Tương tự như vậy thì mức sống của nhân dân mộtnước cũng phản ánh trình độ phát triển của quốc gia đó đối với khu vực và thế giới Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề mức sống
Trang 1Mục lục
A Lời mở đầu 2
B Nội dung 3
Chương I Cơ sở lý luận và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sống 3
I Cở sở lý luận về mức sống 3
1 Khái niệm về mức sống 3
2 Tính chất và đặc điểm mức sông dân cư 3
II Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá mức sống 6
1 Những chỉ tiêu phản ánh đặc điểm và điều kiện lao động 6
2 Những chỉ tiêu phản ánh mức tiêu dùng của cải vật chất trong xã hội 6
3 Những chỉ tiêu phản ánh điều kiện sinh hoạt văn hóa, tinh thần và đảm bảo sức khỏe 7
4 Những chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả tác động giữa các yếu tố 7
III Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sống dân cư 7
1 Những yếu tố thuộc về kinh tế xã hội 7
2 Những yếu tố thuộc về địa lý tự nhiên và yếu tố dân cư, con người 8
3 Những yếu tố thuộc tâm lý, sức khỏe, giáo dục 9
4 Những yếu tố liên quan với điều kiện quốc tế 10
Chương II Phân tích thực trạng mức sống dân cư ở các vùng 10
I Thu nhập bình quân theo đầu người 10
II Vấn đề lương thực và dinh dưỡng 11
III Chăm sóc sức khỏe, y tế 13
IV Vấn đề giáo dục 14
V Một số vấn đề khác 16
Chương III Những giải pháp nhằm nâng cao mức sống ở các vùng 19
I Giải pháp về thu nhập 19
II Giải pháp về lương thực thực phẩm 21
III Giải pháp về y tế, sức khỏe 22
IV Giải pháp về giáo dục, đào tạo 24
V Giải pháp về một số vấn đề khác 26
C Kết luận 27
D.Danh mục tài liệu tham khảo 28
Trang 2A Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội, đờisống của nhân dân ta đã được cải thiện rất nhiều mặt Người dân có điều kiện để thỏa mãnđược những nhu cầu của bản thân và gia đình, bên cạnh đó còn tạo ra sự ổn định đối với xãhội
Tuy nhiên, mức sống của nhân dân ta vẫn chưa cao so với khu vực trên thế giới Đặcbiệt ở nước ta vẫn có sự chênh lệch về mức sống giữa các nông thôn và thành thị, giữa cácvùng kinh tế với nhau Có những vùng thì mức sống của người dân rất cao, nhưng cónhững vùng mức sống của người dân rất thấp Mức sống của một vùng phản ánh trình độhay tiến trình phát triển của vùng đó Tương tự như vậy thì mức sống của nhân dân mộtnước cũng phản ánh trình độ phát triển của quốc gia đó đối với khu vực và thế giới
Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề mức sống, và các yếu tố ảnhhưởng đến nâng cao mức sống của người dân trong cả nước Em đã quyết định lựa chon đề
tài “Mức sống của dân cư theo các vùng Thực trạng và giải pháp” Cùng với sự hướng dẫn của thầy Mai Quốc Chánh, đề tài của em bao gồm ba phần
Phần I Cơ sở lý luận và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sống dân cư
Phần II Phân tích thực trạng mức sống của dân cư ở các vùng
Phần III: Những giải pháp nhằm nâng cao mức sống dân cư ở các vùng
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm hiểu thêm và đánh giá được mức sống củangười dân trong cả nước và các vùng Bên cạnh đó còn thấy được sự thành công của cácchương trình quốc gia, mục tiêu, kế hoạch của Nhà nước liên quan đến mức sống của dân
cư trong cả nước và ở các địa phương, trong đó đánh giá tình trạng đói nghèo và mức độphân hóa giàu nghèo
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức sống của người dân cả nước và trên các địaphương theo các vùng kinh tế
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình trên các địa phương
Phương pháp nghiên cứu gồm hai bước là thu thập thông tin và phân tích số liệu đãthu thập được để thấy rõ được tình hình mức sống của người dân cả nước và theo cácvùng
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ còn hạn chế nên bài viết của em khôngtránh khỏi sai sót Em mong được sự đóng góp ý kiến của thầy để bài viết của em đượchoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn thầy!
