1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH GIA LAI

11 1,3K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 167,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH GIA LAI Trần Thị Xuân Hòa, Trần Thị Nguyệt Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai TÓM TẮT Mục t

Trang 1

TÌM HIỂU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH GIA LAI

Trần Thị Xuân Hòa, Trần Thị Nguyệt

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tìm hiểu sự tuân thủ điều trị ngoại trú của bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) đến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai Đánh giá tình trạng đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ điều trị ngoại trú tại Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Gia Lai

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu điều tra cắt ngang trên mẫu chọn qua phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân Đối tượng: 112 bệnh nhân ĐTĐ tuổi từ 19 đến 97 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai từ tháng 3/2012 đến tháng 9/2012

Kết quả: Tỷ lệ nữ điều trị ĐTĐ nhiều hơn nam chiếm 60,7% Tỷ lệ dân tộc Kinh điều trị ĐTĐ chiếm đa số 80,4 % Đa số bệnh nhân tuân thủ điều trị: sử dụng thuốc thường xuyên 82%, tái khám định kỳ 89%, tập thể dục thường xuyên 70%, thực hiện chế độ ăn kiêng 83%.Tỷ lệ bệnh nhân có đường huyết ổn định là 23% Tuy nhiên có sự chênh lệch đáng kể giữa sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân người đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và người Kinh

Kết luận: Để cải thiện ý thức và tuân thủ điều trị góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong và ngăn ngừa biến chứng của bệnh ĐTĐ nhất là ở bệnh nhân người đồng bào DTTS cần phải nâng cao tuyên truyền ở tuyến cơ sở, đào tạo nhân viên y tế kiến thức, phương pháp tư vấn giáo dục sức khỏe bằng ngôn ngữ và tài liệu phù hợp

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn tính do hậu quả của tình trạng thiếu Insulin tuyệt đối hoặc tương đối, bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết cùng các rối loạn về chuyển hóa khác

Trong những năm gần đây, ĐTĐ đang càng ngày trở nên phổ biến và là vấn đề lớn đối với giới y khoa cũng như đối với cộng đồng Nó ảnh hưởng đến hàng triệu người, cả nam lẫn nữ ở mọi lứa tuổi và mọi trình độ học vấn Gánh nặng bệnh tật do ĐTĐ đang tăng lên trên toàn cầu, đặt biệt là các nước đang phát triển, nơi quá trình đô thị hóa đang làm thay đổi tập quán ăn uống, giảm hoạt động thể lực và tăng cân

Việt Nam có khoảng 4,5 triệu người đang mắc bệnh ĐTĐ, điều đáng lo ngại là 65% trong số đó không biết mình bị bệnh, hậu quả là phát hiện và điều trị muộn dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như: suy thận, tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim, tai biến mạch máu

Trang 2

não, mù lòa, bất lực ở nam giới và nhiễm trùng… Ngay cả những bệnh nhân được chẩn đoán cũng chưa điều trị đúng (số liệu của Hội Dinh dưỡng Việt Nam tháng 11/ 2011)

Việc điều trị bệnh ĐTĐ thường gặp khó khăn và phức tạp Để kiểm soát tốt đường huyết người bệnh phải cần đến 5 biện pháp thiết yếu, đó là:

- Giáo dục sức khoẻ cho người bệnh ĐTĐ

- Chế độ dinh dưỡng

- Chế độ tập luyện

- Sử dụng thuốc hợp lý theo chỉ định

- Các xét nghiệm kiểm tra

Trong công tác khám chữa bệnh hàng ngày các thầy thuốc thường ít chú trọng đến việc giáo dục bệnh nhân mà thường chú trọng đến việc kê đơn và kết quả điều trị sau mỗi lần tái khám Trong thực tế lâm sàng, hiệu quả điều trị tùy thuộc rất nhiều vào việc bệnh nhân ĐTĐ có những nhận thức, thực hành đúng hay không Tất cả những nhận thức và thực hành không đúng góp phần làm gia tăng sự xuất hiện các biến chứng, làm gia tăng chi phí điều trị, tỉ lệ tàn tật và tử vong Tuy nhiên đây là bệnh có thể kiểm soát được khi người bệnh có chế độ điều trị, chế độ ăn uống và luyện tập phù hợp

