1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN

97 1,4K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 844,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TTCK Thị trường chứng khoánUBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài CCQ Chứng chỉ quỹ đầu tư SGDCK Sở Giao Dịch Chứng Khoán TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán C

Trang 1

MAI PHỤNG CHIÊU

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

 

Trang 2

MAI PHỤNG CHIÊU

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế tài chính – Ngân hàng

Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.TRẦN THỊ THÙY LINH

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2011

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và những nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực Những số liệu, bảng biểu phục vụ cho việc phân tích và dẫn dắt đề tài này được thu thập từ các nguồn tài liệu khác nhau được ghi chú trong mục tài liệu tham khảo hoặc chú thích ngay bên dưới các bảng biểu Ngoài ra, đối với các tài liệu diễn giải để làm rõ thêm các luận điểm đã phân tích và trích dẫn trong phần phụ lục cũng được chú thích nguồn gốc dữ liệu.

Tác giả Mai Phụng Chiêu

LỜI CAM ĐOAN

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các hình vẽ

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các đồ thị

Lời mở đầu 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 4

Cơ sở lý luận chung về quỹ đầu tư 4

Khái niệm về quỹ đầu tư 4

Nguồn gốc hình thành quỹ đầu tư 4

Vai trò của quỹ đầu tư 5

Huy động vốn cho phát triển kinh tế 5

Bảo vệ lợi ích cho các NĐT 5

Hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp 6

Các loại hình quỹ đầu tư 6

Căn cứ vào nguồn vốn huy động 7

Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn 7

Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và quản lý hoạt động 8

Một số loại hình quỹ đầu tư khác 9

Cơ chế hoạt động của quỹ đầu tư 10

Nghiệp vụ của quỹ đầu tư 12

Huy động vốn từ nhà đầu tư 12

Đa dạng hóa danh mục đầu tư 15

Cách thức đầu tư vào quỹ đầu tư 15

Nhận diện rủi ro khi đầu tư vào quỹ 15

Quy trình đầu tư vào quỹ 17

Đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư 18

MỤC LỤC

Trang 5

Thực tiễn phát triển mô hình quỹ đầu tư trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho

Việt Nam 19

Phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Mỹ 19

Phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Singapore 20

Phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Trung Quốc 22

Phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc 23

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23

Kết luận chương 1 26

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 27

Đánh giá tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam, cơ sở cho sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp quỹ ở Việt Nam 27

Đánh giá tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam 27

Cơ sở hình thành và phát triển quỹ đầu tư ở Việt Nam 32

Thực trạng về tình hình hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam 34

Đánh giá sơ lược tình hình hoạt động của các Công ty Quản lý Quỹ và Quỹ Đầu Tư Chứng khoán trong nước 34

Phân tích hoạt động của một số Công ty Quản lý Quỹ và Quỹ Đầu Tư Chứng khoán trong nước 35

Công ty Liên Doanh Quản lý QĐT – Vietfund Management 35

CTQLQ Đầu Tư Prudential Việt Nam (PVFMC) 42

Đánh giá sơ lược tình hình hoạt động của các Công ty Quản lý Quỹ và Quỹ Đầu Tư Chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam 44

Phân tích hoạt động của một số Công ty Quản lý Quỹ và Quỹ Đầu Tư Chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam 47

Công ty Quản lý Quỹ Vina Capital 47

Công ty Quản lý Quỹ Mekong Capital 50

Nhận định về các thành tựu và hạn chế của ngành công nghiệp Quỹ ở Việt Nam 51 Thành tựu ngành công nghiệp Quỹ ở Việt Nam 51

MỤC LỤC

Trang 6

Hạn chế của ngành công nghiệp Quỹ ở Việt Nam 53

Kết luận chương 2 58

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 59

Xu hướng phát triển quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam 59

Các giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán 60

Tăng cường phát triển các quỹ đại chúng 60

Giải pháp từ phía cơ quan nhà nước 60

Giải pháp từ phía công ty quản lý quỹ 62

Triển khai loại hình quỹ đầu tư đại chúng dạng mở 62

Khuyến khích thành lập các quỹ đầu tư ETF 63

Mở rộng hoạt động huy động vốn và đầu tư quốc tế đối với các quỹ nội địa 64

Nhóm các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán 66

Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng hàng hóa cho TTCK 66

Nâng cao chất lượng dịch vụ của các công ty chứng khoán 67

Xây dựng cơ chế giao dịch chứng khoán mới 68

Xây dựng hệ thống định mức tín nhiệm nhằm quản lý rủi ro trên TTCK 69 3.2.6 Một số các giải pháp khác 70

Kết luận chương 3 72

Kết luận 74

Tài liệu tham khảo 75

Phụ lục 01 76

Phụ lục 02 77

Phụ lục 03 79

Phụ lục 04 82

Phụ lục 05 85

Phụ lục 06 86

Phụ lục 07 87

Phụ lục 08 88

Phụ lục 09 89

MỤC LỤC

Trang 7

TTCK Thị trường chứng khoán

UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước

NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài

CCQ Chứng chỉ quỹ đầu tư

SGDCK Sở Giao Dịch Chứng Khoán

TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán

CTQLQ Công ty quản lý quỹ

CTCK Công ty chứng khoán

IPO Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (Initial Public Offering)

OTC Thị trường giao dịch phi tập trung (Over the Counter)

VN-Index Chỉ số giá cổ phiếu tại SGDCK TPHCM

NYSE Sở giao dịch chứng khoán New York (New York Stock Exchange)

NASDAQ Hiệp hội quốc gia của người mua bán chứng khoán có bảng giá được điện

tử hóa (National Association of Securities Dealers Automated Quotations)NAV Giá trị tài sản ròng, phản ánh hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư

ETF Quỹ tương hỗ đầu tư chứng khoán ETF (Exchange-Traded Fund)

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

FTSE

Tổ chức xây dựng các chỉ số chứng khoán cho các thị trường quốc gia vàquốc tế, bao gồm các nước phát triển, đang phát triển và cả chỉ số cho cáckhu vực của FTSE (Financial Time Stock Exchange)

FII Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FII (Foreign Indirect Investment)FDI Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (Foreign Direct Investment)

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

Hình 1.1 Phân loại quỹ đầu tư

Hình 1.2 Mô hình quỹ đầu tư

Hình 1.3 Quy trình phát hành và niêm yết CCQ

Hình 1.4 Cách thức phát hành CCQ

Hình 2.1 Cơ cấu danh mục đầu tư theo ngành (%NAV) của VF1

Hình 2.2 Cơ cấu danh mục đầu tư theo ngành (%NAV) của VF4

Hình 2.3 Phân bổ tài sản theo ngành (%) của VFA

Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống giải pháp

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 So sánh các loại quỹ tương hỗ

Bảng 2.1 Mức vốn hóa TTCK Việt Nam giai đoạn 2000-2010

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng số lượng CTCK, CTQLQ giai đoạn 2000-2010Bảng 2.3 Báo cáo NAV của VF1 qua các năm 2004-2010

Bảng 2.4 Báo cáo NAV của VF4 qua các năm 2008-2010

Bảng 2.5 Tóm lược Quỹ đầu tư nước ngoài giai đoạn 1990-2002

Bảng 2.6 Biến động NAV của VOF giai đoạn 2007-03/2011

Bảng 2.7 Thống kê hoạt động một số loại quỹ tại Việt Nam

Bảng 3.1 Lộ trình phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

Biểu đồ 2.1 Thống kê mã chứng khoán niêm yết (2000-2010)

Biểu đồ 2.2 So sánh NAV của CCQ VF1 so với VN-Index

Biểu đồ 2.3 Phân bổ tài sản (%NAV) của VF1

Biểu đồ 2.4 Phân bổ tài sản (%NAV) của VF4

Biểu đồ 2.5 So sánh NAV của CCQ VFA so với VN-Index

Biểu đồ 2.6 Phân bổ tài sản theo chiến lược đầu tư (%NAV) của VFA

Biểu đồ 2.7 Phân bổ tài sản của PRUBF1 tại ngày 31/12/2010

Biểu đồ 2.8 So sánh NAV trên mỗi đơn vị quỹ và thị giá mỗi đơn vị quỹ PRUBF1Biểu đồ 2.9 Cơ cấu danh mục của VOF tính đến 31/03/2011

Biểu đồ 2.10 Cơ cấu danh mục của VNI tính đến 31/03/2011

Biểu đồ 2.11 Cơ cấu danh mục của VNL tính đến 31/03/2011

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

TTCK Việt Nam đã trải qua hơn 10 năm hình thành và phát triển, dù 10 nămkhông phải là quãng thời gian dài nhưng TTCK Việt Nam cũng đã có sự tăng trưởngnhanh chóng Riêng ngành quản lý quỹ, hiện nay với sự tham gia của 47 CTQLQ, 5 quỹđại chúng niêm yết và hơn 20 quỹ thành viên đã góp phần đa dạng hóa hoạt động củaTTCK, phát triển kênh huy động vốn trung và dài hạn cho thị trường tài chính Songsong với sự phát triển của thị trường, hoạt động của các CTQLQ ngày càng phát triểntrên cở sở pháp lý ngày càng được cải thiện, bổ sung và hoàn chỉnh nhằm đảm bảo chocác hoạt động luôn tuân thủ theo quy định hiện hành với những chuẩn mực đạt tầm quốc

tế Kết quả bước đầu là các QĐT, CTQLQ dần dần được xem như là một thước đo chuẩncho các hoạt động đầu tư và góp phần tạo sự ổn định cho thị trường, mà ở đó quỹ đóngvai trò là một định chế tài chính tập hợp các NĐT nhỏ lẻ đầu tư một cách tốt nhất vàchuyên nghiệp nhất vào TTCK Tuy nhiên, nếu so với quy mô phát triển của thị trườnghiện nay thì sự đóng góp này vẫn còn khá khiêm tốn, hạn chế

Hiện nay, tổng giá trị vốn hóa của thị trường đạt gần 740.000 tỷ đồng, chiếm hơn37% GDP Tổng số vốn của các quỹ đại chúng đang quản lý chỉ chiếm khoảng 4% tổnggiá trị vốn hóa Ở những thị trường phát triển thì các quỹ đóng vai trò “dẫn dắt” thịtrường, nhưng lại chưa đúng với thị trường mới nổi như ở Việt Nam, khi NĐT cá nhânchiếm đa số Do đó, cần thiết phải nâng cao vai trò của ngành quản lý quỹ tại thị trườngViệt Nam trước tiên từ bản thân nội tại của CTQLQ và sau đó là sự hỗ trợ từ các cơ quanquản lý và công chúng Các cơ quan quản lý phải luôn cải tổ khung pháp lý phù hợp,theo kịp xu hướng phát triển của thị trường và có định hướng phát triển lâu dài nhằm hỗtrợ thị trường quỹ có điều kiện phát triển và đa dạng hóa sản phẩm của mình đáp ứngđược yêu cầu của các NĐT trong và ngoài nước, hướng đến quá trình quốc tế hóa cáchoạt động đầu tư của quỹ

Do vai trò quan trọng của QĐT mà việc đánh giá lại quá trình hình thành, hoànthiện và phát triển các QĐT có ý nghĩa quan trọng giúp TTCK đi vào quỹ đạo đầu tưchuyên nghiệp và bắt nhịp đi chung của TTCK toàn cầu Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn đề

tài “Đánh giá hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt

Nam” làm ý tưởng cho luận văn tốt nghiệp của mình.

