năm qua kết quả sản xuất, kinh doanh Lụa tơ tằm của họ đã có sự khởi sắc rấtrõ nét nh: sản phẩm của làng đã nhận đợc nhiều giải cao về hàng chất lợngcao, mẫu mã đẹp ở trong và ngoài nớc;
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU1.1.Tính cấp thiết của đề tài.
Thực trạng d thừa lao động và thiếu việc làm ở nông thôn đang là mộttrong những lực cản chính trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, phát triển giáodục, nâng cao dân trí và là nguyên nhân sâu xa phát sinh các vấn đề tiêu cực
Để giải quyết vấn đề này một nội dung quan trọng phải nói đến đó là khôiphục, phát triển làng nghề truyền thống Bởi vì, khôi phục và phát triển ngànhnghề truyền thống sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm, thu hút lao động d thừatrong nông nghiệp, trên địa bàn nông thôn, tránh đợc luồng di c ồ ạt từ nôngthôn vào thành phố, góp phần thực hiện chiến lợc kinh tế mở, đẩy mạnh sảnxuất hàng xuất khẩu, tránh xa các tệ nạn xã hội
Nhìn vào thực trạng phát triển ngành nghề hiện nay của nớc ta, chúng ta
có thể thấy có một số ngành nghề đã rất phát triển, đem lại thu nhập cao chongời lao động (chủ yếu là những ngời nông dân) nhng bên cạnh đó cũngkhông ít những ngành nghề đã dần bị mai một Giải pháp cho vấn đề này, đó
là chúng ta phải xây dựng một số làng nghề mới và phát triển làng nghềtruyền thống, đặc biệt là phải chú trọng tới các làng nghề truyền thống Vìnhững làng nghề truyền thống này đã có đầy đủ những điều kiện để phát triển
nh tay nghề lao động cao, có kinh nghiệm lâu năm truyền từ đời nay sang đờikhác, đã có những công nghệ cơ bản cho sản xuất…Mà những làng nghề mớiMà những làng nghề mớikhông có đợc, có chăng cũng chỉ rất ít
Mặt khác, khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của ngời dânngày càng khấm khá thì nhu cầu sống của ngời dân không chỉ là ăn đủ mặc
đủ, mà "ăn ngon mặc đẹp" đã trở thành nếp sống mới Để đáp ứng nhu cầungày càng cao này, thì đòi hỏi các loại hình sản xuất kinh doanh phải nhanhnhạy nắm bắt, thích nghi thì mới có thể tồn tại đợc Đây vừa là điều kiệnthuận lợi vừa là điều kiện khó khăn đối với tất cả các loại hình sản xuất kinhdoanh, đặc biệt là các làng nghề truyền thống Do các làng nghề truyền thốngnày sản xuất chủ yếu các sản phẩm mang tính cổ truyền ít mang tính hiện đại,cho nên thờng không phù hợp với thị hiếu ngời tiêu dùng, nếu các sản phẩmnày đợc các nghệ nhân tạo ra là sản phẩm kết hợp giữa tính truyền thống vàhiện đại thì lại đợc rất nhiều ngời a chuộng Nắm bắt quy luật phát triển này,biết dựa trên những tiềm năng sẵn có từ lâu, cùng với sự chỉ đạo của các cấpmột cách kịp thời, làng nghề truyền thống Vạn Phúc- Hà Đông trong những
Trang 2năm qua kết quả sản xuất, kinh doanh Lụa tơ tằm của họ đã có sự khởi sắc rất
rõ nét nh: sản phẩm của làng đã nhận đợc nhiều giải cao về hàng chất lợngcao, mẫu mã đẹp ở trong và ngoài nớc; khối lợng xuất khẩu Lụa tơ tằm ngàycàng tăng: năm 1990 đạt 220 ngàn mét, năm 1992 đạt 280 ngàn mét, năm
1998 đã đa lên 600-650 ngàn mét nhng vẫn cha đủ đáp ứng nhu cầu của thị ờng nhng bên cạnh những cái đạt đợc, làng còn có một số vấn đề cần khắcphục nh lợng nớc thải ra trong quá trình sản xuất cha đợc xử lý kịp thời, làng
tr-có thị trờng tiềm năng lớn cha phát huy hết Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải làmgì để khai thác hết tiềm năng dồi dào của làng nghề truyền thống Lụa tơ tằmnơi đây, để có thể tồn tại và có thể cạnh tranh với các sản phẩm tơng tự trongnớc và nớc ngoài? Nhằm giải quyết một cách tốt nhất vấn đề thiếu công ănviệc làm của ngời lao động trong làng, tăng thêm thu nhập cho hộ gia đìnhtrong làng, bên cạnh đó có khoản đầu t thích đáng cho xử lý nớc thải
Trớc thực tế đặt ra đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề truyền thống Lụa tơ tằm Vạn Phúc - Hà Đông"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1 Mục tiêu chung.
Qua nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn tìm hiểu thực trạng pháttriển làng nghề truyền thống Lụa tơ tằm Vạn Phúc, từ đó thấy đợc những vấn
đề còn hạn chế, nguyên nhân của vấn đề đó và tìm ra những giải pháp Cụ thể:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận làng nghề truyền thống, vị trí, vai trò củalàng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế xã hội của làng
- Tìm hiểu thực trạng phát triển làng nghề truyền thống Lụa tơ tằm VạnPhúc trong những năm gần đây và những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục,nguyên nhân của vấn đề đó
- Bớc đầu đa ra những phơng hớng giải pháp nhằm phát triển mạnh mẽhơn nữa làng nghề làng nghề truyền thống Lụa tơ tằm Vạn Phúc
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.
Từ những mục tiêu chung trên, khi tìm hiểu thực trạng và giải pháp pháttriển làng nghề chúng tôi hy vọng rằng sẽ đa ra những giải pháp nhằm gópphần:
+ Tăng thu nhập cho các loại hình sản xuất
Trang 3+ Tăng khối lợng công việc, giải quyết tốt nhất nhu cầu lao động củanhững ngời lao dộng.
+ Tăng đầu t cho việc xử lý nớc thải do sản xuất thải ra
+ Tạo cho nơi đây không chỉ là trung tâm buôn bán các sản phẩm Lụa tơtằm mà còn là nơi thu hút đợc nhiều khách thăm quan, tạo ra nguồn thu mới,góp phần phát triển kinh tế của làng…Mà những làng nghề mới
1.3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tợng nghiên cứu.
Các hình thức tổ chức sản xuất Lụa tơ tằm của làng Vạn Phúc - Hà Đông
Trang 4II Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
2.1.1.2 Khái niệm ngành nghề truyền thống.
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế nớc ta (có tuổi đời trên 100năm), còn tồn tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phơng pháp sảnxuất đợc cải tiến hoặc sử dụng máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất, nhngvẫn tuân thủ công nghệ truyền thống Vì thế, những ngành nghề đợc gọi làngành nghề thủ công truyền thống thờng phải có yếu tố sau:
- Đã hình thành, tồn tại và phát triển từ lâu đời ở nớc ta (có tuổi đời trên
100 năm)
- Sản xuất tập trung tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo
- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt
- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nớc là chủ yếu
- Sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị
và chất lợng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, thậmchí trở thành các di sản văn hoá Việt Nam
Trang 5- Là nghề nghiệp nuôi sống bộ phận dân của cộng đồng, đóng góp đáng
kể vào ngân sách của Nhà nớc (2)
2.1.1.3 Khái niệm làng nghề truyền thống.
Làng nghề truyền thống là làng có chứa đựng cả hai khái niệm trên, đó lànhững thôn (làng) có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống đợc tách rakhỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếmphần chủ yếu (trên 50%) trong năm Những nghề thủ công đó đợc truyền từ
đời này qua đời khác (có tuổi đời trên 100 năm) và các nghề này hết sức tinhxảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp(bằng 1/3 tổng số hộ hay lao động cùng làm một nghề truyền thống) đãchuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằngnghề đó Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ, đợc nhiều ngời biết đến và đã trởthành hàng hoá trên thị trờng Cụ thể là:
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, đợc truyền từ thế hệ này đếnthế hệ khác (có tuổi đời trên 100 năm)
- Số hộ và số lao động làm một nghề truyền thống ở làng nghề đạt trên1/3 so với tổng số hộ và lao động của làng trở lên
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hoá và bảnsắc dân tộc Việt Nam và đợc nhiều ngời biết đến
2.1.1.4 Khái niệm phát triển làng nghề truyền thống.
* Khái niệm phát triển
Phát triển có thể hiểu là một quá trình tăng lên cả về lợng lẫn về chấttrong một thời kỳ nhất định, hay chính là bao gồm cả sự tăng lên về quy mô,sản lợng và sự tiến bộ về cả cơ cấu kinh tế xã hội (3)
Với sự phát triển làng nghề truyền thống thì đợc hiểu là sự tăng lên vềquy mô của các loại hình tham gia sản xuất ngành nghề truyền thống, sự tănglên về số lợng các cơ sở sản xuất, các hộ sản xuất nghề, đồng thời là sự tănglên về giá trị sản lợng, về thu nhập của ngời lao động, sự tăng lên về thu nhậpcủa địa phơng cũng nh sự tăng lên tổng thu nhập của các cơ sở và hộ sản xuấtngành nghề truyền thống Hay cũng chính là sự thay đổi về GDP của địa ph-
Trang 6ơng theo hớng tiến bộ là tăng dần tỷ trọng CN và DV, và cũng đợc biểu hiệnthông qua sự tăng trởng kinh tế của địa phơng
2.1.2 Đặc điểm chung về làng nghề truyền thống.
