Tác phẩm sẽ thực sự trở thành đối tượng tiếp nhận của các em học sinh khi các em vượt qua được bức rào cản có tính chất hình thức bề ngoài của kí hiệu ngôn ngữ, để có thể gặp gỡ tiếng nó
Trang 11
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THCS&THPT
Trang 22
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: NGUYỄN THỊ THANH PHƯƠNG
2 Ngày tháng năm sinh: 04 - 06 - 1984
3 Nữ
4 Địa chỉ: Ấp 6 – Mã Đà – Vĩnh Cửu – Đồng Nai
5 Điện thoại:
6 Chức vụ: Giáo viên
7 Đơn vị công tác: Trường THCS & THPT Huỳnh Văn Nghệ
II TRÌ ĐỘ ĐÀO TẠO
- Đại học sư phạm
- Năm tốt nghiệp: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn
III KINH NGHI M KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy văn
- Số năm có kinh nghiệm: 7
- Các sáng kiến kinh nghiệm trong 5 năm gần đây:
+ Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Ngữ văn THCS
+ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học cụm văn bản nhật dụng ở trường THCS
+ Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào phân môn văn bản ở trường THCS
Trang 33
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Đơn vị : Trường THCS& THPT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
H NH V N NGHỆ
Vĩnh Cửu, ngày 20 tháng 09 năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011- 2012
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
GÓP THÊM MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ P ƯƠ P ÁP ĐỌC – HIỂ V BẢN TRONG DẠY HỌC TÍCH HỢP NGỮ V T CS
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thanh Phương Đơn vị (tổ): Văn
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn:………
Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác:……… 1.Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến đổi mới từ giải pháp đã có
2 Hiệu quả:
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả
3 Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách : Tốt Khá Đạt
- Đưa ra các giải pháp kiến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống : Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng : Tốt Khá Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Trang 44
Sáng kiến kinh nghiệm: GÓP THÊM MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ P ƯƠ
P ÁP ĐỌC – HIỂ V BẢN TRONG DẠY HỌC TÍCH HỢP NGỮ V THCS
I LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI
Một trong những mục tiêu của đổi mới chương trình sách giáo khoa
phổ thông được nêu trong chỉ thị số 14/2001/CT-TTCNgày 11-6-2001 của thủ tướng chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện nghị quyết của quốc hội “Đổi mới phương pháp dạy và học phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh” Theo tinh thần đó môn Ngữ Văn trong SGK bậc THCS được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp gồm ba phân môn Văn - Tiếng Việt
- Làm Văn Đọc hiểu văn bản không chỉ là hoạt động chiếm lĩnh kiến thức phân môn văn học mà còn là đầu mối cho việc vận dụng và liên thông kiến thức đối với các phân môn Tiếng Việt và Tập Làm Văn Trước mắt người đọc (học sinh) là văn bản nghệ thuật ngôn từ - kết tinh quá trình mã hoá những thông điệp thẩm mỹ mà nhà văn hướng tới sự tác động và chia sẻ cùng người đọc Tác phẩm sẽ thực sự trở thành đối tượng tiếp nhận của các em học sinh khi các em vượt qua được bức rào cản có tính chất hình thức bề ngoài của kí hiệu ngôn ngữ, để có thể gặp gỡ tiếng nói tâm tình giao tiếp với thế giới nghệ thuật sáng tạo của nhà văn Đó là khi hoạt động đọc - hiểu văn bản được thực