9

Trang 10

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

Luận văn đưa ra những đóng góp chính như sau:

Điểm qua một số biến động của TTCK Việt Nam trong thời gian qua Đánhgiá những thành tựu và hạn chế của hoạt động đầu tư trên TTCK, qua đó cần thiết có sự

ra đời của những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp

Phân tích vai trò của các QĐT, qua đó thấy được sự cần thiết phát triển và mởrộng mô hình này nhằm tăng tính ổn định cho TTCK

Đánh giá hoạt động của các QĐT, trình bày thành tựu của quỹ, đồng thời chỉ

ra các hạn chế tồn tại để tìm giải pháp khắc phục và hoàn thiện

Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động hiệu quả của cácQĐT trong thời gian tới để tạo tính chuyên nghiệp và đa dạng cho hoạt động đầu tư trênTTCK Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu lý luận cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của CTQLQ,QĐT, các hình thức tồn tại và cơ chế hoạt động và phương thức vận hành của các QĐT,cũng như thực tiễn phát triển của mô hình QĐT trên thế giới và bài học kinh nghiệm choViệt Nam

Nghiên cứu thực trạng tình hình phát triển của TTCK Việt Nam và QĐT trongthời gian qua thông qua phân tích những điều kiện thuận lợi và hạn chế của các hoạtđộng đầu tư diễn ra trên thị trường

Nghiên cứu xu hướng đầu tư của các QĐT và định hướng của thị trường quỹtrong giai đoạn sắp tới

Nghiên cứu các giải pháp phát triển QĐT nói riêng và nhóm giải pháp bổ trợphát triển TTCK nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là TTCK Việt Nam, QĐT nói chung và QĐTquốc tế nói riêng

Nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu hoạtđộng, vai trò và ý nghĩa sự ra đời của các QĐT, đề xuất hướng đi mới cho thị trường quỹ

là phát triển các QĐT quốc tế Đề tài không đi sâu phân tích chi tiết phương thức hoạtđộng và vận hành của TTCK Việt Nam cũng như các giải pháp chuyên sâu phát triểnTTCK Việt Nam

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích chủ đạo trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là phươngpháp luận, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thu thập

và xử lý thông tin

6 Kết cấu của luận văn:

Phần mở đầu : Lời giới thiệu

Chương 1 : Tổng quan về quỹ đầu tư chứng khoán

Chương 2 : Tình hình hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thịtrường chứng khoán Việt Nam

Chương 3 : Giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán

Phần cuối : Kết luận và các phụ lục đính kèm

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Cơ sở lý luận chung về quỹ đầu tư :

Khái niệm về quỹ đầu tư :

Theo định nghĩa của Cadogan Financials thì QĐT là một định chế tài chính phingân hàng, trung gian giữa người có vốn (thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn thông tin khácnhau) và người cần vốn (sử dụng các khoản tiền đó để đầu tư vào các tài sản khác nhauthông qua công cụ cổ phiếu, trái phiếu và tiền tệ) Tất cả các khoản đầu tư này đều đượcquản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi CTQLQ, ngân hàng giám sát và các cơ quan thẩmquyền khác

Theo định nghĩa của Luật Công Ty Đầu Tư 1940 của Mỹ thì QĐT là các tổ chứctài chính được quản lý chặt chẽ và phải tuân theo các điều luật và quy chế của Liên bang vàcác tiểu bang

Theo định nghĩa Luật Chứng Khoán của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 thì QĐT chứng khoán là quỹhình thành từ vốn góp của NĐT với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứngkhoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó NĐT không có quyềnkiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ

Khi tham gia vào quỹ, các NĐT sẽ nhận được CCQ là loại chứng khoán doCTQLQ đại diện phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT đối với tài sảnhoặc vốn của quỹ theo tỷ lệ tương ứng với số đơn vị quỹ của NĐT đó trong vốn điều lệ quỹ

Nguồn gốc hình thành quỹ đầu tư :

QĐT có nguồn gốc từ Châu Âu, khởi thủy ở Hà Lan từ giữa thế kỷ 19, đến nửa cuốithế kỷ 19 thì được du nhập sang Anh Mặc dù có nguồn gốc từ Châu Âu nhưng Mỹ mới lànơi các QĐT phát triển mạnh nhất QĐT đầu tiên chính thức xuất hiện ở Mỹ vào năm 1924,

có tên là Massachusetts Investor Trust, với quy mô ban đầu là 50.000USD Sau này, quy môquỹ này đã tăng lên 392.000USD với sự tham gia của trên 200 NĐT

Trong thời kỳ từ 1929 đến 1951, suy thoái kinh tế và những vụ sụp đổ của TTCK thếgiới đã kiềm hãm tốc độ tăng trưởng của ngành quản lý quỹ Tuy nhiên, sự phục hồi củaTTCK trong những năm 1950 đến 1960 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các QĐT.Một hiện tượng mang tính tiêu biểu trong giai đoạn này là sự bùng nổ các QĐT chuyên đầu

tư vào cổ phiếu có tốc độ tăng trưởng cũng như mức độ rủi ro cao

Trang 13

Từ những năm 1980 trở lại đây, thị trường quản lý quỹ đã liên tục phát triển và mởrộng, đến nay đã trở thành một ngành dịch vụ mũi nhọn, một bộ phận cấu thành quan trọngcủa TTCK Quá trình phát triển TTCK các nước đã thúc đẩy việc hình thành các QĐT gópphần gia tăng việc luân chuyển vốn vào các thị trường này.

Vai trò của quỹ đầu tư :

Là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, QĐT có nhiều điểmnổi bật so với các trung gian tài chính khác với vai trò:

Huy động vốn cho phát triển kinh tế :

Như đề cập ở trên, để phát triển bền vững rất cần những nguồn vốn trung và dàihạn, QĐT tạo ra hàng loạt các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tưlẫn người nhận đầu tư Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ đượctập trung lại thành một nguồn vốn khổng lồ, thông qua QĐT sẽ được đầu tư vào các dự ándài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vựcnhà nước

Không những thế, các QĐT còn khuyến khích được dòng chảy vốn nước ngoài.Đối với luồng vốn gián tiếp, việc đầu tư vào Quỹ sẽ loại bỏ các hạn chế của họ về giao dịchmua bán chứng khoán trực tiếp, về kiến thức và thông tin về chứng khoán cũng như giảmthiểu các chi phí đầu tư Đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp, QĐT góp phần thúc đẩy các dự

án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên đốitác, tạo thuận lợi cho NĐTNN trong việc thu hồi vốn cũng như tăng được sức mạnh trongnước ở các liên doanh

Bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư:

Đa dạng hoá danh mục đầu tư – phân tán rủi ro:

Việc phân tán rủi ro đối với một khoản tiền khiêm tốn sẽ vấp phải vấn đề trị giácủa các chứng khoán trong danh mục đầu tư, nhất là các chứng khoán được niêm yết trên sởgiao dịch thường được giao dịch theo lô chẵn Các khoản vốn nhỏ ấy tuy vậy lại có thể phântán rủi ro một cách dễ dàng khi chúng được tập trung lại trong một QĐT Khi đó tất cả cácNĐT dù lớn hay nhỏ đều được tham gia chung vào mọi dự án đầu tư của quỹ, cùng chia sẻrủi ro và lợi nhuận

Tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý và đầu tư:

QĐT gồm các nhà tư vấn đầu tư chuyên nghiệp, có trình độ và kiến thức chuyênsâu, nguồn thông tin đa dạng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các NĐT riêng lẻ

Trang 14

Giảm thiểu chi phí do lợi ích về quy mô:

Các chi phí về thông tin, chi phí hành chính, trở ngại lớn đối với các NĐT riêng lẻ

sẽ giảm thiểu khi được xử lý tập trung Quỹ với tư cách là NĐT lớn luôn nhận được các ưuđãi về chi phí giao dịch cũng như dễ tiếp cận với các dự án hơn

Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư:

Việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắnnhất luôn là tiêu chí hàng đầu đối với mỗi NĐT Chứng chỉ QĐT chính là một loại chứngkhoán, do vậy, người đầu tư hoàn toàn có thể mua bán nó trên TTCK hoặc bán lại cho bảnthân quỹ (nếu là QĐT dạng mở)

Thuận tiện cho người đầu tư:

Người đầu tư có thể mua hoặc bán chứng chỉ QĐT trực tiếp hoặc thông qua môigiới, trung gian Việc mua bán có thể thông qua thư tín, điện thoại hay hệ thống mạng máytính Các NĐT có thể thoả thuận với quỹ để tái đầu tư tự động (automatic reinvestment)hoặc phân chia lợi nhuận theo từng thời kỳ NĐT còn được quỹ cung cấp các dịch vụ nhưthông tin và tư vấn

Hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp:

Nhận được nguồn vốn với chi phí huy động thấp: Việc tiếp cận các nguồn vốn tiếtkiệm nhỏ từ các cá nhân qua hệ thống ngân hàng luôn phải đối phó với những thủ tục rườm

rà (đảm bảo khoản vay với các chứng từ tài chính và tài sản …) Thông qua QĐT, việc huyđộng vốn chỉ đơn thuần là phát hành chứng khoán với chi phí giảm đáng kể

Nhận được các thông tin tư vấn quản lý, marketing và tài chính: QĐT cung cấpcác thông tin tài chính, tư vấn kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổchức tài chính, doanh nghiệp khác Lợi ích này của QĐT được đặc biệt đánh giá cao với cácdoanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi

Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn: Lợi ích này thu được do sự kết hợp các công cụhuy động vốn của Quỹ Đó là các loại chứng khoán do Quỹ phát hành, cùng với hoạt độngcủa thị trường chứng khoán cho phép trao đổi, mua bán các loại chứng khoán đó Sự kết hợpnày khuyến khích các NĐT, đặc biệt là các NĐT có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấpnguồn tài chính vô cùng cần thiết cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp

Các loại hình quỹ đầu tư :

Việc phân loại QĐT trên thế giới hiện nay chủ yếu dựa vào các tiêu chí chính nhưsau:

Trang 15

QUỸ ĐẦU TƯ

Hình 1.1 - Phân loại quỹ đầu tư

Căn cứ vào nguồn vốn huy động:

Quỹ đại chúng:

Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành CCQ rộng rãi ra công chúng với số

lượng tối thiểu là 100 NĐT, có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các NĐT

riêng lẻ với số lượng vốn huy động đạt được ít nhất là 50 tỷ đồng Việt Nam Quỹ đại chúng

cung cấp cho các NĐT nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi

ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của QĐT mang lại

Quỹ thành viên:

Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ CCQ cho một nhóm

nhỏ các NĐT dựa trên hợp đồng góp vốn với tối đa là 30 thành viên góp vốn và chỉ bao gồm

thành viên pháp nhân với số vốn đạt được ít nhất 50 tỷ đồng Việt Nam Tính thanh khoản

của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ đại chúng Các NĐT tham gia vào các quỹ này thường với

lượng vốn lớn nhưng họ có thể thường xuyên tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của

quỹ

Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn :

Quỹ đóng :

Đây là hình thức quỹ phát hành CCQ một lần duy nhất khi tiến hành huy động

vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/CCQ khi NĐT có nhu cầu bán

lại Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay

đóng quỹ), các CCQ sẽ được niêm yết trên TTCK Các NĐT có thể mua hoặc bán để thu hồi

Trang 16

vốn cổ phiếu hoặc CCQ của mình thông qua thị trường thứ cấp Tổng vốn huy động của quỹ

cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động

Quỹ mở :

Khác với quỹ đóng, tổng vốn cũa quỹ mở biến động theo từng ngày giao dịch dotính chất đặc thù của nó là NĐT được quyền bán lại CCQ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mualại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch Đối với hình thức quỹ này, cácgiao dịch mua bán CCQ được thực hiện trực tiếp với CTQLQ và các CCQ không được niêmyết trên TTCK Do việc đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại

ở các nước có nền kinh tế và TTCK phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có mặttại Việt Nam Quỹ mở chỉ mới dừng lại ở khái niệm theo Luật Chứng Khoán năm 2006 vàchưa có văn bản cụ thể hướng dẫn thực hiện cho loại quỹ này ở Việt Nam

Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và quản lý hoạt động :

Quỹ đầu tư dạng công ty :

Trong mô hình này, QĐT là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thànhtheo quy định của pháp luật từng nước Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồngquản trị do các cổ đông (NĐT) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động củaquỹ, lựa chọn CTQLQ, giám sát hoạt động đầu tư của CTQLQ và có quyền thay đổiCTQLQ Trong mô hình này, CTQLQ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu tráchnhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quảntrị kinh doanh khác Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam vì theo quy định củaUBCKNN, QĐT không có tư cách pháp nhân

Quỹ đầu tư dạng hợp đồng :

Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư Khác với mô hình QĐT dạng công ty, môhình này QĐT không phải là pháp nhân CTQLQ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huyđộng vốn, thực hiện đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ Bên cạnh đó,ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa CTQLQ vàngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi vànghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi củacác NĐT NĐT là những người góp vốn vào quỹ nhưng không phải là cổ đông như mô hìnhNĐT dạng công ty và ủy thác việc đầu tư cho CTQLQ để bảo đảm khả năng sinh lợi caonhất từ khoản vốn đóng góp của họ

Trang 17

Một số loại hình quỹ đầu tư khác:

Các QĐT dưới đây rất phổ biến ở các nước phát triển trên thế giới, tuy nhiên vẫnchưa phổ biến hoặc chưa được phép thành lập theo Luật chứng khoán Việt Nam:

Quỹ tương hỗ (mutual fund):

Quỹ tương hỗ là định chế phát hành cổ phiếu ra công chúng và dùng số tiền thuđược để lập một danh mục đầu tư vào các loại chứng khoán Cổ đông của quỹ tương hỗchấp nhận mọi rủi ro và lợi tức mà quỹ có được từ danh mục đầu tư đó Nếu giá trị của danhmục đầu tư tăng, cổ đông sẽ được lợi và ngược lại Và đa phần các quỹ tương hỗ là quỹdạng mở

Các bước cơ bản khi tạo dựng quỹ: quỹ quyết định các phương pháp luận đầu tư

 phát hành bản cáo bạch  bán CCQ Có ba loại quỹ tương hỗ:

- Quỹ cổ phiếu: còn được gọi là quỹ cổ phiếu, đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu

- Quỹ trái phiếu: đầu tư chủ yếu vào trái phiếu doanh nghiệp hoặc trái phiếu

chính phủ

- Quỹ thị trường tiền tệ: thực hiện các khoản đầu tư ngắn hạn để ấn định giá trị

mỗi cổ phiếu ở giá 1$

Các CTQLQ tương hỗ thường cung cấp cho NĐT rất nhiều quỹ Việc giữ tiềntrong tập hợp này giúp cho việc chuyển tiền giữa các quỹ được dễ dàng hơn Mỗi quỹtương hỗ thường được ấn định rõ mục tiêu hoạt động như quỹ tương hỗ chuyên đầu tư vàocác nước đang lên, hay quỹ tương hổ chuyên đầu tư vào các công ty mới khởi nghiệp, Do

có nhiều hình thức và mục tiêu khác nhau nên thế giới các quỹ loại này rất phong phú

Quỹ phòng hộ (Hedge Fund):

Quỹ phòng hộ là thuật ngữ dùng để chỉ một chiến lược nhằm bù đắp những rủi rođầu tư Tại quỹ này, các NĐT ưa thích sự an toàn sẽ tham gia và sử dụng các công cụ chứngkhoán phái sinh (như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn, hợp đồng hoánđổi ) để bảo vệ khoản tiền đầu tư của mình, chống lại những tăng trưởng không dự tínhtrước cũng như sự tụt giá hay lên giá đột ngột của hàng hoá Ngày nay, các quỹ này liên tụcxuất hiện, được điều hành bởi một công ty đầu tư, huy động vốn của cổ đông rồi đầu tư vàocác chứng khoán phái sinh nhằm hạn chế rủi ro Quỹ này hiện chưa phổ biến ở Việt Nam

Quỹ đầu tư ETF (Exchange-Traded Fund):

Quỹ ETF ra đời vào những năm 1990 nhằm phục vụ cho nhu cầu của một bộphận NĐT không muốn quá “vất vả” để lựa chọn cổ phiếu đầu tư, thay vào đó họ đầu tư mô

Trang 18

phỏng các chỉ số chứng khoán, một nhóm ngành hoặc theo theo các loại hàng hóa có tính thanh khoản cao như dầu mỏ hay vàng.

Mô hình quỹ này khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là Mỹ Hiện nay, phần lớncác quỹ ETF hoạt động trên thế giới là các QĐT chỉ số (Index Funds), theo đó đầu tư theomột chỉ số chứng khoán nhất định Dow Jones, S&P 500, FTSE 100, Với hình thức đầu tưđặc biệt của mình, quỹ ETF có khả năng phân tán rủi ro tốt và chi phí khá thấp (thường dưới1%) Chính điều này đã giúp ETF thu hút các NĐT tổ chức, cũng như các cá nhân đầu tưvào ETF với mục tiêu nắm giữ lâu dài hoặc phục vụ chiến lược giao dịch ngắn hạn

Cơ chế hoạt động của ETF cũng làm cho giá CCQ thường theo sát NAV, chứkhông biến động quá xa như các quỹ tương hỗ Hơn nữa, các quỹ tương hỗ lại tính thêm20% phí trên phần tăng trưởng của giá trị tài sản ròng, có nghĩa là lợi nhuận có được, họphải chia cho nhà quản lý quỹ 20% Các ETF không thu khoản phí này Ngoài ra, CCQ củaquỹ ETF cũng dễ dàng mua bán trên TTCK như bất kỳ cổ phiếu nào

Ngoài quỹ ETF chuyên đầu tư theo chỉ số còn có 2 loại quỹ ETF khác đó là QuỹĐầu Tư Chỉ Số Hàng Hóa đầu tư vào một số hàng hóa nhất định như vàng, dầu mỏ hoặcmột rổ các hàng hóa bằng cách nắm giữ thực sự loại hàng hóa đó hoặc dùng các hợp đồngtương lai và Quỹ ETF quản lý chủ động (Actively managed ETFs), loại quỹ ETF này mới rađời từ năm 2008 ở Mỹ và vẫn chưa phổ biến trên thế giới

Cơ chế hoạt động của quỹ đầu tư :

Dù QĐT được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng về cơ bản các trunggian hoạt động theo cơ chế có các bên liên quan tham gia như: CTQLQ, ngân hàng giám sát,công ty kiểm toán, NĐT, các tổ chức cung cấp các dịch vụ khác,

Hình 1.2 - Mô hình quỹ đầu tư

Trang 19

Công Ty Quản Lý Quỹ: do UBCKNN cấp phép thành lập nhằm huy động vốn thành

lập và quản lý QĐT, danh mục đầu tư chứng khoán theo như cáo bạch CTQLQ chịu tráchnhiệm báo cáo hoạt động của QĐT cho UBCKNN Như vậy, CTQLQ đóng vai trò quantrọng trong hoạt động của quỹ, thực hiện chức năng về quản lý vốn tài sản thông qua việcđầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất làm gia tăng giá trị của QĐT Các chức năngchính bao gồm:

- Quản lý QĐT:

+ Huy động và quản lý vốn tài sản

+ Tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư

+ Quản lý đầu tư chuyên nghiệp

- Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính:

+ Thực hiện việc tư vấn đầu tư và tư vấn về quản trị cho các khách hàng.+ Hỗ trợ khách hàng tối ưu hóa các khoản đầu tư thông qua công cụ tài chính.+ Tối ưu hóa các nguồn vốn cho các NĐT

- Nghiên cứu, phân tích đánh giá thị trường, phân tích các giá trị tài chính, giá trị đầu tư và hỗ trợ cho các hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính như đã nêu trên.

Ngân hàng giám sát thực hiện việc kiểm tra, bảo quản, lưu ký tài sản của QĐT và

giám sát CTQLQ nhằm bảo vệ lợi ích của NĐT, đồng thời tính toán giá trị tài sản ròng củaquỹ (NAV) và công bố ra công chúng; giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố racông chúng; giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố thông tin của CTQLQ; báocáo UBCKNN khi phát hiện CTQLQ vi phạm pháp luật hoặc điều lệ QĐT; định kỳ cùngCTQLQ đối chiếu sổ kế toán, báo cáo tài chính và hoạt động giao dịch của quỹ; làm đại lýchuyển nhượng cho quỹ; quản lý thông tin NĐT của quỹ; thực hiện kiểm toán kết quả hoạtđộng định kỳ của QĐT

Công ty kiểm toán thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác tình

hình hoạt động của QĐT, bảo đảm sự minh bạch Kiểm toán viên là nhân viên độc lậpkhông có quan hệ với CTQLQ

Đại Hội Đồng NĐT gồm tất cả các NĐT của quỹ, là cơ quan quyết định cao nhất của

QĐT, có quyền hạn và nghĩa vụ như theo Điều lệ quỹ phù hợp với quy định của pháp luật

Ban đại diện quỹ đại diện cho quyền lợi của NĐT gồm từ 3 tới 10 thành viên và ít

nhất 2/3 trong số đó là thành viên độc lập, không có quan hệ với CTQLQ

Trang 20

Các tổ chức cung cấp các dịch vụ khác như tổ chức bảo lãnh phát hành chứng

khoán, tư vấn luật, thực hiện hoạt động hỗ trợ cho CTQLQ và QĐT phù hợp với quy địnhcủa pháp luật

Nghiệp vụ của quỹ đầu tư :

Huy động vốn từ nhà đầu tư:

Phát hành chứng chỉ và niêm yết trong nước :

Việc chào bán CCQ đại chúng dạng đóng bao gồm phát hành CCQ lần đầu racông chúng và phát hành CCQ để tăng vốn Việc phát hành CCQ lần đầu thì giá trị CCQđăng ký chào bán ít nhất 50 tỷ đồng Việt Nam Việc phát hành CCQ để tăng vốn cho các lầnđầu tư tiếp theo phải được quy định trong điều lệ quỹ, được Đại hội NĐT thông qua và đượcthực hiện cho các NĐT hiện hữu của quỹ thông qua phát hành quyền mua CCQ Quyền muaCCQ này được phép chuyển nhượng Trường hợp NĐT hiện hữu không thực hiện quyềnmua CCQ, phần CCQ còn dư có thể được chào bán cho các NĐT khác

Sau khi nhận được Giấy chứng nhận chào bán CCQ cấp bởi UBCKNN về việc hồ sơ

đã đủ điều kiện chào bán thì việc chào bán CCQ sẽ được thực hiện thông qua các đại lýchào bán CCQ Các tổ chức này phải đảm bảo CCQ được phân phối công bằng, công khai

và đảm bảo thời hạn mua CCQ cho NĐT tối thiểu trong vòng 20 ngày

CTQLQ trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày diễn ra Đại hội NĐT đầu tiên phải tiếnhành hoàn tất hồ sơ đề nghị niêm yết CCQ đến SGDCK

Phát hành CCQ và niêm yết tại nước ngoài :

Vốn cho QĐT được huy động từ nước ngoài dưới các hình thức sau:

- Lập Quỹ tại Việt Nam theo Luật Chứng Khoán và chào bán toàn bộ CCQ choNĐTNN

- Lập Quỹ ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, niêm yết CCQ trên SGDCK ở nước ngoài.Huy động vốn dưới hình thức này cần đáp ứng các điều kiện sau:

Có quyết định thông qua việc huy động vốn ở nước ngoài và phương án sử dụngvốn thu được của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty

Có phương án phát hành nêu rõ quốc gia và loại hình NĐT mà công ty dự kiếnthực hiện chào bán CCQ đã được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ

sở hữu công ty phê duyệt, chấp thuận Phương án phát hành và phương án đầu tư phần vốnhuy động phải phù hợp với các quy định pháp luật Trong trường hợp này, CTQLQ tối thiểumười (10) ngày trước khi gửi Hồ sơ đăng ký chào bán CCQ, Hồ sơ đăng ký lập Quỹ, Hồ sơ

Trang 21

đăng ký niêm yết CCQ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, phải gửi cho UBCKNNcác tài liệu: bản sao hợp lệ của Hồ sơ đăng ký chào bán, Hồ sơ đăng ký lập Quỹ, Hồ sơ đăng

ký niêm yết CCQ đã được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chấp thuận; cùng với bảnsao hợp lệ Giấy chứng nhận chào bán CCQ, Giấy đăng ký lập Quỹ, Giấy chấp thuận niêmyết CCQ hoặc các tài liệu tương đương do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp Saukhi hoàn tất phát hành CCQ và niêm yết CCQ ở nước ngoài thì trong vòng 10 ngày phải gửitoàn bộ hồ sơ liên quan theo quy định của pháp luật và yêu cầu của UBCKNN

Ngoài ra, phải đáp ứng các điều kiện chào bán, thành lập Quỹ và niêm yết CCQtheo quy định của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi CTQLQ dự kiến chào bán để huyđộng vốn và niêm yết CCQ

Hình 1.3 - Quy trình phát hành và niêm yết CCQ

Luật Chứng Khoán năm 2006 của Việt Nam chỉ mới quy định cách thức huy độngvốn cho quỹ đại chúng dạng đóng và quỹ thành viên, tuy nhiên quỹ tương hỗ có thể dùngbất kỳ phương pháp nào để bán cổ phiếu của mình ra công chúng Sau đây là một số phươngpháp bán được sử dụng:

Quỹ – Người bảo lãnh (NBL) – Người kinh doanh (NKD) – Người đầu tư (NĐT)

NĐT đặt một lệnh về cổ phiếu QĐT cho NKD, NKD chuyển lệnh cho NBL và NBLchuyển lệnh cho quỹ Quỹ sẽ bán cho NBL tại NAV hiện hành NBL bán cho NKD tại NAVcộng với phí nhượng lại của NBL (hay tại giá cháo bán cho công chúng (POP) trừ đi chiếtkhấu) Sau đó NKD bán lại cổ phiếu cho công chúng với POP đầy đủ

Trang 22

QUỸ CÁC TỔ CHỨC

BÁN TRỰC TIẾP CHỨNG CHỈ QUỸ

Quỹ – Người bảo lãnh (NBL) – Người đầu tư (NĐT)

Một NĐT đặt lệnh cho NBL, NBL chuyển lệnh cho quỹ Để thực hiện giao dịch, quỹ

sẽ bán cho NBL tại NAV hiện hành Sau đó, NBL sẽ cộng phí bán vào giá bán và bán vớiPOP đầy đủ ra công chúng Phí bán được chia ra trong số những người bán (NBL, đại diệnđăng ký, )

Quỹ đến người đầu tư (NĐT)

Đây là quỹ thực hiện việc chào bán trực tiếp cho công chúng mà không sử dụng các

hoạt động trung gian, quỹ này gọi là quỹ không có phí bán Quỹ sẽ thanh toán toàn bộ phí

có liên quan đến việc bán cổ phiếu

Quỹ – Người bảo lãnh (NBL) – Công ty thực hiện theo kế hoạch (CTTH) – Người đầu tư (NĐT)

Các tổ chức có kế hoạch hợp đồng mua theo từng giai đoạn cổ phiếu quỹ được gọi làCTTH Cổ phiếu quỹ được CTTH mua theo kế hoạch và nắm giữ dưới sự ủy thác của cánhân và thanh toán theo định kỳ Phí bán tối đa của kế hoạch hợp đồng là 9% trong suốt thờigian thực hiện kế hoạch

Bán với giá chào bán cho công chúng

Bất cứ việc bán cổ phiếu nào của quỹ cho khách hàng không phải là thành viên của

NASDAQ phải được thực hiện tại giá chào bán cho công chúng Đường đi của việc bán

này không quan trọng, khách hàng không phải thành viên phải chấp nhận giá chào bán chocông chúng Chỉ một thành viên của NASDAQ hoạt động như người kinh doanh hay ngườibảo lãnh mới có thể mua cổ phiếu của QĐT với giá chiết khấu từ người phát hành

Hình 1.4 - Cách thức phát hành CCQ

Trang 23

Đa dạng hóa danh mục đầu tư :

Cơ cấu danh mục đầu tư của quỹ đóng được CTQLQ thiết lập trên cơ sở các điềukhoản đã quy định rõ tại Điều lệ Quỹ và Bản Cáo bạch để đa dạng hóa danh mục đầu tưnhằm giảm thiểu rủi ro Quỹ đóng được phép đầu tư vào các loại tài sản tài chính như sau:

- Cổ phiếu của công ty đại chúng

- Trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu công ty

- Công cụ thị trường tiền tệ bao gồm chứng chỉ tiền gửi tại tổ chức tín dụng; tín phiếu kho bạc

và thương phiếu với thời gian đáo hạn tính từ ngày phát hành không quá một

75% tổng tài sản phải được đầu tư vào chứng khoán công ty, không phải củachính Công ty đầu tư hay chi nhánh của nó Tiền mặt và các khoản đầu tư tương đương tiền(chứng khoán chính phủ ngắn hạn và chứng khoán trên thị trường tiền tệ) được tính mộtphần của yêu cầu đầu tu 75% ngoài công ty

Không được đầu tư quá 5% tổng tài sản của quỹ vào một công ty cổ phần

Công ty đầu tư không được đầu tư quá 10% số cổ phiếu thường có quyền bầu cửcủa một công ty cổ phần

Cách thức đầu tư vào quỹ đầu tư:

1.2.2.1Nhận diện rủi ro khi đầu tư vào quỹ:

Bất kể khi đầu tư dưới hình thức nào hay đầu tư vào loại tài sản nào thì bao giờcũng có những rủi ro tiềm ẩn nhất định.Vì vậy, NĐT cần phải nghiên cứu, cân nhắc trướckhi thực hiện các quyết định đầu tư.Sau đây là một số yếu tố rủi ro chủ yếu mà NĐT nênquan tâm khi đầu tư vào quỹ:

Rủi ro thị trường: Rủi ro này phát sinh khi các thị trường tài sản mà quỹ đầu tư

có sự suy giảm từng phần hay toàn bộ trong một khoảng thời gian dẫn tới sự suy giảm củatoàn bộ thị trường Đây là rủi ro mang tính hệ thống nằm ngoài khả năng kiểm soát củaCTQLQ

Trang 24

Rủi ro lãi suất: Lãi suất làm chi phí đầu vào các doanh nghiệp tăng, mức lãi suất

mong đợi tăng sẽ làm giảm giá trị cổ phiếu, giảm giá CCQ cũng như giá trị đầu tư vào tráiphiếu và ngược lại

Rủi ro lạm phát: Lạm phát làm tăng chi phí đầu vào, tăng lãi suất danh nghĩa do

đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và CCQ Rủi ro về lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng kinh doanh của các doanh nghiệp mà quỹ đầu tư vào, do vậy sẽ ảnh hưởng kết quả lợinhuận v.v và ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và khoản đầu tư vào cổ phiếu của doanhnghiệp

Rủi ro mất khả năng thanh toán của tổ chức phát hành trái phiếu/công cụ nợ: Rủi ro này phát sinh khi các bên phát hành công cụ nợ mất khả năng thanh toán lãi suất

hoặc tiền gốc đối với các khoản vay

Rủi ro thiếu tính thanh khoản: Một trong những yếu tố quan trọng của quỹ là

dành phần lớn tổng tài sản đầu tư vào các DNNN và tư nhân cổ phần hóa Chính vì vậy, cáckhoản đầu tư này chỉ có tính thanh khoản cao khi cổ phiếu này có khả năng được giao dịchtrên TTCK Phần lớn những DNNN sẽ được niêm yết sau khi cổ phần hóa theo quy định củaNhà nước, tuy nhiên khoảng thời gian giữa việc cổ phần hóa và niêm yết là yếu tố kháchquan mà CTQLQ khó có thể chủ động được

Rủi ro pháp lý: Dù nhiều văn bản pháp lý về TTCK đã được Chính phủ ban

hành như Luật chứng khoán, các nghị định hướng dẫn, quy chế hoạt động Tuy nhiên, vẫncòn tồn tại những rủi ro nhất định liên quan đến yếu tố pháp lý như: sự phù hợp với các camkết khi Việt Nam gia nhập WTO, các quy định về thuế đối với các NĐT trong lĩnh vực tàichính, ngân hàng và chứng khoán, chế độ kế toán quản lý quỹ,

Rủi ro xung đột lợi ích: CTQLQ cũng sẽ gặp phải những xung đột nhất định về

lợi ích giữa các QĐT và các sản phẩm tài chính khác do CTQLQ điều hành Rủi ro nàythuộc dạng rủi ro không hệ thống, có thể kiểm soát được

Rủi ro về tiến độ giải ngân: Quá trình phân bổ tài sản của quỹ vào các công ty

đã niêm yết hoặc chưa niêm yết sẽ phụ thuộc nhiều vào tiến độ thực hiện của cổ phần hóa,quyết định chấp thuận được niêm yết của các công ty theo chính sách của Chính phủ và Nhànước Do vậy, NĐT cũng cần quan tâm đến khả năng xảy ra đối với rủi ro về tiến độ giảingân của quỹ

Rủi ro giảm sút giá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ: Rủi ro này phát sinh chủ

yếu do sự giảm giá của các loại cổ phiếu trên thị trường phi tập trung (OTC) và cổ phiếu

Trang 25

niêm yết trên TTCK mà quỹ đầu tư Khi đó, NAV của Quỹ sẽ bị giảm sút và ảnh hưởng trựctiếp đến thị giá của CCQ trên thị trường.

NĐT cần xác định rõ chiến lược đầu tư, mức độ chấp nhận rủi ro, chi phí và những quy định khác được nêu rõ trong Bản cáo bạch & Điều lệ tổ chức và hoạt động của quỹ trước khi quyết định đầu tư vào quỹ.

