Để hỗ trợ tốt hơn cho các tổ chức INGOs hoạt động tốt hơn nữa, PACCOM muốn tìm hiểu các khó khăn và thách thức, quan hệ đối tác giữa các tổ chức INGOs và chính quyền trong việc triển kha
Trang 1Báo cáo kết quả nghiên cứu
Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong năm năm qua và định hướng tương lai
Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
Trang 2Mục Lục
Danh mục biểu 4
1 Giới thiệu 5
a Phương pháp nghiên cứu 5
2 INGOs ở Việt Nam 6
a Các lĩnh vực hoạt động của INGOs 6
b Nhân sự của INGOs 8
c Ngân sách hoạt động 8
d Phương pháp tiếp cận 10
e Địa bàn hoạt động và đối tượng hưởng lợi 12
f Vai trò của các tổ chức INGOs 13
3 Đối tác và quan hệ đối tác 14
a Đối tác của INGOs 14
b Quan hệ đối tác 15
c Các thách thức trong quan hệ đối tác 17
4 Kết quả hoạt động 18
a Phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo 19
b Xây dựng năng lực, trao quyền và tăng cường sự tham gia của người dân 20
c Cải thiện khả năng tiếp cận và chất lượng giáo dục 21
d Cải thiện khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ y tế, nước sạch và phòng chống HIV 22
e Bình đẳng giới và quyền phụ nữ và trẻ em 23
f Quản lý tài nguyên và thiên tai 24
g Phát triển xã hội dân sự địa phương 25
h Xây dựng năng lực đối tác và quản trị nhà nước 26
5 Môi trường chính sách và các thách thức gặp phải trong hoạt động của INGOs 27
a Môi trường chính sách 27
b Thủ tục hành chính trong việc cấp và gia hạn giấy phép hoạt động 28
c Thẩm định phê duyệt dự án 28
d Nghi ngại về hoạt động của INGOs 29
e Minh bạch về chi phí quản lý của INGOs 29
f Hài hòa về thủ tục 29
Trang 33
g Kinh phí quản lý dự án 30
h Nguồn tài trợ 30
6 Kết luận và kiến nghị 30
Trang 4Danh mục biểu
Biểu 1: Năm bắt đầu làm việc ở Việt Nam (% các tổ chức) 6
Biểu 2: Lĩnh vực hoạt động của các INGOs 6
Biểu 3: Số lĩnh vực làm việc trung bình của tổ chức phân loại theo ngân sách hoạt động trung bình hàng năm (USD) 7
Biểu 5: Trình độ học vấn của nhân viên 8
Biểu 4: cơ cấu các tổ chức theo số lượng nhân viên 8
Biểu 6: Ngân sách hoạt động của các INGOs từ 2006 - 2010 (USD) 9
Biểu 7: tỷ lệ chuyển ngân sách cho các đối tác của các tổ chức INGOs (%) 9
Biểu 8: Ngân sách dự kiến giai đoạn 2011-2013 của INGOs (USD) 10
Biểu 9: Đánh giá của ingos về thái độ của đối tác với các đối tượng hưởng lợi (%) 11
Biểu 10: Các tổ chức INGOs hoạt động vận động chính sách (%) 13
Biểu 11: Ảnh hưởng của INGOs tới chính sách 14
Biểu 12: Số đối tác của các tổ chức INGOs 15
Biểu 13: Sự tham gia của đối tác địa phương 16
Biểu 14: đánh giác của INGOs về năng lực của đối tác Việt Nam 17
Biểu 15: Quan hệ đối tác của INGOs 18
Biểu 16: Mức độ hài lòng của INGOs với đối tác 26
Biểu 17: Mục đích hoạt động của các INGOs tại Việt Nam 27
Biểu 18: đánh giá của INGOs về môi trường chính sách của Việt Nam 28
Biểu 19: Đánh giá của INGOs về thủ tục hành chính (%) 28
Trang 55
1 Giới thiệu
Các tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGOs) đã hoạt động ở Việt Nam hơn hai mươi năm qua và đóng góp rất lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo Thành tựu giảm nghèo ngoạn mục của Việt Nam từ 58% năm 1997 xuống còn khoảng 12% năm 2010 chắc chắn có phần đóng góp đáng kể của khoảng 900 tổ chức INGOs và Văn phòng dự án đang hoạt động ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thay đổi rất nhiều so với hai mươi năm trước đây Những cơ hội và thách thức của Việt Nam cũng khác rất nhiều so với hai thập
kỷ trước Nhiều tổ chức INGOs đã và đang điều chỉnh chiến lược hoạt động của mình cho phù hợp hơn với tình hình mới Để hỗ trợ tốt hơn cho các tổ chức INGOs hoạt động tốt hơn nữa, PACCOM muốn tìm hiểu các khó khăn và thách thức, quan hệ đối tác giữa các tổ chức INGOs và chính quyền trong việc triển khai các dự án phát triển để từ đó đưa ra các giải pháp tháo gỡ từ phía chính quyền trung ương cũng như đối tác địa phương
Để giúp cho việc định hướng được khách quan, PACCOM đã hợp tác với Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) tiến hành nghiên cứu này
a Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu lựa chọn cả phương pháp thu thập thông tin định lượng và định tính Về định lượng, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn phương pháp thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi tự điền trên internet (xem phụ lục 1) Nhóm nghiên cứu thiết kế hai bảng hỏi với nội dung tương tự cho INGOs và các đối tác của họ Việc này nhằm thu thập thông tin từ hai chiều nhằm nhìn nhận kết quả một cách khách quan hơn Tuy nhiên, do số lượng bảng hỏi trả lời bởi đối tác rất hạn chế nên không đủ độ tin cậy để phân tích Chính vì vậy nhóm nghiên cứu chỉ có thông tin đánh giá từ phía INGOs Thông tin thu thập được được mã hóa để phân tích thống kê (Sử dụng phần mềm SPSS 19) nhằm tìm ra sự khác biệt về cấu trúc, hoạt động, mục tiêu cũng như các đánh giá về đối tác, về môi trường hoạt động tại Việt Nam của các INGOs