Trang 3B Nội dung Chương I: Cơ sở lý luận và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sống
I Cơ sở lý luận về mức sống
1 Khái niệm về mức sống
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm mức sống
Mức sống là một phạm trù kinh tế xã hội phức tạp và phong phú về mặt nội dung.Mức sống phản ánh quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội giữa người với người trong quá trìnhsản xuất , phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội
Mức sống được xác định bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất tinh thần mọi thànhviên trong xã hội hoặc các tầng lớp giai cấp xã hội khác nhau
Mức sống được hiểu chung nhất đó là tổng giá trị hàng hóa và các dịch vụ sinh hoạt
mà với cơ cấu của sản xuất ra các tư liệu có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất và vănhóa của người dân tại một thời điểm kinh tế xã hội của đất nước
Theo Các Mác: “Mức sống không chỉ là sự thỏa mãn những nhu cầu của đời sống vậtchất mà cả các nhu cầu nhất định được sản sinh ra bởi chính những điều kiện mà con ngườiđang sống và trưởng thành”
2 Tính chất và đặc điểm mức sống dân cư
Nhu cầu về vật chất và tinh thần càng phát triển và mức độ thỏa mãn nhu cầu đó càngcao bao nhiêu thì mức sống dân cư càng cao bấy nhiêu
Nhu cầu là sự cần thiết được đảm bảo bằng các điều kiẹn vật chất và tinh thần nào đónhằm thỏa mãn những đòi hỏi để cho con người tồn tại và phát triển trong những điều kiệnkinh tế và xã hội nhất định
Nhu cầu không tồn tại độc lập, chung chung, trừu tượng, bất biến Nó được sản sinh,tồn tại và được thực hiện trong những phương thức sản xuất xã hội nhất định Quy mô vàtính chất của nhu cầu bị giới hạn bởi những quan hệ kinh tế nhất định Nhu cầu hình thành
và phát triển không phải do tâm lý và sinh lý con người hoặc những nguyên nhân tự nhiênhay sinh học nào khác quyết định Yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của nhucầu chính là điều kiện kinh tế xã hội, trong đó sản xuất đóng vai trò quan trọng, quyết địnhnhất đối với sự hình thành và phát triển của nhu cầu Bởi vì sản xuất tạo ra những điều kiệnvật chất và tinh thần cần thiết để thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu đến lượt nó lại tác động trở lạiđối với sản xuất, định hướng cho sản xuất phát triển Tăng nhanh nhu cầu là động lực thúcđẩy sản xuất phát triển
Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú, không ngừng biến đổi và pháttriển , thỏa mãn nhu cầu này là phương tiện phát triển, là điều kiện, là động lực, kích thích
Trang 4để nhu cầu mới nảy sinh Có thể nói cùng với sự phát triển của sản xuất xã hội, nhu cầucủa con người thường xuyên thay đổi.
Mức sống và nhu cầu liên quan trực tiếp và gắn bó chặt chẽ với nhau Thỏa mãn nhucầu thực tế trong quá trình tồn tại và phát triển con người, thực chất là mức sống của họ.Nhu cầu của con người được thỏa mãn đến đâu lại phụ thuộc vào sự tiêu dùng của họ.Không có tiêu dùng, nhu cầu sẽ không được thực hiện và mức sống cũng không được thểhiện Mức độ thỏa mãn nhu cầu được biểu hiện và được đánh giá thông qua mức độ tiêudùng Một khối lượng của cải vật chất và tinh thần được sử dụng cho tiêu dùng càng nhiềubao nhiêu thì nhu cầu càng được thỏa mãn, càng đầy đủ bấy nhiêu và mức sống dân cưcàng cao bấy nhiêu Do vậy trong thực tế khi xác định mức sống người ta thường không đolường và tính toán nó bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu, mà lại tính bằng số lượng và chấtlượng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng trong năm Cùng một chất lượng sản phẩm và dịch
vụ tiêu dùng không đổi, khi số lượng sản phẩm và các dạng dịch vụ tiêu dùng bình quântrên đầu người càng cao bao nhiêu thì mức sống của dân cư nước đó càng cao bấy nhiêu sovới nước khác
Khi nhu cầu vật chất và tinh thần cũng như sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng cần thiết,bảo đảm thỏa mãn những nhu cầu đó tăng lên, thì mức sống dân cư cũng tăng theo Do đóquá trình nâng cao mức sống có thể được đặc trưng bằng quá trình thay đổi cơ cấu nhu cầu,
