BIDC và vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp việt nam đầu tư sang campuchia
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực tập và làm báo cáo, em đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ quý thầy cô trong khoa cũng như từ các cán bộ tín dụng tại nơi thực tập
Nhân dịp này, em xin gởi lời cảm ơn đến Th.S Phạm Thị Hạ Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn và giải đáp thắc mắc trong quá trình làm báo cáo Em cũng xin được gởi lời cảm ơn đến các anh chị làm việc tại phòng Quan hệ khách hàng của Ngân hàng BIDC – Tp Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn những vấn đề liên quan đến bài báo cáo thực tập, cũng như nhiệt tình chỉ dạy những công việc
và kinh nghiệm thực tế tại ngân hàng để em có thể hoàn thành kì thực tập với nhiều trải nghiệm mới
Chúc cô và các anh chị sức khỏe dồi dào, thành công trong công việc và hạnh phúc trong cuộc trong cuộc sống
Trang 2NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
-
Trang 3Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI 3
1.1 Vai trò của ngân hàng thương mại trong sự phát triển kinh tế 3
1.2 Vai trò của BIDC trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Campuchia 5
1.2.1 Ký quỹ 5
1.2.2 Khái niệm đầu tư ra nước ngoài 5
1.2.3 Vai trò chính của BIDC 6
1.3 Những quy định về ĐTRNN mà Nhà nước ban hành 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẦU TƯ SANG CAMPUCHIA CỦA BIDC 9
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia (BIDC) 9
2.1.1 Quá trình thành lập ngân hàng 9
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng BIDC - Chi nhánh Tp Hồ Chí Minh
11
2.1.3 Các chi nhánh của ngân hàng 11
2.1.4 Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng 11
2.2 Thực trạng tình hình đầu tư sang Campuchia của các doanh nghiệp Việt Nam .12
2.2.1 Về lĩnh vực đầu tư 12
2.2.2 Về dự án – Số vốn 13
2.2.3 Về phương thức hoạt động kinh doanh 17
Trang 42.3 Thực trạng việc hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campchia ở BIDC 18
2.4 Đánh giá các phương thức hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư sang Campuchia mà BIDC đã thực hiện 21
2.4.1 Tác động tích cực và hiệu quả đạt được trong hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp Việt đầu tư sang Campuchia ở BIDC 21
2.4.2 Những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư sang Campuchia ở BIDC 28
CHƯƠNG 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẦU TƯ SANG CAMPUCHIA TẠI BIDC 31
2.1 Đối với Chính Phủ 31
2.2 Đối với Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia (BIDC) 32
2.3 Đối với các doanh nghiệp 33
KẾT LUẬN 36
Trang 5DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 2: Tổng hợp đầu tư ra nước ngoài 10 nước có số vốn đầu tư của
Bảng 3: Vốn đầu tư sang Campuchia của doanh nghiệp Việt qua các
Bảng 4: Tỉ lệ số tiền kí quỹ của các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực
trên tổng số tiền kí quỹ với mục đích đầu tư sang Campuchia
tại BIDC – Tp Hồ Chí Minh
20
Bảng 5: Thứ hạng số vốn đầu tư từ Việt Nam sang Campuchia từ 2006
Bảng 6: Tỉ lệ vốn của Việt Nam trong tổng số vốn đầu tư vào
Trang 6DANH SÁCH HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức của chi nhánh 11 Biểu đồ: Tình hình vốn đầu tư của Việt Nam vào Campuchia từ 2006 – 09/2011 25
Trang 7DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải thích
- AVIC Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam vào Campuchia
- BIDC Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia
- CDC Hội đồng phát triển Campuchia
- ĐTRNN đầu tư ra nước ngoài
- NHTM Ngân hàng thương mại
- TNHH trách nhiệm hữu hạn
Trang 8K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
về điều kiện địa lý, có quá trình quan hệ làm ăn lâu dài, nhưng đồng thời là thị trường chịu nhiều áp lực cạnh tranh với sự hiện diện của doanh nghiệp Trung Quốc
và Thái Lan Để tạo những điệu kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Campuchia, Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia (BIDC) được thành lập 2009 với 100% vốn từ Việt Nam, ra đời với mục đích là kênh kết nối thanh toán giữa hai nền kinh tế và hỗ trợ tài chính các công ty Việt Nam làm ăn, đầu