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, do những điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau nên nghiên cứu này có một số hạn chế như sau: (i) Việc thực hiện thu thập thông tin bằng bảng hỏi tự điền trên internet nên có thể chưa tiếp cận được với tất cả các INGOs đang hoạt động tại Việt Nam Việc xác định cỡ mẫu cũng như tính đại diện của mẫu điều tra vì thế cũng có hạn chế; (ii) Do là bảng hỏi tự điền nên mặc dù các câu hỏi đưa ra đều là đơn nghĩa và rõ ràng về mặt ngôn ngữ nhưng cũng vẫn còn hạn chế về tính chính xác trong các câu trả lời của người được hỏi; (iii) Thực hiện một bộ câu hỏi lớn, với nhiều chủ đề khác nhau trên công cụ bảng hỏi tự điền cũng là một trở ngại cho người trả lời, dẫn đến có thể bị thiếu hụt thông tin; (iv) Trả lời câu hỏi thang đo 5 cấp độ là một hình thức tương đối mới
do đó cũng là lý do làm cho người trả lời gặp khó khăn khi phải phân biệt và lựa chọn cấp độ trả lời; (v) Các thống kê, phân tích bằng phương pháp định lượng có thể cho thấy một số phát hiện và nhận định chung về xu hướng, nhưng việc tìm hiểu sâu để chỉ ra nguyên nhân thì cần kết hợp với nghiên cứu bằng phương pháp định tính
Phương pháp thu thập thông tin định tính được thực hiên chủ yếu thông qua phỏng vấn bán cấu trúc
và chia làm hai đợt Đợt một nhóm nghiên cứu gặp đại diện của một số tổ chức INGOs hoạt động trong một số lĩnh vực khác nhau như OHK, AAV, WWF, WPF, Child Fund và MCNV để tìm hiểu thông tin sơ bộ về hoạt động của họ Thông tin này cũng được sử dụng để thiết kế bảng hỏi thu thập thông tin định lượng cũng như định hướng nghiên cứu thực địa
Trang 6Nghiên cứu thực địa được thực hiện ở hai tỉnh Thanh Hóa (CRS, CARE) và Yên Bái (World Vision) Đây là hai tỉnh có khá nhiều INGOs đang hoạt động Tại mỗi tỉnh, nhóm kiên cứu làm việc với đại diện của UBND tỉnh, huyện, xã và Ban quản lý dự án Nhóm cũng gặp các hộ gia đình phỏng vấn sâu cũng như thăm các hoạt động dự án ở thôn bản Vì điều kiện kinh phí có hạn, nên nhóm nghiên cứu không thể đi thực địa nhiều hơn, thăm nhiều dự án của INGOs và gặp nhiều đối tác địa phương hơn cũng như người hưởng lợi Chính vì vậy, thông tin định tính cũng chỉ mang tính minh họa một phần chứ không có tính đại diện cho hoạt động của tất cả các INGOs ở Việt Nam Trong phần phân tích, nhóm nghiên cứu chỉ có thể sử dụng thông tin từ các tổ chức đã gặp cũng như một số báo cáo thứ cấp thu thập được
2 INGOs ở Việt Nam
Nhiều INGOs đã hoạt động ở Việt Nam từ thời chiến tranh và theo Nguyễn Kim Hà trích nguồn từ một báo cáo của MCNV , Secours Populaire Francais có
thể là tổ chức INGOs đầu tiên hoạt động tại Việt Nam vào
năm 1948 Khi chiến tranh kết thúc cùng sự cấm vận của
Hoa Kỳ vào năm 1979 hầu như không còn INGOs nào
hoạt động ở Việt Nam Nhờ chính sách đổi mới năm 1986,
Việt Nam thu hút nhiều tổ chức INGOs đến hoạt động
Với sự ra đời của Ủy ban điều phối viện trợ nhân dân
(PACCOM) vào năm 1989, số lượng INGOs hoạt động ở
Việt Nam tăng mạnh Theo kết quả điều tra trình bày ở
biểu đồ 1, phần lớn các tổ chức phi chính phủ đang hoạt
động đã đến Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1990 đến
năm 2000 (chiếm 49,5%) Điều này chứng tỏ thành công
của chính sách đối ngoại cởi mở của Việt Nam cũng như
hoạt động của PACCOM trong việc kêu gọi viện trợ để
phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo
Cho đến nay, theo báo cáo của PACCOM thì có khoảng 900 tổ chức INGOs và Văn phòng đại diện
dự án đang hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau ở hầu hết các tỉnh và Thành phố của Việt Nam Dưới đây, báo cáo sẽ giới thiệu chi tiết về các tổ chức cũng như hoạt động của họ
a Các lĩnh vực hoạt động của INGOs
Lĩnh vực hoạt động của INGOs thường được xác
định dựa trên tôn chỉ mục đích của tổ chức như
Oxfam là xóa đói giảm nghèo, giải quyết bất bình
đẳng xã hội, sự tham gia của người dân và trách
nhiệm của nhà nước; World Population
Foundation thì xác định lĩnh vực hoạt động của
mình là quyền và sức khỏe tình dục (SRH); WWF
là bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên,
Quỹ cứu trợ nhi đồng là quyền trẻ em và FHI là
sức khỏe và chất lượng cuộc sống Dựa vào điều
kiện kinh tế xã hội của địa phương và nhu cầu của
người dân, INGOs sẽ cụ thể hóa các dự án can
thiệp của mình
53 53 57
9 14
25 15 27
0 10 20 30 40 50 60
Phát triển kinh tế