mở rộng và tăng quy mô, mức độ của các nhu cầu, bảo đảm các phương tiện và điều kiện
để thỏa mãn đầy đủ và tối ưu các nhu cầu truyền thống, nhu cầu hiện tại và nhu cầu mớinảy sinh
Nghiên cứu mức sống cần đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lại với sản xuất, nhucầu và tiêu dùng cho phép chúng ta đánh giá đúng đắn, đầy đủ hơn về phạm trù này Từ đóchúng ta có thể nói rằng: nâng cao mức sống không phải chỉ là quá trình tăng về quy môtiêu dùng, mà phải được xem như là yếu tố để thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.Mức sống suy cho cùng được biểu hiện và đánh giá thông qua hiệu quả của quá trìnhtái sản xuất sức lao động và tái sản xuất cuộc sống con người Mức sống cao hay thấp đượcphản ánh ở khả năng, mức độ và kết quả của quá trình tái sản xuất sức lao động và tái sảnxuất cuộc sống con người
Quá trình tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất cuộc sống con người là quá trìnhtiêu dùng các loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau Cùng một số lượng, chất lượng, cơ cấusản phẩm và dịch vụ tiêu dùng như nhau, nếu mức độ sử dụng chúng khác nhau, cho ta kếtquả khác trong tiêu dùng, khác nhau cả về số lượng, chất lượng sức lao động tái tạo ra Sựkhác nhau trong kết quả tiêu dùng càng lớn, nếu như chúng ta thay đổi cơ cấu sản phẩm và
Trang 5dịch vụ tiêu dùng, chẳng hạn như tăng tỷ trọng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng có lợi chosức khỏe và cho các hoạt động có ích khác của con người, và giảm tỷ trọng dịch vụ và tiêudùng có hại cho sức khỏe thì kết quả tiêu dùng sẽ tăng lên và mức sống của dân cư cũngtăng theo Nói cách khác: với một lượng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng như nhau, nếumức độ sử dụng có ích của các sản phẩm và dịch vụ càng cao bao nhiêu thì mức sống củadân cư càng cao bấy nhiêu.
Nếu ký hiệu M là mức sống của dân cư, Q là sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng bìnhquân đầu người trong năm, K là mức độ sử dụng có ích của các sản phẩm và dịch vụ tiêudùng đó, thì mức sống của dân cư được biểu thị như sau:
M = K.Q
Mức độ sử dụng có ích của các sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng phản ánh về mặt chấtlượng của tiêu dùng trong quá trình tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất cuộc sống conngười Chất lượng tiêu dùng là mức độ sử dụng có ích của các sản phẩm và dịch vụ tiêudùng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như sau:
- Giá trị sử dụng có ích của sức lao động, trong một thời điểm nào đó (sức sản xuấtcủa lao động hay năng suất lao động)
- Thời gian trung bình mà một người có thể tham gia hoạt động lao động có ích cho
xã hội
- Tuổi thọ trung bình của dân cư
Khi phân tích, đánh giá mức sống dân cư không những chỉ so sánh xem bao nhiêu sốlượng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng bình quân đầu người (mặt lượng của tiêu dùng), màcòn phải đánh giá cả mức độ sử dụng có ích (mặt chất lượng của tiêu dùng) của các loạisản phẩm và dịch vụ tiêu dùng đó nữa Bởi vì chất lượng tiêu dùng phản ánh một mặt cơbản của phạm trù mức sống dân cư
Nâng cao mức sống không phải chỉ là quá trình tăng về quy mô tiêu dùng, mà có thểthay đổi cả tổng cơ cấu tiêu dùng, thể hiện phân phối sản phẩm và các dạng dịch vụ tiêudùng hợp lý, bảo đảm sử dụng có ích cho cuộc sống và cho hoạt động lao động của conngười
Tiêu dùng: Khi nói đến phạm trù mức sống, không thể không gắn bó với phạm trùtiêu dùng Bởi vì tiêu dùng và mức sống có liên quan chặt chẽ và gắn bó mật thiết với mứcsống Làm rõ sự khác nhau và trong mối liên quan giữa chúng có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong lý luận cũng như sự khác nhau trong thực tiễn Bởi vì trong thực tế khi so sánhmức sống giữa thời kỳ này với thời kỳ khác, giữa nước này với nước khác, người ta khôngdùng chỉ tiêu mức sống mà dùng các chỉ tiêu đặc trưng cho sự tiêu dùng để đánh giá
Trang 6Bởi vì mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân (tức là mức sống)thường xuyên thay đổi và khó có thể lượng hóa được.