tư ở nước sở tại Sau 3 năm thành lập, ngân hàng đã có những bước tiến trong việc
hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Campuchia bằng những hình thức khá hiệu quả Tuy nhiên, vì chỉ mới thành lập và hoạt động trong thời gian ngắn nên ngân hàng vẫn còn gặp nhiều những khó khăn, vướng mắc trong nhiều vấn đề Vì vậy, để hiểu rõ hơn về hoạt động của ngân hàng trong lĩnh vực hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Campuchia, tôi quyết định chọn đề tài: “ Ngân hàng đầu tư & phát triển Campuchia (BIDC) và vấn đề hỗ trợ các doanh nghiệp Việt
Nam đầu tư sang Campuchia”
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa vào thực trạng, đánh giá những phương thức hỗ trợ khác nhau mà ngân hàng đã thực hiện đối với các doanh nghiệp đầu tư sang Campuchia Từ đó đưa ra những kiến nghị để cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong
lĩnh vực này
3 Đối tượng nghiên cứu
Những cách thức hỗ trợ mà ngân hàng thực hiện để giúp các doanh nghiệp đã
và đang đầu tư sang Campuchia
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng việc hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư
sang Campuchi của BIDC
Chương 3: Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ
các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Campuchia tại BIDC
Trang 10K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC
NGOÀI 1.1 Vai trò của ngân hàng thương mại trong sự phát triển kinh tế
Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hóa Sản suất hàng hóa phát triển, lưu thông hàng hóa ngày càng mở rộng, trong xã hội xuất hiện người thì có vốn nhàn rỗi, người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh Điều này giải quyết bằng cách nào? NHTM ra đời là chìa khóa giúp cho người cần vốn có được vốn và người có vốn tạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ vốn Các ngân hàng cũng cân đối được vốn trong nền kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển Các ngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các cá nhân sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành tái sản xuất với trang thiết bị hện đại hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có lợi nhuận cao hơn Xã hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh
tế càng tăng, không một tổ chức nào có thể đáp ứng được Chỉ có ngân hàng – một
tổ chức trung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hòa, phân phối vốn giúp cho tất
cả các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân đối
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không phải là cứ sản xuất bất cứ cái gì, mà phải luôn trả lời được 3 câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? Có nghĩa là sản xuất theo tín hiệu của thị trường Thị trường yêu cầu các doanh nghiệp phải sản xuất ra các sản phẩm với chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Để được như vậy, các doanh nghiệp phải được đầu tư bằng công nghệ hiện đại, trình độ cán bộ, công nhân lao động phải được nâng cao… Những hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư lớn và để đáp ứng được thì chỉ có các ngân hàng Ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp thực hiện được các cải tiến của mình, có được
các sản phẩm có chất lượng, giá thành rẻ, nâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 11K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trung tâm tiền tệ của toàn
bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển hài hòa cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể nói mỗi sự dao động của ngân hàng đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phần kinh tế khác Do vậy sự hoạt động
có hiệu quả của NHTM thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công
cụ tốt để Nhà nước tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông Mặt khác, với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, bảo đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh
tế