Làng nghề truyền thống ở nớc ta có lịch sử lâu đời, phát triển đa dạng vàphong phú và thể hiện ở đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, làng nghề truyền thống phát triển đa dang về quy mô, cơ cấungành nghề và gắn chặt với sản xuất nông nghiệp
- Về cơ cấu, đã có sự thay đổi thích ứng với cơ chế thị trờng Khi nềnkinh tế phát triển, thì nhu cầu tiêu dùng một số sản phẩm của một số nghề thủcông cũng có sự thay đổi nhất định, điển hình là mẫu mã sản xuất, những mẫumã mang đậm nét truyền thống không thể tồn tại đợc, thay vào đó là nhữngmẫu mã vừa mang nét truyền thống nhng cũng mang những nét của hiện đạiChính vì thế, cơ cấu ngành nghề đã có sự thay đổi, những ngành nghề sản
…Mà những làng nghề mới
xuất ra sản phẩm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng thì có xu hớng phát triển, nhữngngành nghề không theo kịp thị dần bị mai một Cho nên, cơ cấu ngành nghề
đã có thay đổi thích ứng với cơ chế thị trờng
- Về quy mô, đại bộ phận các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghềtruyền thống có quy mô nhỏ, các hình thức tổ chức của các đơn vị sản xuấtcũng mang đậm sắc thái nông nghiệp, nông thôn nh các hộ, tổ hợp tác, hợp tácxã ngày nay, thì đã có xuất hiện các hình thức tổ chức mới nh công ty, cácdoang nghiệp…Mà những làng nghề mớiDo nhu cầu thị trờng đã xuất hiện những ngành nghề mới nhchế biến nông sản, thực phẩm…Mà những làng nghề mới
- Về trình độ kĩ thuật công nghệ đã có sự đan xen giữa yếu tố truyềnthống và yếu tố hiện đại trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế lao động củamỗi địa phơng, đồng thời kết hợp tay nghề cao với công cụ cơ giới hoá, hiện
đại hoá và áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất
Thứ hai, sản phẩm của các làng nghề truyền thống mang đậm tính đơnchiếc, có tính mỹ thuật cao và mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật Vìvậy, quá trình sản xuất tuân theo những công nghệ truyền thống và thờng nhạybén với thị trờng trong việc đổi mới mẫu mã, chất lợng và có điều kiện linhhoạt thay đổi hớng sản xuất Nhơ bám sát thị trờng, am hiểu thị hiếu nên cácmặt hàng của làng nghề truyền thống đợc cải tiến nhanh chóng và đáp ứng đợcnhu cầu tiêu dùng Đây là nét nổi trội mang tính cách tân của làng nghề truyềnthống
Trang 7Thứ ba, làng nghề truyền thống có khả năng giải quyết tốt việc làm chongời lao động, lao động trong làng nghề thờng có trình độ kỹ thuật cao, taynghề tinh xảo, khéo léo, có đầu óc thẩm mỹ và đầy tính sáng tạo Nhất lànhững làng nghề lâu đời nh Gốm sứ Bát Tràng, nghề trạm khảm trai Chuyên
Thứ t , về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề truyềnthống theo các giai đoạn khác nhau
Trong thời kì tập chung quan liêu bao cấp, làng nghề truyền thống thờng
đợc gọi là "Đội nghành nghề" của hợp tác xã, nơi có đông ngời thì thành lậpHTX
Từ khi bớc vào cơ chế mới, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi đa dạnghoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, thì quy mô sản xuất trở về vớimô hình truyền thống là hộ gia đình, bên cạnh sự xuất hiện các doanh nghiệp
t nhân, công ty cổ phần…Mà những làng nghề mớiCòn ngày nay, trong quá trình đi lên sản xuất cơ giớihoá, kế thừa và phát huy kinh nghiệm chuyển lên trình độ HTX tiểu thủ côngnghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh trong làng nghề vẫn tiếp tục đẩy mạnh,
đẩy nhanh trang thiết bị cơ sở vật chất cho sản xuất nh dệt lụa Vạn Phúc (HàTây)
Thứ năm, làng nghề truyền thống là một sự kết tinh giá trị văn hóa, vănminh lâu đời của dân tộc Đặc điểm này đợc thể hiện trong các sản phẩm củacác làng nghề truyền thống, những sản phẩm mang đậm nét văn hoá dân tộc
nh trống đồng Ngọc Lũ, những nét văn hoa trên những bộ áo dài duyên dángcủa ngời con gái Việt Nam…Mà những làng nghề mới
2.1.3 Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển làng nghề truyền thống.
Thứ nhất, làng nghề truyền thống đã tạo ra một khối lợng hàng hoá đadạng phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu
Phát triển làng nghề truyền thống là giải pháp hết sức quan trọng nhằmphát huy tối đa nguồn nhân lực sẵn có ở nông thôn nh: tài nguyên thiên nhiên,
Trang 8nguồn nhiên liệu, phế phẩm của nông nghiệp đợc huy động vào quá trình sảnxuất kinh doanh, cũng nh khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong nhân dân, cơ
sở vật chất kỹ thụât và những kỹ năng, kỹ xảo của ngời lao động Trên cơ sở
đó, đẩy mạnh sản xuất nhằm tạo ra ngày càng nhiều hàng hoá có chất lợng tốt,phục vụ đắc lực cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Tuy khối lợng hàng hoá
do làng nghề truyền thống làm ra còn nhỏ bé, nhng nó đã góp phần đáng kểvào việc thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở nông thôn phát triển
Hiện nay, sản xuất của làng nghề truyền thống phát triển theo hớngchuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm đã làm cho các làng nghề năng độnghơn Trong khi cha có điều kiện để phát triển kinh tế trang trại thì việc làngnghề truyền thống đẩy mạnh sản xuất những mặt hàng may mặc, gốm sứ, đồ
gỗ mỹ nghệ,…Mà những làng nghề mớiphục vụ tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu là rất quan trọng.Vàquan trọng hơn cả là thời gian qua ở làng nghề truyền thống đã có hàng trăm
hộ nông dân chuyển sang phát triển ngành nghề truyền thống hoặc vừa sảnxuất nông nghiệp, vừa sản xuất làm ngành nghề Vì thế, đã tăng cờng cơ sởvật chất cho kinh tế nông thôn
Thứ hai, phát triển làng nghề truyền thống là biện pháp hữu hiệu giảiquyết việc làm cho ngời lao động ở nông thôn
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nớc đã có nhiều biện pháp để giảiquyết việc làm cho ngời lao động ở nông thôn nh: đa dân đi xây dựng vùngkinh tế mới, thâm canh tăng vụ…Mà những làng nghề mới Những biện pháp này ít nhiều đã có tác
động tích cực giải quyết một phần công ăn viẹc làm cho ngời lao động ở nôngthôn Song sản xuất nông nghiệp, bản thân nó không thể có khả năng giảiquyết số lao động ở nông thôn Cho nên, trong điều kiện đất đai canh tác ít,nguồn vốn hạn hẹp, lao động d thừa, việc tìm ra biện pháp hữu hiệu để giảiquyết việc làm cho ngời lao động là đòi hỏi hết sức cấp bách có ý nghĩa cấpbách có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn hiện nay
Sự phát triển của làng nghề truyền thống ở nông thôn đã không chỉ thuhút klao động ở gia đình, làng xã mình mà còn thu hút lao động từ các địa ph-
ơng khác đến làm thuê Chính vì thế, sự phát triển làng nghề truyền thống đợccoi là biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho ngời lao động ở nôngthôn
Thứ ba, phát triển làng nghề truyền thống góp phần gia tăng thu nhập, cảithiện đời sống dân c ở nông thôn và tăng tích luỹ