1.2.2.2 Quy trình đầu tư vào quỹ:

Đối với Quỹ được phát hành lần đầu ra công chúng:

Trong thời gian Quỹ được CTQLQ phát hành lần đầu ra công chúng, NĐT cónguyện vọng tham gia góp vốn vào Quỹ thực hiện theo các bước cơ bản như sau:

Bước 1: Nghiên cứu tài liệu :

NĐT cần nghiên cứu chi tiết các tài liệu liên quan đến Quỹ như: Giấy phép lậpQĐT chứng khoán & phát hành CCQ đầu tư ra công chúng, Bản cáo bạch của QĐT, Điều lệquỹ của QĐT

Bước 2: Nhận tư vấn

NĐT sẽ được tư vấn trực tiếp tại CTQLQ, tại công ty chứng khoán hoặc tại cácđại lý phân phối được chỉ định

Bước 3: Đăng ký tham gia đầu tư

NĐT điền các thông tin cần thiết vào phiếu đăng ký mua CCQ do CTQLQ pháthành và nộp phiếu đăng ký này tại CTQLQ hoặc công ty chứng khoán, đại lý được chỉ địnhphân phối

Bước 4: Thanh toán

Nếu NĐT đăng ký mua tại:

+ CTQLQ: NĐT sẽ nộp tiền vào tài khoản phong tỏa của Quỹ tại ngân hàng giámsát được chỉ định

+ Công ty chứng khoán: NĐT mở tài khoản tại công ty chứng khoán (nếu chưa có) và nộp tiền mua CCQ vào tài khoản tại công ty chứng khoán

Bước 5: Nhận Giấy xác nhận sở hữu

NĐT sẽ được nhận giấy xác nhận sở hữu số lượng CCQ tại CTQLQ hoặc tại công

ty chứng khoán Sau đó NĐT làm thủ tục tái lưu ký tại công ty chứng khoán nơi mình mởtài khoản và giao dịch CCQ trên sàn giao dịch sau khi CCQ được cấp phép niêm yết từSGDCK

Trang 26

Giá trị tài sản ròng (NAV) = Tổng tài sản có – Tổng nợ phải trả

Đối với Quỹ niêm yết và giao dịch tại SGDCK:

CCQ sau khi được cấp phép niêm yết từ SGDCK sẽ giao dịch tại SGDCK, vì vậyNĐT thực hiện theo các bước như sau:

Bước 1: Mở tài khoản

NĐT cần có tài khoản giao dịch chứng khoán hoặc mở tài khoản giao dịch mới (nếu chưa có) theo đúng quy định của pháp luật hiện hành

Bước 2: Nghiên cứu tài liệu

NĐT cần nghiên cứu chi tiết các tài liệu liên quan đến Quỹ như: Bản cáo bạchcủa QĐT, Điều lệ quỹ của QĐT, báo cáo NAV gần nhất và các báo khác liên quan đến hoạtđộng Quỹ

Bước 3: Nhận tư vấn

NĐT có thể đến sự tư vấn của các chuyên viên tài chính và chuyên viên môi giớitại các công ty chứng khoán uy tín và kinh nghiệm hoặc tại các đại lý được chỉ định phânphối

Bước 4: Chuyển tiền và đặt lệnh mua

Chuyển tiền vào tài khoản giao dịch chứng khoán của mình và đặt lệnh mua CCQtheo quy định của công ty chứng khoán

Bước 5: Sở hữu CCQ

Sau chu kỳ T+3 (với T là ngày mua), NĐT sở hữu CCQ theo quy định củaSGDCK

Đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư:

Mỗi NĐT vào quỹ đều có mục tiêu đầu tư khác nhau, nhưng lý tưởng nhất là họ cóthể nhận được lợi nhuận càng cao càng tốt bằng việc nhận cổ tức, hay giá trị tài sản đầu tưgia tăng hay cả hai Các khoản lợi nhuận này được tính toán dựa trên việc đánh giá kết quảhoạt động của các khoản đầu tư hay cụ thể hơn là xác định giá trị tài sản ròng (NAV) củaquỹ

Với: - Tổng tài sản có bao gồm tiền và giá trị cổ phiếu hiện hành của quỹ được tính toán cụ thể như sau:

Trang 27

Đối với chứng khoán niêm yết là giá đóng cửa hoặc giá trung bình của ngày giao dịch gần nhấttrước ngày định giá CTQLQ chỉ áp dụng thống nhất 1 trong 2 cách trên và quy định rõtrong Bản Cáo bạch và Điều lệ quỹ.

 Đối với chứng khoán chưa niêm yết và giao dịch tại các công ty chứng khoán, giácủa chứng khoán đó được xác định là giá trung bình trên cơ sở giá giao dịch cung cấp bởi ba(03) công ty chứng khoán không có liên quan của CTQLQ và Ngân hàng giám sát

- Tổng nợ phải trả bao gồm tất cả các khoản nợ tính đến thời điểm xác định NAVnhư: phí môi giới, phí lưu ký, phí hành chính, phí định giá, lãi vay ngân hàng (nếu có),

(tham khảo một số các khoản phí và chi phí tại Phụ lục 01) Phương thức xác định giá trị

các khoản nợ và nghĩa vụ thanh toán phải được Ngân hàng giám sát xác nhận là phù hợp vớicác quy định pháp luật có liên quan

Việc xác định NAV của quỹ và NAV trên một đơn vị CCQ định kỳ tối thiểu mộttuần một lần và được công khai cho NĐT biết sau khi đã được Ngân hàng giám sát kiểmđịnh tính chính xác của thông tin NAV

Việc xác định NAV của quỹ rất quan trọng vì đây là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạtđộng của quỹ, biến động của NAV tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinhlợi của quỹ Đây cũng là cơ sở để các NĐT đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ: đối vớicác quỹ đại chúng là giá chứng chỉ quỹ và NAV, còn đối với quỹ thành viên thì là NAV

Thực tiễn phát triển mô hình quỹ đầu tư trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam :

Phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Mỹ :

QĐT ở Mỹ có lịch sử khá lâu đời và đã nhanh chóng phát huy được những đặc tính

ưu việt của mình nhờ được sự hỗ trợ đáng kể của nền kinh tế phát triển khá ổn định và mộtTTCK hoạt động có hiệu quả Tại Mỹ, các QĐT hoạt động theo hai mô hình là mô hìnhcông ty và mô hình tín thác Trong đó thì mô hình công ty là mô hình dạng quỹ mở vàchiếm ưu thế hơn cả

Hệ thống QĐT Mỹ phát triển mạnh mẽ như vậy là do tổ chức và hoạt động của cácquỹ được xây dựng rất chặt chẽ, trách nhiệm và được phân chia rất rõ ràng phù hợp với trình

độ quản lý quỹ và mục đích đầu tư của quỹ Bên cạnh đó là một hệ thống luật pháp liênquan đến TTCK và QĐT rất chặt chẽ và rõ ràng Điều này chủ yếu là do TTCK Mỹ nóichung và hệ thống QĐT nói riêng đã hoạt động trong một thời gian rất dài và qua quá trình

Trang 28

hoạt động thực tế đó, hệ thống luật pháp không ngừng được hoàn thiện để đảm bảo cho các quỹ hoạt động được lành mạnh và hiệu quả, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người đầu tư.

Tại Mỹ, hai dự luật làm cơ sở căn bản nhất cho hoạt động chứng khoán là LuậtChứng khoán (The Securities Act, 1933) và Luật về SGDCK (The Securities Exchange Act,1934) Cũng từ năm 1934, Uỷ ban chứng khoán của Mỹ (SEC) bắt đầu nghiên cứu nhữngbài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc Đại suy thoái, soạn thảo và cho ra đời Luật Công ty đầu

tư (Investment Company Act, 1940) Phần lớn các QĐT bắt đầu ra đời hoặc được tái lập saunăm 1940 để đáp ứng các quy định của đạo luật này Đến năm 1995, luật này lại được sửađổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn hơn nữa cho người đầu tư đồng thờicho phép các quỹ được áp dụng các nghiệp vụ đầu tư mới nhất

Một loại QĐT rất thành công trên TTCK toàn cầu là QĐT ETF (Exchange-TradedFund) Quỹ ETF đầu tiên hoạt động trên TTCK Mỹ vào năm 1993 và là một trong nhữngđịnh chế phát triển nhanh nhất trong lịch sử các thị trường tài chính Kể từ ETF đầu tiên,Toronto Index Participation Shares (TIPS) bắt đầu giao dịch trên sàn chứng khoán Tokyovào năm 1990, theo sát chỉ số TSE 35 và sau đó là các chứng khoán TSE 100; cho đến tháng5/2008, đã có 680 ETF tại Mỹ, với trị giá 610 tỷ USD ETF có được những đặc điểm tốtnhất của cổ phiếu, các quỹ tương hỗ và những sự ủy thác đầu tư theo đơn vị, là một công cụgiao dịch để thay đổi cách mà chúng ta đang đầu tư Nhìn chung, ETF là một cỗ máy đầu tưtrao đổi trên TTCK, giống như các cổ phiếu ETF nắm giữ các tài sản như cổ phiếu hoặc tráiphiếu và giao dịch với cùng xấp xỉ một mức giá như giá trị tài sản ròng (NAV) với mức giátrị cơ sở qua mỗi phiên giao dịch trong ngày Hầu hết ETF đều theo sát một chỉ số, ví dụnhư chỉ số trung bình công nghiệp Down Jones hoặc chỉ số S&P 100 Quan trọng hơn cả làhoạt động và/hoặc đầu tư của ETFs không phải là để (vượt lên trên) chỉ số, kiểm soát chỉ sốhoặc thị trường, mà là trùng và lặp lại tuyệt đối biểu hiện (hoạt động) của các chỉ số cơ sở

Các QĐT Mỹ được thành lập với nhiều loại hình khác nhau, chủ yếu là quỹ tương hỗvới hình thức quỹ tăng trưởng Luật công ty đầu tư 1940 đã quy định về việc thành lập và tổchức quản lý quỹ, đây là luật nhằm định hướng cho sự phát triển các QĐT trên TTCK Mỹ

Phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Singapore:

TTCK Singapore-SGX ra đời vào ngày 1/12/1999, sau khi TTCK Singapore và thịtrường tiền tệ quốc tế Singapore được sáp nhập và được niêm yết thông qua phát hành racông chúng và sắp đặt tư nhân (do Merrill Lynch và Trung tâm quản lý tài sản DBS củaSingapore bảo lãnh) vào ngày 23/11/2000 Nền kinh tế tăng trưởng mạnh, môi trường kinh

Trang 29

doanh ổn định và hỗ trợ rất tốt cho NĐT cùng với cơ sở vật chất hoàn thiện, hệ thống côngnghệ thông tin cao cấp, TTCK Singapore tăng trưởng rất mạnh, được coi là cửa ngõ của khuvực Đông Nam Á, cũng là thị trường có tương lai phát triển thành trung tâm giao dịch thứcấp quan trọng của khu vực châu Á và một trong những trung tâm kết nối các thị trườngchứng khoán của khu vực châu Á với các thị trường chứng khoán trên toàn cầu Sức tăngtrưởng của thị trường trái phiếu Singapore dẫn đầu thế giới, với tổng trái phiếu đang lưuhành lớn gấp 3 lần so 5 năm trước, đạt mức 131 tỷ USD Đây cũng là trung tâm giao dịchngoại hối lớn thứ 4 thế giới - trung tâm ngân hàng tư nhân của cả khu vực châu Á, châu Âu,Trung Đông và khu vực có các NĐT cá nhân lớn và những tên tuổi lớn như Freddie Mac,Goldman Sachs, Ford Motors, Toyota Motors, JP Morgan

Hệ thống giao dịch của SGX kết nối trực tiếp với hệ thống của các công ty chứngkhoán thành viên để nhận lệnh trực tiếp qua các kênh khác nhau và khớp lệnh liên tục

Bên cạnh đó, SGX có khả năng cung rất nhiều loại sản phẩm đa dạng cho thịtrường và khả năng quản lý và giám sát thị trường một cách rất hiệu quả

