1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SANG KIEN KINH NGHIEM VAT LY CHU DE CON LAC DON HAY NHAT

18 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 383,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Ý nghĩa của đề tài SKKN. Giáo dục là một thiết chế xã hội, hoạt động dựa trên yêu cầu của đơn đặt hàng của xã hội đặt ra cho nó trong từng giai đoạn lịch sử và từng điều kiện cụ thể. Do vậy, khi xây dựng mục tiêu giáo dục cho nền giáo dục của một trường cụ thể, ta phải căn cứ vào mục tiêu chung của giáo dục và điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng nhà trường. Thực tế giáo dục ở các trường THPT miền núi so với các trường miền xuôi trong tỉnh, nhìn chung đã khẳng định tính chính xác cho luận điểm trên. Cụ thể như ở trường THPT, mục tiêu của chúng tôi không phải là đào tạo ra các học sinh giỏi mang tầm quốc gia, quốc tế, mà mục tiêu của chúng ta hiện nay có thể nói là dạy được thật nhiều học sinh và nâng cao kết quả tốt nghiệp, kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cũng như kết quả thi Đại học của học sinh. Tuy nhiên với điều kiện hiện có việc nâng cao kết quả thi Đại học theo cùng các trường miền xuôi thức sự là một vấn đề lớn đối với cả Thầy và Trò trong Nhà Trường. Đối với bộ môn Vật lý, một bộ môn có yêu cầu cao về phương pháp tư duy và biến đổi toán học, thì vấn đề đó càng trở nên khó khăn và vất vả. Thực vậy, Vật lý là một môn học khó và trừu tượng, cơ sở của nó là toán học. Bài tập vật lý rất đa dạng và phong phú. Trong phân phối chương trình số tiết Bài tập lại hơi ít so với nhu cầu cần củng cố và nâng cao kiến thức cho học sinh. Chính vì thế, người giáo viên phải làm thế nào để tìm ra phương pháp tốt nhất nhằm tạo cho học sinh niềm say mê yêu thích môn học này. Giúp học sinh việc phân loại các dạng bài tập và hướng dẫn cách giải là rất cần thiết. Việc làm này rất có lợi cho học sinh trong thời gian ngắn đã nắm được các dạng bài tập, nắm được phương pháp giải và từ đó có thể phát triển hướng tìm tòi lời giải mới cho các dạng bài tương tự. Đặc biệt trong yêu cầu về đổi mới giáo dục về việc đánh giá học sinh bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan thì khi nắm được dạng bài và phương pháp giải, phương pháp giải nhanh sẽ giúp cho học sinh trả được bài với đạt tốc độ giải bài tập nhanh nhất theo yêu cầu. Trong chương trình Vật lý lớp 12, chương “Dao động cơ học” có nhiều dạng bài tập phức tạp và khó. Nhóm các bài toán về sai số của con lắc đồng hồ do chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như: nhiệt độ, độ cao, độ sâu, vị trí địa lý, điều chỉnh độ dài, lực Ácsimét... là một trong những nhóm bài tập phức tạp và khó nhất trong chương trình, kể cả học sinh khá, giỏi cũng thường rất lúng túng trong việc tìm cách giải các dạng toán này. Tuy nhiên, đa phần các tài liệu tham khảo hiện nay lại không trình bày đầy đủ và thống nhất về dạng toán trên, nên việc tiếp cận của học sinh và kể cả một số giáo viên với dạng toán này là khó khăn, hoặc không đầy đủ. Xuất phát từ thực trạng trên, qua kinh nghiệm giảng dạy, tôi chọn đề tài: “Một phương pháp tổng hợp, thống nhất các bài tập về sai số của đồng hồ quả lắc” làm đề tài nghiên cứu của bản thân.

Trang 1

Năm học: 2010 - 2011

- 

-SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP, THỐNG NHẤT

CÁC BÀI TẬP VỀ SAI SỐ CỦA ĐỒNG HỒ QUẢ LẮC

Năm học: 2013 - 2014

Tên tác giả:

Tổ bộ môn: Lý - Hóa - Sinh - CN

Trường:

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa của đề tài SKKN.