Phạm trù tiêu dùng bao gồm tất cả những gì có liên quan đến quá trình hoạt động cótính chất tiêu dùng của con người Nó thể hiện bản chất của những quá trình kinh tế diễn ratrong một thời điểm nhất định của quá trình tái sản xuất xã hội mà thôi
Phạm trù mức sống lại bao gồm tất cả những gì có liên quan đến việc thỏa mãn nhucầu vật chất, nhu cầu xã hội, nhu cầu văn hóa và tinh thần của dân cư Do đó nó có thể liênquan tới tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Trong phạm trùmức sống, không chỉ bao gồm những kết quả lao động hiện tại, mà còn chứa đựng cảnhững kết quả của lao động quá khứ, biểu hiện dưới hình thức tài sản Quốc gia Ngòai raphạm trù mức sống còn chứa đựng một yếu tố quan trọng khác mà phạm trù tiêu dùngkhông có đó là điều kiện lao động
Mức sống không chỉ là tiêu dùng Ngoài tiêu dùng là thành phần cốt lõi nhất thì mứcsống còn bao gồm nhiều yếu tố, thành phần khác nữa
II Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá mức sống
Mức sống là một phạm trù kinh tế xã hội rất tổng hợp Để phản ánh tình hình mứcsống không thể sử dụng một vài chỉ tiêu nào đó, mà phải sử dụng một hệ thống nhiều chỉtiêu Bởi vì mỗi một chỉ tiêu đặc trưng cho mức sống chỉ phản ánh nhất thời hoặc phản ánhmột mặt nào đó của mức sống mà thôi Do vậy khi đánh giá tình hình mức sống dân cưthông thường phải sử dụng tổng hợp các hệ thống các chỉ tiêu khác nhau Ta có thể phânloại các chỉ tiêu đánh giá mức sống thành các nhóm sau:
1 Những chỉ tiêu phản ánh đặc điểm và điều kiện lao động như:
- Mức độ đảm bảo việc làm cho người lao động
- Độ dài thời gian làm việc bình quân trong ngày
- Thời gian nghỉ ngơi
- Cường độ lao động
- Tỷ trọng công việc lao động được cơ giới hóa và tự động hóa trong tổng số lao độnghao phí nói chung
- Bảo hộ lao động và an toàn lao động
- Tình hình bảo hiểm xã hội cho người lao động, vệ sinh an toàn lao động nơi làmviệc, điều kiện lao động, nghỉ ngơi và tổ chức lao động
- Sinh hoạt văn hóa, tinh thần nơi làm việc
- Phương tiện giao thông, đi lại từ nơi cư trú đến nơi làm việc
2 Những chỉ tiêu phản ánh mức tiêu dùng của cải vật chất trong xã hội
Trang 7- Quy mô tài sản quốc gia, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người
- Thu nhập thực tế của từng nhóm dân cư và từng người
- Mức tiêu dùng lương thực thực phẩm và những vật phẩm thiết yếu
- Điều kiện nhà ở (diện tích bình quân, loại nhà, công trình hạ tầng cơ sở)
- Đồ dùng lâu bền
3 Những chỉ tiêu phản ánh điều kiện sinh hoạt văn hóa, tinh thần và đảm bảo sức khỏe
- Sự phát triển của hệ thống Giáo dục và Đào tạo
- Trình độ học vấn của dân cư
- Tình trạng chăm sóc sức khỏe nhân dân ( số bác sĩ, y tá, giường bệnh trên 1000 dân)
- Sự phát triển của các công trình văn hóa công cộng (nhà hát, rạp chiếu bóng, nhàvăn hóa, sân vận động, công viên vui chơi, giải trí…)
- Hệ thống giáo thông công cộng
- Tình hình vệ sinh môi trường và ô nhiễm môi trường
4 Những chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả tác động giữa các yếu tố
- Tuổi thọ trung bình của dân số và của từng nhóm dân cư riêng biệt
- Chỉ số phát triển con người HDI
- Mức độ tham gia quản lý xã hội của dân cư
- Độ dài thời gian làm việc bình quân theo quy định cuả pháp luật
Liên Hợp Quốc sử dụng 12 chỉ tiêu để đánh giá mức sống bao gồm Ytế, lương thực ,thưc phẩm, giáo dục, nhà ở, phương tiện giao thông đi lại, điều kiện lao động, việc làm chongười trong độ tuổi lao động, quỹ tích lũy tiêu dùng, quần áo, nghỉ ngơi, giải trí, mức độ tự
