cũng thường sử dụng tình huống bikịch, ngôn ngữ, biểu tượng mang màu sắc bi kịch Chính cảm hứng bi kịchnày trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã tạo một sự ám ảnh trong lòngngười đọc

1.1.3 Sơ lược về sự biểu hiện của cảm hứng bi kịch trong lịch sử văn học

1.1.3.1 Cảm hứng bi kịch trong văn học dân gianvà văn học trung đại

Trong văn học dân gian Việt Nam, cảm hứng bi kịch cũng được thểhiện khá rõ nét Đọc ca dao, bên cạnh những giai điệu tươi vui, ta còn nghekhông ít những khúc nhạc buồn thương ai oán Đó là nỗi lòng của những kiếpngười bất hạnh, những cảnh đời trắc trở, éo le Bao nhiêu tâm sự, sầu đau,buồn phiền không thể tỏ bày cùng ai, những người phụ nữ đã gửi trọn vàonhững câu hát than thân Trong ca dao, ta bắt gặp vô vàn những nỗi đau củangười phụ nữ như: bi kịch thân phận, bi kịch lỡ duyên và bi kịch hôn

nhân Đấy là lời than về thân phận:“Thân em như cột đình chung/ Tay dơ

cũng quẹt, tay phung cũng chùi” Hay đó là, bi kịch lỡ duyên, là nỗi đau bị

phụ tình: “Từ ngày tôi ở với anh/Cha mẹ đánh mắng anh tình phụ tôi /Có thịt

anh tình phụ xôi/Có cam phụ quýt, có người phụ ta/Có quán tình phụ cây đa/

Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn” Đó còn là nỗi đau tình duyên bi ngăn cấm:

“Lửa nhen mới bén duyên trầm/Trách sao cha mẹ nỡ cầm duyên con.”.Nhất

là bi kịch hôn nhân, nỗi đau phải chịu kiếp chồng chung: “Thân em làm lẽ vô

duyên/ Mỗi ngày một trận đòn ghen tơi bời/Ai ơi ở vậy cho rồi/Còn hơn làm

lẽ, chồng người khổ ta.”

Trang 19

Không chỉ được thể hiện trong ca dao mà cảm hứng bi kịch còn đượcthể hiên trong truyện dân gian Bi kịch được thể hiện đậm nét nhất trong

truyền thuyết Mị Châu-Trọng Thủy Đó là bi kịch nước mất nhà tan do sự chủ

quan của An Dương Vương, bi kịch tình yêu dẫn đến cái chết bi thương của

Mị Châu.Truyện Trầu cau nói lên tính bi kịch gia đình do hai an hem cùng

yêu một cô gái và vì do lòng ghen của người anh mà kết cục của ba người là

cả hai anh em và cô gái đều chết Nhưng nhân dân với tinh thần nhân đạo,mong ước một kết thúc có hậu hơn nên đã sử dụng yếu tố thần kì để tái sinh

cuộc sống của họ thành trầu cau và vôi Rồi đến tác phẩm Trương Chi, Mỵ

Nương Đó vừa là bi kịch tình yêu đồng thời còn là bi kịch tự ý thức của

chàng Trương Chi về thân phận người nghệ sĩ và cái đẹp Từ khi gặp MỵNương, Trương Chi biết đời mình không còn nghĩa lý gì để tiếp tục sống Sự

ám ảnh của cái đẹp hoàn mỹ đã thôi thúc người ta tự tra vấn và thức tỉnh giátrị cuộc đời Trương Chi không thể sống tiếp vì những mối dây nối chàng vớihiện thực đã đứt gãy trầm trọng, đã gần đến bên bờ huỷ diệt Nói cách khác,nhờ sự thấu đáo nghiệt ngã của mình, chàng phải chọn chọn lựa khước từ hiệnthực Mỵ Nương trở thành biểu tượng cho cái đẹp tuyệt đối, nhưng chỉ thuộc

về phạm trù khát vọng thôi, nên mãi mãi mơ hồ xa vắng

Sang văn học trung đại,cảm hứng bi kịch tiếp tục được các nhà văn

khai thác và thể hiện một cách rõ nét Truyện Người con gái Nam Xương của

Nguyễn Dữ là bi kịch do sự nhầm lẫn đáng tiếc của người chồng dẫn đến cáichết thương tâm của người vợ hiền thục Trong hàng loạt các tác phẩm của

Hồ Xuân Hương, ta bắt gặp đó là bi kịch của một người phụ nữ táo bạo đòitình yêu, hạnh phúc lứa đôi, muốn thoát ra khỏi xiềng xích của lễ giáo phongkiến, nhưng càng “dãy dụa”, Hồ Xuân Hương lại càng thấy cô đơn, bất lực

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là bi kịch của người phụ nữ phải chịu

nỗi cô đơn và tủi hờn khi chồng đi chinh chiến Đặc biệt, số phận bi kịch

“sống đọa thác đầy” của người con gái trong trắng, tài hoa như Thúy Kiềuđược thiên tài Nguyễn Du thể hiện một cách sâu sắc trong tác phẩm thơ lục

Trang 20

bát dài 3254 câu Đoạn trường tân thanh Các thi nhân xưa với niềm cảm

thông sâu sắc của mình đã cất lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnhphúc cho người phụ nữ nói riêng và cho con người nói chung

1.1.3.2 Cảm hứng bi kịch trong văn học giai đoạn 1900 – 1945

Tiếp nối nguồn cảm hứng bi kịch trong văn học trung đại, văn học giaiđoạn 1900 – 1945 đã để lại nhiều tác phẩm thể hiện sâu sắc bi kịch của đờisống Đó là bi kịch của tình yêu tan vỡ trong tiểu thuyết Tố Tâm của HoàngNgọc Phách Là là bi kịch của người nông dân như chị Dậu, phải bán con

nhưng vẫn không đủ tiền nộp sưu thuế (Tắt đèn - Ngô Tất Tố) Là bi kịch của

Chí Phèo - một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một conngười bị cự tuyệt quyền làm người Đó còn là bi kịch của của người nông dân

bị thế lực cường quyền áp bức, lừa gạt, không có lối thoát của anh Pha (Bước

đường cùng - Nguyễn Công Hoan) Là bi kịch của Mịch - người phụ nữ nhà

quê bị địa chủ độc ác làm hại (Giông tố - Vũ Trọng Phụng) Đó còn là bi kịch của Thuật, Nhỡ, Thông, Lộc (Lầm Than - Lan Khai), họ phải “vào cái chết để

giành lấy sự sống”.Bi kịch không chỉ đến với những người nông dân nghèo đóilương thiện ấy mà trong xã hội kim tiền ấy, số phận những người người tri thức

cũng rơi vào bi kịch Đó là bi kịch của Hộ (Đời Thừa - Nam Cao), bi kịch của

con người có ước mơ hoài bão nhưng đã bị cuộc sống cơm,áo, gạo, tiền ghì sát

đất Đọc Sống mòn của Nam Cao, ta bắt gặp bi kịch của những người trí thức

sống lay lắt trong cuộc sống “đang mòn đi, đang mốc lên, đang ghỉ ra” Đến

Mực mài nước mắt của Lan Khai, chúng ta thấy được cái bi của môt đời văn

nghèo khó, một cuộc sống bơ vơ, chua cay của nhà văn

1.1.3.3 Bi tráng – sắc thái mới của cảm hứng bi kịch trong văn học

1945 – 1975

Văn học 1945- 1975 phát triển trong hoàn cảnh lịch sử hết sức đặc biệt,đất nước phải trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp từ và chống Mĩ Nhìnchung,văn học giai đoạn này tập trung nhiều vào đề tài chiến tranh chống xâmluợc Văn học phản ánh kháng chiến và phục vụ kháng chiến nên thường phải