Giáo dục là một thiết chế xã hội, hoạt động dựa trên yêu cầu của đơn đặt hàng của xã hội đặt ra cho nó trong từng giai đoạn lịch sử và từng điều kiện cụ thể Do vậy, khi xây dựng mục tiêu giáo dục cho nền giáo dục của một trường cụ thể, ta phải căn cứ vào mục tiêu chung của giáo dục và điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng nhà trường

Thực tế giáo dục ở các trường THPT miền núi so với các trường miền xuôi trong tỉnh, nhìn chung đã khẳng định tính chính xác cho luận điểm trên

Cụ thể như ở trường THPT, mục tiêu của chúng tôi không phải là đào tạo ra các học sinh giỏi mang tầm quốc gia, quốc tế, mà mục tiêu của chúng ta hiện nay có thể nói là dạy được thật nhiều học sinh và nâng cao kết quả tốt nghiệp, kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cũng như kết quả thi Đại học của học sinh Tuy nhiên với điều kiện hiện có việc nâng cao kết quả thi Đại học theo cùng các trường miền xuôi thức sự là một vấn đề lớn đối với cả Thầy và Trò trong Nhà Trường

Đối với bộ môn Vật lý, một bộ môn có yêu cầu cao về phương pháp tư duy và biến đổi toán học, thì vấn đề đó càng trở nên khó khăn và vất vả Thực

vậy, Vật lý là một môn học khó và trừu tượng, cơ sở của nó là toán học Bài

tập vật lý rất đa dạng và phong phú Trong phân phối chương trình số tiết Bài tập lại hơi ít so với nhu cầu cần củng cố và nâng cao kiến thức cho học sinh Chính vì thế, người giáo viên phải làm thế nào để tìm ra phương pháp tốt nhất nhằm tạo cho học sinh niềm say mê yêu thích môn học này Giúp học sinh việc phân loại các dạng bài tập và hướng dẫn cách giải là rất cần thiết Việc làm này rất có lợi cho học sinh trong thời gian ngắn đã nắm được các dạng bài

tập, nắm được phương pháp giải và từ đó có thể phát triển hướng tìm tòi lời

giải mới cho các dạng bài tương tự Đặc biệt trong yêu cầu về đổi mới giáo dục về việc đánh giá học sinh bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan thì khi nắm được dạng bài và phương pháp giải, phương pháp giải nhanh sẽ giúp cho học sinh trả được bài với đạt tốc độ giải bài tập nhanh nhất theo yêu cầu

Trong chương trình Vật lý lớp 12, chương “Dao động cơ học” có nhiều

dạng bài tập phức tạp và khó Nhóm các bài toán về sai số của con lắc đồng hồ do chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như: nhiệt độ, độ cao,

độ sâu, vị trí địa lý, điều chỉnh độ dài, lực Ácsimét là một trong những nhóm bài tập phức tạp và khó nhất trong chương trình, kể cả học sinh khá, giỏi cũng thường rất lúng túng trong việc tìm cách giải các dạng toán này

Trang 3

và thống nhất về dạng toán trên, nên việc tiếp cận của học sinh và kể cả một

số giáo viên với dạng toán này là khó khăn, hoặc không đầy đủ Xuất phát từ

thực trạng trên, qua kinh nghiệm giảng dạy, tôi chọn đề tài: “Một phương

pháp tổng hợp, thống nhất các bài tập về sai số của đồng hồ quả lắc” làm đề

tài nghiên cứu của bản thân

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

+ Tổng hợp đầy đủ các dạng toán và thống nhất được nhiều biểu thức, phương trình phức tạp làm một trong một phương pháp giải, trước hết rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp cho học sinh và sau đó, giảm sự cồng kềnh, phức tạp của kiến thức, nhằm tăng tốc độ và hiệu quả trắc nghiệm khách quan