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới với việc hình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm cho các mối quan hệ thương mại, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng và trở nên cấp thiết, cấp bách Nền tài chính của một quốc gia cần phải hòa nhập với nền tài chính thế giới Các ngân hàng thương mại là trung gian, cầu nối để tiến hành hội nhập Ngày nay, đầu tư ra nước ngoài là một hướng đầu tư quan trọng và mang lại nhiều lợi nhuận Đồng thời các nước cần xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu những mặt hàng mà mình thiếu Các ngân hàng thương mại với những nghiệp vụ kinh doanh như: nhận tiền gởi, cho vay, bảo lãnh và đặc biệt là các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đã góp phần tạo
điều kiện, thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng và phát triển
Trang 12K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự”
Đây là biện pháp bảo đảm tiền vay trong tín dụng mà ngân hàng BIDC thực hiện khi mở tín dụng cho các doanh nghiệp vay tiền Các tài sản để ký quỹ, về bản chất, đều là tiền hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền, doanh nghiệp, công ty mẹ sẽ gửi “tiền” vào một tài khoản phong tỏa của ngân hàng ở các chi nhánh tại Việt Nam,
để đảm bảo cho một hợp đồng “vay tiền” khác của chi nhánh hoặc công ty con ở
Campuchia có thể vay tiền tại hội sở của BIDC
1.2.2 Khái niệm đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư (tổ chức kinh tế hoặc cá nhân), đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành
hoạt động đầu tư
Đầu tư ra nước ngoài là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại để
mở rộng thị trường, đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, tùy thuộc vào nhu cầu và điều kiện của mỗi nước mà đầu tư ra nước ngoài cân bằng và đồng hành với đầu tư nước ngoài Vì vậy, dòng vốn đầu tư giữa các nước phát triển sang các nước đang phát triển biến động từng năm tùy thuộc nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước Việt Nam đã và đang thành công trong thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1987 đến nay và có thể nhận thấy xu hướng mới đang trỗi dậy trong vài năm trở lại đây,
Trang 13K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
đó là sự gia tăng dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
Sự ra đời của BIDC cũng là một phần tất yếu trong quá trình này
1.2.3 Vai trò chính của BIDC
Là một NHTM được thành lập bởi 100% vốn của Ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt Nam ( BIDV), ngân hàng BIDC ra đời với hai vai trò chính:
- Là kênh kết nối thanh toán giữa hai nền kinh tế Việt Nam – Campuchia, hỗ trợ tài chính các công ty Việt Nam làm ăn, đầu tư ở nước sở tại Cho đến nay (2012), ngân hàng đã có 5 chi nhánh: 2 chi nhánh ở Việt Nam và 3 chi nhánh ở Campuchia Mục tiêu hoạt động chính của ngân hàng này là liên kết thị trường tài chính của hai nước láng giềng gần gũi, cung cấp các gói dịch vụ tài chính hiện đại
và đầy đủ cho các thành phần kinh tế và người dân địa phương trong một hệ thống tài chính với quy trình khép kín
- Là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường: BIDC dành ưu tiên cho vay vốn đối với các doanh nghiệp Việt Nam đang làm ăn tại Campuchia Hai chi nhánh ở Việt Nam, BIDC – Hà Nội và BIDC – Tp Hồ Chí Minh, đóng vai trò cầu nối thanh toán, cung cấp tín dụng, dịch vụ ngân hàng, tư vấn đầu tư, tư vấn thông tin thị trường tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp và cư dân hai nước Sau gần hai năm hoạt động, BIDC là nơi cung cấp những dịch vụ tài chính, tiền tệ, thanh toán cho cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư của Việt Nam và Campuchia BIDC là nơi hỗ trợ tài chính, đặc biệt là nguồn vốn trung, dài hạn đáp ứng nhu cầu đầu tư của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Campuchia và các doanh nghiệp Campuchia
Việc BIDC và các ngân hàng của Việt Nam tại Campuchia liên tục phát triển mạng lưới cung cấp tín dụng, cùng với những hoạt động xã hội tích cực trong thời gian vừa qua được Ngân hàng Quốc gia Campuchia và chính quyền địa phương các cấp đánh giá cao Coi đó là hành động thiết thực góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của Campuchia, đúng như cam kết trong quan hệ hợp tác giữa hai Chính