Trang 21

khai thác những nguồn tình cảm lớn: Yêu nước, căm thù giặc, tình đồng chí

và tình quân dân Nguồn tình cảm đó là nguồn sức mạnh của chủ nghĩa anhhùng cách mạng, là đối tượng thẩm mĩ của truyện,kí thời kì này Nhà vănNguyễn Minh Châu đã khẳng định: Trong giai đoạn ấy “văn học cũng phải trởthành chiến sĩ, văn học cũng phải đóng góp vào trận đấu sinh tử để giành giữnền độc lập của Tổ quốc bằng tiếng kèn xung trận của mình” Và đất nước làmột bức tranh kì vĩ vượt lên trên mọi đau thương, mất mát để vươn tới ngàymai tươi sáng được phản ánh trong hầu hết các tác phẩm Hình ảnh con người

từ đó cũng hiện lên cao cả với tầm vóc vĩ đại, mang sứ mệnh thiêng liêng màlịch sử giao phó, kết tinh truyền thống yêu nước bất khuất ngàn đời của dântộc Ý thức xả thân vì độc lập dân tộc đã tạo nên hàng vạn anh hùng, điểm tôcho bản anh hùng ca hùng tráng của dân tộc Chính vì vậy, những tác phẩm rađời trong giai đoạn này thường né tránh cái bi, cái chết, cái mất mát đau

thương Tiêu biểu như Nguyễn Quang Sáng với Chiếc lược ngà, Nguyễn Thi với Người mẹ cầm súng, Nguyễn Minh Châu với Dấu chân người lính, Phan

Tứ với Mẫn và tôi, Nguyên Ngọc với Đất nước đứng lên Những trang văn

của họ lúc nào cũng đầy ắp chất hào sảng, trang nghiêm đậm chất sử thi nhằm

phản ánh hiện thực chiến tranh khốc liệt của nhân dân ta Trong cuốn Văn học

Việt Nam 1945 – 1975, Nguyễn Đăng Mạnh nói: “Chiến tranh là một hoạt

động đặc biệt khẩn trương, dứt khoát và quyết liệt, đầy hi sinh Nó luôn cầnđến hình thức động viên, tuyên truyền trực tiếp, mau lẹ, rõ ràng Trong chiếntranh con người trước hết là con người công dân, con người chính trị, mọi vấn

đề cá nhân đời tư phải lùi xuống hàng thứ yếu, thậm chí phải xoá bỏ đi trướcyêu cầu chung của đất nước của cách mạng Cá nhân chủ yếu sống với cộngđồng giai cấp, dân tộc, đối diện với kể thù chung, ít có điều kiện với bảnthân Quan hệ cha con,anh em,vợ chồng, tình bạn, tình yêu, đều chỉ lànhững sắc thái khác nhau của tình đất nước, tình bạn chiến đấu Nguời phụ nữtrước hết không phải là người vợ, người mẹ mà là người chiến sĩ – “Người mẹ

Trang 22

cầm súng” Dù muốn hay không, con người luôn luôn là những phần tử thamgia vào lịch sử và sống trong không khí của sự kiện lịch sử trọng đại” [42;24].

Có thể khẳng định, văn học thời kỳ này thường nghiêng về ca ngợi, biểudương, chiến thắng, hoan ca…ít hoặc thường không viết về đau thương, mấtmát Nếu có viết về sự mát mát, hy sinh các tác phẩm văn học vẫn chịu sự chiphối nghiêm ngặt của tinh thần sử thi Anh ngã xuống đường băng Tân SơnNhất Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng.Và Anh chết

trong khi đang đứng bắn Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng (Dáng đứng

Việt Nam - Lê Anh Xuân) Đó còn là hình ảnh Mùi (Dòng sông phẳng lặng)

ngẩng cao đầu hứng loạt đạn điên cuồng của Rôbớt Lin, là tư thế đường

hoàng bình thản và rất đỗi kiên cường của anh Trỗi (Sống như Anh)… khi đối

mặt với cái chết trên pháp trường đã làm nên những hình tượng bi tráng trongvăn học ba mươi năm chiến tranh Đó còn là hình ảnh đôi tay đẹp đẽ của chị

Sứ (Hòn đất) bị trói ngoặt lên cao, là khi đồng đội nhận được tin chị hi sinh

và họ cảm thấy “tim mình như bị những móng sắc vô hình quào cấu”.

Tóm lại, nền văn học giai đoạn 1945 – 1975 là một nền văn học chủyếu mang cảm hứng sử thi Giữa lúc chiến tranh ác liệt, những vấn đề riêng tưcủa mỗi cá nhân tạm thời được gác lại để văn học tập trung phản ánh nhữngvấn đề mang tính dân tộc, cộng đồng lớn lao Âm hưởng sử thi hào hùng lạitrở về với văn học Cái bi được nhắc đến trong tác phẩm mang âm hưởng sửthi nên gắn kết với cái tráng để trở thành cái bi tráng

1.1.3.4 Sự trỗi dậy mạnh mẽ của cảm hứng bi kịch trong văn hoc giai đoạn sau 1975.

Sau 1975,đất nước hoàn toàn độc lập mở ra một chặng đường mớitrong lịch sử dân tộc Văn học cũng bước sang một chặng phát triển mới vàcảm hứng bi kịch cũng trở thành một trong những nguồn cảm hứng quantrọng của văn học giai đoạn này

Xã hội Việt Nam sau 1975 có nhiều biến đổi Sự thay đổi các mặt đời sống xã hội tất yếu dẫn đến sự thay đổi hệ thống gia trị của đời sống Trên

Trang 23

thực tế bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam từ sau 1975 cho đến những nămđầu thế kỉ XXI, sự đổi thay là hệ quả của sự vận động tất yếu trên nhiềuphương diện: Đó là từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, hệ giá trị đời sốngtất yếu đổi thay.

Trong chiến tranh có quy luật khắc nghiệt của chiến tranh Trong hoàbình có quy luật khắc khắc nghiệt của hoà bình Trong chiến tranh, các giá trịtruyền thống thuần tuý kết tinh trong ý chí cộng đồng, sức mạnh tập thể, giaicấp, lí tưởng và trở thành hạt nhân quy định mọi chuẩn mực giá trị của đờisống, con người chủ yếu tìm thấy giá trị của mình trong giá trị xã hội Conngười còn có nhu cầu cân bằng giữa giá trị xã hội với giá trị tự nhiên, giữa lítưởng với yếu tố thông thường, riêng tư Giá trị đời sống đã trở nên hết sức đadạng khi nhu cầu về sự sống cá nhân nổi lên trong tương quan với vận mệnhcộng đồng Trong hoà bình, bên cạnh những giá trị đó còn có giá trị sống của

cá nhân, cá thể Theo đó, hạnh phúc cá nhân, nhu cầu vật chất, quyền đượcphát triển tự do, được khẳng định tài năng, nhân cách cá nhân Trở thànhnhững yếu tố quan trọng trong hệ giá trị đời sống

Từ kinh tế tập trung, bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường, hệ giá trịcủa đời sống thay đổi Kinh tế thị trường, với quy luật vận hành của nó đãtác động đến toàn bộ đời sống xã hội cả mặt tích cực và tiêu cực, khiếnngười ta phải quan tâm đến những nhu cầu, thi hiếu thẩm mĩ khác nhaucủa con người Tiền bạc bắt đầu len lỏi vào mọi ngõ ngách cuộc sống mỗi

cá nhân, gia đình, xã hội tạo nên tính thực dụng trong mỗi con ngườitrong quan niệm về gía trị đời sống Và xã hội bắt đầu có sự phân hoámạnh mẽ giữa nông thôn và thành thị đây cũng là xu thế tất yếu trong cơchế thị trường toàn cầu hoá thương mại

Thứ nữa, đó là từ quan hệ hầu như chỉ khép kín trong hệ thống cácnước xã hội chủ nghĩa đến chủ trương mở của, hội nhập toàn diện, tất yếu nảysinh nhu cầu thay đổi hệ thống giá trị đời sống Với đường lối kinh tế - xã hộimới, đường lối ngoại giao đúng đắn con người Việt Nam bắt đầu có sụ hội

Trang 24

nhập toàn diện không chỉ đối với các nước Đông Âu mà còn đối với các nướcTây Âu hiện đại Từ đó hình thành nên giá trị đời sống mới,con người có cơhội mở mang tầm hiểu biết trên mọi lĩnh vực, làm mới những trào lưu tưtưởng, ý thức cá nhân xã hội dần dần được nâng cao hơn ngày càng thoátkhỏi ý thức giáo điều, lạc hậu để bồi đắp tiềm thức văn hoá, giá trị bản sắcvăn hoá dân tộc hoà nhập chứ không hoà tan.