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng: Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai

2.1.2 Thời gian : Từ tháng 3/2012 đến tháng 9/2012

2.1.3 Địa điểm : Các khoa lâm sàng: Nội tổng hợp, Khám bệnh và Lão khoa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu điều tra cắt ngang trên mẫu chọn qua phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân điều trị ĐTĐ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai

2.2.2 Cỡ mẫu: Gồm 112 bệnh nhân độ tuổi từ 19 đến 97 tuổi

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu

- Soạn thảo bộ câu hỏi trắc nghiệm làm phiếu điều tra

- Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân theo phiếu điều tra

Trang 3

- Thu thập kết quả cận lâm sàng từ phòng xét nghiệm, hồ sơ bệnh án

2.2.5 Nội dung thu thập

- Điều tra sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ (ý thức sử dụng thuốc, chế độ ăn

bệnh lý, chế độ luyện tập, tái khám định kỳ…)

- Kết quả Glucose huyết tương lúc đói, HbA1c

2.2.6 Tiêu chuẩn chẩn đoán

Dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA):

- HbA1c ≥ 6,5%

- Xét nghiệm phải được làm ở labo sử dụng phương pháp chuẩn

+ Đường máu đói ≥ 7.0 mmol/ L ( ≥ 126 mg/dL) Đường máu đói đo khi đã nhịn không ăn ít nhất 8 giờ

+ Đường máu 2 giờ trong nghiệm pháp dung nạp glucose ≥ 11,1 mmol/L ( ≥ 200 mg/dL)

+ Nghiệm pháp dung nạp glucose phải được thực hiện theo đúng mô hình của Tổ chức Y tế thế giới WHO, sử dụng 75 gram glucose

+ Đường máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L ( ≥200 mg/dL)

- Trên bệnh có triệu chứng của đái tháo đường cổ điển

- Bệnh nhân được xem là tình trạng đường huyết không ổn định khi : HbA1c ≥ 7% hoặc đường máu lúc đói ≥ 7.0 mmol/ L ( ≥ 126 mg/dL)

2.2.7 Xử lý số liệu: Tất cả số liệu thu thập được đều được xử lý bằng Exel 2003

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Kết quả: Qua thực tế phỏng vấn 112 bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ, nhóm nghiên cứu chúng tôi có những kết quả và bàn luận sau:

3.1.1 Tỷ lệ giới

Bảng 1 Tỷ lệ giới

- Tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm 39,3%

- Tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 60,7 %

Trang 4

3.1.2 Phân bố theo địa dư

Bảng 2 Phân bố theo địa dư

- Số lượng bệnh nhân ở nông thôn chiếm 49,1 %

- Số lượng bệnh nhân ở thành thị chiếm 50,9 %

3.1.3 Tỷ lệ dân tộc

Bảng 3 Tỷ lệ dân tộc

- Bệnh nhân là người Kinh chiếm đa số 80,4%

- Bệnh nhân là người DTTS chiếm tỷ lệ thấp, cụ thể: Jarai 15,2% ; Bana 2,6% ; Nùng 1,8%

3.1.4 Trình độ học vấn

Bảng 4 Trình độ học vấn

- Tỷ lệ mù chữ chiếm 9,8 %

- Tỷ lệ cao nhất là THCS 33,9% ; tiếp đến là THPT trở lên 32,9% ; tiểu học 24,1%

Địa dư Số lượng Tỷ lệ

Dân tộc Số lượng Tỷ lệ

Trình độ Số lượng Tỷ lệ

Trang 5

3.1.5 Thời gian mắc bệnh đái tháo đường

Bảng 5 Thời gian mắc bệnh ĐTĐ

Thời gian mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỷ

lệ từ cao đến thấp: cao nhất từ 2 – 5 năm 34,8% ; dưới 2 năm 24,1% ; từ

5 – 10 năm 20,5% ; trên 10 năm 9,8% ; mới phát hiện hoặc không biết mình mắc bệnh 5,4%

3.1.6 Sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân

Bảng 6 Phương pháp điều trị

Đa số các bệnh nhân ĐTĐ đều tuân thủ chế độ điều trị như: Dùng thuốc theo đơn

của bác sỹ là 90%; thực hiện chế độ ăn kiêng 83%; thực hiện chế độ luyện tập thể dục 70%