Về mặt nhân sự, phần đông nhân sự trong ban lãnh đạo của SGX đều là nhữngngười đã từng có kinh nghiệm làm việc nhiều năm tại các định chế tài chính lớn của thếgiới, do đó họ có những kiến thức sâu rộng về thị trường, về nguyện vọng của các thànhviên và NĐT trước khi bước vào vị trí của người quản lý và giám sát thị trường, khả năngquản lý và giám sát thị trường một cách rất hiệu quả Chính vì vậy, họ có thể giúp cho SGX

có những quyết định kịp thời để đáp ứng cho nhu cầu của NĐT

Với xu thế đó, thị trường QĐT của Singapore cũng rất phát triển, đầu tiên phải kểđến Temasek Holdings Pte Ltd là công ty đầu tư tài chính nhà nước của chính phủSingapore nắm giữ toàn bộ vốn đầu tư Nhà nước trong các công ty cổ phần của Singapore

Tổ chức này đã nắm giữ cổ phần trong nhiều công ty lớn nhất Singapore, như SingTel, DBSBank, Singapore Airlines, PSA International, SMRT Corporation, Singapore Power vàNeptune Orient Lines Temasek cũng nắm giữ vốn đầu tư trong các hình tượng công chúngnhư Raffles Hotel và Singapore Zoo Temasek cũng nắm giữ cổ phần trong SingaporePools, công ty cá độ duy nhất ở Singapore Khoảng một nửa tài sản do tổ chức này nắm giữnằm ngoài Singapore, bao gồm cổ phiếu trong các công ty viễn thông như TelekomMalaysia Temasek cũng nắm giữ cổ phiếu trong các định chế tài chính nước ngoài như PTBank Danamon ở Indonesia và NIB Bank ở Pakistan Các công ty có liên hệ với Temasek(TLCs) cũng giữ một danh sách vốn đầu tư rộng rãi toàn cầu, như quyền sở hữu của SingTel

Trang 30

đối với công ty viễn thông Australia Optus Khoảng 75% cổ phần mà Temasek nắm giữ ởtrong Singapore, tổ chức này đang đặt ra mục tiêu cuối cùng giảm tỷ lệ này cho 1/3 1/3 nữa

sẽ được đầu tư vào các thị trường đã phát triển và 1/3 còn lại dự kiến đầu tư vào các nềnkinh tế đang phát triển

Temasek Holdings đã hợp tác đầu tư vào VN ở nhiều lĩnh vực như thuỷ sản, taxi,xây dựng, phân bón và hợp tác với Tổng Công ty Đầu tư & Kinh doanh vốn Việt Nam(SCIC) Vừa qua, Temasek mua 1.100 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi của tập đoàn HoàngAnh Gia Lai trong chiến lược đầu tư vào các thị trường mới nổi của mình

Ngoài Temasek, các QĐT hoạt động TTCK Singapore cũng rất đa dạng và phongphú, đầu tư vào rất nhiều các lĩnh vực khác nhau như bất động sản, công nghiệp tàu biển,trái phiếu trong và ngoài nước, chứng khoán phái sinh, như : Singapore Index Funds,Singapore Fund Inc

Phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Trung Quốc :

TTCK Trung Quốc từ thuở “sơ khai” được biết đến như một trung tâm giao dịch củangười nước ngoài, cổ phiếu đầu tiên xuất hiện trên thị trường là của nước ngoài, SGDCKThượng Hải đầu tiên cũng do doanh nghiệp nước ngoài sở hữu

Bắt đầu những năm 70 của thế kỷ 19, bắt đầu xuất hiện cổ phiếu Trung Quốc, từ đóTTCK có những bước phát triển đầu tiên, chia làm 2 giai đoạn phát triển: trong thời kỳ xâydựng đất nước đánh dấu bằng sự ra đời của SGDCK thành phố Thiên Tân được thành lậpngày 1/6/1949 và SGDCK Bắc Kinh ngày 1/2/1950; và thời kỳ sau cải cách mở cửa với sự

ra đời của SGDCK Thượng Hải và SGDCK Thâm Quyến, đánh dấu sự hình thành củaTTCK tập trung, điểm khởi đầu cho thời kỳ phát triển vượt bậc của TTCK Trung Quốc

Tháng 10/1992, Uỷ Ban Chứng Khoán Quốc vụ viện (gọi tắt là UBCK) cùng cơ quangiám sát quản lý được thành lập Năm 1993, Quốc vụ viện ban hành điều lệ giám sát quản lýgiao dịch, phát hành cổ phiếu và điều lệ quản lý trái phiếu của doanh nghiệp, đồng thời xâydựng thể chế quy luật quy phạm luật chứng khoán một cách cơ bản nhất

Cùng với sự phát triển của TTCK Trung Quốc, nhiều QĐT đã được thành lập ởTrung Quốc với nhiều hình thức đa dạng: quỹ tương hỗ, quỹ dạng đóng, QĐT tư nhân, QĐTmạo hiểm, quỹ ETF theo sát chỉ số SSE50 của 50 công ty hàng đầu Trung Quốc và đượcniêm yết tại SGDCK Thượng Hải, Các quỹ chủ yếu đầu tư vào các tài sản dài hạn, đầu tư

ít nhất 80% giá trị tài sản của quỹ vào các công ty Trung Quốc bao gồm công ty có cổ phiếuniêm yết trên TTCK và công ty có cổ phiếu giao dịch, thành lập ở nước ngoài Đa phần các

Trang 31

QĐT ở Trung Quốc là quỹ tương hỗ như JF Great China, Mathews China Fund, Alger

China-US Growth Fund, và quỹ đóng như Greater China Fund, China Fund Inc, TempletonDragon Fund,

Phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc :

QĐT Hàn Quốc được hình thành từ năm 1969 với mô hình tương tự như mô hìnhQĐT dạng tín thác Chính phủ Hàn Quốc quyết định chọn mô hình này là nhằm hỗ trợ chochính phủ trong các chính sách phát triển kinh tế Bởi vì QĐT mô hình tín thác là yếu tố cầnthiết trong việc huy động được một lượng vốn khổng lồ cho tiến trình phát triển kinh tếtrong ngắn hạn và đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tưchứng khoán gián tiếp Hiện nay, Hàn Quốc đã cho phép tồn tại cả hai mô hình tín thác vàcông ty Có hai loại hình CTQLQ quản lý các quỹ tín thác đầu tư chứng khoán là Công tytín thác đầu tư (Investment Trust Company, ITC) và Công ty quản lý tín thác đầu tư(Investment Trust Management Company, ITMC) Hai loại hình công ty này chỉ khác biệtnhau về phạm vi hoạt động ITC được phép chào bán chứng chỉ đầu tư trực tiếp cho cácNĐT thông qua mạng lưới của chính mình, còn ITMC không được trực tiếp bán chứng chỉcho người đầu tư mà phải chào bán thông qua các đại lý là các công ty chứng khoán hoặccác ngân hàng Khác với Mỹ, ở Hàn Quốc các công ty quản lý đảm nhiệm luôn việc bán cácCCQ tới công chúng thông qua hệ thống chi nhánh của công ty Chính nhờ đặc điểm này màcác CTQLQ ở Hàn Quốc ít chịu ảnh hưởng của các công ty chứng khoán và điều này là mộttrong những nguyên nhân dẫn tới sự phát triển đáng kể của các QĐT ở Hàn Quốc

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam :

Với tư cách là một nước đi sau, Việt Nam có thể tập hợp những kinh nghiệm quý báu

từ các quốc gia có thị trường quỹ phát triển để áp dụng một cách linh hoạt, giúp cho hệthống QĐT có thể phát triển lớn mạnh, phát huy được tối đa tính ưu việt của mình:

Thứ nhất

Chúng ta có thể nhận thấy rằng các thị trường phát triển có hệ thống QĐT đã có mộtlịch sử phát triển lâu đời, cũng như các thị trường mới nổi có ngành QĐT đang bắt đầu đivào quỹ đạo phát triển cũng đều có số lượng người tham gia đầu tư chứng khoán rất đông

Tỷ lệ người am hiểu và tự mình trực tiếp kinh doanh chiếm rất nhỏ, đa số đều thông quaQĐT Trong khi đó, ở Việt Nam, với tỷ lệ người am hiểu TTCK còn thấp, vốn đầu tư nhỏthì việc làm cấp bách trước mắt chính là thu hút đông đảo dân chúng tham gia đầu tư đểgiúp cho các hoạt động đầu tư mang tính xã hội hóa cáo

Trang 32

Thứ hai

Khâu đào tạo nguồn nhân lực cho các QĐT cũng phải được chú trọng Theo kinhnghiệm của Singapore và Trung Quốc , để hoạt động đầu tư có hiệu quả, điều quan trọngđầu tiên là chính phủ các nước này đã quan tâm đúng mức đến việc đào tạo nguồn nhân lực.Việt Nam cần phải tìm ra được những giải pháp để có thể xây dựng được một đội ngũ cán

bộ nhân viên không chỉ giỏi về mặt kỹ năng chuyên môn mà còn có đạo đức nghề nghiệp đểđảm bảo tính công khai, công bằng trong thị trường và cũng để đảm bảo quyền lợi hợp phápcủa các NĐT

Thứ ba

Trên thế giới hiện nay, QĐT đang tồn tại dưới hai mô hình, mô hình tín thác và môhình công ty Việc lựa chọn áp dụng mô hình QĐT nào để phù hợp với điều kiện kinh tế, hệthống pháp luật của từng nước có ý nghĩa quan trọng và mang tính quyết định đến quá trìnhhình thành và phát triển hệ thống QĐT Đối với thị trường mới nổi, đặc biệt là tại các nướcChâu Á, các quỹ dạng tín thác được hình thành trước Khi hệ thống QĐT đã phát triển tớimột trình độ nhất định thì các nước mới áp dụng mô hình QĐT dạng công ty Trong khi đó,tại các nước phát triển thì lại áp dụng một cách đồng thời cả mô hình công ty và mô hình tínthác Điều này là hoàn toàn hợp lý vì các nước này đã phát triển ở một trình độ cao, hệthống văn bản pháp luật đồng bộ nên đã góp phần tạo ra một cơ chế hình thành và phát triểncác QĐT một cách linh hoạt, tạo ra sự cạnh tranh giữa các định chế đầu tư Chính vì vậy,với một đặc điểm tương tự như Hàn Quốc, Trung Quốc , Malaysia… trong buổi đầu hìnhthành QĐT thì đối với điều kiện Việt Nam hiện nay, việc lựa chọn mô hình tín thác sẽ là tối

ưu nhất, nhưng đến khi thị trường đi vào ổn định thì mô hình công ty cần phát triển và mởrộng để phù hợp với tiêu chí hội nhập kinh tế toàn cầu và hợp tác quốc tế

Có một đặc điểm giống nhau ở cả thị trường phát triển lẫn thị trường mới nổi là điểmxuất phát của QĐT là QĐT dạng đóng được hình thành và phát triển trước QĐT dạng mở.Đặc trưng của Quỹ đóng là cơ cấu vốn ổn định, giúp cho các tổ chức quản lý quỹ còn ít kinhnghiệm trong thời gian đầu thành lập có thể quản lý tốt nguồn vốn của mình

Trong điều kiện thị trường tài chính Việt Nam quy mô còn nhỏ bé, kinh nghiệm thựctiễn trong việc điều hành hoạt động của QĐT còn hạn chế, thì việc hình thành các Quỹ đónghay quỹ thành viên là phù hợp, nhưng để thị trường quỹ phát triển và hấp dẫn được nhiềuNĐT thì cần đa dạng hóa các loại hình quỹ như quỹ mở, quỹ đầu tư quốc tế,