+ Đề tài đã phân tích được một phần thực trạng dạy - học ở trường THPT Lang Chánh, từ đó khắc phục một phần khó khăn cho nhiệm vụ dạy học của bản thân tôi tại đây và từ đó có thể nhân rộng ra cho các đồng nghiệp khác trong tổ bộ môn Vật lý

+ “Phương pháp tổng hợp, thống nhất các bài tập về sai số của đồng

hồ quả lắc” là một đề tài không mới Tuy nhiên các đề tài trước đó và các

sách tham khảo hiện nay thường trình bày không đầy đủ về dạng toán này Vậy đề tài này ít nhiều giúp bạn đọc, đặc biệt là học sinh hiểu một cách toàn diện về các trường hợp của bài toán, thống nhất được các biểu thức và làm bài tập phần này tốt hơn

+ Đề tài sẽ là một nguồn động viên, khích lệ cho những giáo viên cùng

ý tưởng, cùng đam mê nghiên cứu khoa học giáo dục thêm tự tin với những ý tưởng sáng tạo mới của mình

2 Thực trạng đối tượng học sinh.

Do điều kiện là một huyện miền núi, điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng và hiêu quả giáo dục nói chung và kết quả học tập môn Vật lý của học sinh nói riêng Vì vậy, trong quá trình học tập Vật lý học sinh thường gặp rất nhiều khó khăn Trong đó, ta có thể nêu các khó khăn điển hình sau đây:

+ Ít được trải nghiệm thực tế với các bài toán phức tạp, đặc biệt là các bài toán mà các sách tham khảo thường chỉ nêu một số trường hợp

+ Khó khăn trong việc xây dựng các công thức và ghi nhớ các công thức dài, phức tạp

Trang 4

+ Khó khăn trong việc xử lý nhanh bài toán để đảm bảo đủ thời gian cho các bài thi dài

Để giải quyết phần nào các khó khăn đó, giáo viên giảng dạy ở đây cần lựa chọn các phương pháp giảng dạy đặc trưng, phù hợp với thực tế đối tượng học sinh

3 Điều kiện cụ thể khi thực hiện đề tài.

3.1 Nhiệm vụ giáo viên được giao.

+ Dạy học bộ môn Vật lý

+ Chủ nhiệm lớp 10A4

3.2 Tình hình địa phương trường lớp.

Địa phương là một huyện miền núi, điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, tỉ lệ học sinh học ở bậc THPT còn thấp, chất lượng đầu vào thấp

Ở các bậc học dưới, học sinh thường không được trang bị đầy đủ về khả năng tư duy, về kỹ năng biến đổi toán học

Cơ sở vật chất của nhà Trường tương đối đầy đủ Tuy nhiên, điều kiện vật chất của mổi cá nhân học sinh phục vụ học tập nhìn chung lại rất hạn chế

so với yêu cầu của sự phát triển Học sinh ít được tiếp cận với tài liệu tham khảo, với nhiều giáo viên trong cùng một bộ môn, với các học sinh có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi ở các trường khác, lớp khác, thậm chí chính trong lớp học của mình Tinh thần, thái độ cầu tiến, thi đua của học sinh còn nhiều hạn chế

II NỘI DUNG

1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu.

1.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng này là các bài tập phức tạp phần sai số của đồng hồ quả lắc trong các trường hợp, điều kiện khác nhau

Đề tài nghiên cứu những khó khăn của học sinh trong việc giải bài tập phần này, để từ đó đưa ra những kiến giải nhằm khắc phục những khó khăn

đó Mục đích lớn nhất của đề tài là đưa ra kiến giải hợp lý, nhằm nâng cao kết quả và rút ngắn thời gian làm bài

1.2 Khách thể nghiên cứu.

Trang 5

Về khách thể nghiên cứu, tôi chọn các nhóm học sinh ôn thi Đại học thuộc các lớp 12A1 giảng dạy và thử nghiệm trong năm học 2013 - 2014