phủ Việt Nam và Campuchia
Trang 14K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
1.3 Những quy định về ĐTRNN mà Nhà nước ban hành
Hành lang pháp lý cho ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam mới được Chính phủ ban hành đầu năm 1999 với Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn và quản lý hoạt động ĐTRNN Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP nói trên, các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động ĐTRNN của doanh
nghiệp Việt Nam, như:
- Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam
Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện, bộc lộ một số hạn chế đòi hỏi cần được hoàn thiện Từ thực tế nêu trên, năm 2005 Chính phủ đã trình Quốc hội luật hóa hoạt động ĐTRNN và được Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu lực vào tháng 7/2006), trong đó có các quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt
Nam
Sau một thời gian ngắn, Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định
về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam được ban hành ngày 09/9/2006 nhằm hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 với 4 mục tiêu chủ đạo là:phù hợp với thực tiễn hoạt động; quy định rõ ràng, cụ thể hơn;tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước; và đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời, mở rộng và phát triển quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn
quy định:
Trang 15K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
- Các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp có vốn ĐTNN, đều có quyền ĐTRNN, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, được lựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật Việt Nam bảo hộ Giảm thiểu các quy định mang tính “xin-cho” hoặc “phê duyệt” bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền
hà cho hoạt động đầu tư, đồng thời, có tính đến với lộ trình cam kết trong các thoả thuận đa phương và song phương trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Chỉ rõ trách nhiệm, các quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, về việc thực hiện các mối quan hệ đó cũng như chế tài khi có những
vi phạm từ hai phía (nhà đầu tư và cơ quan, công chức nhà nước) nếu không thực hiện đúng các quy định của pháp luật
Như vậy, khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN đã dần dần được hoàn thiện hơn thông việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, đồng thời, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về ĐTRNN đã thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 và thủ tục đầu tư ra nước ngoài đã được hướng dẫn
cụ thể, rõ ràng, đơn giản tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH ngày 10/10/2007
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 16K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VIỆC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẦU TƯ
SANG CAMPUCHIA CỦA BIDC 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia (BIDC)
2.1.1 Quá trình thành lập ngân hàng
Dựa trên sự chỉ đạo, hỗ trợ của chính phủ Việt Nam và Campuchia, ngân hàng BIDV và công ty Phương Nam ( cả hai đều là công ty của Việt Nam) đã đồng thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và phát triển Campuchia ( IDCC), hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm ở Campuchia Dự án đầu tiên là mua lại Ngân hàng Đầu tư Thịnh vượng (PIB), sau đó tái cấu trúc và đổi tên thành Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia ( BIDC) Việc thành lập này được thực hiên theo quyết định No B1.09.554, kí vào ngày 15/7/2009 của Ban lãnh đạo
Ngân hàng quốc gia Campuchia
Sau khi Ngân hàng nhà nước Campuchia ban hành quyết định No B7.09.148 vào ngày 14/8/2009 về việc đổi tên, tăng nguồn vốn điều lệ và bổ sung nhân sự cao cấp, ngân hàng BIDC chính thức đi vào hoạt đông từ ngày 1/9/2009 BIDC là đơn
vị ngân hàng với 100% vốn của chính phủ Việt Nam, được thành lập và được cho phép tiến hành các hoạt động trên thị trường Campuchia để thực hiện những nhiệm
vụ được giao Ngân hàng được kì vọng trở thành sợi dây liên kết thị trường tài
chính của hai nước
