1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN những bài học kinh nghiệm trong cách mạng việt nam từ 1945 đến năm 2000

19 475 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 541,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KINH NGHIỆM KHOA HỌC 1.Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy Lịch sử 2.Số năm có kinh nghiệm: 31 năm 3.Sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 3.1 Đấu tranh ngoại giao

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị Trường THPT Long Thành

Mã số: (Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

CHUYÊN ĐỀ

ĐỀ TÀI

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ 1945- 2000

Người thực hiện: Phạm Thị Nhung

Lĩnh vực nghiên cứu:

- Quản lý giáo dục 

- Phương pháp dạy học : Môn Lịch sử 

- Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN

 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2012-2013

BM 01-Bia SKKN

Trang 2

SƠ YẾU LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1.Họ và tên : Phạm Thị Nhung

2.Sinh ngày : 13 tháng 8 năm 1960

3.Nam , nữ: : Nữ

4.Địa chỉ: Khu Bàu Cá Xã An Phước H Long Thành T Đồng Nai

5.Điện Thoại: CQ 061 3844281 NR: 061.3844790

6.Chức vụ : Giáo viên- kiêm tổ phó chuyên môn

7.Đơn vị công tác: Trường THPT Long Thành

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

1.Học vị: Đ H sư phạm

2.Năm nhận bằng : 1982

3.Chuyên ngành đào tạo: Lịch Sử

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

1.Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy Lịch sử

2.Số năm có kinh nghiệm: 31 năm

3.Sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

3.1 Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng Việt Nam từ 1930-1975- Cấp sở(

Áp dụng cho bồi dưỡng học sinh giỏi sử và một số bài lịch sử Việt Nam trong chương trình lịch sử lớp 12)

3.2 Đổi mới kiểm tra đánh giá môn lịch sử- Cấp sở

3.3 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực: (Dạy học nêu vấn đề)

Cấp Bộ( đĩa được dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông phát hành trong toàn quốc)

3.4 Sử dụng ý kiến và tài liệu từ tác phẩm của Hồ Chí Minh vào bài dạy lich sử góp phần giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho học sinh ở bậc trung học phổ thông”

3.5 Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản khi làm bài thi tốt nghiệp và thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn lịc sử ( Phần lịch sử Việt Nam từ 1919-1930)- Báo cáo cấp sở- Loại xuất sắc

Trang 3

Đề tài NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 2000

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thực tế những năm gần đây việc dạy sử và học sử đang là vấn đề “không bình thường” trong các kỳ thi tốt nghiệp,thi đại học Số thí sinh đạt điểm trung

bình trở lên “rất khiêm tốn” đếm được trên đầu ngón tay.Nhưng làm thế nào để thay đổi kết quả đó lại là một vấn đề nan giải Dư luận xã hội đang đặt ra nhiều câu hỏi mà ngành giáo dục phải giải quyết Mặt khác, trong thời hội nhập học sinh

được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, nhiều luồng tư tưởng nên rất dễ “mất thăng bằng” trong hướng đi Làm thế nào để các thế hệ trẻ đừng đánh mất mình, đừng

làm mất bản sắc dân tộc là trách nhiệm của mỗi người thầy hiện nay Trong bối cảnh chung đó môn lịch sử có nhiều lợi thế và giữ vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng nhân cách, giáo dục nhân sinh quan cách mạng, lối sống và niềm tin cho thế hệ trẻ hiện nay và mai sau

Đứng ở góc độ của người dạy sử chúng tôi mong muốn thông qua bài giảng, học sinh hiểu được lịch sử thế giới, dân tộc một cách sâu sắc và khách quan, rút ra bài học kinh nghiệmcủa từng thời kì lịch sử, để từ đó khơi dậy ở các em lòng tự hào về những gì mà nhân loại và ông cha đã tạo ra từ đó có trách nhiệm bảo vệ và phát triển nó

Từ những mong muốn, yêu cầu trên tôi chọn đề tài này

Những bài học kinh nghiệm trong Cách mạng Việt Nam từ 1945 đến năm 2000

II.THỰC TRẠNG KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1.Thuận lợi

Cá nhân có nhiều năm dạy lớp 12 và bồi dưỡng học sinh giỏi, luyện thi đại học khối C khá tâm huyết và yêu nghề