Trong quá trình nghiên cứu, tôi chọn các nhóm so sánh tương phản Ban đầu so sánh trong cùng một nhóm trước và sau khi nghiên cứu phương pháp trên Sau đó so sánh giữa hai nhóm, một nhóm cho học kỹ các trường hợp mà tôi đã xây dựng, một nhóm yêu cầu tự nghiên cứu trong các loại tài liệu và tham khảo phương pháp của một giáo viên khác trong trường Từ các kết quả so sánh trên rút ra kết luận cuối cùng

2 Khó khăn của học sinh gặp phải khi giải bài tập sai số của đồng hồ.

Các bài toán thuộc phần này gồm 8 bài toán lớn, thể hiện các nguyên nhân làm sai số cho đồng hồ quả lắc Đối với học sinh, các bài toán này đều

có chung một số điểm khó khăn sau đây:

- Học sinh phải nhớ các công thức phức tạp của các lực xuất hiện trong các nguyên nhân riêng cho từng bài toán tương ứng

- Phải làm một bài toán phức tạp để biến đổi các công thức trên về dạng

cơ bản Trong đó có sử dụng các phép tính xấp xỉ mà mỗi bài toán lại áp dụng theo một cách khác nhau

- Các nguyên nhân dẫn đến các dạng toán trong thực tế thì nhiêu Tuy nhiên, sách tham khảo lại không hướng dẫn hết các cách tiếp cận cho tất cả các nguyên nhân, làm cho phần đa các học sinh không thể giải quyết được các bài toán trên

Vậy, vấn đề là làm sao để học sinh vừa tiếp cận được với phương pháp giải tự luận các bài toán trên, vừa tổng hợp được công thức làm trắc nghiệm nhanh và hiệu quả nhất Chúng ta có thể giải quyết vấn đề trên bằng phương pháp tổng hợp, thống nhất sau

3 Phương pháp tổng hợp, thống nhất các bài tập về sai số của đồng hồ quả lắc.

3 1 Phương pháp chung.

Bài toán: Trong điều kiện 1 đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T Xác

định thời gian đồng hồ chạy nhanh, chậm trong thời gian T nếu lúc đó đồng

hồ chạy trong điều kiện 2

Phương pháp giải:

- Gọi T là chu kỳ của quả lắc đồng hồ khi chạy đúng trong điều kiện 1; T' là chu kỳ của quả lắc dồng hồ khi chạy sai trong điều kiện 2

- Trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai là: ∆ = −T T' T (s)

Trang 6

- Suy ra trong một giây đồng hồ chạy sai là: T T T' T' 1

∆ = − = −

(s)

Tại đây ta sử dụng các công thức xấp xỉ để tìm ra biểu thức hợp lý cho

tỉ số T'

T suy ra tỉ số T

T

.

- Vậy, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

∆T = T ∆T T

- Lưu ý:

+ Các công thức xấp xỉỉ đã áp dụng: Nếu tồn tại ε<< 1, ta có:

1

2

1

(1 )(1 ) 1

n n

ε

+

;

;

;

+ Khi sai số là do nhiều nguyên nhân thì: T T1 T2 T n

∆ ∆

+ Kết quả là nhanh hay chậm thể hiện ở dấu của ∆T

Nếu T > 0 : Kết luận đồng hồ chạy chậm.

Nếu T = 0 : Kết luận đồng hồ chạy đúng.

Nếu T < 0 : Kết luận đồng hồ chạy nhanh.

3.2 Cụ thể cho từng trường hợp.

3.2.1 Sai số do thay đổi nhiệt độ

Bài toán: Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T ở nhiệt độ t1 Cho đồng

hồ đó chạy ở nhiệt độ t2 Đồng hồ sẽ chạy nhanh, hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Biết dây treo quả nặng của đồng hồ là kim loại có hệ số nở dài vì nhiệt là λ

Giải:

1 (1 ) (1 )

λ

+

+ ;

2 1 ( 2 1)

'

T

T

λ

- Suy ra:

2

T

t T

λ

∆ = ∆ (1.1)

- Vậy, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

Trang 7

∆T = T .