Tóm lại, bối cảnh lịch sử - xã hội mới từ sau 1975, nhất là từ những nămcủa thập niên những năm 80 của thế kỉ XXI đã tất yếu tạo ra sự thay đổi hệthống giá trị đời sống Một hệ giá trị toàn diện, đa dạng đáp ứng nhu cầu nhiềumặt của đời sống con người, phù hợp với sự phát triển hiện đại của xã hội Việt

Nam và tiếp tục được sinh thành Đây là tiền đề thiết yếu tạo sự thay đổi hệ

thống giá trị đời sống xã hội, từ sự thay đổi hệ thống giá trị đời sống xã hội dẫn đến sư thay đổi và trỗi dậy mạnh mẽ của hệ thống giá trị mới của văn học.

Với phương châm: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhìn rõ sựthật” của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đưa ra , văn học có bước chuyểnmình với nhiều đổi mới trong quan niệm về hiện thực, về con người, về cảm

hứng sáng tạo Nguyễn Văn Long trong bài Về cách tiếp cận để đánh giá

văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám khái quát: “Từ sau tháng 4 –

1975, nhất là từ giữa thập kỉ 80 trở lại đây, những biến đổi to lớn của đời sống

xã hội đã đưa đến sự thay đổi các thang chuẩn quan trọng khi nhìn nhận cácgiá trị của cuộc sống và của cả văn học nghệ thuật.”, “Con người được mô tảtrong tất cả tính đa dạng, đa chiều của nó đã tạo thành nét chính trong sự địnhhướng về giá trị văn học của công chúng hôm nay Nói khác đi, tinh thần dânchủ và cảm hứng nhân bản là những đặc điểm nổi bật của văn học thời kì đổimới”[39; 22] Và không khí đổi mới dân chủ như một làn sóng bắt đầu tácđộng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực Trong điều kiện mới đó, Nguyễn Minh

Châu kêu gọi: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”[5].

Nhà văn Lê Lựu trả lời phỏng vấn báo Quân đội nhân dân ngày 24/4/1988

cũng lên tiếng “ Không thể viết như trước nữa” Giới văn nghệ sĩ bắt đầu

Trang 25

được “cởi trói”, tự do sáng tác Họ bắt đầu đóng góp tiếng nói của mình vàocông cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới nền văn học nói riêng và một

tư duy văn học mới đang bắt đầu được hình thành trên nhiều phương diệnnhư: Con người, thể tài, chủ đề, ngôn ngữ, giọng điệu, cảm hứng Nếu nhưtrước kia cảm hứng chủ yếu tập trung vào những vấn đề chính trị, sự kiện lịch

sử, số phận cá nhân gắn với số phận cộng đồng dân tộc thì nay ngòi bút của

họ lại dần dần bị phủ kín bởi cảm hứng đạo đức, đời tư, thế sự Cùng với việcnhận thức lại một “thời xa vắng”, là việc nhìn thẳng vào những mất mát dochiến tranh gây ra Người lính vào vai nhân vật “tôi” kể chuyện, bộc bạch nỗiniềm, dấu ấn chiến tranh hằn sâu trong mỗi số phận, mỗi cuộc đời, mỗi ngườimỗi khác Cảm hứng ngợi ca được thay bằng giọng nói tâm tình, đối thoại,ngẫm ngợi… Cảm hứng bi kịch xuất hiện ngày càng đậm đặc Hàng loạt tácphẩm tập trung nói về số phận bi kịch của người trở về gây được tiếng vang

trong lòng độc giả như: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Người sót lại của

rừng cười của Võ Thị Hảo, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp… Cảm hứng

bi kịch càng đau đớn, xót xa hơn khi các tác giả viết về hạnh phúc, tình yêu.Trong chiến tranh, người phụ nữ đã hi sinh quãng đời đẹp nhất của mình, bomđạn và sự tàn phá của thời gian đã tước đoạt tiếp cơ hội làm vợ, làm mẹ của họ.Sau hòa bình, họ chỉ còn lại hình hài đầy thương tích cùng những chuỗi ngày

buồn đầy xót xa, trăn trở: Hai người đàn bà xóm Trại của Xuân Thiều, Cát

trọc đầu của Nguyễn Quang Vinh…

Văn học là một hình thái phản ánh thẩm mĩ, đồng thời sáng tạo ra giátrị thẩm mĩ Đổi mới văn học trước hết đổi mới tình cảm thẩm mĩ Mỗi thời kìlịch sử - xã hội,văn học đều có những giá trị thẩm mĩ riêng Một trong nhữnggiá trị thẩm mĩ trở lại trong văn học sau 1975 đó là cái bi Sự trỗi dậy mạnh

mẽ của cảm hứng bi kịch trong văn học sau 1975 có nhiều nguyên nhân.Trước tiên là do sự đổi mới của văn học gắn với vấn đề dân chủ hoá trên tinhthần nhìn thẳng vào sự thật Thứ hai, chiến tranh đã lùi vào quá khứ, conngười phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống thường nhật đầy

Trang 26

rẫy những mâu thuẫn, những cảnh trớ trêu mà con người vấp phải khiến họ bịhụt hẫng, bị sốc, bị khủng hoảng niềm tin nên rất dễ rơi vào bi kịch Cũngchính hiện thực đó đã khơi nguồn cảm hứng bi kịch ở các nhà văn và họ khaithác triệt để những điều đó Và cảm xúc của người nghệ sĩ luôn tinh tế, nhạycảm với nỗi đau, sự bất hạnh của con người mà từ đó dấy lên trong minh mộtniềm xót xa, cay đắng, một tình yêu thương đồng loại nên muốn giải bày, chia

sẻ mà viết nên những trang văn thấm đượm cảm thương trước những bi kịchcủa cuộc đời

Quá trình vận động và phát triển cảm hứng bi kịch trong văn học phảnánh đúng quy luật phát triển của lịch sử - xã hội nói chung và văn học nóiriêng Ở mỗi thời điểm, cảm hứng bi kịch thể hiện ở múc độ khác nhau tuỳthuộc vào hoàn cảnh đất nước, thời đại.Có thời kỳ cảm hứng bi kịch đượckhơi nguồn mạnh mẽ, có thời kỳ cảm hứng bi kịch lắng xuống Nhưng dùlắng xuống hay mạnh mẽ thì cảm hứng bi kịch vẫn luôn là “mạch nguồn”xuyên suốt trong văn học viết Việt Nam từ xưa đến nay

1.2 Khái quát về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong hành trình truyện ngắn Việt Nam đương đại.

1.2.1 Nguyễn Ngọc Tư - luồng gió mới của truyện ngắn Nam Bộ

Sự ra đời của văn xuôi Nam Bộ có quan hệ chặt chẽ đến những biến cốlớn của lịch sử, những biến chuyển của xã hội và văn hoá dân tộc Trong cuộckháng chiến chống Pháp, văn học Nam bộ có những cây bút tiêu biểu: Sơn Nam,Hoàng Văn Bổn, Trần Kim Trắc, Phạm Tuân,… người ta nhìn thấy thành tựu ấyqua một giải thưởng khá quy mô lúc đó, giải thưởng Văn nghệ Cửu Long Nam

bộ năm 1952 Sang chống Mỹ dòng văn học Nam Bộ bình lặng chảy cùng văn

học cả nước trong không khí hào hùng “tất cả cho tiền tuyến”.

