1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam

78 678 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 539 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Góp phần nhỏ vào mục đích chung đó, tài liệu này nghiêncứu kinh nghiệm chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản và rút ra các bài học có thể học hỏi đối với Việt Nam hi

Trang 1

chÝnh s¸ch ph¸t triÓn doanh nghiÖp võa vµ nhá cña nhËt b¶n tõ sau chiÕn tranh thÕ giíi thø hai

-bµi häc kinh nghiÖm cho ViÖt Nam

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 0

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II: 1.1 BỐI CẢNH CHUNG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ (SMES) CỦA NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II 2

1.1.1 Bối cảnh 2

1.1.1.1 Bối cảnh trong nước 2

1.1.1.2 Bối cảnh quốc tế 2

1.1.2 Tình hình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 3

1.2 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 10

1.2.1 Khái niệm về Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 10

1.2.2.Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ 10

1.2.3 Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 10

1.3 CƠ SỞ CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 11

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II 16 2.1 LỊCH SỬ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SMES CỦA NHẬT BẢN 16

Trang 2

2.2 NỘI DUNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA

VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ 2 20

Trang 3

2.2.2.1 Ban hành luật đặc biệt 22

2.2.2.2 Biện pháp thuế 23

2.2.2.3 Tài trợ vốn 25

2.2.2.4 Cấp tín dụng theo chính sách 25

2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SMES 26

2.3.1.Đánh giá các chính sách hiện đại hóa SMEs 26

2.3.2 Đánh giá chung về chính sách phát triển SMEs 28

CHƯƠNG III: SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 33

3.1 QUAN ĐIỂM , ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN SMES CỦA VIỆT NAM 33

3.1.1 Quan điểm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam 33

3.1.2 Mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn 2006-201034 3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát: 34

3.1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 34

3.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DNNVV THỜI GIAN QUA 34

3.2.1 Bối cảnh kinh tế – xã hội giai đoạn 2006-2010: 34

3.2.1.1 Bối cảnh quốc tế 35

3.2.1.2 Bối cảnh trong nước 36

3.2.2 Các thách thức đối với công tác phát triển DNNVV thời gian tới: 37

3.2.3.Thực trạng phát triển đội ngũ doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam thời gian vừa qua 40

3.2.3.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay 40 3.2.3.2 Những tồn tại, yếu kém trong phát triển DNNVV 58

Trang 4

CHƯƠNG IV: BÀI HỌC KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY TỪ SỰ PHÁT TRIỂN DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN 64 4.1 NHẬN XÉT VỀ BỐI CẢNH CHÍNH SÁCH CỦA 2 NƯỚC- XÉT TÍNH TƯƠNG THÍCH VỀ MÔI TRƯỜNG CHÍNH SÁCH 64 4.2 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN 65

4.2.1 Kế hoạch, chiến lược phát triển SMEs được ban hành một cách có hệ thống trong từng giai đoạn và được điều chỉnh cho phù hợp với kế hoạch pháttriển kinh tế chung, cũng như những thay đổi của môi trường 654.2.2 Cùng với việc đề ra các biện, chính phủ cũng đồng thời thành lập các tổ chức, cơ quan chuyên trách hay các chương trình nhằm thực hiện chính sách

hỗ trợ các SMEs một cách thường xuyên và hiệu quả 674.2.3 Một số biện pháp chính sách mà chính phủ Nhật đã áp dụng thành công nhằm phát triển, bảo vệ các SMEs trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 5

Biểu đồ 1: Tỷ trọng số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ so với doanh

nghiệp lớn năm 2001(đơn vị: nghìn doanh nghiệp) 4

Biểu đồ 2: Tỷ trọng số lượng nhân công trong các doanh nghiệp SMEs và các doanh nghiệp lớn năm 2001(đơn vị: nghìn công nhân) 5

Biểu đồ 3: Tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp SMEs và các doanh nghiệp lớn năm 2001(đơn vị: Tỷ Yên) 5

Bảng 1: Số lượng các SMEs theo các ngành 6

Bảng 2: Giá trị gia tăng và hiệu suất của giá trị gia tăng của SMEs và các doanh nghiệp lớn giai đoạn 1995-2002 7

Bảng 3: Ngân sách dành cho chính sách đối với SMEs giai đoạn 1960-1980 24

Bảng 4: Biến động về năng suất và hàm lượng vốn của các ngành công nghiệp được lựa chọn trong Luật xúc tiến hiện đại hóa (10 000 Yên) 27

Bảng 5: Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh ở Việt Nam 42

Bảng 6: Số lượngđăng ký kinh doanh mới từ năm 2000 (đơnvị:doanhnghiệp) 43

Bảng 7: Tổng vốn đầu tư các Doanh nghiệp Việt Nam 46

Bảng 8: Doanh thu các doanh nghiệp 47

Bảng 9: Thuế và các khoản phí khác nộp NSNN của các doanh nghiệp năm 2002 48

Bảng 10 : Cơ cấu nội bộ nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy mô 49