2 t

λ ∆ (1.2)

- Lưu ý: Trong công thức trên: ∆ = −t t2 t1

Nếu t 2 > t 1 : thì đồng hồ chạy chậm.

Nếu t 2 < t 1 : thì đồng hồ chạy nhanh.

3.2.2 Sai số do thay đổi độ cao

Bài toán: Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T ở đội cao h Đưa đồng

hồ đến độ cao h' so với mặt đất Đồng hồ sẽ chạy nhanh, hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Coi nhiệt độ và áp suất không thay đổi

Giải:

- Ta có tỉ số:

2

2

.

.

'

M m G

M m

R h

+

+

- Suy ra: T h

∆ = ∆

+ (2.1)

- Vậy, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

∆T = T R h∆+h (2.2)

- Lưu ý:

+ Trong công thức trên:∆ = −h h h'

Nếu h' > h : thì đồng hồ chạy chậm.

Nếu h' < h : thì đồng hồ chạy nhanh.

+ Nếu một vị trí là mặt đất thì độ cao h i tương ứng bằng 0 Ví

dụ, nếu đồng hồ đưa từ mặt đất lên cao h' = h 0 thì công thức (2.2) trở thành:

∆T = T h0

R (2.2')

3.2.3 Sai số do thay đổi độ sâu

Bài toán: Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T ở đội sâu d Đưa đồng

hồ đến độ sâu d' so với mặt đất Đồng hồ sẽ chạy nhanh, hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Coi nhiệt độ và áp suất không thay đổi

Giải:

- Trọng lực tổng hợp của vật ở độ sâu d là: .4 ( )

3

g G= π R d

- Ta có tỉ số:

'

R d

− − − − −   −  ÷

;

Trang 8

1 1 1 1 2( )

R d

 

−  − ÷

- Suy ra: 2( )

∆ = ∆

(3.1)

- Vậy, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

∆T = T 2( )

d

R d

(3.2)

- Lưu ý:

+ Trong công thức trên: ∆ = −d d' d

Nếu d' > d: thì đồng hồ chạy chậm.

Nếu d' < d: thì đồng hồ chạy nhanh.

+ Nếu một vị trí là mặt đất thì độ sâu d i tương ứng bằng 0 Trường hợp cơ bản: nếu đồng hồ đưa từ mặt đất d = 0, xuống sâu d' =

d 0 thì công thức (3.2) trở thành:

∆T = T 0

2.

d

R (3.2')

3.2.4 Sai số do thay đổi giữa độ cao và độ sâu

Bài toán:

a Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T ở độ cao h so với mặt đất

Đưa đồng hồ xuống độ sâu d so với mặt đất Đồng hồ sẽ chạy nhanh, hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Coi nhiệt độ và áp suất không thay đổi

b Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T ở độ sâu d so với mặt đất

Đưa đồng hồ lên độ cao h so với mặt đất Đồng hồ sẽ chạy nhanh, hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Coi nhiệt độ và áp suất không thay đổi

Nhận xét: Theo lưu ý trong phương pháp chung (*) thì ta sẽ CM được công

thức tính sai số thời gian đồng hồ đo như sau:

a ∆T = T ( )

2

− + (4.1)

b ∆T = T ( )

2

RR (4.2)

Giải:

a Đưa từ trên cao h xuống sâu d:

- Ta có tỉ số:

Trang 9

3

4

R D

R h

π

π

;

R h R . R d R 1 1h R . 1 1d (1 h R/ ).(1 d/ 2 ) 1R R h 2d R

R

- Suy ra, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

T = T T T = T − +R h 2d R÷

  (4.1)

a Đưa từ độ sâu d lên độ cao h:

- Ta có tỉ số:

3

2

4

R D

R h

π

+

;

= = + ÷ −  + ÷ − + −

- Suy ra, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

T = T T T = T R h −2d R÷

  (4.2)

Hai công thức (4.1) và (4.2) chứng minh kết quả của công thức chung (*).