Theo điều khoản quy định, BIDC là một tổ chức tài chính được thành lập và hoạt động tuân theo luật pháp nước Campuchia và điều lệ của Ngân hàng quốc gia Campuchia (NBC) Những hoạt động chuyên môn của BIDC được hỗ trợ trực tiếp bởi Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), một ngân hàng với bề dày hơn 50 năm kinh nghiệm trên thị trường tài chính Việt Nam Ngân hàng BIDV sẽ
hỗ trợ BIDC trên nhiều phương diện, đặc biệt là về hệ thống công nghệ, quy trình chuyên ngành và những sản phẩm và dịch vụ ngân hàng tiên tiến với chất lượng cao
Trang 17K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
Bảng 1: Giới thiệu về BIDC
Nguồn: http://www.bidc.com.kh
Tên tiếng Việt Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia
Tên nước ngoài Bank for Investment and Development of Cambodia
Địa chỉ hội sở #23, đường 114 Corner St.67, Sangkat Phsar thmey 2,
Khan Daun Penh, Phnom Penh, Cambodia
Số điện thoại (855-23)210 044
Cổ đông chính Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và phát triển
Campuchia (IDCC), sở hữu 100% vốn
Tổng giám đốc điều hành Ông Nguyễn Văn Hiển
Trang 18K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng BIDC - Chi nhánh Tp Hồ Chí Minh
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của chi nhánh
2.1.3 Các chi nhánh của ngân hàng
Hiện nay ngân hàng có Hội sở tại Phnom Pênh và 5 chi nhánh: 2 chi nhánh ở
Việt Nam, 3 chi nhánh ở Campuchia
Hai chi nhánh ở Việt Nam
- Chi nhánh BIDC – Tp Hồ Chí Minh
- Chi nhánh BIDC – Hà Nội
Ba chi nhánh ở Campuchia
- Chi nhánh Phnom Pênh
- Chi nhánh Siem Reap
- Chi nhánh Kampong Cham
2.1.4 Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng
Nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện chương trình phát triển kinh tế của Vương quốc Campuchia đồng thời liên kết thị trường tài chính của hai nước Việt Nam và Campuchia
Cung cấp những sản phẩm và dịch vụ ngân hàng với chất lượng cao, bao gồm: tín dụng, tiền gởi kí thác, thanh toán quốc tế, thương mại tài chính, thẻ và
những sản phẩm và dịch vụ khác cho thị trường chứng khoán
Giám Đốc Phó Giám Đốc
P
Tài chính
kế toán
P
Công nghệ thông tin
&
quản
lý ngân quỹ
P
Quản trị tín dụng
Văn Phòng
Trang 19K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
Liên kết những hoạt động thương mại và đầu tư của các tổ chức kinh doanh ở hai nước lại với nhau, góp phần thiết thực vào sự hợp tác phát triển kinh tế, sự trao
đổi về thương mại và đầu tư giữa hai nước
Đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ tài chính và nhu cầu thanh toán tiền tệ của cộng đồng doanh nghiệp và các cá nhân ở Việt Nam lẫn Campuchia; hỗ trợ tài chính, đặc biệt là các nguồn vốn dài hạn và trung hạn cho nhu cầu đầu tư của các tập đoàn, tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, doanh nghiệp Việt Nam ở
Campuchia và các doanh nghiệp Campuchia
Đóng vai trò như một sợi dây liên kết các nhà đầu tư Campuchia và các doanh nghiệp Việt Nam lại với nhau Tư vấn những vấn đề phức tạp về pháp nhân của tất cả các loại hình sở hữu, bao gồm cả các loại hình sở hữu nước ngoài lẫn tư
có 7 công ty hoạt động tại 4 tỉnh của nước bạn Trong năm 2009, mỗi công ty phấn đấu mở rộng diện tích trồng cao su thêm 1.000 - 1.500ha và sẽ tăng nhanh diện tích trồng lên gấp hai, ba lần vào các năm tiếp theo để có thể hoàn thành mục tiêu trồng mới cây cao su vào năm 2012 Hơn nữa, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cam kết các công ty cao su Việt Nam sẽ đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành mục tiêu trồng mới 100.000ha cao su vào năm 2012 trên các vùng đất đồi núi của Campuchia
như Thủ tướng hai nước đã thỏa thuận
Lĩnh vực quan trọng tiếp theo là khai khoáng và năng lượng Với những mỏ khoáng sản với trữ lượng lớn đã và đang dần được phát hiện, Campuchia thu hút sự quan tâm chú ý của các doanh nghiệp Việt Nam, hai nước cũng có nhiều buổi tọa
Trang 20K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
đàm bàn về vấn đề hợp tác trong lĩnh vực này Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang xây dựng hai dự án thủy điện là Hạ SêSan1/SêSan 5 (công suất 96MW) thuộc huyện Đức Cơ- tỉnh Gia Lai (Việt Nam) và Nattarat Kiri- Campuchia và thủy điện