do của con người, bảo hiểm xã hội
Tuy nhiên việc lựa chọn các chỉ tiêu đặc trưng cho mức sống như trên chỉ mang tínhchất tương đối nhằm đánh giá mức sống dân cư vào một thời điểm nào đó Nhưng khi sosánh giữa các thời kỳ khác nhau, giữa các nước khác nhau thì việc sử dụng chỉ tiêu trêngặp nhiều khó khăn Thông thường người ta chỉ xem xét nó trên từng khía cạnh, từngphương diện hoặc căn cứ vào mục đích, yêu cầu cụ thể của việc nghiên cứu mà mặt dạnhmặt này hay mặt khác
III Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sống dân cư
1 Những yếu tố thuộc về kinh tế xã hội
- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Một đất nước có lựclượng sản xuất phát triển cao, quan hệ sản xuất phát triển thì nước đó sẽ có một mức sốngcao và ngược lại
Trang 8- Tiến bộ khoa học kỹ thuật và khả năng áp dụng những thành tựu khoa học đó vớisản xuất và đời sống Trong thời đại ngày này khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển vượtbậc, việc ứng dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào cuộc sống cũng phản ánh đượctrình độ của người dân Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất có thểthúc đẩy tình hình sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động cá nhân đồng thời nângcao năng suất lao động xã hội, từ đó thúc đẩy sản xuất và đời sống của người dân lên mộttầm cao hơn.
- Tổng thu nhập quốc dân và cơ cấu thu nhập quốc dân, tỷ lệ phân phối thu nhập quốcdân
- Số lượng cơ cấu chất lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra Điều này không nhữngphản ánh được năng lực sản xuất của nền kinh tế xã hội mà nó còn thể hiển được nhu cầucủa người dân, rõ ràng khi số lượng hàng hóa tăng lên thì nó đã thể hiện được khả năngđáp ứng nhu cầu của người dân, hay thông qua đó cũng phản ánh được mức sống củangười dân
- Tình hình kinh tế và truyền thống, tâm lý tiêu dùng trong gia đình Khi đời sốngtăng lên thì mức sống của người dân cũng được phản ánh qua sự tiêu dùng của họ, lúc nàyngười dân có những nhu cầu cao hơn về sản phẩm
- Sự phát triển của cơ sở và mạng lưới phục vụ sinh hoạt tinh thần phù hợp với sựphân bố dân cư theo lãnh thổ Cùng với việc năng lực sản xuất của nền kinh tế tăng lên thìmạng lưới phục vụ của nền kinh tế cũng được mở rộng Con người không chỉ có một nhucầu mà họ có rất nhiều nhu cầu, không chỉ có nhu cầu vật chất mà có cả nhu cầu tinh thần
Vì vậy sự phát triển của cơ sở và mạng lưới phục vụ sinh hoạt tinh thần cũng có ảnh hưởnglớn đến mức sống của ngừơi dân nhất là theo các vùng Vùng nào có mạng lưới phục vụ tốtthể hiện rằng mức sống ở vùng đó cao hơn các vùng khác và ngược lại
- Nguồn vật chất tiêu dùng dài hạn hiện có
2 Những yếu tố thuộc về địa lý tự nhiên và yếu tố dân cư, con người
- Đặc điểm về khí hậu, thời tiết trong từng nước, từng vùng, khu vực Ví dụ MiềnNam không có nhu cầu mua áo bông vì không có mùa đông, do đó số tiền này giành chochi tiêu ăn uống
- Tính thời vụ trong tiêu dùng do ảnh hưởng của thời tiết trong năm
- Phân bố dân cư , phân bố sản xuất, hệ thống giao thông sinh cảnh Theo các vùng,nơi nào mà dân số tập trung đông đúc, sản xuất phát triển, hệ thống giao thông tốt thì nơi
đó sẽ có nhiều điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống
- Trình độ văn minh, đặc điểm thói quen, truyền thống, tôn giáo trong tiêu dùng
Trang 9- Số lượng và cơ cấu dân cư theo tuổi và giới tính, nghề nghiệp trong vùng.