Bảng 11: Cơ cấu nội bộ các doanh nghiệp hộ gia đình theo vùng 50

Bảng 12 Lương trả cho người lao động 52

Bảng 13: số lượng máy tính trong các doanh nghiệp 52

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những thập niên 50, 60 của thế kỉ trước cả thế giới đã phải kinhngạc trước sự “thần kì” của Nhật Bản Thế giới chưa từng được chứng kiếntốc độ phát triển kinh tế nhanh như vậy trước đó Cũng kể từ đó phần còn lạicủa thế giới đã phải nghiên cứu nhiều hơn về Nhật Bản, để đi tìm câu trả lời

lý giải nguyên nhân của sự “thần kì” đó Một trong những yếu tố quan trọngkhiến Nhật Bản có thể duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh trong nhiều năm củathời kỳ này đó là chiến lược phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ(SMEs) Chính SMEs là động lực và là nền tảng vững chắc cho sự thăng hoacủa nền kinh tế Nhật Mặc dù không thể phủ nhận vai trò to lớn của các tậpđoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới của đất nước mặt trờimọc nhưng rõ ràng sự ổn định và sự linh hoạt của cả nền kinh tế được tạo ra

từ hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhờ tính ưu việt về khả năng thíchứng nhanh với những thay đổi lớn của môI trường Đó có thể coi là một lớpđệm của nền kinh tế giúp giảm nhẹ những cú sốc, những khủng hoảng Cũngchính bởi vậy, trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiệnđại hoá, bên cạnh việc cần thành lập các tập đoàn mạnh đóng vai trò là đầutàu cho nền kinh tế , cũng rất cần thiết phảI xây dựng và phát triển hệ thốngSMEs mạnh ngoài lợi ích về kinh tế còn giúp ổn định kinh tế, xã hội

Trên thực tế, vấn đề này chưa từng được đặt ra một cách bài bản trước

đó, chúng ta không tránh khỏi sự mới mẻ và thiếu kinh nghiệm Vì vậy , việchọc hỏi một cách thông minh, có chọn lọc kinh nghiệm các nước đI trước làviệc làm cần thiết Góp phần nhỏ vào mục đích chung đó, tài liệu này nghiêncứu kinh nghiệm chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản

và rút ra các bài học có thể học hỏi đối với Việt Nam hiện nay Để thực hiện ý

đồ đó, tài liệu bao gồm các phần sau:

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU

CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II

1.1 BỐI CẢNH CHUNG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ (SMES) CỦA NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II

1.1.1 Bối cảnh

1.1.1.1 Bối cảnh trong nước

Bị thất bại trong chi tranh, bị tàn phá nặng n về kinh tế: 34% máy móc,25% công trình dựng, 81tàu biển bị phá huỷ, sản xuất công nghiệp tháng 8-

1945 tụt xuống còn vài phần trăm so với một năm trước đó, chỉ bằng khoảng10% mức trước chiến tranh (1934-1936), nước Nhật chìm trong khủng hoảngtrầm trọng về mọi mặt Những vấn đề kinh tế xã hội gay cấn nhất của NhậtBản lúc này là : thất nghiệp, thiếu nguyên liệu và lương thực , lạm phát

Nhằm mục đích “thủ tiêu sức mạnh quân sự của Nhật Bản cả về mặt tâm lýlẫn thể chế “, lực lượng chiếm đóng bắt tay ngay vào việc thực hiện đồng thời

ba cuộc cải cách lớn: thủ tiêu tập trung kinh tế mà trọng tâm là giải thể cácZaibatsu, cải cách ruộng đất và dân chủ hoá lao động Tuy mục đích của lựclượng chiếm đóng nhằm chủ yếu vào tiêu diết cơ sở sức mạnh quân sự củaNhật Bản, nhưng thực tế chúng có ý nghĩa kinh tế to lớn Vì nhờ ba cuộc cảicách này mà nền kinh tế thị trường đựơc xác lập, dân chủ hóa kinh tế đượcđảm bảo ; chúng không chỉ góp phần khôi phục nền kinh tế mà còn tạo điềukiện quan trọng cho thời kỳ tăng trưởng tiếp theo

1.1.1.2 Bối cảnh quốc tế

Trang 8

- Thế giới vừa bước ra từ cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử,gây ra thiệt hại to lớn cả về người và của cho hầu hết các nước trừ nước Mỹ.Sau chiến tranh nước nổi lên như một siêu cường lớn nhất thế giới và đang ấp

ủ âm mưa bá chủ thế giới Nhằm đạt được mục tiêu đó, Mỹ đã thực hiện một

số chính sách, theo đó Mỹ đã tài trợ cho một số nước, trong đó có Nhật Bản

để xây dựng các nước này thành mũi tiền tiêu chống lại cộng sản Nước Nhật

đã nhận được một khoản tiền không nhỏ rất quý giá phục vụ cho công cuộckhôi phục và phát triển kinh tế