hiện tốt Vậy làm thế nào để thực hiện hoạt động đọc hiểu văn bản đạt được cái đích như trên đã nói? Đây là một vấn đề còn nan giải mà rất nhiều người quan tâm suy nghĩ Xuất phát từ những trăn trở ấy trong quá trình giảng dạy tôi luôn cố gắng tìm tòi nghiên cứu để tìm ra một phương pháp giúp các em học sinh đọc - hiểu văn bản sao cho có hiệu quả Đó chính là kinh nghiệm mà tôi học tập được từ đồng nghiệp và trong quá trình giảng dạy trên lớp của bản thân Tôi xin mạo muội góp thêm một số ý kiến về phương pháp đọc hiểu văn bản trong dạy học tích hợp Ngữ Văn bậc THCS
Tôi mong rằng những điều mà tôi trăn trở tìm tòi sẽ là một chút đóng góp rất nhỏ cho quá trình đổi mới môn Ngữ Văn ở bậc THCS Rất mong được sự giúp đỡ
và đóng góp của đồng nghiệp
Trang 5xã hội Với khả năng hình tượng, văn học có tác dụng sâu sắc, lâu bền đến đời sống tâm hồn và trí tuệ của học sinh Sau khi học xong THCS học sinh có được một số những kĩ năng cơ bản sau:
- Biết cách đọc một tác phẩm văn học dân gian, văn học viết theo đúng đặc trưng thể loại của tác phẩm đó
- Biết tóm tắt và kể lại các văn bản đã học trong phần đọc hiểu văn bản, trên
cơ sở đó biết sáng tác các thể loại này, biết kể sáng tạo theo bố cục các văn bản đã học
- Bước đầu biết vận dụng các cách nói hay của nhân gian, những chân lí cuộc sống trong tục ngữ vào việc nói viết hằng ngày
- Biết vận dụng những tri thức về văn tự sự, miêu tả, nghị luận, tri thức về tổ chức văn bản, về cách dùng từ, đặt câu,… học tập được trong các tác phẩm văn học
để viết được các bài văn miêu tả, tự sự, văn nghị luận
Do đó nhiệm vụ quan trọng của dạy học ngữ văn là tập trung hình thành cho học sinh cách đọc văn, để dắt các em có thể tự đọc - hiểu tác phẩm văn học một cách đúng đắn, khoa học Dạy đọc - hiểu văn bản có ý nghĩa khẳng định lao động của học sinh, hướng tới người học, coi người học là trung tâm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo Vậy phải đọc như thể nào để hiểu, giải mã được văn bản? Đọc là một trong những hoạt động nhận thức của con người phản ánh năng lực tư duy bằng ngôn ngữ và thông qua ngôn ngữ Riêng với văn học, đọc và phản ánh những tình cảm, những ý chí, những ước vọng, những động lực của tâm hồn
và cùng với tiếng lòng của nhà văn thể hiện trong tác phẩm Đọc là tiếng đồng vọng của con người trước thời đại và lịch sử
Chúng ta đều biết lịch sử phát triển của loài người gắn liền với lịch sử phát triển của tiếng nói, của ngôn ngữ Nói cách khác không có ngôn ngữ thì không có văn hoá và lịch sử, không có văn minh và phát triển Đặc biệt trong thời đại giữa bao tiến bộ và phát triển, ngôn ngữ là một trong những dấu hiệu đặc thù của sự phát triển
Trong nhà trường “đọc” (ở đây giới hạn là tác phẩm) là một trong 04 kỹ năng
cơ bản của mục tiêu dạy học và là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học
Trang 6là định hướng về đổi mới phương pháp dạy học nhằm thực hiện chương trình ngữ văn bậc THCS mà Bộ GD-ĐT ban hành Để thực hiện được tốt hoạt động trên giáo viên cần nắm được những điểm sau:
2.1 Vấn đề đọc, người đọc
Đọc ở đây được xem như điểm khởi đầu cho mọi năng lực khác Đọc văn là cuộc đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn của văn bản, để rồi từ đó đọc - hiểu văn bản một “văn bản lớn hơn” là thế giới và cuộc đời, nói cách khác đi là đi tìm ý nghĩa nhân sinh qua văn bản văn học
Trước hết ta cần nắm vững khái niệm đọc, khái niệm hiểu:
Đọc là hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản, là quá trình chuyển hóa nội dung ký tự sang âm thanh lời nói và vang trong óc (theo GS Nguyễn Thanh Tùng) Hiểu là nắm vững và vận dụng được Hiểu là biết kỹ và làm tốt Hiểu tức là phải trả lời được các câu hỏi cái gì? Như thế nào? Vì sao? Làm như thế nào? Hiểu một đối tượng không chỉ dừng ở quan sát nắm bắt cái bên ngoài Càng là đối tượng phi vật chất như tác phẩm văn chương không thể chỉ dùng năng lực quan sát mà phải dùng tri thức tâm tư, tình cảm
Đọc văn bản (tác phẩm văn học) từ lâu đã gắn liền với nhu cầu khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn Đọc - hiểu là nói đến hiệu quả, là nói đến sự thể hiện vai trò cá nhân nổi bật trong năng lực nhận biết phân loại và tri giác văn bản Muốn đọc được, người đọc phải có năng lực cảm thụ ngôn ngữ, đó cũng chính là năng lực cảm thụ văn hoá, phải có vốn sống Nếu nghèo vốn sống thì việc hiểu biết văn hoá sẽ hạn chế Không có khả năng giải mã các tín hiệu ngôn ngữ thì một kiệt tác cũng trở nên vô nghĩa Vì vậy muốn tiếp cận được tác phẩm văn học thì người đọc phải có một trình độ đọc, một vốn văn hóa nhất định
Từ lâu người đọc đã trở thành một hiện tượng không thể thiếu trong quá trình phát triển văn hóa Và bây giờ người đọc là một nhân tố thúc đẩy sự tiến bộ và văn minh của xã hội Người đọc lặng lẽ đi vào văn học như một hình tượng nghệ thuật, như một nhân cách
Trang 77
Người đọc bằng tâm thế, sự rung động và khả năng tái hiện đời sống được
mã hoá trong chất liệu để đọc được bức thông điệp tâm hồn mà nhà văn nhắn gửi
Sự hiểu biết phong phú về đời sống nói chung và khả năng nhạy cảm của ngôn ngữ nói riêng cùng với khả năng huy động vốn hiểu biết và trải nghiệm một cách kịp thời, chính xác của người đọc có ý nghĩa rất lớn trong quá trình tiếp nhận tác phẩm
2.2 Đọc một phương thức tiếp nhận văn học (văn bản)
Đọc là một khám phá sáng tạo, là quá trình giải mã văn bản để tìm ý nghĩa Mà ý nghĩa là cái không hiển thị rõ ràng nên đọc là hoạt động cảm thụ kết hợp với tư duy nhằm kiến tạo ý nghĩa Nói đọc hiểu hay đọc để hiểu không chỉ là thói quen của lời nói mà là vấn đề có tính chất nguyên lý Có lúc ta ngỡ như mình chỉ lướt xem thì trong lúc đó trí não ta đã ghi nhận thông tin dù là mờ nhạt Và như vậy có nghĩa là đã “trao đổi” với văn bản Như vậy cũng có nghĩa là đọc gắn liền với nhu cầu giao tiếp mà văn bản - thế giới nghệ thuật, nhà văn là đối tượng, người đọc là chủ thể Như thế đọc và hiểu có mối quan hệ nhân quả Đọc để hiểu
và quan hệ biện chứng hiểu để đọc tốt hơn
Hoạt động đọc hiểu xảy ra theo cơ chế tác động hữu cơ giữa 2 thành tố chính: chủ thể và đối tượng Người đọc tác động vào văn bản bằng cảm xúc và khả năng tri giác thông qua các quá trình chuyển hoá ký hiệu ngôn ngữ thành những đơn vị thông tin thẩm mỹ Quá trình này được thực hiện bởi hình thái tiếp nhận trung gian là ngôn ngữ nghĩ Như vậy để tường minh ý tưởng có từ hoạt động tri giác văn bản người đọc phải cảm thụ được sự khơi gợi của âm thanh, nhạc điệu, sắc thái biểu cảm và phải có khả năng chuyển mã từ hệ thống ký hiệu ngôn từ sang những hình dung và kinh nghiệm đó là hình tượng nghệ thuật Ngược lại khi văn bản trở thành đối tượng được người đọc tiếp nhận sẽ có một đời sống riêng.Vì vậy người đọc có thể lĩnh hội và đồng cảm cùng với nỗi buồn, cô đơn, hoài cổ của chủ thể trữ tình qua âm điệu trầm buồn, tiết tấu đều đều dìu dặt của niêm luật thể thơ thất ngôn bát cú trong tác phẩm “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan Cảm nhận vẻ đẹp của người chiến sỹ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước qua sức gợi của nhạc điệu rắn rỏi, khoẻ khoắn qua lời thơ Phạm Tiến Duật, cũng như nhận diện được thân phận cô độc, tâm trạng cô đơn, tủi nhục của của Thuý Kiều qua lời thơ trầm buồn, da diết của đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích
Như vậy đọc là phải hiểu được ý nghĩa của những dấu hiệu nghệ thuật Mỗi cách đọc được xem như là một phương án phản ánh những mức độ khác của khả năng tiếp nhận Hiệu quả của hoạt động văn bản bao giờ cũng gắn liền với phương thức thể hiện của nó Đọc thầm khác với đọc có diễn cảm, đọc ngẫu nhiên khác với đọc có chủ định, đọc cá nhân khác với đọc trong môi trường tập thể
Trang 88
Đọc như trên là một phương thức tiếp nhận nghệ thuật ngôn từ qua đó người đọc biểu lộ nhu cầu giao cảm, hưởng thụ văn hoá và phát triển nhân cách đồng thời bộc lộ chính mình
2.3 Phương thức đọc
Ở đây tôi xin trình bày một số phương thức đọc - hiểu văn bản Nhưng những
gì tôi trình bày chỉ có thể được hình thành và phát triển trên cơ sở sự tìm tòi nỗ lực, rút kinh nghiệm của bản thân người đọc trong quá trình thực hiện hoạt động dạy học
2.3.1 Xác định mục đích đọc
Để hiểu được văn bản phải xác định được mục đích đọc, phải xác định được mình đọc để làm gì từ đó sẽ quyết định đọc như thế nào Mục đích đọc quyết định phương hướng khai thác vấn đề trong cùng một văn bản
Ví dụ: Cùng một văn bản “Qua đèo Ngang” nhưng với yêu cầu tìm hiểu về
cảnh thì sẽ có cách đọc văn bản khác với cách đọc khi tìm hiểu về tâm trạng của
nhận vật trữ tình qua bài thơ
2.3.2 Tìm địa chỉ của văn bản
Thực hiện hoạt động này tức là chúng ta thực hiện hoạt động đọc về tên của văn bản và hiểu tên của văn bản sau đó chú ý đến thông tin về tác giả của văn bản (về thời đại, cuộc đời, quan điểm sáng tác) đọc về hoàn cảnh ra đời của văn bản (tác phẩm văn học) Đọc để nắm vững các thông tin trên cũng là căn cứ vô cùng quan trọng để có thể hiểu được tác phẩm
Ví dụ: Khi đọc hiểu văn bản “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan
cần phải đọc các thông tin sau:
* Đèo Ngang thuộc dãy núi hoành sơn một nhánh của dãy núi Trường Sơn chạy thẳng ra biển, phân chia địa giới hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh Phải đọc để nắm được các thông tin thực tế cảnh ở đây như thế nào? tại sao lại là qua đèo Ngang mà không phải là đến và ở đèo ngang
* Đọc về cuộc đời và truy tìm nguyên nhân vì sao bà Huyện Thanh Quan lại qua đèo Ngang
* Nắm được hoàn cảnh lịch sử thời Hậu lê - Nguyễn, nắm được quan niệm đạo đức phong kiến từ đó mới có thể hiểu đựơc tâm trạng của nhà thơ
* Hiểu được bài thơ phải đọc về hoàn cảnh ra đời tác phẩm: Rời xa quê hương nhớ quê nhớ nhà, nặng lòng với nhà Lê nhưng lại trên đường vào phục vụ nhà Nguyễn
=> Đọc được toàn bộ các thông tin trên tức là người đọc đã bước đầu thâm nhập vào tác phẩm (văn bản) Từ đó là cơ sở là căn cứ để hiểu văn bản
Trang 99
2.3.3 Đọc phần ghi nhớ
Đọc phần ghi nhớ để nắm được rõ ràng các thông tin về nội dung nghệ thuật và luôn hình thành câu hỏi tại sao trong đầu khi đọc văn bản rồi từ đó đối chiếu, so sánh giữa quá trình nhận thức của bản thân và những định hướng mà SGK, nội dung bài học hướng tới
Ví dụ: Khi đọc hiểu văn bản “ Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan ta
cần đọc thông tin sau:
“Với phong cách trang nhã, bài thơ “Qua đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút thấp thoáng có sự sống con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng cô đơn của tác giả”