Trang 9Qua thực tế có thể cho thấy, không ít làng nghề truyền thống còn tồn tại
đến ngày nay có nền kinh tế khá phát triển, thu nhập bình quân đầu ngời tronglàng khoảng trên 400 nghìn đồng/ 1tháng nh làng gốm sứ bát tràng là 570.000
đồng, nh làng lụa tơ tằm Vạn Phúc xấp xỉ 70% hộ khá giầu…Mà những làng nghề mớiKết quả nàymột phần cho thấy, làng nghề truyền thống đã đem lại thu nhập cao cho nguờinông dân hơn là việc chỉ đơn thuần làm nông nghiệp Do:
Thứ nhất, làng nghề thủ công truyền thống thờng đa số sản xuất thủcông, chính vì thế, họ có thể tranh thủ vừa làm công việc chính nh sản xuấtnông nghiệp vừa có thể tham gia sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thốngcủa làng mình, có thêm thu nhập, cải thiện đời sống
Thứ hai, làng nghề thủ công truyền thống phát huy đợc những kinhnghiêm quý đã đợc đúc kết từ lâu của cha ông, lại tận dụng đợc các trang thiết
có sẵn từ các thế hệ trớc, thì tại sao chúng ta lại không sản xuất để lắm cácthuận lợi này trong khi làm các nghề khác đối với làng này không có? Chínhvì thế, làng nghề thủ công truyền thống là việc phát huy các thế mạnh sẵn có
để tăng thu nhập cho ngời dân, giải quyết đợc nhiều việc làm cho ngời ở độtuổi lao động trong độ tuổi lao động trong làng Từ đó có khả năng tăng tíchluỹ, đầu t lớn mở rộng sản xuất
Thứ ba, phát triển làng nghề truyền thống, đa làng nghề trở thành làngvăn hoá Qua đó, chúng ta có chúng ta có thể khai thác phát triển thành điểm
du lịch văn hoá cho khách thập phơng và nớc ngoài, không chỉ khuyến khíchviệc tiêu thụ các sản phẩm, mà còn khuyến khích các ngành nghề khác pháttriển nh dịch vụ …Mà những làng nghề mớiTừ đó, có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn, tạo điềukiện tăng thu nhập cho các hộ trong làng, khả năng tích luỹ cao
Thứ t , phát triển làng nghề truyền thống sẽ chuẩn bị đội ngũ lao động cókhả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn đã tác
động rất lớn đến sự phát triển làng nghề truyền thống Đây là nhân tố thúc đẩyviệc huy động các nguồn lực trong nhân dân để đa vào sản xuất kinh doanhlàm cho nền kinh tế ở nông thôn tăng trởng mạnh mẽ, tạo điều kiện để pháthuy cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ đời sống dân c nông thôn
Khi làng nghề truyền thống ở nông thôn phát triển mạnh, nó sẽ tạo ramột đội ngũ lao động có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới Chính thông qualực lợng này để tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến áp dụng
Trang 10vào sản xuất, làm cho sản phẩm có chất lợng cao, giá thành giảm, khả năngcạnh tranh trên thị trờng lớn Khi làng nghề truyền thống phát triển mạnh mẽ,thì cơ sở vật chất kỹ thuật đợc tăng cờng và hiện đại, chính là tạo điều kiệnthuận lợi cho đội ngũ lao động thích ứng với tác phong công nghiệp, nâng caotính tổ chức, tính kỷ luật Qua đó, trình độ ngời lao động ngày càng nâng cao,lại là cơ sở thuận lợi đa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào lĩnh vựcsản xuất và hoạt động dịch vụ trong làng nghề.
Thứ năm, phát triển làng nghề truyền thống tạo điều kiện phân bố lại và
sử dụng hợp lý lao động Bởi, phát triển làng nghề truyền thống tạo cho ngờilao động có thu nhập cao hơn Từ đó sẽ thu hút lao động chuyển sang làm cácngành nghề thủ công truyền thống hoặc làm các nghề có liên quan khác nh th-
ơng mại, dịch vụ…Mà những làng nghề mớiKhi đó, lao động nông nghiệp sẽ giảm và lao động trongcác ngành phi nông nghiệp sẽ tăng, tạo điều ra động lực cho quá trình phâncông lại lao động theo hớng CNH- HĐH Qua đó, phát triển làng nghề truyềnthống cũng góp phần chuyển dịch lao cơ cấu động và cơ cấu kinh tế NNNTtheo hớng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp tăng dần tỷ trọng Công Nghiệp vàDịch Vụ
Thứ sáu, phát triển làng nghề truyền thống góp phần gìn giữ bản sắc vănhoá dân tộc
Chính các sản phẩm làng nghề truyền thống làm ra là sự kết tinh, sự giao
lu và phát triển các giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc Cho nên,
ng-ời nớc ngoài biết đến Việt Nam cũng chính thông qua các mặt hàng thủ côngtruyền thống Các sản phẩm đó mang lại những nét đặc sắc riêng biệt nhngcũng mang lại những nét tơng đồng với các dân tộc khác trên thế giới Trongquá trình công nghiệp hoá ý thức bảo tồn nghề thủ công truyền thống không
đợc coi trọng nữa, thì những nét văn hoá độc đáo đó sẽ bị mai một Cho nên,việc duy trì ngành nghề truyền thống, bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc là rấtcần thiết vì: các sản phẩm thủ công truyền thống có giá trị trờng tồn đặc biệt,
nó mang trong mình bản sắc văn hoá dân tộc mà các dân tộc khác không có
đ-ợc Mặt khác, các sản phẩm thủ công truyền thống là bức thông điệp bền vữngcủa dân tộc đợc lu truyền cho thế hệ sau
2.1.4 Quy trình công nghệ dệt.
Dệt lụa bao gồm nhiều bớc, cũng gọi các công đoạng hay các khâu côngviệc:
Trang 11Quay tơ ra mắt, ra mành,Mắt thì mắc dọc, màng thì dệt ngang.
Mốt soi thì đẹt đầu hàng,Mốt cục thì đánh go ngang cho bền
Sau đó, sợi tơ phải đem hồ Việc hồ sợi chỉ thực hiện đối với sợi dọc Kỹthuật hồ sợi đòi hỏi rất cao Cả tỉnh Hà Tây, xa và nay cha làng dệt nào hồ sợigiỏi bằng làng Vạn Phúc ở đây ngời ta pha thêm sáp ong vào hồ để hồ sợi,
đồng thời sử dụng bí quyết gia truyền làm cho sợi hò vừa dẻo dai, vừa bóng.Nhng do nhu cầu của thị hiếu ngời tiêu dùng trong những năm qua, họ thíchcác sản phẩm lụa tơ tằm nhng lại muốn sản phẩm ở giá rẻ, không nhăn, bóngsợi…Mà những làng nghề mới thì nh Vạn Phúc lại bỏ qua khâu hồ sợi này, chỉ có một số nhà sản xuấtcác sản phẩm lụa cao cấp Vì chi phí cho khâu này khá cao, không thể tự các
hộ gia đình có thể làm nếu nh không có kinh nghiệm lâu năm
Tiếp theo ngời ta lấy các sản phẩm đã qua hai khâu trên về để dệt
Trớc kia, khung cửi dệt cổ truyền, ngời ta chỉ có thể dệt một trong hailoại,dệt hoa và dệt trơn Nhng ngày nay, thì việc dệt hoa hay dệt trơn chỉ cầnthay đổi một số chi tiết trong máy thì có thể dệt đợc lụa mà ngời sản xuấtmong muốn Cũng khác với các máy cổ truyền, thì máy cải tiến ngày nay cóthể dệt lụa hoa với một ngời một máy, khong nh ngày trớc hai ngời một máy,một ngời dệt còn một ngời cài hoa (kéo hoa)
Dệt xong, chúng ta mới chỉ đợc tấm lĩnh mộc, cho nên chúng ta tiếp tụcchuội trắng, nhuộm màu Lúc này chúng ta mới có một tấm vải lụa mềm mại,bóng mịn, nhiều màu nh chúng ta mong muốn Nhng chúng ta chú y đối vớikhâu cuối cùng này, không phải loại lụa nào cũng ăn màu, không loại màu
Trang 12nhuộm nào cũng có thể nhuộm Vì thế, các hộ gia đình kiêm khâu này đều lànhững gia đình có kinh nghiệm rất lâu năm, có con mắt rất tinh đời.