- Điều kiện lịch sử, dân số ảnh hưởng đến quá trình phát triển tiêu dùng và mức sốngdân cư
3 Những yếu tố thuộc tâm lý, sức khỏe, giáo dục
- Động thái hình thành và phát triển nhu cầu Nhu cầu lớn đòi hỏi sản xuất phải pháttriển để có thể đáp ứng được các nhu cầu, từ đó mà nâng cao mức sống của người dân
- Định hướng phát triển nhu cầu do tác động của truyền thống tiêu dùng gia đình,nông thôn, thành phố, tập thể xã hội
- Ảnh hưởng của phương tiện thông tin đại chúng trong việc hình thành nhu cầu mới
- Mức độ thay đổi và phát triển của mốt sinh hoạt, sở thích, thói quen tiêu dùng củatừng người
- Trình độ giáo dục của người tiêu dùng
- Tình hình sức khỏe, khả năng sinh lý của người tiêu dùng trong từng thời kỳ khácnhau trong quá trình tái sản xuất ra cuộc sống của mình
4 Những yếu tố liên quan với điều kiện quốc tế
- Sự tham gia của đất nước trong quá trình phân công lao động quốc tế
- Tình hình chiến tranh và hòa bình thế giới
- Tình hình xuất nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng
- Trình độ phát triển và khả năng trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất đời sống và tiêudùng
Trên đây là một số điều kiện và yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến mức sống dân cư.Cùng với sự phát triển của sản xuất xã hội, các yếu tố và điều kiện ảnh hưởng đến mứcsống cũng thường xuyên biến động Do đó việc xác định các yếu tố ảnh hưởng cũng nhưtính toán mức động ảnh hưởng của chúng đến mức sống là một việc làm rất khó khăn vàphức tạp
Trang 10Chương II: Phân tích thực trạng mức sống dân cư ở các vùng
Đánh giá mức sống của dân cư các vùng theo các khía cạnh sau:
I Thu nhập bình quân theo đầu người
Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viêncủa hộ nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm:
- Thu từ tiền công, tiền lương
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất)
- Thu nhập từ sản xuất phi nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chí phí sản xuất và thuế sản xuất)
- Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiền kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình = Tổng thu nhập của hộ gia đình chia cho tổng số thành viên cùa hộ gia đình
Biểu 1: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế phân theo vùng
Vùng
Năm
1996 (1000 đồng)
Năm
1999 (1000 đồng)
Năm
2004 (1000 đồng)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1996-
1999 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1999-
2004 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1996- 2004(%)
Nguồn: Niêm giám thống kê các năm và tính toán của tác giả
Nhận xét:
- Thu nhập bình quân đầu người một tháng của các hộ trong cả nước qua các năm đều
có sự tăng lên Nếu thời kỳ 1996-1999, thu nhập bình quân của hộ chỉ đạt 30.13 % thì đếngiai đoạn 1999-2004 con số này đã tăng lên gấp đôi 64.2 % Xét cả thời kỳ 1996-2004 tốc
độ tăng thu nhập là 113.67 % Điều này cho thấy phần nào được mức sống của người dân
đã tăng lên
- Qua biểu trên chúng ta cũng nhận thấy rất rõ một số vùng có mức thu nhập bìnhquân khá cao như Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và cómức tăng nhanh qua các năm Như đồng bằng sông Hồng có mức tăng của thời kỳ 1996-
2004 là 118.63%, Duyên hải Nam Trung Bộ là 113.10% và Đông Nam Bộ là 120.31%
Trang 11Điều đó cho thấy người dân sống ở các vùng nói trên đã có một mức thu nhập cao Bêncạnh đó thì cũng có các vùng có thu nhập bình quân đầu người còn thấp và mức tăng thunhập chậm so với cả nước như vùng Miền núi và trung du Bắc Bộ (Đông Bắc và Tây Bắc),Bắc trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long.Những vùng này chỉ có mức tăng thu nhập vàokhoảng từ 80-95% trong thời kỳ 1996-2004 Tây Nguyên là vùng có mức thu nhập bìnhquân thấp nhất trong cả nước và mức tăng tương đối thấp Nếu thời kỳ 1996-1999 mứctăng chỉ có 29.78% thì đến thời kỳ 1999-2004 mức này lại còn thấp hơn, chỉ có 13.2%.Điều này cho thấy đời sống của dân cư vùng này có chiều hướng giảm xuống do thu nhậpcủa họ không tăng mà lại giảm đi.