Đọc phần thông tin trên để định hướng cho bản thân cách tìm hiểu từ đó tìm ra hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ thể hiện điều đó Sau đó đối chiếu so sánh trong cảm nhận của bản thân có gì mới và khác
2.3.4 Các dạng đọc: Trong dạy đọc – hiểu nổi lên ba dạng đọc mà tôi xin
được trình bày sau đây:
Thứ 1: Đọc kỹ: Đọc kỹ trước hết là phải đọc thật nhiều lần Đây là một dạng
đọc có tần số cao – đọc có sử dụng thao tác phân tích và tổng hợp – là đọc không
bỏ sót một đơn vị nào của văn bản
Những hoạt động và thao tác của đọc kỹ là: Đọc để giới hạn quang cảnh, bối cảnh xã hội và những vấn đề liên quan đến nó Người ta cần biết đến các thao tác đọc phân loại và hệ thống hóa từ ngữ, hình ảnh để tái hiện không gian và thời gian Đọc để tìm vấn đề (tính có vấn đề) của con người qua việc xác lập đường dậy sự kiện, tình huống, trạng thái trong quan hệ với nhân vật văn học
Thứ 2: Đọc sâu: Đọc sâu là đọc để biểu hiện, làm bộc lộ mối liên hệ thống
nhất nhiều mặt của đời sống và nghệ thuật, của trí tuệ và tình cảm ngày càng bao quát trọn vẹn văn bản, …
Những hoạt động và thao tác của đọc sâu: Đọc chậm, phát hiện những cái mới
lạ của từ, của hình ảnh, sự kiện, của thế giới tư duy và tâm tình nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại trong giao tiếp với môi trường sống của nhân vật tác phẩm
Đọc và thống kê những mối quan hệ giữa nhân vật với sự kiện, tình huống chính Phân loại và hệ thống hóa nhân vật theo mối quan hệ đồng hướng và nghịch hướng theo kiểu hòa giải và xung đột để xác định nhân vật trung tâm
Đọc âm vang để nhận ra giọng điệu tác phẩm Đọc và sơ đồ hóa mạng lưới hệ thống giữa các yếu tố hình thức và nội dung, bộ phận và toàn thể, chi tiết và chỉnh
Trang 1010
thể, giữa các tầng chuyển hóa bố cục và kết cấu, bên ngoài và bên trong tác phẩm
để tìm ra kiểu tư duy nghệ thuật và phương thức trình bày nghệ thuật của tác phẩm Đọc và tham khảo thời điểm sáng tác, chặng đường nghệ thuật, sự chuyển biến tư tưởng của nhà văn để từ đó xác định cảm hứng sác tác của nhà văn trong tác phẩm Đọc những hồi ký và ghi chép của tác giả về quá trình sáng tạo tác phẩm
và đọc những bài nghiên cứu, phê bình tác phẩm Phải đọc, đọc thật nhiều lần để hóa giải những băn khoăn, ngộ nhận về một số điểm sáng thẩm mỹ và chi tiết nghệ thuật chưa có lời giải đáp phù hợp với văn cảnh và văn bản, với bối cảnh thời đại
và lẽ sống
Để lĩnh hội được tri thức từ văn bản đạt được mục đích, đạt được hiệu quả là
hiểu văn bản Công việc này đòi hỏi phải có kĩ thuật đọc Kỹ thuật đọc là năng lực chiếm lĩnh tri thức và trình độ kỹ năng đọc thể hiện ra bằng cách đọc Dưới đây là
một số cách đọc:
* Đọc lướt qua: Đọc lướt qua khi muốn khái quát những khái niệm ban đầu
những nội dung cốt yếu nhất như ý chính, sự việc chính
Cách đọc này sử dụng khi đọc để tìm hiểu một vấn đề nào đó đã được chuẩn bị, cần làm rõ thêm, khẳng định thêm hoặc khi cần tìm những cách diễn đạt khác nhau cho một vấn đề được đề cập đến trong văn bản
* Đọc có trọng điểm: Là cách đọc từng đoạn từng phần đã được lựa chọn từ
trước nhằm tập trung sức lực và thời gian cho nhưng nội dung cần thiết cho một
vấn đề đã được đưa ra để chuẩn bị
* Đọc toàn bộ nhưng không nghiền ngẫm: Là cách đọc khái quát toàn bộ
chứ không đi sâu vào nội dung cụ thể Khi đọc không bỏ qua phần nào nhưng cũng không dừng lại suy ngẫm ở nội dung nào, nội dung văn bản bàn tới điều gì? Ở mức
độ nào? Bằng phương thức nào?