-Cũng với mục tiêu thực hiện ý đồ trên, Mỹ đã tiến hành cuộc chiếntranh Triều Tiên và Việt Nam Chính nhờ hai cuộc chiến này nước Nhật đãtận dụng triệt để phát triển kinh tế Các đơn đặt hàng phục vụ chiến tranh của

Mỹ đã tạo cơ hội cho Nhật phát triển các ngành công nghiệp của mình

- Qúa trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra một cách khẩntrương vào thời kỳ này với sự ra đời của các tổ chức kinh tế toàn cầu như:IMF, GATT, Workbank…Nhật Bản cũng không nằm ngoài tiến trình chungnày Nhật tham gia GATT năm 1955, trở thành thành viên đầy đủ vào năm

1962, tham gia IMF cùng thời gian này, Các sự kiện này đã làm thay cácngành kinh tế của Nhật Bản Nó tạo cho các doanh nghiệp Nhật Bản cơ hộitiếp cận thị trường rộng lớn của thế giới, đẩy mạnh xuất khẩu

1.1.2 Tình hình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2

Ở Nhật Bản có rất nhiều các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trongnhiều lĩnh vực, đặc biệt trong công nghiệp chế biến, thuơng nghiệp bán buôn

và bán lẻ và lĩnh vực dịch vụ Hiện tượng này không có gì khác thường đốivới nền kinh tế Nhật Bản, ngoại trừ việc SMEs chiếm tỷ trọng lớn trong sảnlượng và năng suất trong SMEs so với các doanh nghiệp lớn Vì những đặctrưng này nên trong thời kỳ hậu chiến, việc thúc đẩy quá trình “hiện đại hóa”

Trang 9

SMEs đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng và một loạt những biện phápchính sách đa dạng đã được áp dụng Hiện nay (2001), số lượng doanh nghiệpvừa và nhỏ ở Nhật chiếm tỷ trọng lớn (4,69 triệu doanh nghiệp) trong tổng số4,703 triệu các doanh nghiệp, tức chiếm khoảng 99,7%, các doanh nghiệp lớnchỉ chiếm 0,3% về số lượng (Biểu đồ 1) Như vậy có thể nói số lượng cácSMEs chiếm tuyệt đại đa số các doanh nghiệp trong nền kinh tế Nhật Bản.

Biểu đồ 1: Tỷ trọng số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ so với doanh

nghiệp lớn năm 2001(đơn vị: nghìn doanh nghiệp)

Nguồn: http://www.chusho.meti.go.jp/sme_english/index.html (trang web của

Small and Medium Enterprises Agency)

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng chiếm tỷ trọng lớn về số lượngnhân công Năm 2001, số nhân công trong các SMEs là 29,96 triệu lao động,chiếm 70,2% tổng số lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp Trongkhi đó, số lượng lao động trong các doanh nghiệp lớn là 13 710 nghìn laođộng, chiếm 30,5% Như vậy, các SMEs đã tạo ra số lượng việc làm rất quantrọng trong nền kinh tế Nhật Bản

Trang 10

Biểu đồ 2: Tỷ trọng số lượng nhân công trong các doanh nghiệp SMEs và

các doanh nghiệp lớn năm 2001(đơn vị: nghìn công nhân)

Nguồn: http://www.chusho.meti.go.jp/sme_english/index.html (trang web của

Small and Medium Enterprises Agency)

Về giá trị sản xuất, các SME cũng tạo ra giá trị lớn hơn so với cácdoanh nghiệp lớn, 51,1% so với 48,9% của các doanh nghiệp lớn

Biểu đồ 3: Tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp SMEs và các

doanh nghiệp lớn năm 2001(đơn vị: Tỷ Yên).

Nguồn: http://www.chusho.meti.go.jp/sme_english/index.html (trang web của

Small and Medium Enterprises Agency)

Như vậy, qua sự so sánh về 3 khía cạnh trên, có thể khẳng định cácSMEs đang đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nhật Trong mục

Trang 11

này, chúng ta sẽ tiếp tục bàn về vai trò của Các SMEs cũng như tình hìnhphát triển của chúng khi xem xét các chỉ tiêu khác và trong các giai đoạnphát triển của nền kinh tế

Số liệu trong bảng 1 cho thấy các SMEs tập trung chủ yếu vào 3 lĩnhvực: Sản xuất, bán lẻ và dịch vụ Trong đó, các SMEs trong lĩnh vực bán lẻ

là đông đảo nhất với trên 1,7 triệu doanh nghiệp Tiếp đó là lĩnh vực sảnxuất với 1,5 triệu doanh nghiệp và bán buôn là lĩnh vực thu hút ít nhất cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ

Bảng 1: Số lượng các SMEs theo các ngành

Công nghiệp

Số doanh nghiệp

%trongtổng

Số doanhnghiệp

% trong tổng

Số doanhnghiệp

%trongtổng

Nguồn: Compiled from Ministry of Public Management, Home Affairs, Posts and telecommunications, Establishment and Enterprise Census of Japan (2001)

Trang 12

Bảng 2: Giá trị gia tăng và hiệu suất của giá trị gia tăng của SMEs và các

doanh nghiệp lớn giai đoạn 1995-2002

158,715(57.2%)118,558(42.8%)

147,384(54.6%)122,336(45.4%)

152,907(55.5%)122,754(44.5%)

153,151(56.6%)117,262(43.4%)

148,034(55.3%)119,697(44.7%)

153,404(55.5%)123,225(44.5%)Năng suất

4,99310,032

4,84010,287

4,89410,265

4,8379,696

4,6029,831

4,57310,425

Nguồn: Ministry of Finance, Financial Statement Statistics of Corporations by

Industry

Bảng 2 cho chúng ta thấy sự đóng góp của SMEs về giá trị gia tăng giaiđoạn 1995-2002 Tỷ trọng đóng góp này của các doanh nghiệp vừa và nhỏ,giao động không đáng kể chiếm khoảng 55% giá trị gia tăng của doanhnghiệp, trong khi các doanh nghiệp lớn đóng góp 45% Như vậy, Mặc dùnước Nhật có rất nhiều các tập đoàn, các hãng lớn tầm cõ thế giới nhưng vaitrò của hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn là rất quan trọng trong việcthúc đẩy tăng trưởng tạo thu nhập cho nền kinh tế

Tuy nhiên, chỉ số hiệu suất gia tăng ở Bảng 2 cũng chỉ cho chúng tathấy rằng các SMEs không thể so sánh với các doanh nghiệp lớn Chỉ số nàyđược đo bằng (giá trị gia tăng/ số lao động), tức nó phản ánh năng suất laođộng của doanh nghiệp Khi so sánh chỉ số này giữa SMEs với các doanhnghiệp lớn thì ta thấy hiệu suất gia tăng của các SMEs chỉ bằng nửa so vớicủa các doanh nghiệp lớn Điều này phản ánh một thực tế của sự thua thiệt về

Trang 13

các yếu tố tạo ra năng suất lao động như: trình độ công nhân, công nghệ, cũngnhư trình độ quản lý của các SMEs nói chung so với các doanh nghiệp lớn.

Năm 1981, SMEs chiếm tới 99,4% trong tổng số các cơ sở sản xuấtkinh doanh và 81,4% số lượng nhân công SMES trong ba khu vực là côngnghiệp chế biến, thương nghiệp (phân phối) bán buôn và bán lẻ, và dịch vụchiếm 83,6% tổng số SMEs và 75,6% lượng nhân công, và do vậy việc cáckhu vực này chiếm tỷ trọng lớn là một điều rõ ràng Nếu nhìn vào số lượngcác cơ sở sản xuất kinh doanh thì có thể thấy tỷ trọng của SMEs không cóbiến động lớn, nhưng xét về mặt nhân công thì năm 1969 được coi là thờiđiểm bước ngoặt với việc tỷ trọng nhân công từ xu hướng giảm chuyển sang

xu hướng tăng lên Cho nên trong những năm gần đây tỷ trọng của SMEs có

lẽ đang tăng dần Tuy nhiên, trong khi tỷ trọng của SMEs trong lĩnh vực phânphối, dịch vụ, xây dựng và bất động sản tăng lên thì tỷ trọng của khu vựccông nghiệp chế biến lại liên tục giảm xuống

Nếu xem xét chi tiết hơn về biến động trong khu vực công nghiệp chếbiến, phân phối và dịch vụ thì có thể lưu ý một số điểm sau đây Tỷ trọng củaSMEs trong giá trị sản lượng của ngành công nghiệp chế biến giảm xuốngtrong giai đoạn 1955-1960, và sau khi tăng lên trong giai đoạn 1960-1965, đãtiếp tục tăng trong những năm 1970 Sở dĩ có sự biến động vào cuối nhữngnăm 1950 và đầu những năm 1960 là do dịch chuyển trong cơ cấu cầu cuốicùng Do đó việc mở rộng đầu tư tư nhân và sự suy giảm tương đối chi tiêucho tiêu dụng cá nhân vào cuối những năm 1950 đã làm giảm tỷ trọng củangành công nghiệp nhẹ (mà phần lớn thuộc về SMEs), nhưng sang đầu nhữngnăm 1960 thì khuynh hướng đó được đảo ngược: chỉ têu cho tiêu dụng cácnhân gia tăng nên tỷ trọng ngành công nghiệp nhẹ lại tăng lên Trong nhữngnăm 1970, ngành chế tạo mày và các ngành công nghiệp chế biến khác đãphát triển một cách nhanh chóng, nhưng đồng thời cũng có xu hướng gia tăng

Trang 14

số lượng SMEs trong các ngành công nghiệp chế biến, và điều này chứng tỏrằng SMEs có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cơ cấu côngnghiệp.