Chúng ta có thể đưa ra một vài lý do để giải thích tình hình trên
- Thứ nhất là do có sự khác biệt về địa lý giữa các vùng lãnh thổ, do ảnh hưởng củakhí hậu thời tiết, phong tục tập quán dẫn đến tình trạng này Đồng bằng sông Hồng, ĐôngNam Bộ là những vùng có khí hậu tốt, điều kiện đất đai màu mỡ phù hợp cho sự canh tác.Vùng Tây Nguyên, Miền núi trung du Bắc Bộ là những vùng có khí hậu khắc nghiệt, đấtđai chủ yếu là đất đồi rất khó để trồng trọt, phát triển nông nghiệp
- Thứ hai phải kể đến là ở các vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Duyên hảiMiền Trung là những vùng có điều kiện kinh tế xã hội phát triển, dân cư tập trung đôngđúc Đây còn là những vùng có điều kiện để phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất, dễ dàng tiếp xúc được với khoa học công nghệ
- Thứ ba là các vùng kể trên có một hệ thống cở sở vật chất hạ tầng khá tốt, điều kiện
để phát triển kinh tế khá cao không như những vùng núi cao, cơ sở hạ tầng thì thấp kém,giao thông đi lại thì khó khăn, khó có thể thông thương phát triển kinh tế
II Vấn đề lương thực và dinh dưỡng
Chi tiêu hộ gia đình là tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ
đã chi cho tiêu dùng trong một thời gian nhất định, bao gồm cả tự sản, tự tiêu về lươngthực, thực phẩm, phi lương thực, thực phẩm và các khỏan chi tiêu khác (biếu, đónggóp…) Các khoản chi tiêu của hộ không bao gồm chi phí sản xuất, thuế sản xuất, gửi tiếtkiệm, cho vay, trả nợ và các khoản chi tương tự
Chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật
mà hộ gia đình và các thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng bình quân cho một ngườitrong một thời gian nhất định
Chi tiêu bình quân đầu người một tháng của hộ gia đình được tính theo công thức sau:Chi tiêu bình quân của một người một tháng của hộ gia đình kỳ báo cáo = Tổng chitiêu của hộ gia đình trong tháng báo cáo chia cho số thành viên của hộ trong kỳ báo cáo
Trang 12Biểu 2: Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng phân theo vùng ( theo giá thực tế)
Vùng
Năm
1999 (1000 đồng)
Năm
2002 (1000 đồng)
Năm
2004 (1000 đồng)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1999-
2002 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 2002-
2004 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1999-
Nguồn: Niêm giám thống kê qua các năm và tính toán của tác giả
Nhận xét:
- Chi tiêu cho đời sống của người dân trong cả nước đã tăng lên tuy mức tăng khôngcao qua các năm Thời kỳ 1999-2002 tốc độ này là 21.71% thì thời kỳ 2002-2004 tốc độnày chỉ là 33.67% Thời kỳ sau so với thời kỳ trước chỉ cao hơn 11.96% Cả thời kỳ 1999-
2004 tốc độ tăng là 62.69% Cho thấy cùng với thu nhập bình quân đầu người tăng lên thìchi tiêu cho lương thực thực phẩm có tăng nhưng không cao
- Vùng đồng bằng sông Hồng vẫn là vùng có chi tiêu cho lương thực thực thực phẩmcao trong cả nước Tỷ lệ này là 64.54% Ngoài ra các vùng như Duyên hải miền Trungcũng ở vị trí cao, sau đó đến Bắc Trung Bộ, và đến Đông Nam Bộ Vùng Tây Nguyên có
tỷ lệ chi tiêu cho lương thực thực phẩm thấp nhất cả nước Thời kỳ 1999-2002 việc chi tiêucủa dân cư vùng này cho lương thực thực phẩm còn âm (- 19.63%) Điều này cho ta thấyrằng thời kỳ này, chi tiêu của họ bị giảm sút cho lương thực thực phẩm Cả thởi kỳ 1999-
2004 thì chi tiêu của người dân cho việc ăn uống của mình chỉ có 17.6 % , một con số kháthấp so với các vùng khác
Tình hình trên có thể giải thích bằng mấy nguyên nhân sau:
- Thứ nhất, đối với nhóm có chi tiêu cho lương thực thực phẩm cao đa số là nhómvùng có thu nhập bình quân đầu người trên một tháng cao Với các vùng có thu nhập thấpnhư Tây Nguyên thì đương nhiên là việc chi tiêu cho lương thực thực phẩm cũng khôngcao được
- Thứ hai, khi thu nhập tăng lên thì đối với các nhóm vùng có thu nhập cao thì việcchi tiêu cho lương thực – nhóm hàng hóa thiết yếu cũng không tăng cao Đó cũng là một lý