Bảng 7 Thực hành sử dụng thuốc

Đa số bệnh nhân ĐTĐ dùng thuốc

thường xuyên theo đơn 82

Thời gian mắc bệnh ĐTĐ Số lượng Tỷ lệ

Sử dụng thuốc Số lượng Tỷ lệ

Trang 6

Bảng 8 Khám bệnh định kỳ

Đa số bệnh nhân ĐTĐ đi khám bệnh định kỳ chiếm 89%

Bảng 9 Chế độ ăn

Ăn nhiều bữa, lượng thức ăn mỗi bữa ít hơn 34 34%

Ăn 3 bữa, lượng thức ăn mỗi bữa ít hơn 44 44%

Bệnh nhân ĐTĐ thực hiện:

- Ăn 3 bữa, lượng thức ăn mỗi bữa ít hơn 44%

- Ăn nhiều bữa, lượng thức ăn mỗi bữa ít hơn 34%

- Ăn như bình thường 16%, Ăn ít hơn lúc chưa mắc bệnh 4%

- Ăn nhiều hơn lúc chưa mắc bệnh 2%

Bảng 10 Thực phẩm hạn chế sử dụng

Rượu bia, thuốc lá, các chất kích thích 78 78%

Các loại trái cây sấy khô, đóng hộp 89 89%

Khám bệnh định kỳ Số lượng Tỷ lệ

Trang 7

Hầu hết các bệnh nhân đều hạn chế các loại thực phẩm không có lợi cho bệnh ĐTĐ

như: Mỡ động vật 95%; đường, bánh kẹo, nước ngọt 95%; rượu bia, thuốc lá, chất kích thích 78%; các loại trái cây sấy khô, đóng hộp 89%

3.1.7 Tình trạng đường huyết

Bảng 11 Tình trạng đường huyết

Đa số đường huyết của bệnh nhân không ổn định 77%

3.1.8 Sự tuân thủ điều trị và tình trạng đường huyết

Bảng 12 Sự tuân thủ điều trị và tình trạng đường huyết

Đường huyết

ổn định (n=23)

Đường huyết k

ổn định (n=77) Tổng p Dùng thuốc theo đơn BS 23 (100%) 67 (87,01%) 90 0,03 Tập thể dục thường xuyên 21 (91,3%) 49 (63,64%) 70 < 0,00005

- Tất cả bệnh nhân dùng thuốc theo đơn của bác sĩ ở nhóm bệnh nhân đường huyết

ổn định (100%) cao hơn ở nhóm bệnh nhân có đường huyết không ổn định (87,01%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

- Tỷ lệ bệnh nhân tập thể dục thường xuyên ở nhóm bệnh nhân đường huyết ổn định (91,3%) cao hơn ở nhóm bệnh nhân có đường huyết không ổn định (63,64%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,00005)

- Tỷ lệ bệnh nhân tái khám định kỳ và thực hiện chế độ ăn kiêng ở nhóm bệnh nhân đường huyết ổn định cao hơn ở nhóm bệnh nhân có đường huyết không ổn định không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

3.2 Bàn luận

3.2.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Tình trạng đường huyết Số lượng Tỉ lệ

Đường huyết không ổn định 77 77%

Trang 8

- Qua khảo sát 112 bệnh nhân mắc và điều trị ĐTĐ, số lượng bệnh nhân nữ (60,7%) nhiều hơn nam giới, tỷ lệ bệnh nhân ở thành thị và nông thôn tương đương nhau

- Tỷ lệ dân tộc Kinh điều trị ĐTĐ chiếm đa số 80,4% mặc dù tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm xấp xỉ 50% trong dân số Tỉnh Gia lai

- Trình độ học vấn : tỷ lệ bệnh nhân mù chữ chiếm 9,8% đều là dân tộc thiểu số sống ở vùng nông thôn, chiếm tỷ lệ cao nhất là THCS 33,9%

3.2.2 Sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân

- Khảo sát 112 bệnh nhân thì có 6 bệnh nhân (5,3%) mới phát hiện bệnh khi nhập viện điều trị lần đầu tiên; 6 bệnh nhân DTTS (5,3%) đang điều trị nội trú khi được hỏi không biết mình mắc bệnh ĐTĐ, mặc dù có những bệnh nhân đã điều trị nhiều đợt và trong quá trình điều trị bệnh nhân chỉ biết uống thuốc phát hàng ngày chứ không tuân thủ chế độ

