16 TRUONG HOP PHUC TAP VIET THANH 1 THU THUAT DUY NHATNHAM MAT LAM RA NGAY1. Ý nghĩa của đề tài SKKN.Giáo dục là một thiết chế xã hội, hoạt động dựa trên yêu cầu của đơn đặt hàng của xã hội đặt ra cho nó trong từng giai đoạn lịch sử và từng điều kiện cụ thể. Do vậy, khi xây dựng mục tiêu giáo dục cho nền giáo dục của một trường cụ thể, ta phải căn cứ vào mục tiêu chung của giáo dục và điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng nhà trường.Thực tế giáo dục ở các trường THPT miền núi so với các trường miền xuôi trong tỉnh, nhìn chung đã khẳng định tính chính xác cho luận điểm trên. Cụ thể như ở trường THPT Lang Chánh, mục tiêu của chúng ta không phải là đào tạo ra các học sinh giỏi mang tầm quốc gia, quốc tế, mà mục tiêu của chúng ta hiện nay có thể nói là dạy được thật nhiều học sinh và nâng cao kết quả tốt nghiệp, cũng như kết quả thi Đại học của học sinh. Tuy nhiên với điều kiện hiện có việc nâng cao kết quả thi Đại học theo cùng các trường miền xuôi thức sự là một vấn đề lớn đối với cả Thầy và Trò trong Nhà Trường.Đơi với bộ môn Vật lý, một bộ môn có yêu cầu cao về phương pháp tư duy và biến đổi toán học, thì vấn đề đó càng trở nên khó khăn và vất vã. Điều đó đặt ra cho giáo viên nhiệm vụ xây dựng nhiều phương pháp dạy học phù hợp hơn cho học sinh, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục trong điều kiện khó khăn này. Theo cùng tư tưởng đó, tôi đã có nhiều ý tưởng về phương pháp để học sinh làm bài tốt hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn. Một trong những ý tưởng đó là thống nhất các phương trình phức tạp phần ghép dụng cụ của mạch, hệ dao động thành một phương trình đơn giản, nâng cao hiệu quả làm trắc nghiệm của học sinh . Ý tưởng này chính là đề tài nghiện cứu của tôi trong vòng hai năm qua.
Trang 1Năm học: 2010 - 2011
-
-SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP THỐNG NHẤT CÁC PHƯƠNG TRÌNH PHỨC TẠP PHẦN GHÉP DỤNG CỤ MẠCH, HỆ DAO ĐỘNG THÀNH MỘT PHƯƠNG TRÌNH ĐƠN GIẢN.
NÂNG CAO HIỆU QUẢ LÀM TRẮC NGHIỆM
Năm học:
Tên tác giả:
Tổ bộ môn: Vật lý - CN Trường:
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa của đề tài SKKN.
Giáo dục là một thiết chế xã hội, hoạt động dựa trên yêu cầu của đơn đặt hàng của xã hội đặt ra cho nó trong từng giai đoạn lịch sử và từng điều kiện cụ thể Do vậy, khi xây dựng mục tiêu giáo dục cho nền giáo dục của một trường cụ thể, ta phải căn cứ vào mục tiêu chung của giáo dục và điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng nhà trường
Thực tế giáo dục ở các trường THPT miền núi so với các trường miền xuôi trong tỉnh, nhìn chung đã khẳng định tính chính xác cho luận điểm trên
Cụ thể như ở trường THPT Lang Chánh, mục tiêu của chúng ta không phải là đào tạo ra các học sinh giỏi mang tầm quốc gia, quốc tế, mà mục tiêu của chúng ta hiện nay có thể nói là dạy được thật nhiều học sinh và nâng cao kết quả tốt nghiệp, cũng như kết quả thi Đại học của học sinh Tuy nhiên với điều kiện hiện có việc nâng cao kết quả thi Đại học theo cùng các trường miền xuôi thức sự là một vấn đề lớn đối với cả Thầy và Trò trong Nhà Trường