* Đọc nghiền ngẫm nội dung văn bản: Đây là cách đọc quan trọng nhất, cần
thiết nhất để lĩnh hội đầy đủ nội dung nghệ thuật của văn bản Từng nội dung từng vấn đề được tìm hiểu cặn kẽ có đối chiếu với kiến thức kinh nghiệm thực tế để từ
đó hiểu đầy đủ sâu sắc đánh giá đúng nội dung tư tưởng của văn bản
* Đọc thụ động: Cũng như với cách đọc toàn bộ hay đọc lướt nhưng người
đọc hoàn toàn theo sự dẫn dắt của tác giả, chấp nhận hoàn toàn, xem xét vấn đề
theo con mắt của tác giả
* Đọc chủ động: Là cách đọc mà khi xem xét những vấn đề trong văn bản đề
cập tới, người đọc luôn đối chiếu đánh giá nó Mọi sự chấp nhận hay phản đối đều được người đọc dựa trên cơ sở sự đánh giá, đối chiếu với kiến thức, với kinh nghiệm được nhận thức theo thế giới quan tình cảm của mình Từ những nhận
thức đó rút ra kết luận cần thiết cho bản thân và người đọc
Trang 1111
* Đọc nông: Chỉ khai thác nội dung tư tưởng văn bản ở trình độ chấp nhận,
hoặc có phê phán nhưng chung chung chưa có sự nghiền ngẫm một cách thấu đáo Cách đọc này thường áp dụng cho những phần kiến thức bổ sung tương trợ cho văn
bản được học
* Đọc sâu: Là cách đọc đòi hỏi sự nghiền ngẫm sâu sắc nội dung văn bản để
hiểu cặn kẽ Cách đọc này được sử dụng trong quá trình chuẩn bị bài ở nhà của học
sinh khi đọc văn bản
* Tư duy khi đọc: Đọc văn bản mà không tư duy thì chỉ làm hao tổn thời
gian Tích cực tư duy khi đọc là luôn hình dung những ý tưởng trong sách thành những biểu tượng, những hình ảnh trong đầu, đối chiếu so sánh chúng với nhau và những hiểu biết đã có Từ đó phát hiện cái chủ yếu, cái không chủ yếu, bản chất và
không bản chất Từ trên cơ sở ấy rút ra kiến thức cho bản thân
Đọc có tư duy phải rút ra được điều gì từ nội dung văn bản, bổ sung hiểu biết gì, kinh nghiệm gì cho bản thân Tư duy khi đọc cũng là tránh lối đọc một chiều lười suy nghĩ, ghi chép thụ động
* Tập trung chú ý cao độ khi đọc sách: Nỗ lực cố gắng định hướng toàn bộ
tâm trí một cách liên tục vào việc đọc nhằm suy nghĩ thấu đáo, tư duy tích cực và ghi nhớ nhanh những vấn đề rút ra khi đọc Để làm được người đọc phải say mê,
- Tránh hiện tượng đọc nhảy
- Chuyển động mắt theo chiều thẳng đứng khi đọc
- Đọc với tốc độ biến đổi Đoạn quan trọng đọc chậm kỹ và ngược lại
- Cố gắng hiểu ý nghĩa của từng đoạn văn
- Nắm và thâu tóm nhanh cái chủ yếu cái cơ bản của vấn đề
* Đọc có ghi chép một cách khoa học: Để đọc văn bản có hiệu quả thì phải
biết ghi chép Ghi chép giúp cho người đọc quên mệt mỏi Một phần giúp kiểm tra
mức độ lĩnh hội tài liệu tạo cơ sở ghi nhớ những vấn đề cần tìm hiểu trong văn bản
Trên đây là những phương thức đọc mà tôi đưa ra Trong qúa trình dẫn dắt học sinh hiểu được văn bản các phương thức đọc trên cần được linh hoạt sử dụng trong từng tình huống, từng trường hợp cụ thể Đọc là một kỹ năng, kỹ năng ấy có được hình thành ở học sinh hay không? không thể tự nhiên có được mà phải qua sự kiên trì rèn luyện của bản thân học sinh và sự dẫn dắt tài tình của người giáo viên