Trang 33

Thứ tư

Tuỳ theo hệ thống pháp luật của từng nước mà các QĐT có thể chịu sự quản lý ở cáccấp khác nhau Tuy nhiên, do tầm quan trọng và ảnh hưởng to lớn của các QĐT trên thịtrường tài chính nên đại đa số các nước đều áp dụng việc các quỹ chịu sự quản lý ở cấptrung ương Ở cấp trung ương các quỹ có thể được quản lý bởi Bộ tài chính như Nhật Bản,Hàn Quốc… hay là UBCKNN như Mỹ đang thực hiện Do mục tiêu đầu tư của các quỹ làvào TTCK nên hợp lý nhất là để UBCKNN quản lý Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận thấyrằng, ở hầu hết các nước đều có hệ thống văn bản pháp lý ở cấp độ cao nhất điều chỉnh hoạtđộng của QĐT, hay tối thiểu là các chương lớn trong Luật chứng khoán Chính vì vậy, đốivới loại hình hết sức phức tạp như QĐT, thì Việt Nam nên ngày càng hoàn thiện luật để tạo

ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc cho hoạt động của các quỹ Ngoài ra, do QĐT vẫn còn

là ngành non trẻ nên Việt Nam cũng ngay từ đầu nên thực hiện các chính sách ưu đãi như

ưu đãi về thuế nhằm phát triển QĐT Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, nhờ vào việc ápdụng một chính sách thuế hợp lý mà hệ thống QĐT của Nhật đã thu hút được nhiều NĐTgóp phần thúc đẩy ngành này phát triển mạnh mẽ

Thứ năm

Sự thành công hay thất bại của việc kinh doanh QĐT phụ thuộc rất nhiều vào khảnăng phân phối và dịch vụ Việc hỗ trợ của các ngân hàng được thể hiện qua những nỗ lựctrong việc phân phối là chìa khoá cho sự thành công của các QĐT Trung Quốc Tại ViệtNam, hệ thống ngân hàng thương mại hiện đang là những tổ chức tham gia lớn nhất trên thịtrường tài chính với hệ thống kênh phân phối rộng khắp đã được thiết lập từ lâu và khôngngừng được mở rộng Vì vậy, việc phân phối với hệ thống ngân hàng để có thể tận dụngđược hệ thống kênh phân phối lớn sẵn có này sẽ là một lợi thế không nhỏ cho các QĐT ởViệt Nam Bên cạnh đó, kinh nghiệm liên doanh với nước ngoài để thành lập QĐT vàCTQLQ nhằm tranh thủ vốn và kỹ năng của đối tác nước ngoài của Trung Quốc cũng làđiều mà Việt Nam nên học tập Hiện nay, các điều kiện, nguồn lực của Việt Nam để hìnhthành và phát triển QĐT rất còn hạn chế nên việc dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài là cầnthiết Tuy nhiên, việc liên doanh phải hết sức thận trọng để một mặt tạo điều kiện cho cácQĐT trong nước phát triển, mặt khác tránh được sự thao túng thị trường từ bên ngoài

Thứ sáu

Theo kinh nghiệm của Singapore, cần thiết phát triển đa dạng hóa các sản phẩm chothị trường như trái phiếu, các chứng khoán phái sinh, chứng khoán thị trường tiền tệ, để đa

Trang 34

dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro và cung cấp cho quỹ các cơ hội đầu tư đadạng, điều này cũng góp phần đẩy nhanh hoạt động IPO của các công ty, đặc biệt là cácdoanh nghiệp cổ phần hóa Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần xem xét về việc bảo vệ quyềnlợi cho các NĐT khi tham gia góp vốn để thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài như kinhnghiệm của Singapore và các quốc gia phát triển đã từng làm trước đó.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

QĐT là một tổ chức tài chính trung gian góp phần đưa TTCK Việt Nam ngày càng

ổn định và chuyên nghiệp hơn thông qua các hình thức đầu tư đa dạng và phức tạp Qua tìmhiểu các loại hình đang vận hành trên thị trường thế giới, chúng ta phải nhìn nhận lại rằngthị trường quỹ trong nước còn nhỏ bé và khiêm tốn, phải làm như thế nào để phát triển xứngtầm với vai trò của mình thì Việt Nam còn phải học hỏi và ứng dụng nhiều từ kinh nghiệmcủa các nước đi trước, dần khắc phục những hạn chế của thị trường quỹ trong nước vàhướng tới đa dạng hóa các sản phẩm cho thị trường trong nước

Trang 35

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU

TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

2.1 Đánh giá tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam, cơ sở cho

sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp quỹ ở Việt Nam:

2.1.1 Đánh giá tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam:

TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt động vào năm 2000 với việc vận hành sàngiao dịch chứng khoán TP.HCM vào ngày 20/7/2000 và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nộivào ngày 8/3/2005 (trước đó các sàn giao dịch chứng khoán hoạt động với mô hình là cácTrung tâm Giao dịch chứng khoán) Đến nay, sau hơn 10 năm đi vào hoạt động và phát triểndựa trên các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển TTCK đến năm 2010 và Chiến lượcphát triển thị trường vốn đến 2010 và tầm nhìn 2020, TTCK đã đạt được một số kết quả sau:

Về khung pháp lý, thể chế chính sách

Kể từ khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lựcthi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thốngnhất cho hoạt động của TTCK, từng bước loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các vănbản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầutư); phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc tế, tạo nền tảng cho TTCK Việt hội nhập vớicác thị trường vốn quốc tế và khu vực; tăng cường tính công khai minh bạch cho thị trường

và nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan quản lý nhà nước

Về quy mô và hàng hóa (nguồn cung) của thị trường

Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng vai trò

là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệphóa – hiện đại hóa đất nước Trong suốt thời kỳ từ 2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạttrên dưới 1% GDP Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vàonăm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 40% vào năm 2007 Trước biến động của thị trườngtài chính thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đãsụt giảm liên tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống còn

19 % Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ quý II/2009, chỉ số giáchứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các công ty niêm yết trên thị trườngcũng gia tăng nhanh chóng Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009 đã

Trang 36

đạt 37,71% GDP Vào cuối năm 2010 tổng giá trị vốn hóa các công ty chứng khoán niêm yết ước tính khoảng 28 nghìn tỷ đồng (1,4 tỷ USD).

Bảng 2.1 Mức vốn hóa TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 ~ 2010

Năm Mức vốn hóa

(tỷ đồng)

Tỷ lệ vốn hóa (%GDP) Tốc độ tăng (%)

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của UBCKNN

Hoạt động phát hành huy động vốn trên TTCK thực tế chỉ mới phát sinh từ năm 2006trở lại đây Trong năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hiện việc chào bán hơn 203 triệu

cổ phiếu và đến năm 2007, hoạt động phát hành mới thực sự bùng nổ, khi có gần 200 đợtphát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại được đăng ký với UBCKNN với tổnglượng vốn huy động lên đến gần 40.000 tỷ VND Trong năm 2008, do sự suy giảm củaTTCK, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bánchứng khoán ra công chúng Thị trường hồi phục vào năm 2009 đã tạo điều kiện cho hoạtđộng phát hành qua TTCK, đặc biệt là phát hành cổ phiếu Tổng số vốn huy động qua pháthành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008, đạt 21.724 tỷ đồng

Ngoài ra, công tác cổ phần hoá DNNN đã được gắn kết với việc huy động vốn từcông chúng đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh việc sắp xếp khu vực DNNN theo tiến trình cảicách nền kinh tế của Chính phủ và huy động vốn cho ngân sách nhà nước Thực tế, việc gắnkết công tác cổ phần hóa DNNN với công tác tạo hàng hóa cho TTCK là nhân tố chủ đạoquyết định thành công trong việc tạo ra một nguồn hàng phong phú, góp phần thúc đẩy tăngtrưởng quy mô của thị trường Hoạt động phát hành trái phiếu qua SGDCK dần trở thànhmột kênh huy động vốn quan trọng cho Chính phủ Dư nợ trái phiếu Chính phủ (TPCP) tínhđến cuối 2010 vào khoảng 44,3% GDP Trái phiếu doanh nghiệp được phát hành chủ yếudưới hình thức phát hành riêng lẻ, do đó, số trái phiếu doanh nghiệp được niêm yết trênSGDCK không nhiều

Trang 37

Về niêm yết và giao dịch chứng khoán

Năm 2000, chỉ với 02 công ty niêm yết khi đưa TTGDCK TP.HCM đi vào hoạtđộng, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khan hiếm, chỉ

số VN Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày 25/6/2001 Sau đó, thịtrường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó, trước khi tăng mạnh trở lại vào cuốinăm 2003 Năm 2005, sau khi TTGDCK Hà Nội đi vào hoạt động, tổng số các công ty niêmyết trên cả hai thị trường là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng Tuynhiên, nhìn chung, giai đoạn 2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm lắng của TTCKViệt Nam

Kể từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã có bước tăngtrưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch Tính đến cuối năm

2010, số lượng doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn là 622 với giá trị vốn hóa thị trườngđạt 736,1 nghìn tỷ đồng Như vậy, so với 2009, số doanh nghiệp niêm yết mới đã tăng 168doanh nghiệp, tương đương 37%, đây là mức tăng kỷ lục kể từ khi ra đời TTCK Việt Nam

TTCK đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêm yết mà cả về tính thanh khoảncủa thị trường Nếu như năm 2005, bình quân có 667.600 cổ phiếu được giao dịch mộtphiên, thì năm 2006, con số này tăng lên 2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên9,79 triệu và 18,07 triệu trong hai năm sau đó Tốc độ luân chuyển thị trường trong giaiđoạn này liên tục tăng từ 0,43 lần (năm 2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0,68 lần (năm 2008)

và ước đạt 1,13 lần (năm 2009) Năm 2010 đạt kỷ lục lên sàn niêm yết (thêm 81 cổ phiếutrên HOSE, 110 cổ phiếu niêm yết trên HNX và 82 cổ phiếu đăng ký giao dịch trênUPCoM) và cũng là năm kỷ lục của doanh nghiệp huy động vốn qua TTCK với tổng giá trịhuy động vốn lên tới 110.000 tỷ đồng, tăng 3 lần so với năm 2009 và tăng 4 lần so với năm2008…

Giai đoạn 2006-2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của TTCK Việt Nam Tháng3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất: VNIndex đạt mức 1.170,67 điểm vàHASTC-Index đạt 459,36 điểm Còn xét về khối lượng giao dịch, tháng 5/2009 là tháng cókhối lượng giao dịch lớn nhất, bình quân có 77 triệu cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, vớigiá trị đạt 2.270,57 tỷ đồng

Đồng thời, với sự mở rộng của các thị trường chính thức là sự thu hẹp của thị trường

tự do OTC Nhiều loại cổ phiếu giao dịch trên thị trường OTC chủ yếu từ các DNNN cổphần hóa, tuy nhiên, tính thanh khoản của thị trường này trong năm 2009 đã sụt giảm rõ rệt

Trang 38

Ngoài ra, nhằm từng bước hoàn chỉnh cấu trúc thị trường, hệ thống giao dịch UpCom – hệthống giao dịch cho các chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết – cũng đã đượcđưa vào vận hành vào ngày 24/6/2009 trên SGDCK Hà Nội Tính đến cuối năm 2010, khốilượng giao dịch là 316.654 đơn vị trên hệ thống Upcom với tổng giá trị giao dịch đạt gần4,37 tỷ đồng.