đa dạng Nhng trớc những thay đổi của thế giới, đại đa số các sản phẩm củachúng ta cha đáp ứng đợc với nhu cầu đó, trong khi một số nớc, các sản phẩmthủ công truyền thống của họ lại ngày càng phát triển (họ cũng có điều kiện
về tự nhiên, về vị trí địa lý) Chính vì thế, việc tìm hiểu thực trạng phát triểncác làng nghề truyền thống có cùng nhiều điều kiện nh nớc ta là hết sức cầnthiết Vì, một mặt chúng ta học hỏi đợc nhiều kinh nghiệm trong sản xuất,một mặt rút ra đợc những khó khăn trớc mắt để kịp thời sửa chữa và da ra đợcnhững giải pháp tối u nhất Cụ thể nh sau:
2.2.1.1 Phát triển làng nghề truyền thống ở Nhật Bản.
Nhật Bản là một nớc giàu truyền thống và là một nớc có cùng dòng máu
da vàng nh chúng ta Tuy công nghiệp hoá diễn ra nhanh và mạnh song làngnghề vẫn tồn tại, các nghề thủ công truyền thống vẫn phát triển Họ khôngnhững duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền mà còn mở ra một sốnghề mới Đồng thời Nhật Bản rất chú trọng đến việc hình thành các xí nghiệpvừa và nhỏ ở thị trấn, thị tứ làm vệ tinh cho các xí nghiệp lớn ở đô thị
Ngành nghề tiểu thủ công truyền thống của họ bao gồm: Chế biến lơngthực, thực phẩm, đan nát, dệt chiếu, dệt lụa…Mà những làng nghề mớiĐầu thế kỷ XX, Nhật Bản có
867 nghề thủ công truyền thống vẫn còn hoạt động Năm 1992 đã có 2640 lợtngời của 62 nớc trong đó có Trung Quốc, Anh, Pháp…Mà những làng nghề mới tới thăm các làng nghềtruyền thống của Nhật Trong đó đáng chú ý, vào những năm 70 ở tỉnh Ôita( miền Tây nam Nhật Bản )đã có phong trào” mỗi thôn làng một sản phẩm “nhằm phát triển làng nghề cổ truyền trong nông thôn, do đích thân ông tỉnh tr-ởng phát động và tổ chức Kết quả cho thấy, ngay những năm đầu tiên họ đãsản xuất đợc 143 loại sản phẩm, thu đợc 1,2 tỷ USD trong đó 114 triệu USDthu từ bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Phong trào” mỗi thôn làng mộtsản phẩm “ đã nhanh chóng lan rộng khắp nớc Nhật
Trang 13Đi đôi với với việc phát triển ngành nghề cổ truyền, Nhật Bản còn nghiêncứu các chủ trơng chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập nhiều văn phòng
cố vấn khác Nhờ đó các hoạt động phi nông nghiệp đợc phát triển mạnh mẽ;thu nhập ngoài nông nghiệp chiếm 85% tổng thu nhập của hộ Năm 1993nghề thủ công và làng nghề đã đạt giá trị sản lợng tới 8,1 tỷ USD
2.2.1.2 Phát triển làng nghề truyền thống ở Trung Quốc.
Trung Quốc là một nớc liền kề với chúng ta, cũng có nghề thủ côngtruyền thống nổi tiếng nh đồ gốm sứ, dệt vải, dệt tơ lụa, nghề giấy…Mà những làng nghề mớiĐầu thế
kỷ XX, Trung Quốc có khoảng 10 triệu thợ thủ công, làm việc trong các hộgia đình, trong phờng nghề và làng nghề Đến 1954 số ngời làm nghề tiểu thủcông nghiệp đợc tổ chức vào HTX Sau này pháp triển thành xí nghiệp HơngTrấn va cho đến nay vẫn còn tồn tại ở một số địa phơng
Xí nghiệp Hơng Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, thơng, xâydựng,…Mà những làng nghề mới hoạt động ở khu vực nông thôn Nó bắt đầu xuất hiện vào năm 1978khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa Xí nghiệp Hơng Trấn phát triểnmạnh mẽ đã góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn Nhữngnăm 80, các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triển nhanh, đóng góp tích cựctrong việc tạo ra 60% giá trị sản lợng công nghiệp nông thôn và trong số 32%sản lợng công nghiệp nông thôn do các xí nghiệp cá thể tạo ra có phần đónggóp đáng kể từ làng nghề
2.2.1.3 Phát triển làng nghề truyền thống ở philippin.
Philippin là một nớc thuộc vùng Đông Nam á nh chúng ta, ngay từ đầuchính phủ của họ đã quan tâm đến công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôntrên cơ sở phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nôngthôn Từ những năm 1978-1982, Chính phủ đã đề ra chơng trình và dự án pháttriển công nghiệp nông thôn, mà trớc hết tập trung vào ngành nghề tiểu thủcông nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đơn giản, chế biến thực phẩm và chế tạocông nghiệp Chơng trình của Chính phủ chủ yếu tập trung giúp tiểu thủ côngnghiệp về tài chính, công nghệ và tiếp thị Cụ thể là miễn thuế cho các xínghiệp có quy mô dới 20 lao động và u tiên vốn tín dụng với lãi suất thấp cho
xí nghiệp nhỏ để hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật công nghệ và thông tin thị trờnggiá cả Đến năm 1993 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm rất lớn nh sản phẩm nớcdừa tinh khiết NATA đạt đợc 14 triệu USD trong đó 85% xuất khẩu sang NhậtBản
Trang 142.2.2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam.
Cũng nh cũng nớc khác trên thế giới, trải qua các giai đoạn, ngành nghềtruyền thống của chúng ta cũng có những bớc thăng trầm khác nhau Để cónhững bớc phát triển tiếp theo, chúng ta không thể làm theo những nớc pháttriển đi trớc mặc dù có một số đặc điểm giống chúng ta, mà chúng ta phảinhìn vào cả thực tế của nớc ta đã và đang tồn tại
2.2.2.1 Sơ lợc quá trình phát triển sản xuất trong các làng nghề truyền thống
ở nớc ta trớc cách mạng tháng 8-1945.
Thời kỳ này, ngành nghề truyền thống tơng đối phát triển, ngoài một sốngành nghề cũ trớc kia, đã xuất hiện thêm một số ngành nghề mới nhằm đápứng nhu cầu xã hội và tiêu dùng lúc bấy giờ Sản phẩm của các làng nghề ở n-
ớc ta không những chỉ dợc tiêu dùng trong nớc mà còn đợc đa sang Pháp vàmột số nớc trên thế giới nh Anh …Mà những làng nghề mới
Từ những năm 1930, Thực dân Pháp đã chú trọng đầu t phát triển sảnxuất trong các làng nghề, nhằm khai thác vơ vét của nớc ta và ngăn cản sự didân ra thành phố làm công nghiệp và cách mạng vô sản
Giai đoạn 1935-1945, Thực dân Pháp đã đa ra một số chính sách đầu t
đào tạo thợ học nghề, quảng cáo sản phẩm, ban cấp phẩm, tặng bội tinh caoquý cho những thợ có tay nghề giỏi, tiêu thụ sản phẩm cho ngời sản xuất Vớibiện pháp nh vậy, thời kỳ này các ngành nghề truyền thống phát triển mạnh
mẽ
Theo tài liệu của học giả Pháp, năm 1935 ở nớc ta đã có tới 108 nghề thủcông khác nhau, đến năm 1943 các nghề thủ công nghiệp ở các địa phơng đãthu hút 277.400 thợ vào làm việc và giá trị sản lợng tiểu thủ công nghiệp đạttới 45 triệu đồng (tiền đông Dơng)
2.2.2.2 Thời kỳ trớc đổi mới (1986).
* Sự biến dộng ngành nghề trong các làng nghề truyền thống
Trớc ngày miền Bắc nớc ta đợc giải phóng, quan hệ sản xuất trong nghềtruyền thống là quan hệ sản xuất tiểu chủ Từ năm 1957, chúng ta tiến hànhcải tạo công thơng nghiệp t bản t doanh, xây dựng quan hệ sản xuất mới,chúng ta bắt đầu đẩy mạnh xây dựng các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp,nông lâm trờng…Mà những làng nghề mớiđồng thời cũng xây dựng các xí nghiệp, thành lập các HTX
Trang 15và tổ hợp làm nghề truyền thông mà trớc hết ở địa phơng (làng, xã) có nghềthủ công truyền thống phát triển.