xã hội
và giảm nghèo
Giáo dục
Y tế sức khỏe
Văn hóa Nhân quyền Bình đẳng giới
Quản trị nhà nước
Phát triển
xã hội dân sự
15.4
49.535.2
Trang 7Nhìn chung các lĩnh vực hoạt động của INGOs rất phong phú nhu cầu về viện trợ nước ngoài của các địa phương còn rất lớn và đa dạng Ví dụ như ở Yên Bái nhu cầu có các dự án về cơ sở hạ tầng, nước sạch, thủy lợi nhỏ, văn hóa xã hội, vệ sinh môi trường, biến đối khí hậu hoặc hỗ trợ sản xuất cho những xã khó khăn được tỉnh chú trọng ưu tiên Ở Thanh Hóa, những vấn đề như nước sạch, trồng rừng ngập mặn, phòng chống thiên tai được quan tâm đặc biệt Bên cạnh đó, phòng chống HIV, dịch bệnh và biến đối khí hậu là vấn đề chung của cả nước, không kể thành thị hoặc nông thôn
Đáp ứng nhu cầu đa dạng của Việt Nam, các tổ chức INGOs hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau Khoảng một nửa các tổ chức hoạt động trong 2 đến 4 lĩnh vực và một phần tư chỉ tập trung vào một lĩnh vực chuyên môn của mình Theo biểu đồ 2 ở bên, đa số các INGOs đang hoạt trong lĩnh vực phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và cung cấp dịch vụ xã hội như y tế và giáo dục Đây là những lĩnh vực INGOs rất có kinh nghiệm và đã thực hiện ngay từ ngày đầu đến Việt Nam
Về sự tương đồng giữa ngân sách và số lĩnh vực hoạt động, theo biểu đồ 3 thì những tổ chức có mức ngân sách thấp (nhỏ hơn $500.000) có số lĩnh
vực hoạt động trung bình là ba Những tổ chức
có ngân sách từ $500.000 trở lên thì có số lĩnh
vực hoạt động trung bình từ 3,8 hoặc 4 Nhìn
chung các tổ chức INGOs thường có sứ mệnh rõ
ràng, hoạt động khá tập trung trong một số lĩnh
vực là thế mạnh của mình Ví dụ như
ADI/VOCA có ngân sách hàng năm rất lớn
nhưng chỉ hoạt động duy nhất trong việc thúc
đẩy phát triển cacao bền vững ở Việt Nam
Một xu thế thay đổi khá rõ trong những năm gần
đây đó là ngoài các lĩnh vực “truyền thống” có
khá nhiều tổ chức bắt đầu hoạt động trong các
lĩnh vực như quyền con người, dân chủ cơ sở,
quản trị nhà nước và phát triển xã hội dân sự
Xu hướng này được nhiều tổ chức INGOs đề cập trong chiến lược hoạt động của mình trong những năm tới Theo nhiều tổ chức INGOs, nhu cầu về xóa đói giảm nghèo đã không còn cấp bách như trước
và chính phủ Việt Nam đã có nhiều nguồn lực hơn để đầu tư cho vùng khó khăn nhờ thành tựu phát triển kinh tế vượt bậc trong hơn hai thập kỷ qua Bên cạnh đó, các vấn đề về quyền con người, sự phát triển của xã hội dân sự và trách nhiệm của nhà nước ngày càng quan trọng cho nỗ lực phát triển toàn diện và bền vững của Việt Nam
Trong các cuộc thảo luận với chính quyền địa phương, có cái nhìn khác nhau về xu hướng mới này Nhiều cán bộ khẳng định tuy Việt Nam bắt đầu vào ngưỡng thu nhập trung bình nhưng nhu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo còn rất lớn đặc biệt ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống Chính vì vậy, các tổ chức INGOs không nên chuyển nguồn lực sang các lĩnh vực “mềm” khác Một số đối tác địa phương cũng e ngại không muốn các tổ chức INGOs làm về vấn đề dân chủ
cơ sở, quản trị nhà nước và quyền con người vì coi đây là những vấn đề nhạy cảm, vấn đề của nhà nước hơn là của các tổ chức nước ngoài
Tuy nhiên, cũng có cán bộ địa phương đồng tình với việc INGOs mở rộng hoạt động sang việc xây dựng năng lực, dân chủ cơ sở, mô hình phát triển bền vững Theo họ, chính việc tham gia của người dân làm tăng trách nhiệm của chính quyền địa phương Điều này không những làm cho chất lượng dự
án được tốt lên mà còn làm cho việc thực hiện dân chủ cơ sở và trách nhiệm giải trình tăng lên Các
3.0
0.01.02.03.04.05.0
Trang 8kinh nghiệm cụ thể của INGOs trong các lĩnh vực này cũng là các bài học tốt cho Việt Nam áp dụng trong các chương trình dự án của mình
b Nhân sự của INGOs
Tính theo số lượng nhân sự tại thời điểm tháng 8 năm
2010, có sự chênh lệch khá lớn giữa các INGOs tham
gia nghiên cứu này như trình bày ở biểu đồ 4 Tổ chức ít
nhất chỉ có 01 nhân sự1 để duy trì sự đại diện hoặc đóng
vai trò là người liên lạc trong nước, trong khi tổ chức
nhiều nhất có tới 486 nhân sự (RCH International) Tính
bình quân mỗi tổ chức có 19,36 nhân sự Trong đó, các
tổ chức có qui mô dưới 10 nhân sự chiếm 63,5%, tiếp
theo là các tổ chức có từ 11 đến 50 nhân sự chiếm
30,6% Số các tổ chức có từ 51-100 nhân sự chỉ có 2,4%
và trên 100 nhân sự chỉ có 3,5%
Biểu 5: Trình độ học vấn của nhân viên
Tính trung bình mỗi tổ chức có 12,23 nhân viên Việt Nam, trong đó có 6,07 nữ và 6,16 nam Số nhân viên nước ngoài trung bình là 4,26 nhân viên, trong đó 1,72 là nữ và 2,54 là nam2 Đa phần các nhân Việt Nam và quốc tế làm việc trong các tổ chức INGOs có bằng đại học và trên đại học như được trình bày ở biểu đồ 5 Rõ ràng đây là một lực lượng lao động đông đảo và có trình độ cao của Việt Nam