do để dẫn tới tình trạng mặc dù thu nhập tăng lên nhưng chi tiêu cho lương thực thực phẩmcũng không tăng tương xứng
Trang 13III Chăm sóc sức khỏe, y tế
Cở sở y tế là nơi khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, bao gồm bệnh viện, viện
điều dưỡng và phục hồi chức năng, phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế xã, phường,thị trấn
Biểu 4: Tỷ lệ xã nông thôn có trạm y tế phân theo vùng
1999 (%)
Tốc đô tăng bình quân thời kỳ 1999-
2000 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1997-
Nguồn: Niêm giám thống kê qua các năm và tính toán của tác giả
Nhận xét:
- Tỷ lệ số xã có trạm y tế đã tăng lên qua các năm, nhưng tốc độ tăng không cao Thời kỳ từ 1997-2000, tỷ lệ số trạm y tế tăng từ 96.4 % cho đến 99.9 %, tức là tốc độ tăng
là 2.7 %
- Nhìn qua bảng số liệu, chúng ta có thể nhận thấy hầu hết ở các xã nông thôn của tất
cả các vùng trên cả nước đều có trạm y tế và tỷ lệ này rất cao trên 90 % Điều này cho thấycông tác y tế ở các xã đã được quan tâm chú ý và nó cũng cho thấy được sự phát triển của mạng lưới y tế xã Phần nào thể hiện mức sống của người dân đã tăng lên
- Những vùng dẫn đầu về số trạm y tế xã cao như đồng bằng sông Hồng , Đông Bắc, Tây Bắc luôn ở mức trên 99 % Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung có tỷ
lệ này thấp hơn một chút chỉ khoảng 95-97 %
- Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể thấy được có những vùng có tỷ lệ này cao ở thời điểm này nhưng lại thấp ở thời điểm khác như đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ Đặc biệt khu vực Tây Bắc là khu vực kém phát triển, cuộc sống có nhiều khó khăn nhưng đã có
tỷ lệ số trạm y tế xã rất cao đạt 100 %
Có thể giải thích tình trạng trên là do có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta trong cáccông tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là các vùng sâu xa, nông thôn, hải đảo Hơn thế nữa, do điều kiện nền kinh tế nước ta phát triển, có nhiều chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế đời sống xã hội đã giúp cải thiện tình hình chăm sóc sức khỏe ở nước ta
Trang 14Biểu 5: Số bác sỹ phân theo các vùng
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1996-
2000 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 2000-
2006 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1996-
Nguồn: Niêm giám thống kê qua các năm và tính toán của tác giả
Nhận xét: Qua biểu trên chúng ta có thể nhận thấy một số vấn đề như sau:
- Số bác sỹ trong cả nước ta đã tăng lên đáng kể, năm 1996 chúng ta chỉ mới có 25135
bác sỹ thì đến năm 2000 chúng ta đã có thêm khoảng gần 5000 người, và năm 2006 thì
chúng ta lại có thêm hơn 11000 người nữa Điều này cho thấy cùng với sự phát triển của
kinh tế thì mức sống của người dân cũng được cải thiện thêm Rõ ràng rằng, người dân
ngày càng quan tâm đến sức khỏe của mình hơn khi cuộc sống của họ khấm khá hơn
- Đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều bác sỹ nhất trong cả nước Tốc độ tăng bình
quân thời kỳ 1996-2006 là 81.67 % một tỷ lệ khá cao Tây Nguyên là vùng có số bác sỹ
thấp nhất cả nước nhưng lại là vùng có tốc độ tăng bình quân cao nhất cả nước 92.57 %
Duyên hải miền Trung tuy có tốc độ tăng là thấp nhất cả nước nhưng số bác sỹ của vùng
này không hề thấp Các vùng khác có số bác sỹ và tốc độ tăng cũng ở mức cao Lý do là do
vùng Tây Nguyên thiếu cơ sở vật chất hạ tầng, là khu vực có nhiều dân tộc thiểu số sinh
sống Đời sống của họ còn thấp kém, mức thu nhập chưa cao so với các vùng khác
IV Vấn đề giáo dục
Biểu 6: Số lớp học mẫu giáo phân theo các vùng (Đơn vị tính: lớp)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1996-
2000 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 2000-
2006 (%)
Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1996-