Khi công nghiệp cha đợc phát triển thì phần lớn các loại sản phẩm tiêudùng trong dân chủ yếu là sản phẩm của nghề thủ công Sự phát triển của hàngloạt các xí nghiệp công nghiệp nhỏ nh: Dệt, nhuộm, mía đờng…Mà những làng nghề mớiđã làm chonhiều nghề chuyên sản xuất các mặt hàng đó không cạnh tranh nổi, do vậynhiều làng nghề không thể phát triển đợc, thợ thủ công trong các làng nghềphải chuyển sang làm nông nghịêp và những nghề khác Sự phát triển củacông nghiệp đã tác động vào một số nghề làm cho quá trình sản xuất của cáclàng nghề truyền thống đợc cải tiến, góp phần nâng cao năng suất lao động vàchất lợng sản phẩm nhng vẫn giữ đợc công nghệ thủ công truyền thống Dovậy, một số nghề không những không bị mất đi mà còn phát triển tốt (gốm sứ,trạm khắc gỗ, sơn mài…Mà những làng nghề mới)
Một số nghề do nhu cầu, thị hiếu của xã hội thay đổi, ít đợc a chuộng(chõng tre, khăn xếp…Mà những làng nghề mới) hầu nh không đợc tiếp tục sản xuất Một số làng nghềchuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thờng nội địa(dệtchiếu, đan rổ rá, hơng…Mà những làng nghề mới) ít bị biết động mà vẫn đợc phát triển tốt
Mặc dù vậy, trong những năm trớc thời kỳ đổi mới đất nớc, sản xuất tiểuthủ công nghiệp truyển thống của nớc ta đã có những bớc phát triển khá tốt cả
về mặt sản phẩm cũng nh tạo công ăn việc làm cho ngời lao động
* Một số kết quả và hiệu quả sản xuất tiểu thủ công nghiệp
Qua kết quả điều tra hàng năm của Tổng Cục Thống kê ta thấy, tronggiai đoạn này giá trị sản lợng ngành tiểu thủ công nghiệp ở nớc ta tăng nhanh,năm 1981 chỉ đạt 27.713 triệu đồng, tới năm 1986 đã đạt tới 48.530 triệu đồngtăng 1,75 lần so với năm 1981 Năng suất lao động bình quân một lao độngtiểu thủ công nghiệp cũng đợc tăng dần từ 17.270 đồng (1981) lên 26.890
đồng (1986) Giá trị hàng tiểu thủ công nghiệp xuất khẩu cũng đã tăng mộtcách đáng kể luôn chiếm 30%- 40% trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩucủa nớc ta Thể hiện ở biểu1:
* Lao động trong ngành nghề TTCN
Trong thời kỳ này, nớc ta con nằm trong cơ chế tập trung quan liêu baocấp, hầu hết chỉ mới chú trọng khuyến khích phát triển sản xuất trong cácHTX, tập đoàn sản xuất của Nhà nớc, cha coi trọng tới việc phát triển kinh tế
Trang 16hộ gia đình, các khu kinh tế tập thể luôn chiếm số lao động khoảng 60%- 70%còn lại thuộc về cá thể, t nhân
Tuy vậy, trong thời kỳ này, các ngành nghề truyền thống và tiểu thủ côngnghiệp đã góp phần giải quyết việc làm cho ngời dân, tăng nguồn thu cho ngờidân quanh vùng
*Giai đoạn 1986- 1988: Đây là giai đoạn đầu tiên của thời kỳ chuyển đổinền kinh tế Đảng và Nhà nớc ta đã đa ra một số chính sách khuyến khích pháttriển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Từ đó, đã khuyến khích đợc nhiềungời dân trong các làng nghề tham gia khôi phục, phát triển ngành nghềtruyền thống của họ
Mặt khác, trong thời kỳ này, tình hình các nớc Đông Âu và Liên Xô (cũ)tơng đối ổn định- Một thị trờng tiềm năng tơng đối lớn của nớc ta Do vậy,trong những năm1986- 1987 sản phẩm của ngành nghề truyền thống của nớc
ta xuất khẩu đạt tới mức cao nhất, năm 1986 kim ngạch xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ đạt tới 246 triệu USD Điều đó cũng cho thấy rằng, phát triểnngành nghề đã tạo khối lợng công việc lớn cho ngời lao động, góp phần tăngthu nhập, ổn định cuộc sống kinh tế- xã hội cho ngời dân trong làng nghề vàcác vùng lân cận
* Giai đoạn 1990 đến 1992: Đây là giai đoạn trì trệ nhất từ trớc tới giờcủa nhóm hàng tiểu thủ công nghiệp ở nớc ta Vì, thị trờng tiêu thụ lớn nhấtcủa nớc ta là các nớc Đông Âu và Liên Xô (cũ) đang rơi vào tình trạng khủnghoảng, trong khi đó chúng ta cha có điều kiện để mở rộng thị trờng Vì vậy,vấn đề xuất khẩu sản phẩm truyền thống của nớc ta đang đứng trớc khó khăn,kim ngạch xuất khẩu giảm dần và đợc phản ánh qua biểu 2
* Giai đoạn 1992 tới nay: Sau thời gian dài trì trệ trong việc sản xuấtcùng với sự hụt hẫng các Công ty, đơn vị kinh doanh tìm tòi và mở rộng thị tr-
Trang 17ờng tiêu thụ sản phẩm, góp phần từng bớc phục hồi và phát triển sản xuất, tạothêm nhiều việc làm, tăng cờng thu hút lực lợng lao động vào làm nghề Chỉsau một năm khôi phục mà số mặt hàng đã tăng lên một số lợng đáng kể, cụthể là hàng thảm cói xuất sang thị trờng khu vực năm 1992 tăng 21,5 lần sovới thời kỳ thịnhvợng năm 1988, hàng thêu mỹ nghệ khác tăng7,5 lần (số liệuthống kê năm 1994)
Do thị trờng tiêu thụ sản phẩm đợc mở rộng, đã tác động mạnh tới việcphát triển sản xuất của các làng nghề truyền thống, nhất là đối với các mặthàng thủ công mỹ nghệ, làm cho các làng nghề truyền thống của nớc ta dần đ-
ợc khôi phục và phát triển trở lại với đúng nghĩa của nó
2.2.3 Một số nhận xét chung về tình hình phát triển làng nghề truyền thống trong thời gian qua.
2.2.3.1 Về thị trờng.
Thị trờng tiêu thụ sản phẩm vừa là mục tiêu của sản xuất, sản xuất ra cáigì? sản xuất bao nhiêu? sản xuất nh thế nào? sản xuất cho ai? ở đâu? đồngthời cũng là nơi cung cấp thông tin tới ngời sản xuất để họ bố trí sản xuất saocho hiệu quả cao nhất
Do vậy, với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng của nớc ta hiện nay,nhất là trong lĩnh vực ngành nghề truyền thống, yếu tố thị trờng đã tác độngmạnh mẽ và làm ảnh hởng trực tiếp đến quá trình sản xuất của các làng nghềtruyền thống
- Xuất khẩu: Trớc đây, sản phẩm của các làng nghề truyền thống chủ yếu
đợc xuất sang các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ (chiếm 90% khối lợng xuất khẩu) Nhng từ những năm 1990 đến nay, với sự tan dãcủa khối các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã làm cho thịtrờng tiêu thụ sản phẩm của nớc ta bị mất đi trong khi đó việc tiếp cận, khaithác và mở rộng thị trờng các nớc trong khu vực và thế giới cha đợc triển khainghiên cứu, đây là thị trờng rất khắt khe về chất kợng, mẫu mã, thời gian…Mà những làng nghề mới làcho các mặt hàng thủ công truyền thống của nớc ta không xuất đợc hoặc xuấtvới một lợng ít Từ đó dẫn tới tình trạng sản xuất trong nớc bị đình đốn, đờisống của ngời làm nghề truyền thống gặp khó khăn, lao động không có việclàm
80% Tiêu thụ trong nớc: Một mặt do công nghiệp phát triển sản xuất ranhiều mặt hàng tiêu dùng có thể thay thế đợc một số mặt hàng truyền thống
Trang 18với chất lợng cao, giá thành thấp hơn, dẫn tới tình trạng hàng hóa truyền thốngkhông thể cạnh tranh nổi, mặt khác, do hàng ngoại đợc nhập vào một cáchtràn lan gây ra sự cạch tranh và ép gía các mặt hàng của nhóm ngành nghề thủcông truyền thống, làm cho các sản phẩm làng nghề truyền thống không tiêuthụ đợc Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng các làng nghềtruyền thống của nớc ta gặp khó khăn trong phát triển
2.2.3.2 Vị trí của các làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Trong những năm qua các nghề thủ công và làng nghề truyền thống đã
đ-ợc quan tâm chú ý tới, nhng chỉ dới hình thức Sự quan tâm đầu t này cha thậttơng xứng với lợi ích mà làng nghề truyền thống đem lại, có chăng cũng chỉvới số ít làng nghề truyền thống có từ rất lâu đời đã đợc gìn giữ cho tới ngàynay Còn đối với một số làng nghề truyền thống đã bị mai một thì mới đợcnhắc tới Chính vì thế, Đảng và Nhà nớc cần có những chính sách cụ thể hơn,
đầu t thiết thực hơn cho các làng nghề truyền thống vừa phát huy đợc kinhnghiệm quý báu, vừa tận dụng đợc nguồn nhân lực sẵn có và gìn giữ đợc vănhóa truyền thống, một món ăn không thể thiếu đợc trong mỗi ngời dân nơi
đó…Mà những làng nghề mới
2.2.3.3 Vốn đầu t cho sản xuất.
Các làng nghề truyền thống, các nghề thủ công ở nớc ta chủ yếu pháttriển theo hộ gia đình, với phơng thức tự cung tự cấp nên đa số các hộ ở đây
đều thiếu vốn đầu t trang thiết bị sản xuất dẫn tới tình trạng công nghệ chắpvá, không đồng bộ, chủ yếu dựa vào lao động thủ công
Những năm gần đây, có một số loại vốn đầu t của các hiệp hội về pháttriển kinh tế và giải quyết việc làm nh: Vốn vay từ quỹ quốc gia về xóa đóigiảm nghèo…Mà những làng nghề mới ng số lợng và tỷ lệ các hộ đợc vay vốn trong các làng nghềnhcòn quá ít ỏi, trong khi đó nhu cầu vay vốn của các hộ lại rất lớn Mặt khác,các loại thủ tục vay vốn quá phiền hà, chậm trễ nên khi đồng vốn tới ta ngờisản xuất thì thời cơ sử dụng đồng vốn không còn hiệu quả cao, không đảm bảo