4
101
249
56264
Tiến sĩ Thạc sĩ Đại học Cao
đẳng
Trung học trở xuống
Tiến sĩ Thạc sĩ Đại học Cao
đẳng
Trung học trở xuống
63.530.6
< 10 11- 50 51 - 100 > 100
Biểu 4: cơ cấu các tổ chức theo số lượng nhân viên
Trang 9Ngân sách hoạt động của các tổ chức INGOs cũng rất đa dạng có thể chia thành ba nhóm dựa trên ngân sách hoạt động năm 2010 Nhóm thứ nhất là các tổ chức có ngân sách hàng năm dưới 500.000 USD, nhóm thứ 2 là nhóm các tổ chức có ngân sách nhiều hơn 500.000 và ít hơn 1.000.000 USD và nhóm thứ 3 là nhóm các tổ chức có ngân sách trên 1.000.000 USD Tính trung bình các tổ chức thuộc nhóm 1 có ngân sách khoảng $187.000 /năm, các tổ chức thuộc nhóm 2 có ngân sách khoảng
$655.000/năm và các tổ chức nhóm ba có ngân sách khoảng $5.600.000/năm Đa số các tổ chức INGOs hoặc văn phòng dự án có mức ngân sách nhỏ hơn $500,000/năm (70%), mỗi nhóm còn lại chiếm 15%
Số liệu thu thập cho thấy các tổ chức thuộc nhóm 1 và 2 không có nhiều biến động về ngân sách trong giai đoạn từ 2006 – 2010, trong khi nhóm 3 có sự biến thiên khá lớn như trình bày ở biểu đồ 6 dưới đây Các tổ chức thuộc nhóm 3 tính trung bình năm 2007 có ngân sách thâp nhất trong 5 năm qua nhưng sau đó đã tăng liên tiếp trong 2 năm 2008 và 2009, đến năm 2010 lại có xu hướng giảm xuống
Tuy nhiên, số liệu thu thập được vào thời điểm chưa kết thúc năm 2010 nên xu hướng giảm này có thể sẽ thay đổi khi có báo cáo tổng kết chính thức toàn bộ năm 2010 của các tổ chức
Ngân sách từ các INGOs được chuyển cho các đối tác ở cả 3 nhóm
có xu hướng biến thiên khá giống nhau trong 5 năm vừa qua và không
có nhiều biến đổi Tuy nhiên, một phát hiện khá thú vị là những tổ chức
có ngân sách thấp hơn thì lại có tỉ lệ ngân sách chuyển cho đối tác cao hơn như biểu đồ 7 dưới đây Tỉ lệ chuyển tiền cho đối tác trung bình trong 5 năm gần đây của nhóm có ngân sách dưới 500.000 USD/năm là 74,4%, của nhóm 500.000-1.000.000USD/năm là
1.000.000USD/năm là 39,68%) Theo kết quả nghiên cứu thì đa số (77,6%) các tổ chức INGOs dùng hình thức chuyển khoản và 12.2% trả bằng tiền mặt hoặc séc Tuy nhiên, vẫn có đến 26,5% tổ chức vẫn dùng cách thanh toán trực tiếp các hoạt động triển khai bởi đối tác
Ngân sách dự kiến trong 3 năm sắp tới từ 2011- 2013 được trình bày ở biểu đồ 8 Nhìn chung các tổ chức đều dự kiến sẽ tăng ngân sách hoạt động, tuy nhiên đối với nhóm 2 và nhóm 3 thì xu hướng tăng
Trang 10này chỉ kéo dài đến năm 2012 và có dự báo giảm ngân sách vào năm 2013 Có thể các tổ chức này có nguồn ngân sách dựa vào các nhà tài trợ khá lớn và hiện tại khá nhiều nhà tài trợ có ý định rút khỏi Việt Nam vào những năm 2013-2015
Các nguồn tài trợ của INGOs là không hoàn lại Để tăng hiệu quả hoạt động cũng như tính sở hữu và trách nhiệm của địa phương, 30,6% các tổ chức INGOs có chính sách yêu cầu địa phương cùng đóng góp vào dự án Trong số đó tỷ lệ đóng góp của đối tác địa phương chiếm từ 5% đến 40%, trung bình là 27,14%, còn tỷ lệ đóng góp của người dân từ 4% đến 70%, trung bình là 30,8% Hình thức đóng góp của người dân rất đa dạng có thể bằng tiền mặt, công lao động hoặc vật liệu sẵn có ở địa phương Nhiều tổ chức INGOs cho rằng việc đóng góp không chỉ tăng quy mô đầu tư mà còn tăng sự tham gia và tính
sở hữu của người dân địa phương từ đó nâng cao hiệu quả dự án Ví dụ như tổ chức CARE trong một
dự án nhỏ hỗ trợ cộng đồng ở Thanh Hóa có tổng kinh phí là 256 triệu VND thì CARE cung cấp các trang thiết bị với giá trị 178 triệu VND còn người dân đóng góp ở mức 80.000 VND/khẩu không tính người già và trẻ em Tương tự như vậy, các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng của World Vision ở Yên Bái cũng có yêu cầu người dân đóng góp công lao động và vật liệu sẵn có ở địa phương (cát, sỏi)
và tổng giá trị lên đến 10% ngân sách dự án
d Phương pháp tiếp cận
Phương pháp hoạt động phổ biến được áp dụng là phương pháp có sự tham gia của người dân với 70.5% tổ chức trả lời có sử dụng phương pháp này Bên cạnh đó, cũng có 24.6% tổ chức có áp dụng phương pháp tiếp cận theo quyền và một tỉ lệ tương tự có tính đến nhạy cảm văn hóa
Phương pháp triển khai dự án có sự tham gia của người dân được nhìn nhận khá tích cực bởi chính
quyền địa phương và người dân Một đối tác của tổ chức Tầm nhìn thế giới ở huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái có nói “mọi thứ đều điều tra từ người dân lên, nếu có gì không phù hợp thì gặp gỡ trao đổi lại
để tìm ra sự đồng thuận Điều quan trọng là tiêu chí lựa chọn phải do người dân đưa ra và quyết định.”