Trong thương nghiệp bán lẻ, các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ chiếmtới 99,6% thị trường bán lẻ, 88,4% nhân công , và 79,9% doanh số bán lẻ.Trong số đó các cơ sở bán lẻ có quy mô rất nhỏ (chỉ gồm bấn công nhân hoặc

ít hơn) lại chiếm tới 84,1% thị trường bán lẻ, 47,9% nhân công , và 32,8%doanh số bán của năm 1982 Phản ánh những thay đổi về cơ cấu chi tiêu củangười tiêu dùng và hành vi mua sắm của người tiêu dụng, những mức độ thayđổi có thể được xem xét ở mức độ ít tổng quát hơn, nhưng nói chung là tỷtrọng trong doanh số bán của các doanh nghiệp bán lẻ có quy mô vừa và nhỏ

có xu hướng giảm xuống, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có quy mô rấtnhỏ

Trong lĩnh vực dịch vụ, so mức cơ cấu gia tăng nên số lượng các doanhnghiệp và nhân công cũng tăng đáng kể Trong năm 1981, SMEs chiếmkhoảng 70% số nhân công , nhưng theo số liệu thì tỷ trọng này có xu hướnggiảm đi Lý do là vì mức cầu đối với các hình thức dịch vụ các nhân có nhiềuSMEs tham gia cung ứng như giặt là, cắt tóc, nhà tắm công cộng tăng chậmhơn so với mức cầu đối với các dịch vụ kinh doanh phần lớn do các doanhnghiệp lớn đảm nhiệm như dịch vụ thông tin và cho thuê

Tóm lại, trong khi có những biến động đối với SMEs trong các khu vựckhác nhau nhưng nhìn chung số lượng của các doanh nghiệp này tiếp tục tănglên , và tỷ trọng trong tổng số doanh nghiệp và nhân công vẫn được duy trì

1.2 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

Trang 15

1.2.1 Khái niệm về Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chính sách công nghiệp nói chung thường đặt trọng tâm vào các ngànhcông nghiệp cụ thể, nhưng đối với SMEs chính sách có khác ở chỗ mục tiêu

mà nó nhằm tới là một nhóm các doanh nghiệp có quy mô đặc trưng

1.2.2.Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hiện nay khái niệm về các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có sự thốngnhất cả về không gian và thời gian Ở mỗi nước khác nhau quy định nhữngcách định nghĩa khác nhau Sự khác nhau ở đây chủ yếu do sự khác nhautrong quy định về quy mô của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nhật Bản, cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ được quy đinh trong luật về kinh doanh nhỏ, năm lànhững doanh nghiệp có quy mô vốn không lớn hơn 300 000 000 triệu Yênhoặc có quy mô lực lượng lao động không quá 300 người

1.2.3 Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các SMEs, do sự vừa và nhỏ về quy mô vốn và lao động nên bản thânchúng mang các đặc điểm sau:

- Khó tiếp cận các khoản vay từ các tổ chức tư nhân do khó đáp ứngđược các đòi hỏi về tín dụng

- Do có quy mô nhỏ cộng với tính không hoàn hảo của thị trường nêntiếng nói của các doanh nghiệp loại này thường không có nhiềutrọng lượng, cũng bởi vậy, chúng thường bị các doanh nghiệp lớnhơn chèn ép về nhiều mặt

Trang 16

1.3 CƠ SỞ CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

Chính sách phát triển SMEs khác với các dạng chính sách công nghiệpkhác ở chỗ tiêu thức để xem xét là quy mô, chứ không phải lĩnh vực linhđộng, của doanh nghiệp Chính sách đối với SMEs xét về tổng thể là cần thiếtkhi biện pháp can thiệp Chính sách tỏ ra có hiệu quả trong việc đối phó vớinhững vấn đề nảy sinh từ sự khác biệt về quy mô giữa các doanh nghiệp vàhơn nữa, khi các chính sách dựa trên tiêu thức quy mô lại tỏ ra hữu hiệu hơn

so với các chính sách dựa trên cách tiếp cận theo ngành cụ thể

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp quy mô lớn trên thịtrường có 2 mối liên hệ sau: cạnh tranh với nhau hoặc đối tác của nhau Từcác mối quan hệ này dẫn đến các khả năng sau Trong trường hợp thứ nhất,khi cả hai doanh nghiệp cùng là người mua hay bán thì sẽ nảy sinh vấn đề,đặc biệt là khi các doanh nghiệp lớn xâm nhập vào lĩnh vực hoạt đông chủyếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khi cả hai đều là người mua, cụng tìmkiếm lao động, tài chính, công nghệ, thông tin, và nguyên liệu, thì SMEsthường ở vị thế yếu thế hơn so với các doanh nghiệp lớn Trong trường hợpthứ hai khi có sự chuyển dịch giữa SMEs và các hãng lớn thì các doanhnghiệp lớn sẽ có khả năng thống trị trên thị trường với tư cách là người muahoặc người bán