đợc đúng kế hoạch sản xuất của các cơ sở, của hộ
2.2.3.4 Trang thiết bị, công nghệ và mẫu mã sản phẩm.
Các làng nghề truyền thống nhìn chung có các công cụ và trang thiết bịquá đơn giản so với nhiều ngành nghề khác, đặc biệt là so với ngành côngnghiệp Tuy vậy, trong điều kiện công nghệ kỹ thuật phát triển nh hiện nay,
Trang 19đời sống kinh tế xã hội ngày một nâng cao, nên nhu cầu về chất lợng sảnphẩm phải đợc nâng cao, mẫu mã đẹp đặc biệt đối với các sản phẩm nh thủcông mỹ nghệ, dệt…Mà những làng nghề mới Nhng trong những năm qua các làng nghề truyền thốngchậm có sự đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất do nhiều nguyên nhânnh: thiếu vốn đầu t để đổi mới, thiếu kiến thức, chậm đào tạo…Mà những làng nghề mớido đó năngsuất lao động thấp, chất lợng sản phẩm, mẫu mã kém dẫn tới tình trạng khó cóthể cạnh tranh đợc trên thị trờng trong và ngoài nớc Đây cũng là một nguyênnhân quan trọng làm hạn chế việc khôi phục và phát triển các làng nghềtruyền thống của nớc ta trong thời gian qua.
2.2.3.5 Tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Với cơ chế phát triển kinh tế nh hiện nay, bên cạnh những tác dộng tíchcực của nó thì vấn đề cần quan tâm giải quyết hiện nay trong lĩnh vực các mặthàng truyền thống của ta là: trong suốt thời gian qua cha có một cơ quan nào
đứng ra quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đã dẫn tới tình trạng quá nhiều
đơn vị, tổ chức cạnh tranh lẫn nhau, tự ý giảm giá để bán đợc sản phẩm củamình, trong khi đó gía nguyên liệu trong nớc có xu hớng tăng lên Điều đó tấtyếu làm cho thu nhập của ngời lao động bị giảm, làm cho các làng nghềtruyền thống của ta không phát triển đợc hoặc phát triển chậm
Trang 202.2.3.6 Đào tạo kỹ thuật tay nghề cho ngời lao động.
Từ nhiều đời nay, việc đào tạo nghề trong các nghề truyền thống chủ yếutheo phơng thức truyền nghề trong phạm vi từng gia đình, từng dòng họ vàlàng xóm Với phơng thức đào tạo nh vậy khó đáp ứng đợc yêu cầu phát triểnsản xuất của các làng nghề hiện nay Do đó, để góp phầm thúc đẩy và mởrộng sản xuất của các làng nghề truyền thống đòi hỏi có các giải pháp toàndiện cho vấn đề đào tạo chuyên môn, kỹ thuật chuyên ngành, tăng số lợng vànâng cao chất lợng đội ngũ lao động, trên cơ sở đó mới đáp ứng nhu cầu pháttriển nhân lực cho từng làng nghề nói riêng và sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nớc nói chung
2.2.3.7 Một số vấn đề về chính sách
- Chính sách vay vốn: Thời gian qua, chính sách cho vay vốn mới ápdụng cho các xí nghiệp Nhà nớc, hợp tác xã, hộ nông nghiệp, còn với các hộlàng nghề thủ công cha đợc giúp đỡ về mặt này Tuy một số nghề đòi hỏinguồn vốn đầu t không lớn (mây tre đan, thêu ren) nhng trong một số nghề đòihỏi nguồn vốn đầu t lớn hơn (gốm sứ Bát Tràng, dệt Triều Khúc, dệt tơ lụaVạn Phúc…Mà những làng nghề mới) đặc biệt là cơ sở muốn đầu t mở rộng sản xuất, đa công nghệmới vào sản xuất mà bản thân hộ, cơ sở không tự giải quyết đợc
- Chính sách khuyến khích sản xuất và cung cấp nguyên vật liệu cho cáccơ sở sản xuất ngành nghề truyền thống nh: Trợ giá nguyên vật liệu, miễngiảm thuế cho những hộ tham gia sản xuất…Mà những làng nghề mới
- Ngoài ra còn một số chính sách: Thuế, trợ giá sản phẩm, khuyến khíchhoàn thiện công nghệ mới hay nhập mới công nghệ vào sản xuất, tặng cácdanh hiệu cho những thợ giỏi, các nghệ nhân…Mà những làng nghề mới
III Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phơng pháp
nghiên cứu.
3.1 Đặc điểm địa bàn làng Vạn Phúc - Hà Đông.
Làng lụa Vạn Phúc mặc dù nằm liền kề với thị xã Hà Đông nhng mới chỉ
là một xã thuộc thị xã Hà Đông Trong một vài năm qua, với sự cố gắng củahội đồng nhân dân các cấp, làng Lụa Vạn Phúc đã đợc công nhận là một ph-
Trang 21ờng mới thuộc thị xã Hà Đông Đây là một bớc tiến mới, một bộ mặt mới là
điều kiện rất thuận lợi để kinh tế nơi đây phát triển
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 143.9744 ha, lại tiếp giáp:
* Phía Đông giáp với Quận Thanh Xuân-Hà Nội, nơi có rất nhiều cátrờng Đại học và chỉ cách trung tâm thủ đô 10 km và rất thuận tiện cho cácphơng tiện giao thông nh ô tô, xe máy Vì thế, việc giao lu văn hoá, kinh tế,xã hội vô cùng thuận lợi
* Phía Tây Nam giáp với Huyện Chơng Mỹ, đây cũng là một huyện
có ngành nghề thủ công phát triển, dễ cho việc trao đổi học hỏi kinh nghiệmgiữa các làng nghề cho sự phát triển chung của các làng nghề…Mà những làng nghề mới
* Phía tây giáp với Huyện Hoài Đức, đây là nơi
đợc coi là làng nghề chế biến nông sản rất phát triển Vì thế, trong việc chỉ
đạo, định hớng sản xuất, kinh doanh thì làng Vạn Phúc có thể học hỏi, vì đờng
nh điều kiện để sản xuất của các nhóm hộ nơi đây không có sự khác biệt, đặcbiệt là về vốn Mặt khác, dọc theo quốc lộ 6 chúng ta có thể tới tỉnh Hòa Bình,qua đó chúng ta có thể mở rộng thị trờng tiêu thụ tại nơi đây
* Phía Bắc giáp với Huyện Từ Liêm- Cầu Giấy- Hà Nội Vì thế, việc
trao đổi buôn bán với Hà Nội lại càng thuận lợi Đây cũng là con đờng dẫn tới
tỉnh Vĩnh Phúc, vì thế sẽ rất thuận lợi cho việc mở rộng thị trờng các sản
phẩm lụa tơ tằm Vạn Phúc
3.1.2.2 Khí hậu và thời tiết.
Làng Lụa Vạn Phúc thuộc thị xã Hà Đông- tỉnh Hà Tây, là một tỉnhthuộc Đồng Bằng châu thổ Sông Hồng nên ít nhiều cũng chịu ảnh hởng củavùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa rõ rệt: mùa ma nóng ẩm
và mùa khô hanh
Mùa ma nóng ẩm từ tháng 4- 10 Đó là khoảng thời gian tơng đối dài,rất thuận lợi cho ngời sản xuất và kinh doanh Lụa tơ tằm Vì, nhu cầu tiêu
Trang 22dùng các sản phẩm Lụa trong thời gian này là rất cao Mặt khác, đây cũng làthời gian thu hoạch tơ tằm của một số nơi trồng dâu nuôi tằm lớn nh TháiBình, Hải Dơng, Hng yên…Mà những làng nghề mớicho nên giá tơ tằm lúc này là rẻ nhất, lại có khảnăng cung cấp nguyên liệu cao chất lợng tơng đối tốt phục vụ cho sản xuất vàkinh doanh lụa tơ tằm của làng.
Mùa khô hanh từ tháng 11 năm trớc đến tháng 3 năm sau Đây làkhoảng thời gian khó khăn cho các địa phơng trồng dâu nuôi tằm lớn, chính vìthế, các hộ sản xuất, kinh doanh lụa tơ tằm cũng gặp không ít khó khăn
Nhiệt độ trung bình là 230C cao nhất là tháng 6 và tháng 7 có hôm lên tới
380C- 400C, nhiệt độ thấp nhất là vào tháng riêng có đợt giảm tới 100C
Độ ẩm trung bình: từ 70%- 85% Với nhiệt độ và ẩm độ nh vậy khônggây khó khăn gì cho việc sản xuất lụa tơ tằm Vạn Phúc
Trang 233.1.3 Đặc điểm về kinh tế xã hội của làng Vạn Phúc - Hà Đông.