Hạ SêSan 2 (công suất 400MW) thuộc huyện Sê San tỉnh Stung Treng- Campuchia Hai dự án dự kiến sẽ khởi công trong năm 2009 và phát điện vào 2014 Bên cạnh đó, công ty còn triển khai công trình đấu nối lưới điện 220kV truyền tải từ các nhà máy thủy điện này vào hệ thống điện quốc gia Đây là các dự án nằm trong chương trình hợp tác đầu tư và trao đổi năng lượng điện giữa hai Chính phủ Việt Nam và Campuchia Sự cạnh tranh trong thăm dò và khai thác dầu khí ở Campuchia cũng không kém phần gay cấn từ khi nước này phát hiện ra trữ lượng khí và dầu đáng kể Đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có công thư giới thiệu Petro Vietnam với các bộ, ngành Campuchia và ngày 13-11-2009 bản hợp tác khảo sát, thăm dò dầu khí Lô 15 tại Biển Hồ trên diện tích 6.900 km2, thời hạn 30 năm với dầu và 35
năm với khí, giữa Petro Vietnam và đối tác nước bạn đã được ký kết
Ngoài ra, các dự án đầu tư trong ngành viễn thông, tài chính ngân hàng và y
tế cũng đang tăng dần về quy mô lẫn số lượng Ví như dự án của Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) tại Campuchia trị giá 27 triệu USD nhằm khai thác mạng viễn thông di động, hay dự án Bệnh viện Chợ Rẫy - Pnom Penh do Liên doanh Công ty cổ phần đầu tư y tế Sài Gòn (Tp Hồ Chí Minh) và Công ty Sokimex (Phnom Penh) đầu tư, quản lý điều hành với số vốn đầu tư 27.370.000 USD, được
khởi công xây dựng tháng 5/2010…
2.2.2 Về dự án – Số vốn
Đầu tư sang Campuchia không còn là chuyện xa lạ đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, từng khẳng định: Đầu tư vào Campuchia, Hoàng Anh Gia Lai như “bắt được cá lớn” Thật vậy, trước năm 2008, đầu tư của Việt Nam vào Campuchia vẫn còn ít về cả số lượng dự án và nguồn vốn đầu tư Tính đến hết năm
2008, chỉ có 13 dự án của Việt Nam được cấp phép sang Campuchia, với tổng vốn
Trang 21K084030470 BIDC & Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang
Campuchia
đầu tư đăng kí đạt hơn 150 triệu USD, các hoạt động đầu tư phần lớn mang tính tự
phát, manh mún , nhỏ lẻ, chưa có tổ chức và chưa tập hợp được sức mạnh
Nhưng đến năm 2009, Chính phủ đã chỉ đạo tập đoàn, các công ty lớn của Việt Nam nhanh chóng triển khai thiết lập hiện diện thương mại, đầu tư của Việt Nam tại Campuchia Do vậy nguồn vốn FDI của Việt Nam vào Campuchia thực sự
có bước chuyển biến lớn kể từ tháng 07/2009, và sau Hội nghị xúc tiến Thương mại
và Đầu tư lần thứ nhất giữa hai nước (tháng 12/2009) tại T.P Hồ Chí Minh dưới sự chủ trì của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Campuchia Hun Sen Khi doanh nghiệp Việt đầu tư vào Campuchia, họ không những có được sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam về mọi mặt, mà còn được Campuchia “ trải thảm đỏ” bằng những chính sách khuyến khích đầu tư hấp dẫn cùng quá trình từng bước thực hiện tự do hóa nền kinh tế Đơn cử như trường hợp của Viettel, cho đến năm 2009 trở về trước, Viettel đã là nhà đầu tư Việt Nam lớn nhất ở Campuchia với số vốn đầu tư 200 triệu USD Không một mạng điện thoại di động nào vào lúc ấy có thể cạnh tranh với Viettel về thị phần Bây giờ, Viettel vẫn đứng đầu thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông ở đất nước chùa Tháp, nhưng doanh nghiệp này không đơn độc nữa bởi sau lưng Viettel có cả một hệ thống hỗ trợ của Chính phủ và các bộ ngành Việt Nam Chúng ta đã thể hiện một chiến lược đầu tư sâu rộng, mang tính bài bản, liên kết và then chốt ở Campuchia với sự tham gia của nhiều tập đoàn quốc doanh Cơ hội cho một trang mới trong quan hệ hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và
Campuchia đã khởi động
Hiện các tập đoàn, tổng công ty lớn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của Việt Nam đã và đang triển khai đầu tư tại Campuchia, như: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tổng Công ty Viễn thông Quân đội, hãng hàng không quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) Danh sách các công ty đang có mặt hoặc đang xúc tiến làm ăn tại Campuchia ngày càng nhiều lên: mạng di động 2G, 3G của Viettel tổng dự án hơn
200 triệu USD; dự án bệnh viện Chợ Rẫy - Phnom Penh 20 triệu USD; dự án nhà