Được giới lãnh đạo quan tâm, chú trọng đến bộ môn

Một số ít học sinh có yêu thích với bộ môn

2.Khó khăn

Do quan niệm chưa đúng về bộ môn, một số giáo viên, phụ huynh và học

sinh coi lịch sử là môn phụ

Do tác động của cơ chế thị trường hiện nay ngay từ khi bước vào trường Trung học phổ thông học sinh đã xác định khối thi vào đại học Đa số các em lao vào khối A, D, còn rất ít hướng vào khối C ( Văn- Sử- Địa) Bởi vì vào khối A&D sau này sẽ dễ tìm được công việc có thu nhập cao Còn khối C không chỉ số lượng trường đại học ít mà sau khi tốt nghiệp rất khó tìm được công việc phù hợp Chính

vì vậy nhiều người đã đặt ra câu hỏi: học sử để làm gì?

Do yếu tố chủ quan, khách quan nên một số giáo viên trong giảng dạy và kiểm tra, đánh giá chỉ chú ý đến kiến thức.Và trong kiến thức người dạy chỉ xem

xét vấn đề “biết” lịch sử, mà coi nhẹ việc “ hiểu” lịch sử Phương pháp dạy còn ôm

đồm, nhồi nhét kiến thức, ít phát huy tư duy độc lập của các em và khi kiểm tra đánh giá kết quả học tập thì nặng về sự kiện, không chú ý đến khả năng lập luận, kĩ

Trang 4

năng thực hành, thậm chí đôi khi còn mang nặng tính hình thức dẫn đến học sinh học đối phó và coi thường bộ môn

III CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lí luận

Dưới thời trung đại, sự hiểu biết lịch sử và khả năng vận dụng các bài học kinh nghiệm quá khứ là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá nhân tài qua các kì thi chọn người ra làm quan

Ngày nay, môn lịch sử trong trường phổ thông phải thực hiện nhiệm giáo dục tư tưởng đạo đức và phát triển tư duy năng lực hành động của môn học Trên

cơ sở những “ kiến thức cơ bản” về quá khứ, học sinh phải được khơi dậy những cảm xúc lành mạnh, những tình cảm đẹp đẽ, niềm tin, tìm ra những chuẩn mực đạo đức, hành vi đúng cho cuộc sống hiện tại và tương lai Muốn làm được điều này, người dạy sử phải là người làm cho học sinh hiểu rằng: Lịch sử vốn không khô khan, cứng nhắc, nó luôn luôn vận động và phát triển trong dòng văn hóa của nhân loại và dân tộc Hiện tại hôm nay được kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm của quá khứ hôm qua một cách sinh động, nó đang hiện hữu sống và len lách trong tâm tư tình cảm của mỗi con người, vì thế học sử là điều cần thiết

Từ thực tiễn và yêu cầu trên, đòi hỏi người dạy sử phải biết tổng hợp, xâu chuỗi những sự kiện lịch sử quá khứ một cách khoa học, hấp dẫn theo những chủ

đề lịch sử từ đó rút ra bài học kinh nghiệm của mỗi thời kì lịch sử Cùng với những phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn đưa người học sống lại quá khứ như

nó đã diễn ra Tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu và ghi nhớ Thông qua đó họ rút

ra bài học cho bản thân mình trong nhận thức và đánh giá vấn đề lịch sử và xã hội

2 Cơ sở thực tiễn

Sách giáo khoa lớp 12, theo chương trình chuẩn, đã viết sử Việt Nam từ 1919-2000,với 5 giai đoạn: 1919-1930; 1930-1945; 1946-1954; 1954- 1975;

1975-2000 Trong các giai đoạn ấy chỉ có cuộc cách mạng tháng Tám 1945, sách mới viết các bài học kinh nghiệm Còn các giai đoạn khác thì chưa thấy đề cập Điều này tạo ra những khó khăn nhất định cho học sinh khi học Nếu người dạy không biết xâu chuỗi, chọn lọc kiến thức thành chủ đề để rút ra bài học kinh nghiệm ở mỗi giai đoạn thì rất khó khăn cho học sinh khi làm bài thi và rút ra bài học lịch sử cho mỗi thời kì

Thực tế qua làm bài thi học sinh giỏi tỉnh hàng năm do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ thi học sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2011-2012, do SGDĐT tổ chức có khoảng 50% số thi sinh dự thi đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh Nguyên nhân học sinh có thuộc bài, nhưng không có khả năng tổng hợp, nhận định Không biết phân tích, xâu chuỗi kiến thức cơ bản của một bài, một chương, một vấn đề để rút ra bài học kinh nghiệm