Vạn Phúc với 12 thôn và thôn nào cũng sản xuất, kinh doanh chủ yếu lụatơ tằm Chỉ còn một số ít các hộ sản xuất nông nghiệp Phờng có dòng sôngNhuệ chảy qua, đây là nơi chứa nớc thải và là nơi cung cấp nớc cho các hộ sảnxuất nông nghịêp
Trong những năm qua, nhu cầu thị trờng trong nớc và ngoài nớc về tiêuthụ các sản phẩm lụa tơ tằm rất cao, khả năng của chúng ta có thể đáp đợc vớikhối lợng lớn, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm lụa của chúng ta là rấtcao Trong khi đó, chúng ta lại không dám sản xuất với khả năng có thể, chỉsản xuất với khối lợng rất ít để đáp ứng một phần thị trờng trong nớc và nớcngoài Làng lụa Vạn Phúc cũng nh nhiều địa phơng, cơ sở sản xuất lụa kháctrong nớc, vì vậy, trong những năm qua, với sự chỉ đạo của các cấp ban ngànhcủa tỉnh Hà Tây, làng Vạn Phúc đã có sự thay đổi cần chú ý, số lợng LĐ, số
hộ tham gia sản xuất đang dần tăng lên, các ban ngành đã có sự thay đổi trongphơng thức kích thích đầu t cho các đơn vị sản xuất mở rộng quy mô sản xuất
Cụ thể nh sau:
3.1.3.1 Về đất đai.
Đợc thể hiện trong biểu3:
Tổng diện tích đất tự nhiên 143,97 ha không đổi qua các năm, nhngtrong cơ cấu thì lại có sự thay đổi đáng kể Diện tích đất nông nghiệp có xu h-ớng giảm mạnh từ 42,32% tổng diện tích đất tự nhiên năm 2001, chỉ còn38.15% tổng diện tích đất tự nhiên năm 2002, chỉ còn 33,21% năm 2003 tổngdiện tích đất tự nhiên Và tốc độ giảm này lại có xu hớng giảm mạnh hơn quacác năm và đợc thể hiện ở tốc độ tăng trởng qua các năm, năm 2002 so năm
2001 là 90,15% và năm 2003 so với năm 2002 là 87,06% Mặt khác, diện tíchcác loại đất khác lại tăng dần qua các năm, đặc biệt là diện tích đất chuyêndùng tăng từ 32,99% tổng diện tích đất tự nhiên năm 2001, lên 36,32% tổngdiện tích đất tự nhiên năm 2002, lên 43,08% tổng diện tích đất tự nhiên năm
2003 Trong đó, diện tích đất xây dựng là tăng mạnh nhất, điều này một phầncho thấy đợc vấn đề đầu t cho phát triển của làng nghề đang có xu hớng tăngcao
Tóm lại, trong 3 năm qua, cơ cấu diện tích có sự thay đổi theo chiềuhớng rất có lợi cho s phát triển của làng nghề truyền thống lụa tơ tằm VạnPhúc thể hiện rõ là tỷ lệ diện tích đất NN trên một khẩu NN có sự giảm sút từ
Trang 243,06 sào năm 2001, xuống còn 2,78 sào năm 2002, còn 2,43 sào năm 2003 vàcùng với sự giảm sút này còn có sự giảm sút của diện tích đất NN/1 LĐNN
nh trong biểu 3 Mặt khác, là diện tích đất chuyên dùng trên một hộ có sự giatăng năm 2001 là 0,57 sào, năm 2002 có 0,63 sào, năm 2003 có 0,74 sào Nh-
ng nhìn chung, diện tích đất nông nghiệp bình quân của một LĐNN vẫn cònrất cao, trong khi đó diện tích đất chuyên dùng vẫn còn rất thấp Trong nhữngnăm tới, các cấp phờng cần có sự điều chỉnh để tạo điều kiện cho các hộ sảnxuất đợc sử dụng đất với diện tích lớn hơn, thuận lợi cho việc mở rộng quy môsản xuất của các hộ
3.1.3.2 Về dân số và lao động.
Thể hiện ở biểu 4:
Tổng số nhân khẩu qua các năm có sự gia tăng, nhng với tốc độ chậm lại,năm 2002 so với năm 2001 là 100,24%, năm 2003 so với năm 2002 là100,22% Sự gia tăng này do nhân khẩu NN có xu hớng giảm, nhng lại giảm
chậm hơn là số nhân khẩu phi NN tăng lên Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy
sự thay đổi trong cơ cấu lao động của làng Ngoài ra, tổng số nhân khẩu tănglên ở đây cũng có thể là do nguyên nhân tổng số hộ tăng lên qua các năm,năm 2001 có 2239 hộ, năm 2002 có 2245 hộ, năm 2003 có 2251 hộ Trong đó
có sự giảm xuống của hộ có thu nhập chính từ NN, từ 327 hộ năm 2001 xuốngcòn 325 hộ năm 2002, xuống còn 322 hộ năm 2003 (mặc dù có tốc độ giảmxuống có giảm), sự tăng lên của hộ có thu nhập chính từ TM, DV và XD, cùngvới sự tăng lên của hộ có thu nhập chính từ TTCN mà chủ yếu ở đây là hộ sảnxuất lụa tơ tằm truyền thống cho thấy, cách nhìn nhận của các hộ nơi đây đã
có sự thay đổi, chuyển dần sang làm các ngành nghề XD, DV, TM và TTCN,giảm dần hộ làm NN, phù hợp với quá trình CHH- HĐH NN, NT của Đảng vàNhà nớc Việt Nam
Về lao động, LĐ trong độ tuổi LĐ có sự gia tăng, năm 2002 tăng 11 ngờivới tốc độ gia tăng 100,24% so với năm 2001, năm 2003 tăng 15 ngời với tốc
độ gia tăng 100,32% với năm 2002 nhng vẫn ở mức 52% tổng nhân khẩu
Nh-ng troNh-ng cơ cấu LĐ troNh-ng độ tuổi LĐ lại có sự thay đổi, LĐNN có sự giảmxuống (năm 2001 có 395 LĐ, năm 2002 còn 389 LĐ, năm 2003 còn 381 LĐ),nhng LĐNN kiêm làm TTCN và LĐ phi NN có sự tăng lên, với tốc độ tăngcũng tăng qua các năm nh trong biểu 4 Và vấn đề chú ý ở đây là LĐNN kiêmlàm TTCN, LĐ làm TTCN, không chỉ tăng lên về số lợng mà tốc độ gia tăng
Trang 25cũng có sự tăng lên, tuy không phải là con số lớn Điều này giúp chúng tôi cóthể khẳng định rằng, sự đầu t cho TTCN (mà chủ yếu là sản xuất lụa tơ tằmtruyền thống) đang tăng lên và có thể tăng hơn nữa trong những năm tới.
Tóm lại, với bình quân LĐNN/ Hộ có TN chính từ NN giảm dần, LĐlàmTTCN/ Hộ TTCN, LĐ kiêm làm TTCN/ Hộ NN kiêm TTCN tăng dần quacác năm,cho thấy rõ rằng, hiệu quả của việc khôi phục và phát triển làng nghềtruyền thống lụa tơ tằm nơi đây đang dần đợc hiện ra và đang theo chiều hớngtốt Nhng LĐ TTCN vẫn chỉ ở con số trên 35% tổng số LĐ trong độ tuổi tronglàng Vì thế, các cấp ban ngành cần có những chỉ đạo cụ thể, giúp cho địa ph-
ơng tăng với tốc độ LĐ TTCN cao hơn nữa, nhằm nâng cao khả năng sản xuấtlụa tơ tằm truyền thống này, thu hút đợc nhiều lao động trong và ngoài lànghơn nữa, từ đó có khả năng nâng cao đợc thu nhập cho ngời sản xuất cũng nhLĐ nơi đây, phát huy hết tiềm năng sẵn có trong làng
Trang 26(Nguồn: Ban thống kê phờng Vạn Phúc năm 2003).
Hầu nh trong 3 năm qua, cơ sở hạ tầng nơi đây không có sự thay đổi và
đã có sự đầu t tơng đối thích ứng cho các ngành, nghề sản xuất của địa phơng,trừ đờng giao thông là có sự thay đổi và theo chiều hớng tốt Đây là kết quảcủa sự quan tâm của các ban ngành trong tỉnh, diện tích đờng giao thông tăngkhá nhanh Và đặc biệt là trong năm 2002- 2003 tổng cục du lịch tỉnh Hà Tây
đã đầu t cho phờng Vạn Phúc 1 tỷ đồng để xây dựng 3 tuyến phố Đây mới chỉ
là bớc đầu của sự đầu t cho phờng phát triển cơ sở hạ tầng, nhằm tạo cho nơi
đây có điều kiện phát triển thêm ngành du lịch làng nghề truyền thống, tăngthêm thu nhập cho phờng, tạo thêm công ăn việc làm mới cho ngời lao độngnơi đây
3.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của làng Vạn Phúc - Hà Đông.