Nguyên nhân của vấn đề nằm ở tính chất không hoàn hảo trên các thịtrường lao động, tài chính, hàng hóa và thông tin Chính các yếu tố này đã tạo

ra sự yếu thế tương đối của các SMEs so với các doanh nghiệp lớn hơn Nóicách khác, nếu nhìn vào thị trường lao động thì có thể thấy rằng đâu là thịtrường có tính nhị nghuyên, một dành cho các doanh nghiệp lớn và một danhcho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và sự di chuyển lao động giữa hai thị trườngnày là không nhiều Một khía cạnh cần lưu ý ở đây là, so với các doanhnghiệp lớn, SMEs thường sử dụng nhân công với tiền lương thấp Điều này

Trang 17

một mặt tạo nên lợi thế của loại hình doanh nghiệp này Mặt khác, vấn đề sẽnảy sinh nếu doanh nghiệp muốn sử dụng lao động có trình độ công nghệ cao.Trong các doanh nghiệp lớn thì đội ngũ lao động có tya nghề cao đuộc hìnhthành nhờ quá trình đào tạo ngay trong nội bộ doanh nghiệp, và đây là hìnhthức có hiệu quả bởi vì phần lớn công nhân đều gắn bó lâu dài với doanhnghiệp Ngược lại, công nhân trong SMEs ít có xu hướng gắn bó lâu dài vớidoanh nghiệp hơn so với công nhân trong các doanh nghiệp lớn Đặc điểmnày càng được thể hiện rõ đối với các doanh nghiệp vó quy mô càng nhỏ, dẫnđến hạn chế việc hình thành đội ngũ công nhân có tay nghề cao Khi thịtrường lao động là không hoàn hảo thì sẽ nảy sinh sự phân hóa giữa các doanhnghiệp lớn và SMEs về khả năng hình thành nguồn nhân lực.

Liên quan đến vấn đề tài chính, SMEs thường gặp phải những trở ngại

về mặt thể chế trong quá trình tạo ra vốn thông qua phát hành cổ phiếu và tráiphiếu, và ngay cả khi vay mượn từ các tổ chức tài chính thì chi phí vay cũng

có sự khác biệt tùy thuộc vao quy mô giao dịch, và do vậy mức lãi suất ápdụng đối với SMEs thường cao hơn so với các doanh nghiệp lớn Hơn nữa,xét theo giác độ hạn chế rủi ro trong giao dịch của các tổ chức tài chính (đặcbiệt đối với nguồn vốn dài hạn), các ngân hàng thường mong muốn tiến hànhgiao dịch với các doanh nghiệp lớn Xu hướng lựa chọn người vay của các tổchức tài chính còn mạnh hơn nữa trong điều kiện thị trường vốn đang gặpphải tình trạng khan hiếm Các thị trường vốn là không hoàn hảo do các hạnchế về mặt thể chế, và thị trường cho vay là không hoàn hảo do tính hiệu suấttheo quy mô và tính bất định trong các giao dịch Các nhân tố này khiến choviệc tiếp cận nguồn vốn (đặc biệt là vốn dài hạn) của SMEs trở nên khó khăn,

từ đó mà tạo ra sự bất định (việc tài trợ trở nên khó hăn trong giai đoạn khanhiếm vốn) Điều này cũng làm cho các điều kiện vay mượn trở nên kém thuận

Trang 18

lợi hơn đối với SMEs, và nói chung là việc vay mượn vốn phụ thuộc vào sựkhác biệt về quy mô của các doanh nghiệp.

Khi SMEs và các doanh nghiệp lớn cùng tồn tại trong cùng một ngànhthì các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường hàng hóa sẽ giúp SMEs tìmđược vị trí của mình thông qua việc phân hóa sản phẩm và các công cụ khác.Nhưng, cũng không thể bỏ qua một thực tế là năng lực marketing và năng lựcmua của cá doanh nghiệp lớn lại tạo ra sự bất lợi đối với SMEs khi hai nhómnày thực hiện các giao dịch bán hoặc mua lẫn nhau Khi các doanh nghiệp lớn

có quyền lực thị trường và thực hiện bán cho SMEs với mức giá cao, thìSMEs sẽ phải đối đầu với tình trạng mua với giá cao nhưng lại phải bán vớigiá thấp Hơn nữa, trong các giao dịch với các doanh nghiệp công nghiệp vừa

và nhỏ có cửa hàng tiêu thu riêng, các siêu thị lớn, các doanh nghiệp thươngmại, các nhà bán buôn, cũng như mối quan hệ hợp đồng phụ giữa các nhà sảnxuất lớn và nhỏ, thì doanh nghiệp lớn có được khả năng sử dụng sức mạnh thịtrường với tư cách là người mua.Tính chất không không hoàn hảo trong thịtrường hàng hóa do sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp lớn tạo ra sẽdẫn đến sự bất lợi của SMEs trong các giao dịch với các doanh nghiệp lớn