Qua khảo sát 170 học sinh lớp 12 của 4 lớp 12a1, 12a2, 12a3, 12b6, trường

THPT Long Thành, với câu hỏi sau: Nêu bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ Có 50/170 học sinh trả lời đúng được 50% yêu cầu đặt ra Khảo sát về nguyên nhân của tình trạng này; học sinh trả lời: một là SGK không đề cập; Hai là có nghe cô giảng nhưng em không thi khối C nên không

chú ý

Trang 5

Từ những thực trạng trên, chúng tôi mạnh dạn nêu ra một số bài học kinh nghiệm của mỗi giai đoạn lịch sử để học sinh dễ theo dõi

3 Phạm vi đề tài

Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000 ( Lớp 12- theo chương trình chuẩn) gồm 16 bài nhưng lại có rất nhiều vấn đề Chúng tôi sẽ xâu chuỗi tổng hợp những bài học kinh nghiệm của từng giai đoạn lịch sử cụ thể để tiện cho các bạn đồng nghiệp và học sinh tham khảo

Trong phạm vi bài viết này tôi xin trình bày các bài học kinh nghiệm của các giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1945 -2000 , bao gồm:

1 Những bài học kinh nghiệm trong cách mạng tháng Tám 1945

2 Bài học kinh nghiệm trong đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/1946

3 Bài học kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ ( 1946-1954)

4 Bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mĩ ( 1954-1975)

5 Bài học trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ( từ 1976-2000)

4 Mục đích đề tài

Giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ một số bài học kinh nghiệm của một giai đoạn lịch sử, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghiên cứu và học sử

IV NỘI DUNG ĐỀ TÀI

A Những bài học kinh nghiệm trong cách mạng tháng 8/1945

1 Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng

Việt Nam ( ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội), nắm bắt tình hình thế giới và trong nước để thay đổi chủ trương cho phù hợp , giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đề cao vấn đề dân tộc

2 Đánh giá đúng và biết tập hợp, tổ chức các lực lượng các giai cấp cách mạng, trong đó công nông là đội quân chủ lực Trên cơ sở liên minh công nông ,

biết khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng yêu nước tiến bộ trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, phân hoá và cô lập kẻ thù cao độ rồi tiến lên đánh bại chúng

3.Trên cơ sở nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa

Mác-Lênin, trong chỉ đạo khởi nghĩa , Đảng linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang , tiến hành khởi nghĩa từng phần, chớp hời cơ phát dộng quần chúng tổng khởi nghĩa trong cả nước

B Bài học kinh nghiệm trong đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản Từ ngày 2/9/1945 đến 19/12/1946

1 Bài học biết dựa vào dân , biết phát huy cao độ sức mạnh chiến đấu sáng

tạo của nhân dân

2 Bài học biết lợi dụng và khai thác triệt để mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù

, xác định đúng kẻ thù chủ yếu và trước mắt, cô lập và tập trung lực lượng đánh bại chúng

Trang 6

3 Bài học về biết tranh thủ khả năng đấu tranh hòa bình , phương pháp đàm

phán thương lượng để giữ vững và phát triển lực lượng cách mạng , đồng thời luôn chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh lan rộng và quyết liệt và kéo dài

4 Bài học về kết hợp giữa nhiệm vụ kháng chiến với kiến quốc

C Bài học kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ (1946-1954)

1.Bài học thứ nhất: Sự kết hợp chặt chẽ, đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc

phong kiến, phát triển chê độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa

xã hội( CNXH.)

Quán triệt đường lối của Đảng ( Độc lập dân tộc, ruộng đất dân cày) trong giai đoạn 1946-1954, Đảng xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm là giải phóng dân tộc Nhưng muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này, ta phải động viên toàn dân tham gia chống giặc vì vậy phải giải quyết tốt nhiệm vụ dân chủ.( vấn đề ruộng đất dân cày) Đảng coi phát triển sản xuất, nhất là sản xuất lương thực đảm bảo ăn no đánh thắng cho lực lượng vũ trang, đảm bảo đời sống bình thường cho nhân dân trong kháng chiến là nhiệm vụ hàng đầu Vì thế sau đại hội Đảng toàn quốc lần hai ( 2-1951) ban hành chính sách thuế nông nghiệp, công thương nghiệp, lập ngân hàng nhà nước Việt Nam.Lãnh đạo thưc hiện từng bước cân bằng về tài chính