Đơi với bộ môn Vật lý, một bộ môn có yêu cầu cao về phương pháp tư duy và biến đổi toán học, thì vấn đề đó càng trở nên khó khăn và vất vã Điều
đó đặt ra cho giáo viên nhiệm vụ xây dựng nhiều phương pháp dạy học phù hợp hơn cho học sinh, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục trong điều kiện khó khăn này Theo cùng tư tưởng đó, tôi đã có nhiều ý tưởng về phương pháp để học sinh làm bài tốt hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn Một trong
những ý tưởng đó là " thống nhất các phương trình phức tạp phần ghép dụng cụ của mạch, hệ dao động thành một phương trình đơn giản, nâng cao hiệu quả làm trắc nghiệm của học sinh" Ý tưởng này chính là đề tài
nghiện cứu của tôi trong vòng hai năm qua
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
+ Thống nhất nhiều biểu thức, phương trình phức tạp làm một, trước
hết rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp cho học sinh và sau đó, giảm sự cồng kềnh, phức tạp của kiến thức
+ Đề tài đã phân tích được một phần thực trạng dạy - học ở trường THPT Lang Chánh, từ đó khắc phục một phần khó khăn cho nhiệm vụ dạy học của bản thân tôi tại đây
+ Thống nhất các phương trình phức tạp phần ghép dụng cụ của mạch, hệ dao động thành một phương trình đơn giản, nâng cao hiệu quả làm trắc nghiệm của học sinh là một đề tài hoàn toàn mới Cách trình bày
Trang 3của tôi có thể chưa thực sự gọn gàng và khoa học Song ít nhiều giúp bạn đọc, đặc biệt là học sinh làm bài tập phần này tốt hơn
+ Đề tài sẽ là một nguồn động viên, khích lệ cho những giáo viên cùng
ý tưởng, cùng đam mê nghiên cứu khoa học giáo dục thêm tự tin với những ý tưởng sáng tạo mới của mình
2 Thực trạng đối tượng học sinh.
Do điều kiện là một huyện miền núi, điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng và hiêu quả giáo dục nói chung và kết quả học tập môn Vật lý của học sinh nói riêng Vì vậy, trong quá trình học tập Vật lý học sinh thường gặp rất nhiều khó khăn Trong đó, ta có thể nêu các khó khăn điển hình sau đây:
+ Khó khăn trong việc ghi nhớ các công thức dài, phức tạp
+ Dễ nhầm lấn khi gặp các bài toán có công thức khác nhau, nhưng gần giống nhau
+ Khó khăn trong việc biến đổi các bài toán có công thức phức tạp + Khó khăn trong việc xử lý nhanh bài toán để đảm bảo đủ thời gian cho các bài thi dài
Để giải quyết phần nào các khó khăn đó, giáo viên giảng dạy ở đây cần lựa chọn các phương pháp giảng dạy đặc trưng, phù hợp với tực tế đối tượng học sinh
3 Điều kiện cụ thể khi thực hiện đề tài.
3.1 Nhiệm vụ giáo viên được giao.
+ Dạy học bộ môn Vật lý
+ Chủ nhiệm lớp 10A1
3.2 Tình hình địa phương trường lớp.
Địa phương là một huyện miền núi, điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, tỉ lệ học sinh học ở bậc THPT còn thấp, chất lượng đầu vào thấp
Ở các bậc học dưới, học sinh thường không được trang bị đầy đủ về khả năng tư duy, về kỹ năng biến đổi toán học
Cơ sở vật chất của nhà Trường tương đối đầy đủ Tuy nhiên, điều kiện vật chất của mổi cá nhân học sinh phục vụ học tập lại tương đối hạn chế so với yêu cầu của sự phát triển
Trang 4II NỘI DUNG
1 Đối tượng.