3.2.5 Sai số do thay đổi vị trí địa lý

Bài toán: Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T ở nơi có gia tốc trọng

trường g Đưa đồng hồ đến nơi có gia tốc g' Đồng hồ sẽ chạy nhanh, hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Coi nhiệt độ và áp suất không thay đổi

Giải:

- Ta có tỉ số:

g

g

- Suy ra: ∆T T = −2∆g g (5.1)

- Vậy, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

∆T = - T 2∆g g (5.2)

- Lưu ý: Trong công thức trên: ∆ = −g g' g

Nếu g' > g : thì đồng hồ chạy nhanh.

Nếu g' < g : thì đồng hồ chạy chậm.

Trang 10

3.2.6 Sai số do điều chỉnh độ dài dây treo

Bài toán: Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T với dây treo quả nặng

dài l Điều chỉnh dây treo một lượng nhỏ để nó dài l' Đồng hồ sẽ chạy nhanh,

hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Coi nhiệt độ và áp suất không thay đổi

Giải:

2

- Suy ra:

2

∆ =∆

(6.1)

- Vậy, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

∆T = T ∆2l l (6.2)

- Lưu ý: Trong công thức trên: ∆ = −l l l'

Nếu l' > l: thì đồng hồ chạy chậm.

Nếu l' < l: thì đồng hồ chạy nhanh.

3.2.7 Sai số do thay đổi môi trường chất lưu chứa con lắc

Bài toán: Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T = T1 khi dao động trong môi trường chất lưu khối lượng riêng ρ 1 Đưa đồng hồ vào môi trường chất

lưu ρ 2 Đồng hồ sẽ chạy nhanh, hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Biết khối lượng riêng của quả nặng là D Coi nhiệt độ môi trường không đổi Lấy gia tốc trọng trường trong chân không là g0

Giải:

- Trong lực biểu kiến tác dụng lên quả nặng của đồng hồ là:

0 i 0 i 0 0 ( ) 0

- Gia tốc trọng trường biểu kiến trong môi trường chất lưu là:

0

0

.

i

- Ta có tỉ số:

' =

T

1 1

1

D D

ρ ρ

Trang 11

- Suy ra:

1

T

ρ ρ

∆ = ∆

(7.1)

- Vậy, trong thời gian T (s) đồng hồ chạy sai:

∆T = T

1

2(D )

ρ ρ

(7.2)

- Lưu ý:

+ Trong công thức trên: ∆ = ρ ρ ρ 2 − 1

Nếu ρ 2>ρ 1: thì đồng hồ chạy chậm.

Nếu ρ 2<ρ 1: thì đồng hồ chạy nhanh.

+ Nếu một môi trường là chân không, thì khối lượng riêng của chất lưu trong môi trường đó bằng không

Trường hợp cơ bản: Đưa đồng hồ từ chân không ρ 1 = 0

sang chất lưu có khối lượng riêng ρ 2 = ρ, thì công thức tính sai

số là:

∆T = T 2.Dρ (7.2') Đưa đồng hồ từ chất lưu có khối lượng riêng ρ 1 = ρ sang chân không ρ2=0, thì công thức tính

sai số là:

∆T = - T 2.(Dρ−ρ) (7.2'')

3.2.8 Sai số do có ngoại lực nhỏ cùng phương trọng lực tác dụng

Bài toán: Đồng hồ quả lắc chạy đúng với chu kỳ T trong chân không Cho

đồng hồ đó chạy ở điều kiện có thêm ngoại lực nhỏ Fr cùng phương trọng lực tác dụng vào vật nặng của quả lắc đồng hồ Đồng hồ sẽ chạy nhanh, hay chậm bao nhiêu trong thời gian T Các điều kiện khác không đổi

Giải:

- Trọng lực biểu kiến tác dụng lên vật nặng của quả lắc đòng hồ là:

'

Pr = +P Fr r

- Gia tốc trọng trường biểu kiến: g' g F g a

m

= + = +

r

r r r r ⇒g' = +g a

a > 0 nếu ar (tức Fr) cùng dấu gr

a < 0 nếu ar (tức Fr) ngược dấu gr

+ + − +

Ngày đăng: 31/07/2016, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w