Đối với các giao dịch liên quan đến thông tin thì khó khăn đầu tiên làviệc phải chuẩn hóa được chất lượng hoặc nội dung của thông tin Có thể xảy

ra tình huống người bán nắm rõ được chất lượng thông tin, còn người mua thìkhông Do yếu tố không hoàn hảo này trên thị trường thông tin có thể dẫn đếnkết quả là các doanh nghiệp có khuynh hướng tạo ra và sử dụng thông tintrong phạm vi nội bộ, chứ không phải tìm kiếm nó từ bên ngoài Trong trườnghợp doanh nghiệp tiếp cận được với công nghiệ hoặc thông tin từ bên ngoài

do các tổ chức nghiên cứu trên thị trường tạo ra, thì nguồn lực bên trong củadoanh nghiệp sẽ được đầu tư vào hoạt động R&D đối với sản phẩm và pháttriển công nghệ sản xuất, và vào việc thu nhận thông tin trên thị trường Do

Trang 19

tính hiệu suất theo quy mô và những hạn chế về tài chính và nguồn nhân lựcnên SMEs cũng gặp phải bất lợi trong việc nội hóa quá trình tạo ra và sử dụngthông tin.

Như vậy, cơ sở của chính sách áp dụng đối với SMEs là thủ tiêu cácnhân tố không hoàn hảo trên các thị trường lao động, tiền tệ, hàng hóa, vàthông tin Các biện pháp chính sách này bao gồm việc trợ cấp thông tin Hơnnữa, do những khó khăn của SMEs trong việc tiến tới và xây dựng sự quản lýcác nguồn lực khiến cho các doanh nghiệp này khó thích ứng với những biếnđộng nhanh chóng trong môi trường xung quanh, cho nên chính sách được coi

là một công cụ kết nối cần thiết trong cơ chế phối hợp nội bộ ngành khi quátrình điều chỉnh gặp phải những chấn động lớn Việc sử dụng các khoản trợcấp để giúp SMEs điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình chính là phảnứng đáp lại sự cần thiết phải thay đổi của SMEs dưới tác động suy thoái cơcấu đó, ví dụ, khủng hoảng của đồng đôla, sự lên giá của đồng nội tệ, và việcgia tăng nhanh nhập khẩu từ Để khắc phục những bất lợi trong các giao dịchvới các doanh nghiệp lớn các biện pháp chính sách phải nhắm tới sự điều tiếtquyền lực thị trường của các doanh nghiệp lớn và gia tăng khả năng đối phócủa SMEs bằng cách thiết lập các cơ chế tổ chức riêng của mình Các quyđịnh trong các chính sách chống độc quyền nhằm hạn chế các doanh nghiệplớn lạm dụng vị thế vượt trội của mình (các giao dịch không lạnh mạnh) vàviệc tách các tổ chức như các hợp tác xã của SMEs ra khỏi phạm vi điềuchỉnh của Luật chống độc quyền là những minh họa cho chính sách nói trên

Các cơ sở đó của chính sách đối với SMEs bao gồm các biện pháp khắcphục những bất lợi do các nhân tố không khoàn hảo trên thị trường mạng lại,nhưng cũng cần phải bổ sung thêm một số điểm sau đây Thứ nhất, cũng cónhững trường hợp mạng lại lợi thế cho SMEs Đó là các yếu tố phi kinh tếxuất hiện trong các tổ chức lớn, các lĩnh vực trong đó tính hiệu quả theo quy

Trang 20

mô không được thể hiện rõ và các khu vực trong đó thị trường đã được phânchia rõ ràng dựa trên sự phân hóa sản phẩm Thứ hai, lượng hóa việc các yếu

tố không hoàn hảo trên thường gây bất lợi cho SMEs đến mức độ nào là rấtkhó khăn Đặc biệt, việc xác định tới mức độ nào thì phải cần tới sự can thiệpbằng chính sách lại càng khó hơn Thứ ba, mức độ dẫn đến việc gây bất lợicủa các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường sẽ thay đổi một khi các thịtrường liên quan có những biến đổi Điều này cho thấy rằng nội dung (trọngtâm) của chính sách đối với SMEs sẽ cần phải được điều chỉnh

Trang 21

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II

2.1 LỊCH SỬ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SMES CỦA NHẬT BẢN

Chính sách đối với SMEs có nội dung nhằm đáp lại những biến động trongmôi trường và kèm theo đó là những mối quan tâm về mặt chính sách Thời

kỳ từ khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đến nay có thể chia thành bagiai đoạn: (1) từ khi chiến tranh kết thúc đến giữa những năm 1950; (2) từgiữa những năm 1950 đến hết những năm 1960; (3) từ những năm 1970 trở