Từ 1947-1954, từng bước mang lại ruộng đất cho nông dân: giảm tô 25%, tịch thu ruộng đất của đia chủ Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức tiến tới thực hiện ruộng đất dân cày ( Nêu ra trong hội nghị TW lần 6 và lần thứ VIII) Đặc biệt tháng 11-1953 thực hiện cải cách ruộng đất ở vùng tự do ( khu IV cũ), làm giảm 50% quyền chiến hữu ruộng đất của đia chủ ở nông thôn Như vậy quan

hệ sở hữu ruộng đất ở nông thôn thay đổi

2.Bài học thứ hai:Xác định và quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân, ngay từ đầu cuộc kháng chiến đề ra đường lối kháng chiến “ Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh” đây là sự vận dụng sáng tạo nguyên lý chiến

tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời kế thừa và phát triển kinh nghiệm kháng chiến của ông cha.Trên cơ sở đó Đảng khơi dậy lòng yêu

nước nồng nàn, và huy động được sức mạnh của toàn dân vào cuộc kháng chiến

Từ đầu cuộc kháng chiến : Đảng ta chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, do toàn dân tiến hành toàn dân tham gia kháng chiến mỗi ngưới dân là một chiến sỹ, mỗi làng xã là một pháo đài, hậu phương thi đua với tiền phương ( tính toàn diện của cuộc kháng chiến)

3.Bài học thứ 3:Quán triệt được tư tưởng kháng chiến lâu dài, gian khổ của một

nước yếu chống lại một nước mạnh, trên cơ sở chiến lược đó biết chủ động tấn công địch từ nhỏ đến lớn, từ chiến tranh du kích đến chiến tranh chính quy Kết hợp một cách nhịp nhàng, cân đối trên từng chiến trường và phạm vi cả nước Kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh vũ trang phát triển ở đỉnh cao kết thúc chiến tranh

Đánh giặc giữ nước là một trong những truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam Từ truyền thuyết Thánh Gióng đánh giặc Ân Lịch sử đất nước còn ghi lại hàng trăm cuộc khởi nghĩa vô cùng oanh liệt, thể hiện tinh thần buất khuất, kiên

Trang 7

cường chống ngoại xâm của dân tộc : Hai bà Trưng cùng với các nữ tướng (

40-43), mở đầu truyền thống : “Anh hùng buất khuất, trung hậu, đảm đang” của phụ

nữ Việt Nam Khởi nghiã Chu Đạt ( 157), Bà Triệu (248)> Lý Bí lập nhà nước Vạn Xuân( 542) rồi đến khởi nghiã của Ngô Quyền( 938), mở đầu nền độc lập và phát triển mạnh của chế độ phong kiến Việt Nam

Mười thế kỷ tiếp theo, những trang sử đánh giặc giữ nước của dân tộc Đại Việt, càng đậm nét khí phách anh hùng, ta đã đánh bại tất cả các âm mưu và thủ đoạn xâm lược của tất cả các thế lực bất kể chúng từ đâu tới

Trong điều kiện đất không rộng, người không đông , luôn phải đương đầu với các đội quân xâm lược lớn mạnh hơn mính nhiều lần dân tộc ta đã phải nỗ lực phi thường và có mưu trí sáng tạo cao, biết dựa vào toàn dân đánh giặc chứ không phải chỉ có quân đội

Trong kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ( 1946-1954), với đỉnh cao là

chiến thắng Điện Biên Phủ( 1954), được xem là “chiến thắng Van Mi của các dân tộc da màu” Là kết quả việc quán triệt tư tưởng chiến lược, của nghệ thuật đánh giặc độc đáo “ Lấy ít đánh nhiều” từ đó chủ động tấn công giặc,từ nhỏ đến lớn, từ

du kích đến chính quy, cân đối chiến trường chính với chiến trường phụ với phạm

vi cả nước

Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, chiến tranh du kích phát triển rộng

rãi ở vùng tạm chiếm, hính thái chiến tranh xen kẽ cài răng lược giữa ta và địch

xuất hiện ngày càng rõ

Từ cuối 1948 đến 1950 trên cơ sở chiến tranh du kích được mở rộng, ta liên

tiếp mở nhiều chiến dịch lớn nhỏ ( trên 30 chiến dịch), hạ một loạt đồn bốt , tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực giặc thu hẹp vùng chiếm đóng của chúng ở nhiều nơi,