ăn hay chế độ luyện tập nào

- Trong số 100 bệnh nhân ĐTĐ có điều trị tại bệnh viện thì có 82% dùng thuốc thường xuyên theo đơn của bác sĩ; 8% có dùng thuốc nhưng không thường xuyên; 10% không dùng thuốc

Một số nguyên nhân khi được hỏi bệnh nhân cho biết:

+ Không biết phải dùng thuốc thường xuyên tại nhà

+ Không biết phải lấy thuốc ở trạm y tế

+ Trạm y tế không có insulin

+ Không có điều kiện tiêm Insulin ( không biết tiêm, không có người tiêm….) + Không có điều kiện kinh tế, phương tiện, thời gian để đi khám định kỳ lấy thuốc

- Có nhiều bệnh nhân dù biết phải dùng thuốc tại nhà nhưng vẫn chủ quan không tuân thủ vì kiến thức về đái tháo đường của bệnh nhân còn hạn chế, chưa biết được mức độ nguy hiểm của những biến chứng do bệnh ĐTĐ có thể gây ra Những hạn chế này bắt nguồn từ việc thiếu tài liệu giáo dục hợp lý, nhân viên y tế thiếu thời gian hướng dẫn, tư vấn cho người bệnh, số lượng bệnh nhân lớn, bản thân nhân viên y tế cũng chưa được đào tạo kỹ về phương pháp tư vấn cho bệnh nhân và bất đồng ngôn ngữ giữa nhân viên y tế và người bệnh

- Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân dùng thuốc thường xuyên là 82%, ăn kiêng là 83%, luyện tập thể dục 70%, có đường huyết ổn định 23% Trong nghiên

Trang 9

cứu ở bệnh viện Bạch Mai của Nguyễn Văn Khôi 2011, tỷ lệ luyện tập thể dục là 65% So với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thảo ở HCM 2009 thì tỷ lệ bệnh nhân dùng thuốc thường xuyên 63,4% ; luyện tập thể dục 16,8% ; tỷ lệ bệnh nhân có đường huyết ổn định 18,6% thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi, nhưng sau khi can thiệp bằng giáo dục sức khỏe

tỷ lệ tăng lên đáng kể 85,7% ; 41% ; 29,8% Điều này cho thấy tầm quan trọng của vai trò truyền thông, giáo dục sức khỏe trong điều trị bệnh đái tháo đường, giúp người bệnh hiểu

rõ mối nguy hiểm của bệnh, sửa đổi nhận thức và hành vi không đúng, tuân thủ điều trị nhằm làm giảm tỷ lên tử vong và ngăn ngừa biến chứng của bệnh

- Những người bị ĐTĐ cần phải phân chia khẩu phần ăn thành nhiều bữa để không gây tăng đường huyết sau khi ăn Trong 100 bệnh nhân ĐTĐ điều trị ngoại trú được điều tra chỉ có 34% bệnh nhân phân chia khẩu phần ăn đúng cách, còn lại 16% ăn như bình thường thậm chí ăn ít hơn lúc chưa mắc bệnh 48 % Điều này sẽ làm tăng đường máu nhiều sau ăn, hạ đường máu lúc xa bữa ăn: bủn rủn tay chân, vã mồ hôi, hoa mắt chóng mặt …

dễ gây nguy hiểm và không đảm bảo năng lượng cho các hoạt động thường ngày của bệnh nhân Trong nghiên cứu 95% bệnh nhân tuân thủ việc hạn chế mỡ động vật và các loại đường, bánh kẹo, nước ngọt; vẫn còn 22% bệnh nhân sử dụng rượu bia, thuốc lá, các chất kích thích; 11% bệnh nhân sử dụng các loại trái cây sấy khô, đóng hộp Tỷ lệ này vẫn còn cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Khôi, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bia rượu 7,8% ; hút thuốc lá 5%