Trong hành trình truyện ngắn Nam Bộ, ta thấy đã từng có những têntuổi, những phong cách văn xuôi không hề trùng lặp với bất kỳ ai trên văn đàn

cả nước, từ các vị tiền bối như Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, NguyễnVăn Hầu, Nguyễn Hiến Lê, Đoàn Giỏi, Trần Kim Trắc, Nguyễn Quang Sáng,

Trang 27

Anh Đức, Trang Thế Hy, Sơn Nam, Lê Văn Thảo, Lê Thành Chơn… tiếptheo là Phạm Trung Khâu, Ngô Khắc Tài, Phạm Thường Gia, Vũ Hồng, LêĐình Trường, Nguyễn Lập Em, Đoàn Văn Đạt, Anh Đào, Trần Thôi, Võ ĐắcDanh, Diệp Mai, Nguyễn Ngọc Tư, Trương Thị Thanh Hiền, Võ DiệuThanh… và gần đây, đã có nhiều bạn trẻ, như Trần Mỹ Hiền, Nguyễn ThịThanh Hiếu, Trần Hoàng Trâm, Huỳnh Thị Cam, Nguyễn Ngọc Đào Uyên…

Có thể nói, dù lực lượng mỏng so với mặt bằng chung của dân số và khônggian sống trong khu vực nhưng văn xuôiNam Bộ vẫn làm nên diện mạo riêng,đặc sắc riêng không thể trộn lẫn Lối viết giản dị, nhìn nhận cuộc sống có hậu

và nhiều mặt tốt đẹp, thể hiện phẩm chất con người của vùng đất mới vớinhững tính cách nhân vật phóng khoáng, cởi mở, hào hiệp, nhân hậu, sống cónghĩa có tình… là nét chung của các tác phẩm ở đây Mỗi người một cách nói,một phong cách riêng, trải ra trên trang văn của mình cả cuộc sống ở vùng đấtnước mà người đồng bằng sông Cửu Long đang gây dựng và vun đắp Có

nhiều truyện ngắn và truyện ký để lại dấu ấn riêng của từng tác giả, như Ông

thiềm thừ của Trần Kim Trắc, Tình Quạ của Phạm Trung Khâu, Tiếng chuông trôi trên sông của Vũ Hồng, Nhớ khói của Ngô Khắc Tài, Sông Hậu xuôi

về của Nguyễn Lập Em, Cha con bụi của Anh Đào, Những mảnh đời trôi dạt của Trần Thôi, Cánh đồng cỏ chát của Võ Đắc Danh, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Cô con gái ngỗ ngượccủa Võ Diệu Thanh, Có ai từ Nam sang của Trương Thị Thanh Hiền, Những mảnh ghép của Trần Mỹ

Hiền… Công cuộc đổi mới của đời sống xã hội nước ta vẫn đang diễn ra,

lực lượng sáng tác văn học ở đồng bằng sông Cửu Long, nhất là lãnh vựcvăn xuôi sẽ còn có nhiều đóng góp Sự góp mặt đông đảo của đội ngũ nhàvăn trể đã tạo nên một diện mạo mới sôi nổi và quyết liệt trên dòng chảybình lặng của nền văn học Nam Bộ và đạt được những thành tựu sau:

Thành tựu thứ nhất, các nhà văn Nam Bộ thường có hứng thú viết vềcái kỳ vĩ, lạ lùng Cái kỳ vĩ, lạ lùng trong văn chương làm nên sức hấp dẫn,kích thích tính tò mò ở độc giả Khi đọc truyện của: Sơn Nam, Trang Thế Hy,

Trang 28

Nguyễn Quang Sáng… Sau 1975, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Diệp Mai, Đỗ TuyếtMai, Trầm Nguyên Ý Anh, Nguyễn Ngọc Tư, họ đã xây dựng được những

bức tranh Nam bộ vô cùng phong phú và “đặc sản” Sông nước, kênh, rạch

chằng chịt, xuồng, bè tấp nập, rừng ngập mặn, rừng nguyên sinh, rừng sìnhlầy, những cánh đồng bát ngát, chợ nổi trên sông, người và muôn thú cộng

sinh như nương tựa bạn bầu, hiện lên một không gian “vĩ mô” có một không

hai Đọc truyện chúng ta cảm nhận rằng, thiên nhiên như một đối tượng, mộthình tượng, một nhân vật thực sự chứ không đơn thuần làm bối cảnh hoặcnguyên cớ để phát triển tính cách nhân vật

Thành tựu thứ hai, truyện ngắn Nam Bộ đậm dấu ấn địa văn hoá Ông

cá hô của Lê Văn Thảo rất đặc trưng cho tính cách con người Nam Bộ: nghĩa

hiệp, trọng tình, phóng khoáng Nhà không có đàn ông của Dạ Ngân, một

truyện ngắn đầy ắp tập tục văn hoá Chị viết về tục dựng vợ gã chồng, một tậptục bình thường có ở khắp mọi miền đất nước và trên toàn thế giới, cái khôngbình thường ở đây lại xảy ra trong một gia đình toàn phụ nữ Họ không phảinhững phụ nữ xấu, cái chuyện muốn lấy chồng được bàn cãi rất nhiều trong

ngôi nhà toàn quá lứa lỡ thì Thế nhưng sức hấp dẫn không phải dừng ở văn

hoá vùng miền mà nó cộng cư lan tỏa ở cách khám phá tâm trạng con người,

ở chiều sâu tư tưởng, triết lý nhân sinh Cô đơn, con người cần phải nương tựavào nhau để sống, nhưng rồi lại làm cho nhau đau khổ, cô đơn hơn Conngười không ý thức được sự khốn cùng ấy nên con người sa vào hết bi kịchnày lại đến bi kịch khác Viết về tục lệ - thế sự đời tư mà khui mở ra cái trớ

trêu bất bình thường Nhà không có đàn ông nói lên sự khập khiểng, gia đình thiếu đi một giới bao giờ cũng có sự lệch pha trong cuộc sống.

Thành tựu thứ ba của truyện ngắn Nam Bộ có lẽ là về ngôn ngữ NGônngữ nổi lên trong tác phẩm là một bộ phận rất dễ nhận thấy bởi tính đa diện,

đa sắc, của vùng đất Phương Nam Các tác giả đã nắm lấy như một lợi thếnghệ thuật làm nên phong cách riêng của mình

Trang 29

Như vậy, văn xuôi Nam Bộ chảy theo dòng chảy của văn học cả nước.Sau 1975, văn xuôi Nam Bộ tiếp tục có những cách tân cả về nội dung lẫnhình thức nghệ thuật và đạt đươc nhiều thành tựu đáng ghi nhận Năm 2003,Hội nhà văn đồng bằng sông Cửu Long cho ra mắt tuyển tập 18 nhà văn đồngbằng sông Cửu Long và nhiều tuyển tập truyện ngắn khác Điều này cho thấytruyện ngắn Nam bộ đang có sự chuyển mình rõ nét, đội ngũ những cây búttruyện ngắn được bổ sung ngày một đông đảo hơn, truyện ngắn phần nào đãđáp ứng được tâm lý thị hiếu của người đọc nhờ sự chuyển tải nhanh, nhạynhững vấn đề bức xúc của đời sống xã hội Văn học Nam Bộ đã có nhữngbước chuyển mình quan trọng, song là vùng đất nằm cuối tận cùng Tổ quốc,hiện nay văn học đồng bằng sông Cửu Long đang cần được sự quan tâm củagiới nghiên cứu, phê bình văn học và độc giả cả nước nhằm “khoách đại” vănhọc ra khỏi vùng miền và ngày càng bay xa hơn, biết nhiều hơn hương sắcvăn học Nam Bộ.

Trong khoảng chục năm gần đây, văn học đồng bằng sông Cửu Longxuất hiện một số cây bút nữ tiêu biểu: Trầm Nguyên Ý Anh, Nguyễn Thị DiệpMai, Nguyễn Ngọc Tư So với Ý Anh,Diệp Mai thì Nguyễn Ngọc Tư Nam

Bộ hơn cả, chị viết rất tự nhiên thoải mái, không câu nệ Vì vậy, ngườiđọc thích thú khi đọc văn của chị Chị nghe âm thanh trong trẻo của cuộcsống xung quanh và chuyển âm thanh đó vào trong tác phẩm của mìnhmột cách tự nhiên

Nguyễn Ngọc Tư được bạn đọc biết đến lần đầu từ tập truyện ngắn

Ngọn đèn không tắt và đã trở thành một cái tên hót được tìm kiếm nhiều nhất trên văn đàn khi cho ra đời truyện ngắn Cánh đồng bất tận Khác với các cây

bút trẻ khác, Nguyễn Ngọc Tư không chinh phục bạn đọc bằng những cáchtân lạ lẫm trong lối viết hay những “đại tự sự” trong truyện của mình Chị chỉviết về những mảnh đời bình dị quanh mình - những mảnh đời bất hạnh, hẩmhiu hay những niềm vui giản dị, bé nhỏ của con người Nam Bộ trong cuộcsống thường ngày Ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, đã thể hiện thật tự nhiên nhung

Trang 30

cũng thật xúc động những con người lam lũ, nghèo khó, bộc trực ấy ẩn chứabên trong cả một tâm hồn vừa nhân hậu vừa tinh tế trong cách đối nhân xửthế… Tất cả được thể hiện trong một thứ ngôn ngữ hồn nhiên, thô mộc, đậmđặc chất phương ngữ Nam Bộ Với cách viết mới mẻ cùng lối văn đa giọngđiệu nhưng đậm chất Nam Bộ, mỗi truyện viết của Nguyễn Ngọc Tư đều đưalại những cảm xúc mới mẽ cho người đọc.