Năm 1950 , ta chủ động mở chiến dịch Biên giới, một chiến dịch tấn công lớn đầu tiên của quân đội ta Chiến dịch thu thắng lợi to lớn, vượt xa dự kiến mọi mặt, đánh dấu sự trưởng thành một bước mới vượt bậc về trình độ tác chiến và nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch của quân đội ta Chiến tranh chính quy đã xuất hiện rõ rệt Như vậy ta giành quyền chủ động về chiên lược trên chiến trường chính Bắc Bộ

Năm 1953-1954: Phát huy quyền chủ động trên chiến trường chính ta chủ

động mở một loạt chiến dịch và giành thắng lợi:

-Trung du ( Trần Hưng đạo) ( 25-12-1950 đến 17-1-1951) ở Vĩnh Yên và

Phúc Yên

- Đường số 18 ( Hoành Hoa Thám) ( 20-3-7-4-1951) đánh pháp từ Phả Lại qua Uông Bí

- Chiến dịch Quang Trung ( Hà- Nam- Ninh) ( tháng 5-6-1951)

Qua ba chiến dịch ta tiêu diệt hơn một vạn tên, phá huỷ nhiều tháp canh và giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích ở nhiếu địa phương

-Chiến dịch Hoà Bình ( tháng 11-1951), chiến dịch Tây Bắc ( thu đông 1952),

chiến dịch Thượng Lào ( tháng 4-1953)Qua các chiến dịch trên chứng tỏ bộ đội ta tiến bộ nhiều vế tinh thần, về chiến thuật cũng như kỹ thuật, trình độ tác chiến ngày càng cao ở cả địa hình đồng bằng cũng như miền núi và trung du

Trang 8

Từ sau các chiến dịch này, cùng với sự phát triển của chiến tranh du kích, quân đội ta liên tiếp mở chiến dịch chính quy, quy mô ngày cáng lớn, thắng lợi ngày càng vẻ vang, tiêu biểu là chiến cuộc đông xuân 1953-1954 và chiến thắng điện Biên Phủ Chiến thắng Điện Biên Phủ là một cuộc đọ sức toàn diện và quyết liệt nhất của quân dân Việt Nam với đế quốc Pháp, chiến công đó ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX Đi vào lịch sử thế giới như một chiến công hiển hách, một sự kiện báo hiệu sự sup đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ Để tạo ra kỳ tích trên, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng đã huy động đươc 260.000 dân công hoả tuyến, trên 20 ngàn xe đạp thồ với hàng chục ngàn tấn vũ khí đạn dược cho Điện Biên Phủ điều

đó chứng tỏ rằng Đảng phát huy tốt sức mạnh của toàn dân trong cuộc kháng chiến

Song song với thắng lợi về quân sự, ta kết hợp tốt đấu tranh ngoại giao với đấu tranh vũ trang, kết thúc kháng chiến thắng lợi

Cùng với chiến dịch đông xuân 1953-1954 , Đảng và chính phủ ta quyết định

mở mặt trân đấu tranh ngoại giao Cuộc đấu tranh này diễn ra không kém phần quyết liệt và phức tạp, do lợi ích khác nhau của các nước tham gia trong hội nghị chi phối Trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ: xu thế chung giải quyết quốc tế bằng phương pháp thương lượng Xuất phát từ tương quan lực lượng trên chiến trường

ta chấp nhận ký kết hiệp định Giơnevơ ( 7-1954) kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp

4 Bài học thứ 4: Kinh nghiệm xây dựng Đảng vững mạnh, bảo đảm lãnh đạo toàn diện trên mọi mặt của cuộc kháng chiến , một Dảng có đội ngũ đảng viên phát triển với số lượng cần thiết và có đầy đủ phẩm chất cách mạng gắn chặt với quần chúng với lực luơng vũ trang, bám sát cơ sở sản xuất và chiến đấu , xứng đáng là các chiến sỹ tiên phong, người lãnh đạo quần chúng trong cuộc đấu tranh gành độc lâp dân tộc và ruộng đất dân cày, vừa xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, và xây dựng mầm mống cho CNXH