- Trong số 58 bệnh nhân ( 51,8%) mắc bệnh ĐTĐ điều trị ngoại trú được phỏng vấn tại khoa khám bệnh bệnh viện Tỉnh Gia Lai, thì chỉ có 2 bệnh nhân là đồng bào dân tộc thiểu số đi khám bệnh định kỳ chiếm 3,4% Trong số 22 bệnh nhân DTTS điều trị ĐTĐ tại bệnh viện, chỉ có 3 BN đi khám sức khỏe, kiểm tra đường huyết định kì 1 tháng/ lần Vấn

đề không tuân thủ yêu cầu điều trị là do kiến thức về bệnh ĐTĐ của bệnh nhân còn hạn chế, bắt nguồn từ việc thiếu tài liệu giáo dục hợp lý, nhân viên y tế thiếu thời gian hướng dẫn, tư vấn cho người bệnh với số lượng bệnh nhân lớn tập trung ở tuyến Tỉnh, và bản thân nhân viên y tế cũng chưa được đào tạo kỹ về phương pháp tư vấn cho bệnh nhân nhất là ở các tuyến Y tế cơ sở Mặc khác, trình độ dân trí của đồng bào DTTS còn thấp, điều kiện kinh tế, địa lí còn khó khăn…

Trang 10

- Một điểm đặc biệt là trong số 22 bệnh nhân DTTS điều trị ĐTĐ, có 7 bệnh nhân (31,8%) đang được điều trị nội trú trong đó thậm chí có một số bệnh nhân điều trị nhiều đợt tại bệnh viện, nhưng khi được hỏi lại không biết mình mắc bệnh gì và chế độ điều trị, chế

độ ăn uống ra sao Vì vậy để cải thiện việc tuân thủ yêu cầu điều trị là nâng cao giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân

IV KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 100 bệnh nhân mắc ĐTĐ điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai từ tháng 3/2012 đến tháng 9/2012, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

- Đặc điểm chung:

+ Tỷ lệ nữ điều trị ĐTĐ nhiều hơn nam chiếm 60,7%

+ Tỷ lệ dân tộc Kinh điều trị ĐTĐ chiếm đa số 80,4 %

+ Thời gian mắc bệnh nhiều nhất là từ 2 – 5 năm chiếm 34,8%

- Sự tuân thủ điều trị:

+ Sử dụng thuốc thường xuyên 82%

+ Tái khám định kỳ 89%

+ Tập thể dục thường xuyên 70%

+ Thực hiện chế độ ăn kiêng 83%

- Đánh giá tình trạng đường huyết: tỷ lệ bệnh nhân có đường huyết ổn định là 23%

- Qua nghiên cứu, có sự chênh lệch rõ rệt giữa sự tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ của đồng bào DTTS và người Kinh, tỷ lệ DTTS điều trị ĐTĐ chỉ chiếm 19,6% Để cải thiện ý thức và tuân thủ điều trị là nâng cao tuyên tuyền ở tuyến y tế cơ sở, đào tạo cho nhân viên y

tế kiến thức, phương pháp tư vấn giáo dục sức khỏe hiệu quả; phát triển ngôn ngữ và tài liệu phù hợp Thành lập phòng tư vấn cho bệnh nhân ĐTĐ ở bệnh viện Để thuận tiện cho việc điều trị của bệnh nhân ĐTĐ ở vùng sâu vùng xa, cần trang bị các phương tiện và thuốc đầy đủ hơn nữa cho các tuyến y tế cơ sở

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 David Beran (2008), Báo cáo chương trình đánh giá nhanh tình hình tiếp cận Insulin tại Việt Nam

2 Tạ Văn Bình (2006), “Nghiên cứu các biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường mới phát

hiện ở Bệnh viện Nội tiết trung ương”, Nhà xuất bản Y học 2006

Ngày đăng: 31/07/2016, 18:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 6. Phương pháp điều trị - TÌM HIỂU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ CỦA BỆNH NHÂN  ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH GIA LAI
Bảng 6. Phương pháp điều trị (Trang 5)
Bảng 10. Thực phẩm hạn chế sử dụng - TÌM HIỂU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ CỦA BỆNH NHÂN  ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH GIA LAI
Bảng 10. Thực phẩm hạn chế sử dụng (Trang 6)
Bảng 12. Sự tuân thủ điều trị và tình trạng đường huyết - TÌM HIỂU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ CỦA BỆNH NHÂN  ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH GIA LAI
Bảng 12. Sự tuân thủ điều trị và tình trạng đường huyết (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w