Ý kiến này cũng được đồng tình ở Thanh Hóa khi lãnh đạo tỉnh thể hiện sự tâm đắc và ủng hộ INGOs
vì INGOs trực tiếp làm việc với người dân, lắng nghe và quan tâm tới an sinh xã hội và đời sống người dân, nhằm giúp những đối tượng nghèo thoát nghèo
Sự tham gia của người dân được các tổ chức INGOs nhấn mạnh trong toàn bộ chu trình dự án Sự tham gia này thường bắt đầu từ khâu khảo sát nhu cầu và lập kế hoạch dự án Có lẽ, đây là một trong những khác biệt quan trọng mà chính quyền địa phương và người dân đều thừa nhận và tạo ra sự khác biệt của INGOs Nó đảm bảo các can thiệp đúng với nhu cầu của người dân, từ đó lôi kéo sự tham gia đóng góp cũng như tăng chất lượng dự án Nhiều tổ chức đã thể chế sự tham gia của người dân trong chính sách của mình và yêu cầu đối tác và nhân viên cùng thực hiện Hơn nữa, sự tham gia cũng là một trong những mục đích mà các tổ chức INGOs vận động đối tác địa phương áp dụng Trong một chừng mực nào đó, có thể nói là đã thành công vì nhiều chương trình quốc gia cũng như hoạt động của địa phương đã bắt đầu áp dụng phương pháp này
Biểu 8: Ngân sách dự kiến giai đoạn 2011-2013 của
Trang 11Chính vì muốn huy động sự tham gia tối đa nên các tổ chức INGOs thường làm trực tiếp với cấp cơ
sở, cấp trực tiếp triển khai hoạt động Điều này quyết định các thủ tục tài chính như đầu tư trực tiếp tới địa phương, không qua cấp trung gian huyện, mọi hoạt động thanh toán, giải ngân đều ở địa phương Việc phân cấp trong việc triển khai dự án, quản lý cũng được đánh giá rất cao Chính các kinh nghiệm này góp phần nâng cao năng lực của cấp cơ sở cũng như góp phần vào quá trình phân cấp trong việc quản lý các chương trình chính sách của Việt Nam Điều quan trọng là đảm bảo người trực tiếp liên quan đến dự án có thể biết thông tin và có quyền ra quyết định
Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền được nhiều tổ chức như AAV, CARE, Oxfam, Save the
chirldren, WPF, và FHI áp dụng Các tổ chức này thường có các dự án triển khai nâng cao năng lực và nhận thức của người dân (right holders) và chính quyền địa phương (duty bearers) Đây cũng là các tổ chức tham gia nhiều nhất vào các hoạt động mạng lưới, vận động chính sách và hỗ trợ sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự địa phương Các tổ chức này không ngại bày tỏ quan điểm chính trị trong đói nghèo, quyền con người cũng như các vấn đề nhức nhối khác như dân chủ cơ sở, tham nhũng và trách nhiệm giải trình của nhà nước Theo các tổ chức này, việc áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền có thể giúp cho họ và đối tác hiểu hơn về nguyên nhân của đói nghèo, bất bình đẳng để có những giải pháp toàn diện hơn
Tuy nhiên khi đề cập phương pháp tiếp cận dựa trên quyền nhiều đối tác địa phương thấy nhậy cảm
và có nơi không muốn làm Trên thực tế, quyền con người vẫn là một chủ đề còn bị né tránh đặc biệt
ở cấp cơ sở Nhiều người cho rằng đây không phải là vai trò của INGOs mà là công việc nội bộ của Việt Nam Tuy nhiên, khi thực hiện các chủ đề này trong khuôn khổ pháp luật của Việt Nam, cụ thể trong dự án và tiến hành từ từ, có nghiên cứu trao đổi kỹ càng thì đối tác cũng đồng ý hợp tác và triển khai Các INGOs thành công trong việc trao đổi và áp dụng phương pháp này thường bắt đầu bằng việc sử dụng các khung pháp luật của Việt Nam như Nghị định dân chủ cơ sở, Luật bình đẳng giới hoặc Luật phòng chống HIV
để tạo ra niềm tin cũng như
tránh cảm giác áp đặt từ bên
ngoài vào
Bình đẳng giới, nhậy cảm văn
hóa và không định kiến, kỳ thị
và phân biệt đối xử cũng là một
phương pháp tiếp cận dược hầu
hết các tổ chức INGOs coi
trọng Những tổ chức làm với
người dân tộc thiểu số, người
có HIV hoặc người khuyết tật
rất quan tâm đến các nguyên
tắc này Nhiều tổ chức coi đây
là một trọng tâm trong việc xây
dựng năng lực cho đối tác
Theo kết quả nghiên cứu trình
bày ở biểu đồ 9 dưới đây, chỉ
có gần một nửa số INGOs tham
gia nghiên cứu hài lòng với thái độ của đối tác với các đối tượng hưởng lợi của dự án Điều đó chứng
tỏ còn khá nhiều việc phải làm nhằm xóa bỏ định kiến và tăng cường sự tham gia cũng như tiếng nói thực sự của các đối tượng thiệt thòi hơn trong xã hội
Biểu 9: Đánh giá của INGOs về thái độ của đối tác với các đối tượng hưởng lợi (% )
46.743.534.8
.010.020.030.040.050.060.0
Trang 12Xây dựng mô hình và thăm quan học tập là phương pháp mà INGOs sử dụng khá nhiều khi muốn giới
thiệu và áp dụng một phương pháp, kỹ thuật hoặc nội dung can thiệp mới Từ các mô hình thực hiện thành công, INGOs và đối tác sẽ đúc kết thành các bài học để nhân rộng hoặc giới thiệu cho chính phủ
áp dụng và xây dựng chính sách Phương pháp này được áp dụng cho các hoạt động sinh kế bền vững, giới thiệu phương pháp quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, tổ nhóm nông dân, phương pháp canh tác đất dốc, phòng chống HIV, dự án quản lý cơ sở hạ tầng dựa vào cộng đồng, phương pháp giảng dậy lấy học sinh làm trung tâm