Cuộc kháng chiến ngày càng lớn mạnh , càng đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Trong hai năm 1948-1949 đảng kết nạp được 50 vạn đảng viên, đến 1951 có 76 vạn đảng viên, cơ sở của Đảng được xây dựng ở làng xã, xí nghiệp

cơ quan và các lực lượng vũ tranhg, làm hạt nhân lãnh đạo cuộc háng chiến ở cơ

sở Đến 1951 Đảng ta ra hoạt động công khai với tên là Đảng lao động Việt Nam

D Bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mĩ (1954-1975)

1 Đặt vấn đề:

Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mĩ cứu nước mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang sử chói lọi nhất và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX Đối với Mĩ đây là thất bại lớn nhất trong lịch sử nước Mĩ Nếu thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 và cuộc kháng chiến chống Pháp mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu

cũ, thì thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ chứng minh trước thế giới sự phá sản hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân mới là không thể tránh khỏi.Thắng lợi này để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá

2.Nội dung

2.1.Bài học thứ nhất:Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh chiến đấu của tiền tuyến lớn với tiềm lực của hậu phương lớn

Trang 9

, động viên đền mức cao nhất lực lượng của toàn dân , toàn quân vào cuộc kháng chiế n chống Mĩ

Đặc điểm của đất nước ta khi diễn ra cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước

là bị chia cắt thành hai miền: miền Bắc được giải phóng , miền Nam bị Mĩ biến thành thuộc đia kiểu mới vì vậy Đảng đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng:

Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng hậu phương

vững mạnh, phục vụ cho nhiệm vụ chung là chiến thắng đế quốc Mĩ xâm lược, giải phóng miền Nam Miền Nam, tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Trong

đó miền Bắc là hậu phương, miền Nam là tiền tuyến, cả hai miền đều hướng vào

mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc Chính nhiệm vụ chung đó là cơ sở tạo nên sự kết hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến lược, là điểm tương đồng lớn nhất , tác động đến sự củng cố và phát triển khối đoàn kết toàn dân Tạo ra sức mạnh tổng hợp của chiến tranh chống Mĩ ( là sức mạnh của

chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện ( quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế)) Chính nhờ đường lối này Đảng ta đã động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân trong cả nước, kết hợp tốt sức mạnh của tiến tuyến lớn ( m.Bắc) với hậu phương lớn( m Nam) vào cuộc kháng chiến, đã kết tinh , tổng hợp và phát triển lên một trình độ mới những truyền thống cách mạng và sáng tạo của Đảng của dân tộc

Đường lối đó đã kết hợp và phát huy được sức mạnh của thời đại , tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ giúp đỡ của quốc tế, trước hết là Liên xô, Trung Quốc

và nhân dân Mĩ làm tăng thêm sức mạnh cuộc kháng chiến chống Mĩ Chính sức mạnh ấy là cơ sở nảy sinh những phương pháp cách mạng vừa kiên quyết, triệt để, vừa uyển chuyển linh hoạt , những hính thức đấu tranh muôn màu, muôn vẻ

2.Bài học thứ hai: Nắm vững và vận dụng dúng đắn chiến lược tiến công , đẩy lùi từng bước Không ngừng củng cố trận địa cách mạng, tạo thế và hơn hẳn địch để tiến lên giành thắng lợi hòan toàn

Kháng chiến chống Mĩ ở miền Nam ( 1954-1975) là bước phát triển từ thấp đến cao, từ chỗ đánh bại từng âm mưu và chiến lược chiến tranh của Mĩ, buộc chúng phải chấm dứt chiến tranh rút quân về nước, tạo cơ sở để ta đánh cho nguỵ nhào.Do quán triệt tư tưởng tiến công, giữ vững thế liên tục tấn công , miền Nam tạo ra 3 bước phát triển nhảy vọt :

Năm 1960, với thắng lợi của phong trào “ đồng khởi” ở miền Nam chuyển

cách mạng miền Nam từ giữ gín lực lực sang tiến công, từ đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang Cũng từ trong cao trào ấy, lực lượng vũ trang ra đời và lớn mạnh nhanh chóng.Từ trong cao trào ấy Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời , với cương lĩnh 10 điểm , trở thành trung tâm lãnh đạo cách mạng miền Nam