Về đối tượng nghiên cứu, tôi chọn các nhóm học sinh ôn thi Đại học thuộc các lớp 12A1, 12A2 ( khóa 2007 - 2010 và 2008 - 2011), giảng dạy và thử nghiệm trong vòng hai năm 2009 - 2010, 2010 - 2011
Trong quá trình nghiên cứu, tôi không chọn các nhóm so sánh tương phản, mà sử dụng các phương pháp khác nhau cho cùng một nhóm ở các thời điểm khác nhau và yêu cầu học sinh cho kết luận so sánh Đồng thới lấy kết quả làm bài tập theo hai phương pháp làm căn cứ đánh giá ưu, nhược của mỗi phương pháp
2 Hạn chế đối với dạng bài tập ghép dụng cụ hệ, mạch dao động.
Các bài toán thuộc phần này gồm ba bài toán ghép lò xo và 8 bài toán ghép cuộn cảm, hoặc tụ điện Đối với học sinh, các bài toán này đều có chung một số điểm khó khăn sau đây:
- Học sinh phải nhớ các công thức ghép dụng cụ song song và nối tiếp
- Phải làm một bài toán phức tạp để biến đổi các công thức trên về dạng tổng và tích của hai đại lượng, để áp dụng định lý Viet tìm các đại lượng đó
- Đối với một học sinh làm tốt bài toán này heo các quy tắc trên phải mất đến khoảng vài phút cho một trắc nghiệm Nếu vậy kết quả trắc nghiệm
sẽ bị hạn chế Bởi vì ta đã biết thời gian trung bình cho một bài toán trắc nghiệm là một phút rưỡi đến một phút tám
Vậy, vấn đề là làm sao để học sinh vừa làm đúng nhất và nhanh nhất Điều nàyẽ đạt được nếu sử dụng phương trình tổng quát sau đây
3 Phương pháp thống nhất các phương trình phức tạp trên.
- Khi ghép các dụng cụ như C1 với C2; L1 với L2 trong mạch LC, hay k1
với k2 trong con lắc lò xo, ta luôn thu được các đại lượng ωss, ωnt; f , ss f nt;
nt
ss T
T , ; λss, λnt Nếu đặt các đại lượng trên là a , ss a nt, thì a , ss a nt luôn nhận một trong các biểu thức sau 2
2
2
1 a a
2
2 1
2 1
a a
a a a
+
= Trong hai giá trị này
bao giờ cũng thỏa mãn 2
2
2
1 a
a + > 2
2
2 1
2 1
a a
a a
+ Do vậy, đặt a= a +a2 =a l
2
2
a a
a a
+
=
2 2
2 1
2 1
(a nhỏ) Khi đó, a 1 và a 2 là hai nghiệm x1 và x2 của phương trình:
Trang 50 2
2
2 − al + alan x + alan =
x
- So sánh các giá trị của dụng cụ để gán các nghiệm x i phù hợp với các giá trị ai trên
4 Bài tập so sánh.
nối tiếp (C1song song C2) thì f ss = 4 , 8 10 6Hz Nếu dùng L nối tiếp (C1 nối tiếp
C2) thì f nt = 10 10 6Hz.Biết C1< C2 Xác định f 1 và f 2 khi sử dụng riêng C1 và
C2
Giải
Cách 1( Biến đổi bình thường):
- Nếu C1 nối tiếp C2 thì 2
2
2
1 f f
- Nếu C1 song song C2 thì 2
2
2 1
2 1
f f
f f
f ss
+
=
- Suy ra:
+
= +
=
ss nt nt
ss nt
f f f f f
f f f f
2
.
2 2
1
2 1
vậy f 1 và f 2 là nghiệm của phương trình:
0 2
2
x
- Thay số và giải ra ta được:
=
=
6 2
6 1
10 6
10 8
x x
- Vì C1< C2 , nên f 1 > f 2 , tức là
=
=
Hz f
Hz f
6 2
6 1
10 6
10 8
Cách 2( Áp dụng pt đã thống nhất):
- Vì f nt = 10 10 6Hz > f ss = 4 , 8 10 6Hz , nên f 1 và f 2 là nghiệm của phương trình:
0 2
2
x
- Thay số và giải ra ta được:
=
=
6 2
6 1
10 6
10 8
x x
- Vì C1< C2 , nên f 1 > f 2 , tức là
=
=
Hz f
Hz f
6 2
6 1
10 6
10 8
nối tiếp (C1 song song C2) thì mạch thu được λ = 5m Nếu dùng L nối tiếp (C1
nối tiếp C2) thì mạch thu được λ ' = 2 , 4m.Biết C1< C2 Xác định λ1 và λ2 khi
sử dụng riêng C1 và C2
Giải
Cách 1( Biến đổi bình thường):
Trang 6- Nếu C1 nối tiếp C2 thì 2
2
2 1
2 1 '
λ λ
λ λ λ
+
=
- Nếu C1 song song C2 thì 2
2
2
1 λ λ
- Suy ra:
+
= +
=
' 2 2 1
' 2 1
2
.