Tuy nhiên, có nhiều nhận xét về tính khả thi và khả năng nhân rộng của các mô hình do INGOs xây dựng Theo đối tác, chi phí quản lý, hỗ trợ kỹ thuật từ chuyên gia và sự tham gia của người dân thường đẩy giá thành mô hình lên quá cao làm cho ngân sách của nhà nước khó lòng đáp ứng Trong trao đổi, nhiều gợi ý là việc nhân rộng mô hình không nhất thiết phải là copy mô hình mà nên tập trung nhân rộng các nguyên tắc của mô hình như sự tham gia của người dân, vai trò của các bên, kỹ thuật mới hoặc giống mới Việc nhân rộng nên được coi là sự đơn giản hóa mô hình và xây dựng thành hướng dẫn hoặc chính sách Trên thực tế, có rất nhiều mô hình đã thành công như việc thể chế hóa sự tham gia của người dân trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, chương trình 135 hoặc việc tôn trọng quyền và tính bảo mật của người có HIV Có lẽ, việc xây dựng mô hình và thăm quan vẫn là một phương pháp hiệu quả của INGOs cho người dân cũng như chính phủ
e Địa bàn hoạt động và đối tượng hưởng lợi (kiểm tra lại)
Các tổ chức INGOs hoạt động rộng khắp ở các địa bàn khác nhau không những ở miền núi (32,8%), nông thôn (35,8%) mà có một tỉ lệ đáng ngạc nhiên các tổ chức có làm ở vùng đô thị (38,8%) Có thể vấn đề nghèo đô thị, di dân, các vấn đề về HIV, dân chủ cơ sở, quyền con người, thích nghi với biến đổi khí hậu, vận động chính sách ngày càng được quan tâm
Việc lựa chọn địa bàn hoạt động của INGOs phụ thuộc vào chiến lược và ưu tiên của tổ chức Ở địa phương nào có vấn đề quan tâm nổi cộm thì sẽ được ưu tiên lựa chọn bên cạnh các tiêu chí như đối tác, khả năng tiếp cận địa bàn cũng như tính đại diện về vùng địa lý Ví dụ như Oxfam Anh và Oxfam Hồng Kong chỉ tập trung vào các tỉnh có đồng bào người dân tộc thiểu số vì đối tượng họ ưu tiên là người dân tộc thiểu số Các tổ chức làm về HIV như FHI và PACT thì tập trung vào các địa bàn nóng như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Quảng Ninh, Hải Phòng, Điện Biên nơi có tỉ lệ người có HIV và rủi ro lây nhiễm cao Số địa bàn hoạt động phụ thuộc vào ngân sách cũng như tính đại diện cần có Ví dụ như xxx chỉ hoạt động ở xxx địa bạn trong khi một số tổ chức khác thì hoạt động ở rất nhiều vùng khác nhau như MCNV có hoạt động ở 16 tỉnh hoặc AAV có hoạt động ở 18 tỉnh trên khắp
cả nước
BOX 1: Để thuyết phục đối tác địa phương và phụ huynh đầu tư vào giáo dục cho con em mình,
CRS đã tổ chức đi thăm quan cho một đoàn gồm 2 thành viên Ban giám hiệu, 15 giáo viên và 25 phụ huynh đại diện cho các lớp, Bí thư Đoàn và Chủ tịch Hội phụ nữ đến trường mầm non Tân Sơn ở TP Thanh Hóa Sau chuyến đi, chính quyền địa phương, nhà trường và phụ huynh đã nhận
ra sự thiệt thòi của con em mình trong việc tiếp cận cơ sở vật chất và phương pháp giáo dục mới Sau chuyến đi, tất cả các bên đã ngồi lại và bàn bạc kế hoạch xây dựng trường theo từng bước: hoàn chỉnh khu nhà 6 tầng, làm lại sân sau, thuê hoạ sĩ vẽ tường, thiết kế môi trường xanh - sạch - đẹp, đặt các bồn hoa, kêu gọi đầu tư trò chơi ngoài trời nhằm nâng cao thể chất cho học sinh, thu hút đông học sinh tới trường hơn.
Trang 13Song song với địa bàn, người nghèo nông thôn (55,2%), trẻ em (53,7%), phụ nữ (40,3%) người dân tộc thiểu số (38,8%), người khuyết tật (32,8%), người nghèo đô thị (26,9%) là những đối tượng chủ yếu của INGOs Bên cạnh đó, cũng có nhiều tổ chức quan tâm đến người có HIV, người lớn tuổi, thanh niên, người đồng tính/MSM và người di cư Rõ ràng, hoạt động của các tổ chức INGOs không chỉ còn tập trung vào vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn miền núi mà đã dần dần mở rộng qua đô thị cũng như các vấn đề và đối tượng đặc thù khác
f Vai trò của các tổ chức INGOs
Các tổ chức INGOs có nhiều vai trò khác nhau trong việc triển khai dự án Đa số trong số họ coi mình có vai trò hỗ trợ tài chính (76,1%), hỗ trợ kỹ thuật (58,2%) và hỗ trợ phương pháp (52,2%) Bên cạnh đó, tương ứng cũng có tới 41,8% và 44,8% tổ chức coi mình có vai trò là người triển khai hoặc đồng triển khai dự án với đối tác địa phương Điều này cũng phản ánh đúng cách nhìn phổ biến của các INGOs – họ coi mình là đối tác hỗ trợ, cùng đồng hành với đối tác địa phương hơn chỉ đơn thuần
là nhà tài trợ Các tổ chức INGOs tin rằng, song song với tài chính thì các hỗ trợ về kỹ thuật và phương pháp sẽ đảm bảo chất lượng dự án Chính vì vậy mà 68,8% và 64% tổ chức được hỏi cho rằng phương pháp triển khai dự án và kiến thức kỹ thuật là đóng góp quan trọng nhất của INGOs trong khi chỉ có 24,6% cho rằng tài chính là đóng góp quan trọng nhất của họ cho đối tác
Một vai trò phổ biến của INGOs được cả chính quyền địa phương, người dân và bản thân các INGOs thừa nhận đó là hỗ trợ giải quyết các vấn đề ở cộng đồng Nhiều đối tác địa phương tỉnh Thanh Hoá
và Yên Bái coi INGOs là kênh hỗ trợ người nghèo - nhóm đối tượng dễ bị tổn thương mà Nhà nước chưa quan tâm hết được Khi được hỏi về vai trò của INGOs, người dân và cán bộ địa phương thường nhắc đến vai trò cứu trợ nhân đạo, cung cấp tín dụng, phát giống mới hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn của INGOs Có lẽ, điều này cũng đúng vì đây là công việc quan trọng nhất cũng như được đầu tư nhiều nhất của hầu hết các INGOs hoạt động ở Việt Nam