Năm 1968: với chiến thắng của tổng tấn công nổi dậy năm 1968 ở miền Nam

và cung với thắng lợi của quân và dân miền Bắc trong cuộc chiến tranh phá hoại

lần thứ nhất, là một đòn bất ngờ với quân viễn chinh Mĩ :Ta làm lung lay ý chí xâm

lược cả quân viễn chinh Mĩ, buộc chúng chấp nhận sự thất bại của “ chiến tranh cục bộ”, buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện và chấp

hội triệu tập hội nghị 4 bên tại Pari ( 25-1-1969) Đối với ta là bước nhảy vọt thứ hai, ta buộc Mĩ xuống thang, tính đế việc rút quân về nước khi mục tiêu chiến lược

Trang 10

chưa đạt được Làm thất bai âm mưu áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam

Năm 1973: Sau một loạt các thắng lợi về quân sự , trong “chiến lược Việt

Nam hoá” và đặc biệt là thắng lợi trong tổng tấn công và nổi dậy 1972 ( Quảng trị), tạo ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, Giáng một đòn mạnh vào quân nguỵ ( công cụ chủ yếu) và quốc sách “ bình đinh”, ( xương sống) của Việt hoá,

buộc Mĩ thừa nhận sự thất bại của Việt Nam hoá Sau thất bại của Mĩ ở “ trận Điện Biên Phủ trên không” ( 12 ngày đêm 18-12-1972 đến 29-12-1972) , ta bắn rơi

thêm 81 maý bay Mĩ ở bầu trời Hà Nội, đập tan uy thế không lực Hoa Kỳ , buộc

Mĩ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc và kí hiệp đinh Pari 21-7-1973 với Việt Nam, chấp nhận rút quân về nước khi mục tiêu cơ bản của chiến lược chưa đạt

được , tạo ra thời cơ cho ta đánh cho nguỵ nhào kết thúc chiến tranh Đây chính là bước nhảy vọt thứ 3 của cách mạng Việt Nam Đến đấy quân và dân miền Nam

lần lượt đánh bại 4 loại hình chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam, bảo vệ được miền Bắc, tạo tiền đề cho bước nhảy vọt tiếp theo

3.Bài học thứ 3: Ra sức xây dựng và tổ chức lực lượng chiến đấu trong cả nước, đặc biệt coi trọng và xây dựng lực lượng cách mạng miền Nam, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì vậy ngay từ khi mới ra đời đảng

đã chú ý xây dựng lực lượng cách mạng Trên cơ sở liên minh công nông, Đảng ta

đã tập hợp rộng rãi các giai cấp trong các mặt trận, để giải quyết nhiệm vụ cách mạng của Đảng Trong kháng chiến chống Mĩ, ngoài việc xây dựng lực lượng chiến đấu trong cả nước,ta đặc biệt coi trọng xây dựng lực lượng cách mạng miền Nam:

Các Đảng bộ miền Nam được tôi luyện trở thành cán bộ tham mưu dày dạn kinh nghiệm trên tiền tuyến lớn Khối liên minh công nông được Đảng dày công xây đắp trong tiến trình cách mạng : là lực lượng chính trị của quần chúng, lực lượng vũ trang nhân dân, họ là lực lượng nòng cốt trong các cuộc đấu tranh chính trị và vũ trang, làm thất bại các âm mưu thủ đoạn của Mĩ trong các loại hính chiến

tranh.Trên cơ sở liên minh công nông, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ( thành lập 1960), rồi từ ngày 6-6-1969 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam, thông qua cương lĩnh của mình, mặt trận đã tập

hợp được mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân ở miền Nam và cả các lực lượng dân chủ tiến bộ trên thế giới

4.Bài học thứ 4: Tạo ra một phương pháp cách mạng đúng, sử dụng bạo lực cách mạng gồm lực lượng chính trị và vũ trang, khởi nghĩa từng phần ở nông thôn phát triển thành chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng , đánh địch trên cả 3 vùng chiến lược, kết hợp 3 thứ quân, phát triển và kết hợp chiến tranh du kích với với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa với đánh lớn; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài với tạo thời cơ nhằm tạo ra những cuộc tiến công chiến lược tiến lên thực hiện tổng công kích và nổi dậy đè bẹp quân thù giành thắng lợi cuối cùng

Trong kháng chiến chống Mĩ, Đảng ta kế thừa truyền thống đánh giặc đầy mưu lược của cha ông đồng thời phát huy kinh nghiệm cuộc cách mạng tháng Tám

1945 Cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ ( 1946-1954) Đánh giặc

Ngày đăng: 30/07/2016, 18:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w