λλ λ
λ λ
λλ λ λ
vậy λ1 và λ2 là nghiệm của phương trình:
0
2
x
- Thay số và giải ra ta được:
=
=
3
4
2
1
x x
- Vì C1 < C2 , nên λ1 < λ2 , tức là
=
=
m
m
4
3
2
1
λ λ
Cách 2( Áp dụng pt đã thống nhất):
- Nhận thấy trong hai giá trị trên thì 5m > 2,4m, nên λ1 và λ2 là nghiệm của phương trình:
0 4
, 2 5 4
, 2 5 2
52
x
- Giải ra ta được:
=
=
3
4
2
1
x x
- Vì C1< C2 , nên λ1 < λ2 , tức là
=
=
m
m
4
3
2
1
λ λ
tiếp k2, thì hệ có chu kỳ T = 2,5 s Nếu dùng K1 song song k2 thì hệ có chu kỳ T' = 1,2 s Biết k1< k2 Xác định T 1 và T 2 khi sử dụng riêng k1 và k2
Giải
Cách 1( Biến đổi bình thường):
- Nếu k1 nối tiếp k2 thì 2
2
2
1 T T
- Nếu k1 song song k2 thì 2
2
2 1
2 1 '
T T
T T T
+
=
- Suy ra:
+
= +
=
' 2
2 1
' 2 1
2
.
T T T T T
T T T T
vậy λ1 và λ2 là nghiệm của phương trình:
0
.
2
x
- Thay số và giải ra ta được:
=
=
5 , 1
2
2
1
x x
Trang 7- Vì k1 < k2 , nên T 1 > T 2 , tức là
=
=
S T
S T
5 , 1
2
2 1
Cách 2( Áp dụng pt đã thống nhất):
- Nhận thấy trong hai giá trị trên thì 2,5 s > 1,2 s, nên T1 và T2 là nghiệm của phương trình:
0 2
, 1 5 , 2 2
, 1 5 , 2 2 5
,
2 2
x
- Thay số và giải ra ta được:
=
=
5 , 1
2
2
1
x x
- Vì k1 < k2 , nên T 1 > T 2 , tức là
=
=
S T
S T
5 , 1
2
2 1
5 Kết quả áp dụng thực tiễn của đề tài.
5.1 Nhóm khảo sát năm 2009 - 2010.
TT HỌ VÀ TÊN LỚP
MỖI BÀI KIÊM TRA 5 CÂU TRẮC NGHIỆM G Chú
PP TRUYỀN THỐNG PP MỚI
SỐ CÂU ĐÚNG THỜI GIAN LÀM SỐ CÂU ĐÚNG THỜI GIAN LÀM
1 Lê Thanh Thủy 12A1 4/5 32 phút 5/5 15 phút
3 Đào Thị Thùy 12A1 4/5 25 phút 5/5 13 phút
4 Nguyễn Thị Hậu 12A1 3/5 30 phút 5/5 16 phút
5 Vũ Thu Trang 12A1 3/5 40 phút 4/5 20 phút
9 Lương Thị Phấn 12A2 3/5 33 phút 5/5 16 phút
5.2 Nhóm khảo sát năm 2010 - 2011.
TT HỌ VÀ TÊN LỚP
MỖI BÀI KIÊM TRA 5 CÂU TRẮC NGHIỆM G Chú
PP TRUYỀN THỐNG PP MỚI
SỐ CÂU ĐÚNG THỜI GIAN LÀM SỐ CÂU ĐÚNG THỜI GIAN LÀM
1 Bạch Hồng Ngọc 12A1 5/5 28 phút 5/5 12 phút
3 Lương Minh Tâm 12A1 4/5 30 phút 5/5 13 phút
4 Đào Nguyên Tài 12A1 4/5 30 phút 5/5 15 phút
5 Lê Thị Lượng 12A1 5/5 28 phút 5/5 14 phút
6 Dương Thị Hương 12A1 4/5 33 phút 5/5 16 phút
7 Lê Xuân Sang 12A1 4/5 34 phút 5/5 16 phút
9 Phạm Thị Bích 12A2 3/5 45 phút 4/5 25 phút
10 Phạm Thị Phương 12A2 4/5 33 phút 5/5 18 phút
Trang 8III KẾT LUẬN.
1 Đánh giá chung về đề tài.
Đề tài này tôi nghiên cứu về một vấn đề có thể xem là rất nhỏ Tuy nhiên, tính hiệu quả đói với phạm vi vấn đề tác dụng lại tương đối lớn Mặt khác trong các đề thi Đại học thường có ít nhất một bài tập về vấn đề này Như vậy nếu dùng phương pháp này thì bài tập đó sẽ có xác suất đúng cao hơn nhiều và thời gian làm bài lại ngắn đi đáng kể Từ những điều đó có thể cho kết luận ban đầu rằng nếu thực hiện tốt phương pháp mới này, thì sẽ nâng cao hiệu quả học tập của học sinh
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu đề tài, do còn nhiều khó khăn, bất cập nên kết quả còn chưa được như ý muốn, rất mong các đồng nghiệp đọc, nghiên cứu và đóng góp thêm ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
2 Bài học kinh nghiệm.
Để đề tài được ứng dụng có hiệu tốt nhất, cần lưu ý một số điểm sau đây:
+ Trước khi ứng dụng đề tài này vào dạy học cần dạy tự luận tất cả các dạng toán trên Yêu cầu học sinh biến đổi ra các phương trình theo phương pháp truyền thống, nhằm rèn luyện tư duy cho học sinh
+ Thời điểm sử dụng phương pháp này là khi học sinh đã được ôn lại các dạng toán và chuẩn bị thi Đại học
+ Cách thức ứng dụng phương pháp là khi ôn luyện giáo viên ra nhiều bài toán ôn tập theo lối "bổ dọc" kiến thức, liên hệ kiến thức các phần Yêu cầu học sinh làm và cho nhận xét chung Từ những nhận xét của học sinh, giáo viên hệ thống và đưa ra phương pháp mới cho toàn bộ các bài toán trên
và làm bài ví dụ, bài tập củng cố
Sở dĩ phải làm như vậy là vì phải đảm bảo học sinh vừa hiểu sâu kiến thức, vừa rèn luyện tư duy và đồng thời nâng cao hiệu quả làm bài Chúng ta không thể chỉ chí ý đến hiệu quả làm bài mà vô tình biến học sinh thành
"những chiếc máy làm trắc nghiệm" Cũng không thể chỉ chú ý để học sinh
hiểu sâu vấn đề, mà kết quả tị lại không cao
3 Đề xuất, kiến nghị.
Nghiên cứu một vấn đề và đưa ra các kiến giải hợp lý, mới và sáng tạo
về vấn đề đó là một việc làm khó Áp dụng được các kiến giải đó vào thực tể
có hiệu quả có thể là đơn giản, nhưng cũng có thể còn khó hơn Lời thế của đề
Trang 9tài này là dể áp dụng vào thực tế Do vậy, tôi xin có một số đề xuất nhỏ đối với các đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo như sau:
- Các đồng nghiệp khi đọc các vấn đề tôi nghiên cứu, hãy tìm cho mình những điểm đúng đắn và phù hợp với bản thân, với lớp mình dạy, để áp dụng vào bài dạy được tốt hơn
- Về phía các cấp lãnh đạo, tôi đề xuất một sự quan tâm, đánh giá đúng mức về đề tài, để tôi có thể tiếp tục nghiên cứu và áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy
Xin chận trọng cảm ơn!
Lang Chánh, ngày 28 tháng 04 năm 201.
Người thực hiện