Ngoài vai trò đóng góp trực tiếp vào thay đổi cuộc sống của người hưởng lợi, các INGOs còn có vai trò chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp làm cũng như xây dựng chương trình quốc gia, chính sách và khung pháp lý cho những vấn đề liên quan Nhiều INGOs như Oxfam, CARE, AAV, E&D, đóng góp trực tiếp cho việc xây dựng chương trình 135 của Ủy ban dân tộc (CEMA) và chính sách trợ cấp xã hội của Bộ LĐTB&XH (MOLISA); các tổ chức như FHI, PACT, PATH, etc tham gia vào việc xây dựng luật phòng chống HIV, các tổ chức như PyD và Oxfam tham gia vào việc xây dựng luật bình đẳng giới, CARE tham gia xây dựng chiến lược phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu quốc gia Việc đóng góp này được thực hiện qua nhiều kênh như các dự án hỗ trợ trực tiếp cho cơ quan hoạch định chính sách, đối tác địa phương, diễn đàn quốc gia hoặc thông qua các nhà tài trợ song phương và
Hoạt động vận động chính sách được thực hiện qua nhiều cách khác nhau như (i) xây dựng năng lực của cơ quan xây dựng chính sách; (ii) xây dựng mô hình và đúc kết kinh nghiệm để chia sẻ;
người Quản trị nhà nước
Biểu 10: Các tổ chức INGOs hoạt động vận động
chính sách (%)
Trang 14(iii) thu thập thông tin và ý kiến của người dân về chính sách và (iv) trao đổi ý kiến chuyên gia để thảo luận về chính sách Một số tổ chức tập trung vào khâu xây dựng chính sách để đảm bảo nội dung chính sách phù hợp và có lợi cho đối tượng quan tâm Rất nhiều tổ chức tập trung vào khâu triển khai chính sách vì họ tin rằng chính sách của Việt Nam tương đối tốt nhưng triển khai thì lại chưa tốt Bên cạnh đó, nhiều tổ chức hoạt động ở các địa phương nơi chính sách được thực thi nên có nhiều cơ hội tham gia hơn Theo kết quả nghiên cứu, có 46% tổ chức được hỏi cho rằng hoạt động của mình có ảnh hưởng lên chính sách của chính phủ tuy nhiên mức độ ảnh hưởng có khác nhau Các tổ chức INGOs cho rằng mình tạo ra ảnh hưởng về phương pháp triển khai chính sách là nhiều nhất (70.30%) và khoảng một nửa cho rằng ḿnh có gây tác động đến nội dung và ảnh hưởng của chính sách như kết
quả thể hiện trong biểu đồ 11
Một vai trò mà ít khi được đề cập đến trong văn bản chính thức đó là cầu nối thông tin giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, trong một chừng mực nào
đó có thể gọi là ngoại giao nhân dân Trên thực tế, có rất nhiều giao lưu giữa Việt Nam và các nước thông qua nhân viên, người dân và các nhà tài trợ của các
tổ chức phi chính phủ Hình thức có thể qua các chuyến thăm làm việc, hội thảo hoặc trao đổi kinh nghiệm Trong chừng mực nào đó, đây là một kênh thông tin
về Việt Nam, đặc biệt là các chính sách
về xóa đói giảm nghèo, điều kiện kinh tế
xã hội cũng như những thay đổi của Việt Nam với bạn bè quốc tế Kinh nghiệm làm việc của INGOs với chính phủ, đối tác và người dân chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh của Việt Nam Điều này được khẳng định bởi lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa khi nói INGOs “là kênh thu hút thêm vốn và mở rộng quan hệ đối ngoại, từ đó nâng cao hình ảnh của Thanh Hoá với thế giới cũng như giới thiệu về một môi trường cởi mở, thân thiện nơi đây.”
Một vai trò mà nhiều INGOs không thừa nhận đó là tính đại diện cho người dân trong việc giải quyết các vấn đề của họ INGOs coi mình là người hỗ trợ, cầu nối hơn là người đại diện Tuy nhiên, do cách làm và chủ đề làm đặc biệt là sự tham gia, dân chủ cơ sở mà nhiều địa phương đặt câu hỏi về tính đại diện của các INGOs trong việc đưa tiếng nói của người dân lên các cấp chính quyền Điều này cũng là một câu hỏi mà một số đại diện của INGOs đưa ra INGOs đang đại diện cho ai? Liệu INGO có là tiếng nói đại diện của người dân địa phương không? Liệu INGOs có thể là cầu nối giữa người dân Việt Nam và chính phủ Việt Nam? Trong các cuộc phỏng vấn, các INGOs thường phủ nhận vai trò này và cho rằng chỉ có các tổ chức Việt Nam và người Việt Nam mới có vai trò đại diện này
3 Đối tác và quan hệ đối tác
a Đối tác của INGOs
Về số đối tác của tổ chức INGOs qua khảo sát cho thấy có sự khác biệt giữa các nhóm tổ chức theo qui mô ngân sách Các tổ chức thuộc nhóm 1 và 2 có ít đối tác hơn hẳn so với nhóm 3 Đối tác của nhóm 1 và 2 thường là đối tác phi chính phủ trong khi đó đối tác của các tổ chức thuộc nhóm 3 (nhóm
có ngân sách hoạt động lớn trên 1 triệu USD) thường là các đối tác chính phủ như biểu đồ 12 dưới đây
Trang 15Điều này được giải thích là nhiều tổ chức có ngân sách lớn xác định đối tác là chính quyền địa phương vì cho rằng chính quyền địa phương có năng lực tốt hơn, tạo được cơ hội tiếp cận địa bàn tốt hơn, và có nhiều cơ hội gây ảnh hưởng và thay đổi cách làm
và chính sách của Việt Nam tốt hơn Bên cạnh đó, cũng có người cho rằng đây là một sản phẩm của lịch sử Trước đây, INGOs mới vào Việt Nam chưa có nhiều tổ chức phi chính phủ địa phương nên họ buộc phải làm với các cơ quan chính phủ và việc này vẫn kéo dài đến bây giờ
Một số người cho rằng các tổ chức phi chính phủ Việt Nam dù đã phát triển về số lượng nhưng còn yếu về năng lực, thiếu về kỹ năng nên chưa triển khai được các dự án lớn Bên cạnh đó, đa số các tổ chức phi chính phủ Việt Nam có văn phòng ở Hà Nội, nhân viên là người Hà Nội nên các tổ chức INGOs cảm thấy nếu triển khai các dự án ở các tỉnh thì việc đối tác với chính quyền địa phương có nhiều thuận lợi hơn Trong khi đó, số lượng các tổ chức phi chính phủ có văn phòng và hoạt động ở các tỉnh chưa nhiều