Biểu đồ 2.1 – Thống kê mã chứng khoán niêm yết (2000-2010)

Nguồn: www.stockbiz.vn

Trong giai đoạn 2000-2002, TPCP là hàng hóa niêm yết chủ đạo trên SGDCKTp.HCM, tuy nhiên, số lượng không nhiều (40 mã) Trong giai đoạn này, TPCP tương đốikém thanh khoản, giá trị giao dịch bình quân cũng rất thấp, với khoảng 2% giá trị TPCPniêm yết Giai đoạn 2004-2007, giá trị trái phiếu niêm yết so với GDP tăng đáng kể, lên tới11,3% GDP, đồng thời, nhiều quy định mới được áp dụng nhằm thúc đẩy giao dịch tráiphiếu như: không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu của các tổ chức, cá nhân nướcngoài; bỏ biên độ dao động giá; cơ chế giao dịch thỏa thuận; rút ngắn thời gian thanh toánT+1 Vì vậy, tính thanh khoản của thị trường cũng tăng dần Trong thời gian gần đây, dobiến động của lãi suất, việc phát hành TPCP không được như mong muốn, dẫn đến tỷ lệ giátrị niêm yết so với GDP giảm xuống và chỉ còn khoảng 10,81% vào cuối năm 2009 Tuynhiên, nếu so sánh với tổng dư nợ trái phiếu phát hành là 16,9% GDP thì vẫn còn một lượngkhá lớn trái phiếu chưa được đưa vào niêm yết và giao dịch trên các SGDCK Số trái phiếunày phần lớn là trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong thời gian gần đây

Trang 39

Trước năm 2006, TPCP được giao dịch đồng thời tại HOSE và HNX Tuy nhiên, từngày 24/9/2009, hệ thống giao dịch TPCP chuyên biệt với gần 30 thành viên, trong đó, cónhiều ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán lớn đã chính thức hoạt động Hệthống này tách biệt khỏi hệ thống giao dịch cổ phiếu và với nhiều đặc điểm mới, được pháttriển phù hợp với các đặc thù của giao dịch trái phiếu đã khắc phục một số hạn chế của hệthống giao dịch trái phiếu trước đây.

Về hệ thống cơ sở nhà đầu tư (cầu đầu tư)

Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo Số lượng nhà đầu tư

cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể Từ khoảng gần 3000 tàikhoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vào năm 2000, tính đến nay đã có trêntài khoản giao dịch, trong đó số nhà đầu tư tổ chức trong nước là 2.662, số nhà đầu tư

cá nhân trong nước là 807.558, số nhà đầu tư nước ngoài là hơn 13.000 nhà đầu tư

Về hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán

Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán phát triển nhanh về quy mô

và năng lực nghiệp vụ, với hệ thống mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch trải khắp cáctỉnh, thành phố lớn trong cả nước, góp phần giúp công chúng đầu tư tiếp cận dễ dàng hơnvới TTCK Khi thị trường bắt đầu đi vào hoạt động, toàn thị trường mới chỉ có 7 công tychứng khoán và cho đến tận năm 2004 vẫn chưa có một công ty quản lý quỹ nào Sau 10năm hoạt động, tính đến thời điểm hiện tại, đã có 105 công ty chứng khoán và 47 CTQLQ

(tham khảo Phụ lục 02) đang hoạt động tại Việt Nam Số thành viên lưu ký của TTLKCK là

122 thành viên, trong đó, có 8 ngân hàng lưu ký và 12 tổ chức mở tài khoản trực tiếp

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng số lượng CTCK, CTQLQ giai đoạn 2000-2010 Năm Số lượng CTCK Tốc độ tăng Số lượng CTQLQ Tốc độ tăng

Trang 40

Số lượng người hành nghề tăng nhanh, phù hợp với sự tăng trưởng của các CTCK.

Từ năm 2007 đến 2009 đã có gần 8400 người hành nghề được cấp chứng chỉ Số lượngcông ty quản lý quỹ gia tăng nhanh kể từ năm 2006 trở lại đây (năm 2005 mới chỉ có 6CTQLQ thì đến cuối 2010 đã có 47 công ty được cấp phép hoạt động) Nhìn chung, hoạtđộng kinh doanh của các Công ty quản lý quỹ là không đồng đều và đang có sự phân hóa rõrệt Hiện nay, mới chỉ có 33/47 Công ty đã triển khai hoạt động quản lý tài sản, trong đó,mới có 14 công ty huy động được quỹ

Về tổ chức thị trường

Mặc dù việc tái cấu trúc lại thị trường bước đầu được thực hiện để khắc phục sự thiếuđồng bộ và tạo sự phân định của thị trường, nhưng đây vẫn là hạn chế lớn nhất của TTCKViệt Nam trong giai đoạn hiện nay Về cơ cấu tổ chức, việc tách các SGDCK và TTLKCKtrở thành pháp nhân độc lập khỏi UBCKNN đã đạt được kết quả nhất định trong việc táchbạch chức năng quản lý nhà nước trong hoạt động chứng khoán và chức năng tổ chức vậnhành TTCK

Việc phân chia thị trường tập trung thành hai thị trường bộ phận với cùng mộtphương thức giao dịch dựa trên các điều kiện niêm yết về lợi nhuận và vốn điều lệ trong giaiđoạn vừa qua đã góp phần quan trọng mở rộng thị trường có tổ chức, phát huy tính năngđộng của các TTGDCK/SGDCK trong việc thu hút các doanh nghiệp vào niêm yết, đăng kýgiao dịch

Về hoạt động quản lý, giám sát thị trường

Trong giai đoạn 2000-2010, công tác quản lý Nhà nước và điều hành TTCK đượcthực hiện tương đối linh hoạt, bảo đảm TTCK vận hành an toàn và phát triển ổn định, không

để xảy ra đổ vỡ, xáo trộn lớn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước,từng bước nâng cao năng lực giám sát và cưỡng chế thực thi quy định của pháp luật, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Hoạt động quản lý và giám sát TTCK với trọngtâm lấy việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư là nòng cốt; các chính sách quản lý TTCK đãthể hiện mục tiêu tăng cường tính công khai, minh bạch, từng bước áp dụng các thông lệ vềquản trị công ty tốt, các chuẩn mực về kế toán, kiểm toán quốc tế và khuyến cáo của Tổchức quốc tế các UBCK (IOSCO)

Cơ sở hình thành và phát triển quỹ đầu tư ở Việt Nam:

Sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam sau hơn 10 năm hoạt động đã góp phần thúc đẩy thị trường tài chính phát triển nhanh, mạnh hơn trước Như đã được phân tích

Ngày đăng: 30/07/2016, 23:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. David M.Darst, (2008), The Art of Asset Allocation, The McGraw-Hill Company 2. R.Russell, (2006), An Introduction to Fund Management, Securities & Investment Institute Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Art of Asset Allocation, "The McGraw-Hill Company2. R.Russell, (2006), "An Introduction to Fund Management
Tác giả: David M.Darst, (2008), The Art of Asset Allocation, The McGraw-Hill Company 2. R.Russell
Năm: 2006
3. Nguyễn Sơn, (2010), 10 năm hoạt động TTCK Việt Nam và định hướng chiến lược giai đoạn 2010-2020, Tạp chí kinh tế và dự báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 năm hoạt động TTCK Việt Nam và định hướng chiến lược giai đoạn 2010-2020
Tác giả: Nguyễn Sơn
Năm: 2010
4. Trần Đắc Sinh, (2005), Các giải pháp để đưa doanh nghiệp tiềm năng lên niêm yết trên thị trường chứng khoán, Đề tài nghiên cứu khoa học, Sở Khoa học Công nghệ TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp để đưa doanh nghiệp tiềm năng lên niêm yết trên thịtrường chứng khoán
Tác giả: Trần Đắc Sinh
Năm: 2005
5. TS. Phan Thị Bích Nguyệt, (2006), Đầu Tư Tài Chính, Nhà xuất bản Thống kê 6. TS.Trần Ngọc Thơ, (2003), Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu Tư Tài Chính, "Nhà xuất bản Thống kê6. TS.Trần Ngọc Thơ, (2003), "Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại
Tác giả: TS. Phan Thị Bích Nguyệt, (2006), Đầu Tư Tài Chính, Nhà xuất bản Thống kê 6. TS.Trần Ngọc Thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê6. TS.Trần Ngọc Thơ
Năm: 2003
7. TS.Trần Thị Thùy Linh, (2008), Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán – Mô hình phù hợp cho các thị trường chứng khoán mới nổi, Tạp chí phát triển kinh tế số 212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán – Mô hình phù hợp cho các thị trường chứng khoán mới nổi
Tác giả: TS.Trần Thị Thùy Linh
Năm: 2008
9. Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam, (2006), Luật Chứng Khoán và điều chỉnh Luật Chứng Khoán.10. Các trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Chứng Khoán và điều chỉnh Luật Chứng Khoán."10
Tác giả: Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Phân loại quỹ đầu tư Hình 1.2 Mô hình quỹ đầu tư Hình 1.3 Quy trình phát hành và niêm yết  CCQ Hình 1.4 Cách thức phát hành CCQ - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 1.1 Phân loại quỹ đầu tư Hình 1.2 Mô hình quỹ đầu tư Hình 1.3 Quy trình phát hành và niêm yết CCQ Hình 1.4 Cách thức phát hành CCQ (Trang 8)
Hình 1.1 - Phân loại quỹ đầu tư - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 1.1 Phân loại quỹ đầu tư (Trang 15)
Hình 1.2 - Mô hình quỹ đầu tư - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 1.2 Mô hình quỹ đầu tư (Trang 18)
Hình 1.3 - Quy trình phát hành và niêm yết  CCQ - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 1.3 Quy trình phát hành và niêm yết CCQ (Trang 21)
Hình 1.4 - Cách thức phát hành  CCQ - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 1.4 Cách thức phát hành CCQ (Trang 22)
Bảng 2.1 Mức vốn hóa TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 ~  2010 - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Bảng 2.1 Mức vốn hóa TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 ~ 2010 (Trang 36)
Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng số lượng CTCK, CTQLQ giai đoạn   2000-2010 - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng số lượng CTCK, CTQLQ giai đoạn 2000-2010 (Trang 39)
Bảng 2.3 Báo cáo NAV của VF1 qua các năm  2004-2010 - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Bảng 2.3 Báo cáo NAV của VF1 qua các năm 2004-2010 (Trang 44)
Hình 2.1 – Cơ cấu danh mục đầu tư theo ngành (%NAV) của  VF1 - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 2.1 – Cơ cấu danh mục đầu tư theo ngành (%NAV) của VF1 (Trang 45)
Bảng 2.4 – Báo cáo NAV của VF4 qua các năm  2008-2010 - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Bảng 2.4 – Báo cáo NAV của VF4 qua các năm 2008-2010 (Trang 46)
Hình 2.2 – Cơ cấu danh mục đầu tư theo ngành (%NAV) của  VF4 - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 2.2 – Cơ cấu danh mục đầu tư theo ngành (%NAV) của VF4 (Trang 48)
Hình 2.3 – Phân bổ tài sản theo ngành (%) của  VFA - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 2.3 – Phân bổ tài sản theo ngành (%) của VFA (Trang 50)
Bảng 2.5 - Tóm lược Quỹ Đầu Tư nước ngoài giai đoạn  1990-2002 - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Bảng 2.5 Tóm lược Quỹ Đầu Tư nước ngoài giai đoạn 1990-2002 (Trang 52)
Bảng 2.6 - Biến động NAV của VOF giai đoạn  2007-03/2011 - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Bảng 2.6 Biến động NAV của VOF giai đoạn 2007-03/2011 (Trang 55)
Hình 3.1 – Sơ đồ hệ thống giải  pháp - Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường VN
Hình 3.1 – Sơ đồ hệ thống giải pháp (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w