Có thể nói rằng, kể từ khi các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tưxuất hiện cho đến nay đã làm tốn không ít giấy bút của giới nghiện cứu phêbình và độc giả Người khen, kẻ chê, người say mê, kẻ hững hờ có khi trởthành “bão táp”, có khi lắng xuống và qua đi nhưng giá trị truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư vẫn không dễ gì phủ nhận Chính chị là người đã “đem đếncho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinhtế ”[48,1] Trong hành trình tìm kiếm những đề tài thế sự mang tính “nónghổi”, các nhà văn cùng thời với chị hăng hái xung phong “ra trận” thì có vẻnhư Nguyễn Ngọc Tư lại lặng lẽ “lùi về” để quan sát, để “chiêm nghiệm”.Sau khi đã quan sát và chiêm nghiệm, Nguyễn Ngọc Tư như thể đã nhận ra cảmột xã hội đang lao vào “công nghiệp hóa”, “hiện đại hóa”; mọi người thì laovào vòng xoáy của cuộc sống để “kiếm tiền”, chạy đua với cơm áo hằng ngàynên chắc chắn sẽ có lúc nào đó họ sẽ mỏi mệt, chán chường, chao đảo… Dựcảm và nắm bắt được xu thế ấy, Nguyễn Ngọc Tư bằng tài năng thiên bẩm

của mình đã nhẹ nhàng “thổi” những “Dòng nhớ”, những con “Chuồn chuồn

đạp nước”, những mảng “khói trời lộng lẫy, những Cánh đồng bất tận, những Ngọn đèn không tắt, những cơn “Gió lẻ” Chị chọn cho mình lối đi riêng.

“Cái mới trong văn Nguyễn Ngọc Tư chính là cái cũ, cái lạ ở chị là tài khui

mở những sinh hoạt thân thuộc trước mắt Nguyễn Ngọc Tư không “vén màn”cho người đọc thấy cái chưa từng thấy, cô không dẫn dắt ta khám phá nhữngngõ ngách của nội tâm mà ta chưa từng biết (một điều cũng rất cần, nhưng đểnhững nhà văn khác) Nguyễn Ngọc Tư chỉ đưa ra một tấm gương rất trong,thật sáng, để chúng ta nhìn thấy những sinh hoạt, tình tự rất thường Và qua

Trang 31

đó, lạ thay, như một tiếng đàn cộng hưởng, ta khám phá cái phong phú củachính đời ta”[13].

Nguyễn Ngọc Tư chưa đi khỏi vùng đất Nam Bộ, song truyện của chị

đã vượt qua địa hạt vùng miền, đến với bạn đọc trong cả nước và cả bạn đọcnước ngoài Số lượng tác phẩm chưa đồ sộ nhưng chị đã tạo tiếng vang, đãgóp phần làm cho văn học Nam bộ được biết đến nhiều hơn trong cả nước

1.2.2 Hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư sáng tác trên nhiều thể loại như tản văn, tiểu thuyết,thơ, truyện ngắn Cái làm nên tên tuổi và chỗ đứng của chị hiện nay có lẽ làthể loại truyện ngắn Chị bắt đầu viết văn từ năm 1996 (20 tuổi) Khởi nghiệpcủa Nguyễn Ngọc Tư khá vất vả, nhọc nhằn và đặc biệt hơn các nhà văn khác.Lúc đó, Nguyễn Ngọc Tư đã nghỉ học phải rời nhà trường vì gia cảnh khókhăn vất vả, chị phải phụ má hái rau ra chợ bán Chị bắt đầu viết tại làng quê,chị “viết vì nhiều thứ, phần vì sự thôi thúc và để giải toả những cảm xúc dồnnén bên trong, phần vì quá buồn, không biết nói chuyện cùng ai nên tìm cáchtrút vào trang viết” Ba truyện đầu tay, được thân phụ mang gửi đến tạp chí

“Văn Nghệ bán đảo Cà Mau”, gây được sự chú ý của người đọc và được chọnđăng.Về sau, chị được nhận vào làm văn thư và học làm phóng viên tại báonày Chính môi trường này đã tạo điều kiện cho tài năng văn chương của chịphát triển

Năm 2000, Báo Tuổi trẻ phát động cuộc thi Văn học tuổi 20 Bất ngờ

đến với chị, tập Ngọn đèn không tắt đoạt giải nhất Tác phẩm đầu tay đạt giải

3 báo chí trong năm 1997; giải B Hội nhà văn Việt Nam về truyện ngắn 2001;giải tác giả trẻ nhất của Ủy ban Toàn quốc Liên Hiệp Hội Các Hội Văn họcNghệ Thuật Việt Nam Mặc dù không gây xôn xao dư luận nhưng với bút

pháp nhuần nhuyễn, giọng văn đặc biệt độc đáo,Ngọn đèn không tắt giành

được nhiều cảm tình của dư luận và các nhà nghiên cứu Nhà văn Dạ Ngân

khi nói về phản ứng của bạn đọc đối với Ngọn đèn không tắt đã trả lời rất hào hứng: “Khi tập truyện Ngọn đèn không tắt vào giải nhất Cuộc thi văn học tuổi

Trang 32

20 năm 2000, Ban Văn (của báo Văn nghệ) chúng tôi mới thú vị nhận ra

chính Văn nghệ đã in cho tác giả ngôi sao này một truyện đậm chất Nam Bộ

dù truyện khá mảnh.( ) Nhiều tiếng khen, nhiều bài báo trong Nam ngoàiBắc phát hiện về Nguyễn Ngọc Tư, một hiệu ứng đọc ít thấy từlâu”[44;1].Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên phát hiện ra “giọng chân tình”

kể “chuyện nhân tình” của Nguyễn Ngọc Tư trong Ngọn đèn không tắt khiến

người đọc dễ nghe và dễ chịu Và đây cũng là giọng điệu chủ đạo, là “âmchủ” của Nguyễn Ngọc Tư trong phong cách văn chương của chị

Sau Ngọn đèn không tắt, các tác phẩm của chị đựơc liên tục đăng trên các báo Năm 2001, chị cho ra mắt tập truyện ngắn Ông ngoại, năm 2003 tiếp tục xuất bản hai tập Giao thừa và Biển người mênh mông giành liền ba giải

thưởng của Hội nhà văn Việt Nam và Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hộiVăn học – Nghệ thuật Việt Nam (trong đó có 2 giải B) Cũng trong năm đó,Nguyễn Ngọc Tư được bình chọn là “Mười gương mặt trẻ tiêu biểu trongnăm” doTrung ương Đoàn trao tặng và được kết nạp vào Hội nhà văn ViệtNam, trở thành hội viên trẻ nhất Hội, 27 tuổi Như một độc giả Sydney đã nóirằng: “Bấy lâu nay, người ta vẫn tưởng (nhầm) rằng dân miền Nam chỉ biếtlàm báo chứ không biết viết tiểu thuyết (hay dân miền Bắc và Trung giỏi viếttiểu thuyết nhưng dở về báo chí) Nguyễn Ngọc Tư không chỉ là nhà báo màcòn là nhà văn, một trong những hội viên trẻ tuổi nhất trong Hội nhà văn ViệtNam”[76;1]

Từ năm 2004 đến 2005, lần lượt các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc

Tự tiếp nối nhau ra đời như: Nước chảy mây trôi(2004); Truyện ngắn Nguyễn

Ngọc Tư (2005) và Cánh đồng bất tận –những truyện hay và mới nhất (2005).