Các INGOs thường chọn đối tác có chức năng nhiệm vụ phù hợp với nội dung dự án WWF thường làm việc với cơ quan kiểm lâm hoặc ban quản lý rừng quốc gia, MCNV làm việc với các cơ quan y tế, WPF làm với trường đại học trong các chương trình giáo dục tính dục hoặc PyD làm với Hội phụ nữ
về bình đẳng giới và chống bạo lực gia đình và FHI làm với các cơ quan phòng chống HIV Một trong những nguyên tắc quan trọng của INGOs là hỗ trợ đối tác địa phương thực hiện tôt chức năng nhiệm
vụ và mục đích công việc của họ, và có tới 77% tổ chức được hỏi đồng ý với quan điểm này
b Quan hệ đối tác
Cũng giống như bất cứ cơ quan nào, các tổ chức INGOs rất coi trọng quan hệ với chính quyền địa phương Với họ, quan hệ tốt với chính quyền địa phương chỉ để có giấy phép hoạt động mà còn có được sự hỗ trợ trong khó khăn Mối quan hệ này được xây dựng dựa vào nhiều yếu tố khác nhau Nhìn chung quan hệ đối tác giữa các tổ chức INGOs và chính quyền được dựa trên mục đích chung đó
là giúp cho người dân địa phương xóa đói giảm nghèo, phát triển xã hội và văn hóa Trong các cuộc họp ở Thanh Hóa và Yên Bái chính quyền địa phương rất ủng hộ hoạt động của INGOs vì hoạt động của INGOs phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương Các đối tác địa phương cũng đánh giá cao việc INGOs tôn trọng pháp luật của nhà nước và quy định của địa phương, và tham vấn ý kiến chính quyền địa phương về hoạt động của họ
Một trong những nền tảng của quan hệ đối tác là thực hiện các cam kết của mình Chính quyền địa phương đánh giá rất cao việc các INGOs thực hiện các cam kết về tài chính, hỗ trợ kỹ thuật cũng như chất lượng dự án Các đối tác địa phươn cho rằng phương thức quản lý tài chính của INGOs rất linh hoạt và rõ ràng Sau khi dự án được phê duyệt, INGO sẽ cấp vốn và giám sát nhằm đảm bảo nguồn vốn được sử dụng tốt nhất Sự ghi nhận này cũng khá trùng với đánh giá của INGOs khi 86,7% tổ
Biểu 12: Số đối tác của các tổ chức INGOs
Trang 16chức INGOs cho rằng mình luôn luôn thực hiện cam kết với đối tác Về phía chính quyền địa phương, việc tạo thuận lợi cho INGOs trong triển khai dự án, giải quyết các mâu thuẫn hoặc khác biệt trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau cũng được thực hiện Nhiều INGOs cho rằng, nếu không có sự hợp tác của chính quyền địa phương thì họ không thể thực thi được dự án
Sự tham gia của đối tác địa phương vào các giai đoạn trong chu trình dự án rất khác nhau ở các tổ chức INGO khác nhau Có những đối tác địa phương tham gia ngay vào giai đoạn thiết kế dự án nhưng đa số chỉ cung cấp thông tin để INGOs thiết kế dự án và xin tài trợ Khi dự án được phê duyệt, các đối tác địa phương sẽ tham gia vào việc lập kế hoạch và triển khai hoạt động Các tổ chức INGOs làm cùng hoặc làm qua đối tác địa phương thường có sự tham gia cao hơn Ví dụ như các đối tác của AAV tham gia vào khâu thiết kế, xây dựng đề xuất, lập kế hoạch từ dưới lên và triển khai, giám sát đánh giá Hơn nữa, khi AAV thực hiện các hoạt động vận động chính sách có dùng bằng chứng từ vùng dự án, AAV luôn trao đổi với đối tác địa phương trước khi đưa lên cấp trên để đảm bảo sự đồng thuận Cụ thể được thể hiện trong biểu đồ 13
Để triển khai dự án, đa số các INGOs giới thiệu mô hình Ban quản lý dự án (BQLDA) ở các cấp tỉnh, huyện hoặc xã Thành phần của BQLDA thường là đại diện của UBND và các cơ quan chuyên môn phù hợp với nội dung dự án BQLDA thường đóng vai trò điều phối, lập kế hoạch, triển khai, giám sát và báo cáo tiến độ dự án Khi dự án được triển khai xuống cộng đồng, chính quyền địa phương (thôn hoặc xã) đứng
ra tổ chức các hoạt động còn các cơ quan chức năng sẽ phụ trách về chuyên môn kỹ thuật, tập huấn hoặc xây dựng mô hình INGOs thường đóng góp tài chính, hỗ trợ kỹ thuật và giám sát chất lượng, đặc biệt những vấn đề liên quan đến sự tham của người dân, bình đẳng giới và sự hưởng lợi của các đối tượng như người nghèo, người dân tộc thiểu số hoặc
hộ phụ nữ đơn thân
Quan hệ đối tác được củng cố vì hầu hết các tổ chức INGOs đều rất tôn trọng đối tác địa phương Theo kết quả nghiên cứu, khi có những khác biệt trong triển khai dự án 93,3% INGOs sẽ thảo luận và tham vấn đối tác để cùng giải quyết Khi không thể thống nhất, chỉ có 42,4% tổ chức cho rằng họ sẽ giữ quyền quyết định cuối cùng Tương tự như vậy, có 76,6% đối tác địa phương luôn hỏi ý kiến của INGOs trước khi có những thay đổi ngân sách hoặc hoạt động dự án cho phù hợp với điều kiện mới Nhờ có sự chia sẻ này mà đa số các INGOs (78,3%) cảm thấy mình được lắng nghe và tôn trọng bởi đối tác và từ đó có những thông cảm và thấu hiểu khó khăn của nhau Chính vì vậy mà có tới 91,6%
tổ chức INGOs thông cảm và thấu hiểu những khó khăn về hành chính của cơ quan đối tác để có nhiều điều chỉnh phù hợp với địa phương
Biểu 13: Sự tham gia của đối tác địa phương
33.7 48.9 19.6
55.4 63.0 60.9
.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 Xây dựng chiến lược hợp tác