Với tất cả sự thay đổi trên đã làm thay đổi phần lớn kết quả sản xuất củaphờng trong 3 năm qua, và đợc thể hiện nh ở biểu 6
Nhìn chung kết quả sản xuất của cả làng, chúng ta có thể thấy, doanh thucủa cả làng với các điều kiện trên mà doanh thu đạt đợc khá cao năm 2003 đạt
Trang 27đợc 40,028 tỷ đồng, và với tốc độ ngày càng tăng năm 2002 so với năm 2001
là 104,01%, đến năm 2003 so với năm 2002 là 104,52%- đây là kết quả hếtsức đáng mừng
Trong 3 năm qua, mặc dù diện tích và lao động tham gia vào sản xuất
NN có giảm, nhng nhìn vào kết quả đạt đợc thì hoàn toàn trái lại (mặc dù sựgia tăng này với tốc độ giảm xuống) năm 2001 chỉ đợc 763,4 tỷ đồng, năm
2002 đợc 780,245 tỷ đồng, năm 2003 đợc 792,134 tỷ đồng Mặt khác, giá trịsản xuất TTCN, giá trị sản xuất các ngành DV, TM, XD tăng lên, tất cả thực
tế này cho thấy, sự phân công lại lực lợng lao động đang dần có sự phù hợp.Nhng kết quả đó thật sự đã khai thác hết đợc tiềm năng vốn có ở nơi đây haycha thì còn phải xem xét rất nhiều vấn đề
Với giá trị sản xuất bình quân trên một lao động của các ngành thu đợc
nh trong biểu 6 này thì kết quả này còn ít, đặc biệt là giá trị sản xuất bìnhquân lao động NN còn rất thấp, điều này có nghĩa là những ngời lao độngtrong NN cần phải đợc sự hỗ trợ của các cấp chính quyền để có thể nâng cao
đợc mức thu nhập hơn nữa Còn các ngành, nghề TTCN, thì có giá trị sản xuấtkhá cao chiếm trên 60% giá trị sản xuất của cả phờng xong cũng cha nói đợc
điều gì, vì vốn đầu t cho sản xuất thờng khá cao, và ngành DV, TM, XD cũng
nh vậy, nhng nó cũng là điều đáng mừng vì, qua 3 năm giá trị sản xuất thu đợcbình quân một lao động đã có sự gia tăng, cho thấy, có thể là đầu t cho sảnxuất TTCN đang gia tăng, nhng cũng có thể do giá trị sản xuất của một lao
động đang tăng lên Đây là biểu hiện của tính hiệu quả của việc khôi phục vàphát triển làng nghề truyền thống lụa tơ tằm Vạn Phúc
3.2 Phơng pháp nghiên cứu.
3.2.1 Phơng pháp nghiên cứu chung.
- Phơng pháp duy vật biện chứng: do các hiện tợng nghiên cứu là nhữnghiện tợng kinh tế xã hội, luôn vận động không ngừng, có mối quan hệ ràngbuộc với nhau Cho nên, muốn tìm ra đợc những vấn đề cần giải quyết, tìm rabiện pháp thích hợp thì chúng ta phải xem xét nó theo một thể thống nhất, giảiquyết vấn đề một cách đồng bộ
- Phơng pháp duy vật lịch sử: đây là phơng pháp đứng trên quan điểmlịch sử để đánh giá vấn đề dựa vào những gì xảy ra trong quá khứ để tìm tòi vàphát triển thành quy luật
Trang 283.2.2 Phơng pháp cụ thể.
3.2.2.1 Phơng pháp chuyên khảo.
Đó là phơng pháp đi sâu nghiên cứu vào các đơn vị điển hình, có thể là
điển hình lạc hậu hay điển hình tiên tiến nhng chủ yếu là điển hình tiên tiến
3.2.2.2 Phơng pháp thống kê kinh tế.
Là phơng pháp nghiên cứu khoa học dựa trên cơ sở các phơng pháp củathống kê Nội dung của phơng pháp bao gồm:
- Điều tra thu thập dựa trên cơ sở quan sát số lớn
* Đối với tài liệu thứ cấp: là tài liệu có sẵn đã đợc công bố Trong luậnvăn này, chúng tôi có sử dụng một số tài liệu về làng nghề, ngành nghề truyềnthống ở Việt Nam cũng nh trên thế giới qua một số sách báo Chúng tôi còntham khảo một số kết quả nghiên cứu trớc đây về làng nghề truyền thống, cácbáo cáo tổng hợp, các báo cáo thống kê của xã
* Đối với tài liệu sơ cấp: là những tài liệu có đợc thông qua điều tra thuthập thực tế tại địa bàn nghiên cứu Để thu thập đợc tài liệu này chúng tôi sửdụng phơng pháp điều tra thông qua các bớc sau:
B
ớc một : chọn mẫu điều tra là bớc đầu quan trọng trong quá trình nghiêncứu Phờng Vạn Phúc với gần 1000 hộ (năm 2003) tham gia sản xuất dệt lụatơ tằm trong đó có 596 hộ có máy dệt, máy mắc trục (máy đảm nhiệm khâutơ), lồi nhuộm, 60 hộ kinh doanh các sản phẩm lụa tơ tằm Mặt khác, với quytrình sản xuất với bốn khâu: từ khâu tơ, khâu dệt, khâu hồ, khâu nhuộm, nhngnay các hộ dệt đã chuyển sang mua tơ máy với chất lợng tốt hơn tơ quay tayngày xa, mặt khác chi phí cho khâu hồ là rất cao nên quy trình sản xuất naychỉ còn 3 khâu (bỏ qua khâu hồ sợi) và với quy mô sản xuất khác nhau, chonên, chúng tôi tiến hành chọn mẫu điều tra theo tỷ lệ xấp xỉ 1/9 nh sau:
Trang 29Biểu 7: Quy mô sản xuất của các hộ dệt lụa tơ tằm trong làng nghề
truyền thống Vạn Phúc và số mẫu điều tra.
B
ớc bốn : Tiến hành điều tra, phỏng vấn trực tiếp 73 hộ cụ thể
- Tổng hợp, hệ thống hoá tài liệu trên cơ sở phân tổ thống kê theo nhữngthông tin nhất định
- Phân tích tài liệu qua phân tích mức độ của hiện tợng, phân tích tìnhhình biến động và mối quan hệ giữa các hiện tợng Thông qua quan sát, tìmhiểu thực tế, qua các số liệu thu thập đợc từ các phòng ban trong UBND ph-ờng, HTX TTCN, HTX NN…Mà những làng nghề mới chúng tôi đã thấy đợc tình hình phát triển kinh
Trang 30tế- xã hội của làng nghề truyền thống lụa tơ tằm Vạn Phúc trong 3 năm qua(2001-2003) Qua các số liệu thu thập đợc từ các phiếu điều tra chúng tôi tiếnhành, xử lý và phân tích, so sánh các vấn đề trong quá trình sản xuất và kinhdoanh lụa tơ tằm, từ đó thấy đợc các yếu tố ảnh hởng…Mà những làng nghề mớitrong việc phát triểnlàng nghề truyền thống lụa tơ tằm Vạn Phúc
3.2.2.3 Phơng pháp so sánh.
So sánh hiệu quả sản xuất lụa tơ tằm của các nhóm hộ khác nhau Từ đóchúng ta có thể tìm ra đợc nhóm hộ nào sản xuất có hiệu quả
3.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu.
Các chỉ tiêu hiệu quả: là dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của quá trìnhsản xuất và kinh doanh:
+ Tỷ suất giá trị sản xuất: GO/IC
Trong đó : GO = Khối lợng x Giá bán
GO là giá trị sản xuất
+ Tỷ suất giá trị gia tăng:VA/IC
Trong đó: VA= GO- IC
VA là giá trị gia tăng
IC là chi phí trung gian + Thu nhập hỗn hợp: MI
MI = VA- Thuế(T)- Khấu hao(A)- Lao động làm thuê (nếu có)
Trong đó: Khấu hao đợc tính nh sau:
Mức khấu hao=
GB- GT
N Với: GB: Nguyên giá TSCĐ (gía trị ban đầu)
GT: Giá trị thu hồi khi thanh toán TSCĐ
N: Năm sử dụng TSCĐ
+ Hiệu quả sử dụng lao động: MI/ L
Trong đó: L là công lao động
Trang 31IV kết quả nghiên cứu
4.1 Tình hình chung của làng nghề truyền thống lụa tơ tằm Vạn Phúc -
Từ thời phong kiến nghề dệt Vạn Phúc đã nổi tiếng khắp kinh đô ThăngLong, sản phẩm ở đây đã đợc sử dụng may quốc phục Đến đời Nguyễn, triều
đình đã đón một số nghệ nhân nổi tiếng vào kinh thành Huế để dạy thêu, dệtgấm cho các cung nữ Gia đình cụ Đỗ Văn Sửu đã từng dệt bức trớng tặng vua