Năm 2006, với Cánh đồng bất tận, chị được Hội nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng: “Hiện tượng văn học trong năm” Phải nói rằng khi Cánh đồng bất

tận ra đời đã hâm nóng bầu không khí văn học, hàng loạt các bài báo, những

lời phản hồi được đưa ra, có nhiều lời khen của giới chuyên môn: Nhà phê

bình Huỳnh Nhã Phương, đã chọn Cánh đồng bất tận là tác phẩm hay nhất

Trang 33

trong năm 2005 vì nó kết hợp được các phương diện: “Một là, nó vừa là

chuyện con người Hai, nó rất gần gũi với những vấn đề thời sự hiện nay mà cũng không xa lạ với những vấn đề vĩnh cữu Ba, nó vừa dữ dội, bạo liệt vừa rất mềm mại đầy nữ tính Thứ tư, ngôn ngữ của nó vừa thể hiện được cái văn

phong Nam bộ đồng thời có sự trong sáng, phong phú của văn chương tiếng

Việt”[59] Nhà văn Chu Lai khẳng định: “Nguyễn Ngọc Tư là cây bút đặcbiệt miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay ở Việt Nam

Cánh đồng bất tận viết về con người miền Nam với những tính cách đặc thù:

chân thực, hồn nhiên, chất phác, bản năng Tôi tin Cánh đồng bất tận sẽ còn

sống rất lâu vì nó chạm đến những vấn đề sâu xa của con người [37]

Bên cạnh đó, không ít độc giả tỏ ra ngạc nhiên, bất ngờ, hụt hẫng trước

sự thay đổi “làm mới” mình của Nguyễn Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận,

vì: Nguyễn Ngọc Tư là một cơn gió mát rượi của đất Phương Nam bỗng trở

thành cơn lốc xoáy lên cánh đồng bất tận Hay: “Cánh đồng bất tận đã mở ra

trước mắt người đọc một thế giới khắc nghiệt và tàn khốc” Và cũng không ítnhững lời “chê”, phản đối vì tác phẩm khốc liệt, dữ dội quá, gay gắt nhất, bài

viết: Có một vũng lầy bất tận đăng trên báo Tuổi trẻ của ông Vưu Nghị Lực

(Phó giám đốc Sở Văn hoá – Thể thao Cà Mau) Ông cho rằng Nguyễn Ngọc

Tư đã bôi nho người dân nghèo, đã “giẫm đạp” và “phóng uế” lên cánh đồngquê hương “Cô đã phỉ nhổ vào cái cánh đồng ấy tàn tệ đến thế”, “bôi tro tráttrấu lên phận nghèo, chửi mắng bọn ngu dốt dân mình, bắt nhân vật mình aicũng đê hèn”[43;1] Và lên án gay gắt nhất ông cho rằng: “Ngọc Tư viết thìrất độc ác, cố ý từ chối đạo lý làm người Đọc văn thì thấy lòng người viết

văn ( ) qua Cánh đồng bất tận cô đã bắt đầu lưu vong với chính nghiệp văn

của mình”[43]

Độc giả Vũ Đình Lương, phó phòng bảo vệ chính trị công an tỉnh Cà

Mau, ở góc độ người đọc ông nhận xét: “Tôi không thích Cánh đồng bất tận.

Câu chuyện về mối quan hệ gia đình, cha con trong truyện phản ánh không

Trang 34

đúng cuộc sống, tâm tư người dân Cà Mau Cả những tội ác trong truyện cũngrất hoang đường”.

Sự việc được hâm nóng lên và trở nên nghiêm trọng khi Ban tuyên giáoTỉnh uỷ Cà Mau yêu cầu hội văn học nghệ thuật kiểm điểm phê phán nghiêmkhắc nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Sau yêu cầu đó hàng loạt các bài đăng trên

các báo với hai luồng ý kiến khác nhau: phê phán/ủng hộ Cánh đồng bất tận

tạo nên “một hiện tượng văn học” năm 2005.Từ sự kiện đó báo Tuổi trẻ đã tổ

chức một diễn đàn về Cánh đồng bất tận Những ý kiến phản hồi liên tục

được cập nhật vào Tuoitreonline Một không khí văn chương sôi động, dânchủ diễn ra Sau năm ngày mở ra diễn đàn, có 686 bạn đọc tham gia Theotổng kết của Tuoitreonline thì có 13 ý kiến phê phán, 855 bạn đọc ủng hộ tácphẩm và động viên tác giả Dù có phê phán như thế nào đi chăng nữa

“ nhưng một điều rất đáng được nhìn nhận, đó là thái độ tin cậy của đông

đảo bạn đọc cả nước đối với Cánh đồng bất tận và tài năng của một tác giả nữ

rất trẻ ở vùng đất cuối cùng của đất nước”[7;1] Và rất nhiều nhà văn, nhà

nghiên cứu phê bình đánh giá đúng về Cánh đồng bất tận, về tài năng của chị

bởi họ thấy được giá trị đích thực ẩn chứa sâu bên trong của nó chứ khôngphải vì yêu mến Nguyễn Ngọc Tư mà nhìn nhận chị một cách cảm tính.Vì thếnhà văn Nguyễn Quang Sáng cho rằng, một tác phẩm khi đến với độc giả màgây được ý kiến, dư luận đánh giá, nhận xét nhiều chiều, thậm chí trái ngượcnhau là điều bình thường Tác phẩm ra đời mà nhận toàn ý kiến khen ngợicũng là một hiểm hoạ cho nhà văn Điều đáng sợ nhất là một tác phẩm chìmnghỉm, viết ra không ai ngó ngàng tới “Trong tình huống này, tôi nghĩ mộtnhà văn trẻ như Nguyễn Ngọc Tư cần bình tĩnh lắng nghe các ý kiến khácnhau, để phân tích, suy nghĩ tìm đường đi cho mình Thời gian và độc giả sẽchứng minh giá trị của tác phẩm nằm ở đâu Riêng tôi, tôi luôn thích tác phẩmnày”.Nguyên Ngọc đã mạnh dạn dành lời khen “lịch sự” sau đây cho Nguyễn

Ngọc Tư: “Với Cánh đồng bất tận, văn chương ta bước vào toàn cầu hoá hôm

Trang 35

nay một cách đàng hoàng, cùng và ngang bằng với những gía trị nghệ thuật vànhân văn của toàn cầu, chẳng phải nể ai hết” [45].

Sự kiện Cánh đồng bất tận (2006) đã tạo tiền đề cho Nguyễn Ngọc Tư

trải nghiệm ngòi bút của mình trên hành trình sáng tác tiếp theo Không đểđộc giả phải chờ lâu năm 2008, Nguyễn Ngọc Tư đã cho ra mắt tập truyện

ngắn Gío lẻ và chín câu chuyện khác Dưới một bề ngoài thoát trông như “đã

thấy đâu đây rồi”, tác giả - qua từng tác phẩm – đã tỉ mỉ tỉa xén và tái tạo từngmảnh thực tại theo một cảm hứng và mỹ quan mới

Nhìn lại chặng đường sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư trong năm năm

ấy, ta thấy chị thực sự là cây bút có triển vọng, là một trong số không nhiềutác giả trẻ được bạn đọc chào đón nồng nhiệt

1.2.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư

1.2.3.1 Quan niệm về văn chương

Mỗi nhà văn khi cầm bút đều có quan niệm nghệ thuật của mình mà nóinhư Phạm Thị Hoài: “Một quan niệm nghệ thuật bao giờ cũng dẫn đến một

phong cách nghệ thuật riêng của nó”, đây chính là “ý thức cá tính” khiến độc

giả không thể lầm lẫn nhà văn này với nhà văn khác Nguyễn Ngọc Tư cũngvậy, chị cũng có những quan niệm riêng về nghệ thuật, về nghề viết, về sởtrường, về tài năng của mình Có lẽ vì thế,chị đã chọn cho mình một lối điriêng trên con đường đầy chông gai, nhọc nhằn, khó khăn, thậm chí có lúcphải đứng trước bờ vực được mất: “Biết bao người đã viết về những rạn nứt,những thay đổi mất mát, những đổ vỡ trần trụi ấy rồi Tôi buộc lòng mìnhphải thủ thỉ chuyện nhân, chuyện nghĩa để văn mình độc quyền một chút vàcũng để thấy muốn sống thêm nữa vì cuộc đời này còn nhiều vẻ đẹp Thực tế

là còn nhiều cái “đèm đẹp, buồn buồn và hồn nhiên” ở miền đất PhươngNam thực ra tôi hiểu cái tạng “văn” của tôi viết đau đớn, trần trụi, bạo liệtkhông được, tại mình chỉ hạn hẹp có thế”[78]

Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên được dấu ấn trong lòng bạn đọc về vùngđất và con người Nam Bộ, bởi những trang viết của chị bất nguồn từ cuộc

Trang 36

sống con người, từ “những điều trông thấy” ở miền quê Nam Bộ Đằng saugiọng văn nhe nhàng, người ta thấy nỗi niềm con người đất Mũi Có ai đó nóirằng nhà văn chỉ viết hay khi viết về những gì gần gũi, thân thuộc với mình.Điều này quả đúng với Nguyễn Ngọc Tư, chị đã, đang và sẽ viết về quêhương mình, thương cái nghèo, cái khó, con người chân chất, thô mộc nơi đây– nơi chôn nhau cắt rốn của chị.

Nói đến nghệ thuật là nói đến cảm hứng, cảm xúc, khi tâm trạng đầycảm xúc mãnh liệt người cầm bút viết ra những gì mình rung động, viết từ

những cảm xúc thôi thúc trong lòng Nguyễn Ngọc Tư luôn coi trọng cảm

xúc, lấy cảm xúc làm điểm tựa văn chương “Trong văn chương, tôi thườngkhông có kế hoạch gì, tuỳ thuộc vào cảm hứng”[53] Trả lời phỏng vấn bảoTuổi trẻ chị tâm sự: “Sáng tác thì khi nào cứ thấy xúc động, đủ cảm xúc, cósuy nghĩ về cái mình trải qua, có nhu cầu phải viết, nếu không viết chắc tự

tử mất thì Tư viết thôi”[16] Viết văn đối với chị như đói muốn ăn, khát muốnuống

Tuy nhiên, không phải vì thế mà chị cẩu thả trong cảm xúc, ngòi bútcủa mình Nguyễn Ngọc Tư đã ý thức được điều đó, một ý thức chuyênnghiệp và trách nhiệm: “Lúc đầu chị viết để giải toả cảm xúc cho nó nhẹngười đi, nhưng sau này thấy cái nghiệp mình đeo đuổi nặng trĩu, đầy nợ nần.Viết vì mình là Nguyễn Ngọc Tư” [17] Vì thế về sau, với Nguyễn Ngọc Tư,

viết văn như thế nào cho “ngon lành” lại trở thành trách nhiệm của người

cầm bút Chị viết đầy trách nhiệm, đúng lương tâm của người cầm bút chonên mỗi khi viết xong một tác phẩm nào đó, chúng ta như có cảm giác chị vắtkiệt mình vì tác phẩm: “Tôi viết rất chậm Tôi cần nghỉ ngơi, cần nạp nănglượng sau khi trút cạn vào một tác phẩm nào đó ” [35] Thái độ chuyênnghiệp, trách nhiệm và nghiêm túc với nghề của Nguyễn Ngọc Tư còn thểhiện ở chỗ không cần phải viết về sex, hay dùng scandal để tạo tiếng vangtrên diễn đàn để tìm chỗ đứng cho mình mà chị chọn lối đi “đi chậm, dò dẫm

để khẳng định phong cách” [33] Và chị bắt đầu cảm nhận được độc giả đang

Trang 37

bắt đầu “chán văn tôi” nên chị đã muốn làm mới mình, “vượt qua chínhmình”, “thử sức ở những đề tài khó”[64] Mặc dù vậy, chị hiểu đâu là thếmạnh của mình: “Cũng từ đây, cô không thể “thấy cái gì, viết cái nấy” dễdàng được nữa Cô ví von mình đang có một mảnh ruộng, năm này trồng dưathì năm sau thì cô phải trồng lúa, thay đổi thời vụ cho hoa màu tốt tươi Điềuquan trọng là Ngọc Tư biết ruộng mình “hạp với loại nào” và thấy cần thiếtnên làm gì”[38] Vì biết thế mạnh của mình và cũng cần phải khẳng định

mình, không phải đợi lâu năm 2008, chị cho ra đời tập truyện ngắn Gió lẻ và

tìm hiểu bạn đọc của mình”[17] Bạn đọc là muôn màu, muôn vẻ theo không

gian – thời gian, giới tính, nghề nghiệp, trình độ, cá tính Tác phẩm văn học,trước hết phải có một nghĩa khách quan, còn việc cảm thụ khác nhau chỉ lànhững sự phản ứng khác nhau của nghĩa đó Thông thường khi tác phẩm khi

đã ra đời thường vượt ra khỏi ý đồ của nhà văn Nhà văn “muốn nói” và

“được nói”, bao giờ cũng có một khoảng cách, vả chăng động cơ và ý đồ củanhà văn đâu dễ xác nhận, mỗi người có cách đánh giá, nhìn nhận khác nhau

về tác phẩm nên đường ai nấy đi, gặp nhau được là tốt lắm rồi Vì theo chị

“Khi đứa con này đã ra đường rồi, người ta nhìn nhận nó và cảm nhận nó, đối

xử với nó như thế nào không còn nằm trong tầm tay tôi”[13]

Trang 38

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn luôn có ý thức sâu sắc về nghiệp văn củamình Đây là tấm gương của một cây bút luôn trau dồi, ham học hỏi, biết vượtlên chính mình để làm mới văn chương của mình Chị đã để lại cho độc giảnhiều tác phẩm đẫm chất nhân văn, làm giàu phong phú thêm cho văn đànvăn học Việt Nam Theo một số nhà nghiên cứu đánh giá: Văn học Việt Namthực sự đổi mới bắt đầu từ Nguyễn Ngọc Tư.

1.2.3.2 Quan niệm về con người

Văn học là nhân học, văn học lấy con người làm đối tượng miêu tảtrung tâm Song mỗi nhà văn đều có quan niệm và cách thể hiện riêng về conngười Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn trước hết bộc lộ ở hệthống hình tượng nhân vật văn học Hình tượng nghệ thuật luôn biểu hiệnquan niệm nghệ thuật về con người của tác giả và ngược lại quan niệm củanhà văn về cuộc sống và con người sẽ chi phối sự miêu tả các loại hình nhânvật trong tác phẩm “Muốn tìm hiểu nhà văn để soi sáng nhân vật thì côngviệc quan trọng là tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của anh ta về con người”[24,372] Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật vềcon người của một tác giả

Đọc truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, ta có thể gặp rất nhiều nhân vậtkhác nhau Và qua hệ thống nhân vật này, ta thấy được những nét sắc sảotrong quan niệm nghệ thuật về con người của chị

Thứ nhất, chị luôn quan niệm bản chất con người là luôn hi vọng và con người sống là để yêu thương Trong cuộc sống đời thường con người

không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi, bình an, hạnh phúc Thực tiễn cuộcsống đầy khó khăn, bất trắc đang rình rập chờ đợi, buộc con người phải đốimặt Do vậy, trong hoàn cảnh khó khăn đó, hi vọng là liều thuốc bổ giúp conngười vượt qua nhiều chông gai của đời thường Ta thấy những nhân vậttrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư luôn luôn hi vọng, sống để hi vọng cuộcsống ngày mai cành tốt đẹp dần lên, hạnh phúc sẽ đến, sẽ mỉm cười với họ,

Trang 39

đang chờ đợi họ ở phía trước Chị thường nói: “Sống là luôn hi vọng Hivọng là liều thuốc chữa được bách bệnh”[67] Hàng loạt nhân vật trong truyện

ngắn của chị, tiêu biểu là nhân vật Nương trong Cánh đồng bất tậntiêu biểu cho niềm hi vọng Nương lớn lên đã chịu nhiều bất hạnh, đau đớn Từ nhỏ

Nương đã tự bươn chải và học lấy mọi thứ trong cuộc sống mà không cóngười đi trước chỉ bảo Mẹ bỏ theo trai, cha mang nỗi đau và sự thù hậnkhông quan tâm đến Nương Nương sống bên người cha hận thù suốt ngày biđánh đập nhưng Nương không bao giờ thôi hi vọng về một tương lai tươi sángđẹp đẽ hơn Người cha của cô sẽ thay đổi Nương sẽ có một gia đình theođúng nghĩa của nó Ngay cả khi bị làm nhục, Nương vẫn nghĩ, nếu cô có con

cô sẽ đặt tên nó là Thương Chúng sẽ được đến trường vì được mẹ dạy, là trẻcon, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn Trong hoàn cảnh bi đát nhất,nghiệt ngã nhất ấy, Nương không nghĩ đến cái chết Nương vẫn hi vọng.Như Nguyễn Ngọc Tư nói: “Con người mà tắt hi vọng thì chết còn sướnghơn” [67]

Hơn thế nữa, con người không chỉ hi vọng thôi mà phải sống để yêu

thương Đó là nguyên tắc sống của các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn

Ngọc Tư Chị hay viết về tình yêu thương Với chị, yêu thương là lẽ sống,niềm vui, hạnh phúc Chị yêu hết tất thảy mọi thứ: Quê hương, tuổi thơ, chamẹ , yêu thương cả những con người dầm mưa dãi nắng, chân lấm tay bùn,nghèo khó, lam lũ trên quê hương chị Trong một bài trả lời phỏng vấn chịnói: “Người ta sẽ nhận ra ai cũng có nhu cầu để được ấm áp, yêu thương ngay

cả những người mạnh mẽ nhất, tàn nhẫn nhất cũng mong muốn có một ngày

để hoàn lương, một mái nhà yên ấm”[80] Nguyễn Ngọc Tư viết về nhữngmối tình rất bình dị nhưng đầy yêu thương dù tình yêu đó mấy ai được trọnvẹn Nhân vật của chị không chỉ biết yêu thương người khác, lấy yêu thươnglàm lẽ sống cho mình mà còn luôn khao khát nhận được yêu thương củangười khác để vơi bớt đi nỗi cô đơn, đắng cay của cuộc đời

Trang 40

Vì Nguyễn Ngọc Tư là người giàu tình yêu thương nên chị sợ nhất là

sự vô cảm Chị từng tâm sự: “Tôi rất sợ lòng mình vô cảm Tôi cũng sợ y nhưvậy khi thấy những người xung quanh không còn biết yêu thương nữa”[80].Khi con người không còn yêu thương nữa sẽ trở nên lạnh lùng và độc ác vớithế giới xung quanh và với chính những người thân yêu nhất của mình.Nguyễn Ngọc Tư từng bộc lộ quan niệm về lẽ sống này trong bài phỏng vấn

Nguyễn Ngọc Tư: Sợ nhất là sự vô cảm Trong tác phẩm của mình, chị ít viết

về cái ác, cái ác không phải là đề tài hấp dẫn đối với chị Điều này NguyễnNgọc Tư đã nói rất rõ: “ Cái ác, sự tàn nhẫn, thói vô tâm luôn làm tôi ghê sợ,hấp dẫn cái nỗi gì chớ? Tôi đã động tới cái ác vì có nó thì cái thiện, sự yêuthương, sự yếu ớt mong manh của những tình cảm tốt đẹp mới nổi lên được,

để cho người ta nhìn thấy rõ hơn” Xây dựng nhân vật Út Vũ trong Cánh đồngbất tận, Nguyễn Ngọc Tư cũng chỉ muốn phản tỉnh con người biết vượt qualòng hận thù, đừng để hận thù che mất yêu thương

Một điểm nữa cũng rất đáng chú ý trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Ngọc Tư đó là quan niệm về nỗi đau, về niềm hạnh phúc của con người Qua bi kịch về đời sống, Nguyễn Ngọc Tư luôn đặt ra vấn đề thế nào là nỗi đau, thế nào là niềm hạnh phúc.

Về nỗi đau, người ta có thể đau vì nhiều lí do: thiếu thốn vật chất(nghèo đói), tình yêu tan vỡ, gia đình li tán Nỗi đau đó do chính mình gây rahoặc do người khác mang lại Trong nỗi đau đó thì nỗi đau về tinh thần là nỗiđau đớn nhất Chính nỗi đau này sinh ra lòng hận thù Trong truyện ngắn củamình chị chủ yếu nói về nỗi đau tinh thần Đó là nỗi cô đơn trong đồng loại

và nỗi đau vật lộn làm người Mặt khác nói về nỗi đau, Nguyễn Ngọc Tư chịuảnh hưởng của triết lí nhân quả của Phật giáo Chị quan niệm: “Nhân quảkhông phải là cái gì do Trời giáng xuống, mà do chính lòng người Những nỗiđau bắt nguồn từ lòng thù hận của con người Tư nghĩ con người nên mở lòng

ra và sống nhân ái với nhau” Theo chị, nỗi đau con người là do họ nuôidưỡng lòng hận thù, ghen ghét Vì vậy, lương tâm luôn cắn rứt, không thanh

Ngày đăng: 31/07/2016, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote (2007), Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
2. Tâm An (2008), Nguyễn Ngọc Tư của những cơn gió lẻ, http://tuanvietnam.net, ngày 26/09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư của những cơn gió lẻ,"http://tuanvietnam.net
Tác giả: Tâm An
Năm: 2008
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1999
4. Nguyễn Minh Châu (1994), Trang giấy trước đèn, NXB KHXH, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1994
5. Nguyễn Minh Châu (1987), Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh hoạ, Báo văn nghệ số 49,50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn vănhọc minh hoạ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
6. Cao Thoại Châu (2008), Đọc “Gió lẻ...” Nguyễn Ngọc Tư: Cảnh báo về sự dối trá.http://www.vanchuongviet.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc “Gió lẻ...” Nguyễn Ngọc Tư: Cảnh báo về sựdối trá
Tác giả: Cao Thoại Châu
Năm: 2008
7. Lê Chí (2006),Phải có dũng khí và lòng bao dung, Báo tuổi trẻ, ngày 12/04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải có dũng khí và lòng bao dung
Tác giả: Lê Chí
Năm: 2006
8. Phan Qúy Bích (2006), “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”, Văn nghệ trẻ, số 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”
Tác giả: Phan Qúy Bích
Năm: 2006
9. Nguyễn Thị Bích (2009), Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn NguyễnNgọc Tư
Tác giả: Nguyễn Thị Bích
Năm: 2009
10. Nguyễn Trọng Bình, Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, http://www.viet-studies.info/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
11. Nguyễn Trọng Bình, Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, http://www.viet-studies.info/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của NguyễnNgọc Tư
12. NguyễnTrọng Bình, Phong cách truyện ngắn NNT nhìn từ - phương diện quan niệm nghệ thuật về con người, http://www.viet-studies.info/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn NNT nhìn từ - phương diệnquan niệm nghệ thuật về con người
13. Võ Đắc Danh, Tôi như đẽo cày giữa đường, Bài phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư, http://www.viet-studies.info/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi như đẽo cày giữa đường
14. Trần Hữu Dũng (2004), Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam, Báo Cần Thơ, ngày 25/01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2004
15. Trần Thị Dung, Nghệ thuât xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện Cánh đồng bất tận, Khoa văn, Đại học Sư phạm Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuât xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư quatập truyện Cánh đồng bất tận
16. Lam Điền (2005), Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Đánh “ùm” một tiếng mà thôi. Báo Tuổi trẻ, 04/12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Đánh “ùm” một tiếng màthôi
Tác giả: Lam Điền
Năm: 2005
17. Phong Điệp (2005), Nguyễn Ngọc Tư: Tôi viết trong im lặng, Báo Văn nghệ trẻ, số 45, ngày 08/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư: Tôi viết trong im lặng
Tác giả: Phong Điệp
Năm: 2005
18. Trần Phong Điểu (2006), Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Tạp chí Văn nghệ quân đội, ngày 14/06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn NguyễnNgọc Tư
Tác giả: Trần Phong Điểu
Năm: 2006
19. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
20. Nhiều tác giả (1997), Giáo trình lí lụân văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí lụân văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w