đi Nói một cách đại thể thì trong giai đoạn đầu tiên, các chính sách bảo hộ cótính thụ động được đưa ra nhằm “cứu nguy” cho SMEs “ốm yếu” Trong giaiđoạn thứ hai, các chính sách hiện đại hóa có tính “chủ động” hơn được ápdụng để hiện đại hóa các nhà máy và “ thống nhất” (tăng quy mô) các doanhnghiệp trong ngành công nghiệp chế biến Trong giai đoạn thứ ba, một mặt,trọng tâm được dành cho việc hình thành nguồn lực quản trị “mềm” nhằm giatăng “hàm lượng tri thức” các SMEs, mặt khác, có sự vận dụng các chínhsách điều chỉnh công nghiệp, chẳng hạn như chính sách hỗ trợ các doanhnghiệp thay đổi hướng kinh doanh của mình Trong giai đoạn cuối này, quanniệm về SMEs có sự thay đổi ở chỗ vai trò của các doanh nghiệp này đượcđánh giá một cách tích cực hơn

Cho đến giữa những năm 1950, các nhân tố cơ bản của chính sách đối vớiSMEs là các chính sách tài chính và các chính sách tổ chức SMEs Trong điềukiện khó khăn về vốn thì chính sách tài chính đối với SMEs chủ yếu bao gồmviệc hình thành cá tổ chức tài chính của chính phủ có chức năng chuyên cấpvốn cho SMEs và thiết lập các tổ chức tín dụng bổ sung Vào năm 1949, Công

ty cho vay đối với các doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, trong khi đó công ty

Trang 22

tài chính kinh doanh nhỏ được hình thành vào năm 1953 với chức năng cungcấp các khoản cho vay dài hạn Nguồn vốn từ ngân sách được chuyển tới các

tổ chức tài chính mới này của chính phủ, kể cả Ngân hàng Shoko Chukin(Ngân hàng trung tâm của các hợp tác xã công thương), được thành lập vàonăm 1936 Một chương trình bảo lãnh tín dụng đã ra đời trên cơ sở Luật công

ty bảo lãnh tín dụng (1953) nhằm tăng cường khả năng cấp vốn cho SMEs ,đồng thời bảo lãnh cho các khoản vay từ các tổ chức tài chính tư nhân.Chương trình bảo hiểm tín dụng cũng đã được thành lập vào năm 1950 nhằmđảm bảo việc thực thi nghĩa vụ của các hiệp hội bảo lãnh tín dụng

Vào năm 1949 Luật về hiệp hội các doanh nghiệp hợp tác xã vừa và nhỏđược thông qua nhằm đáp lại phong trào dân chủ hóa thời hậu chiến, từ đóđẩy mạnh hoạt động hợp tác trong các hiệp hội mà không cần phải chấn chỉnhlại sự kiểm soát kinh tế chặt chẽ của các tổ chức vào giai đoạn này là sự ổnđịnh của SMEs được tạo lập thông qua các biện pháp hạn chế cạnh tranh Đểđạt được điều này, Luật ổn định hóa các doanh nghiêp vừa và nhỏ được thôngqua vào năm 1952 trong đó quy định các hoạt động thuộc hành vi điều tiếtcủa các hiệp hội SMEs (cụ thể, đó là việc thành lập các cacten ) Đạo luật nàyphản ánh các yêu sách của SMEs trong ngành dệt may và các ngành kháctrong giai đoàn suy thoái sau chính tranh Triều Tiên Nó được soạn thảo vàthông qua theo sáng kiến của Nghị viện (chứ không phải của giới quan chức).Triết lý trong giai đoạn “ổn đinh hóa” SMEs thông qua các chính sách hạnchế cạnh tranh còn được phản ánh trong việc thông qua Luật về các cửa hàngbách hóa (1956) và Luật về các biện pháp đặc biệt nhằm điều tiết kinh doanhbán lẻ (1959), theo đó hoạt động bán lẻ của của các cửa hàng bách hóa tổnghợp và cửa hàng hợp tác xã bị hạn chế

Chính sách trong những năm 1960 đã chuyển từ trạng thái “ thụ động”sang tính “ năng động” hơn nhằm giúp hiện đại hóa các nhà máy và gia tăng

Trang 23

quy mô của các doanh nghiệp Vào giữa những năm 1950, mối quan tâm đượctập trung vào sự phân hóa tiền lương và năng suất giữa SMEs và các doanhnghiệp lớn – yếu tố phản ánh cơ cấu nhị nguyên của kinh tế Nhật Bản thờibấy giờ Vào nửa năm sau những năm 1950, đầu tư của các doanh nghiệp lớn

đã làm tăng nhu cầu về lao động, dẫn tới tăng mức lương, từ đó buộc nhữngSMEs nào phụ thuộc vào lao động có mức lương thấp phải tăng năng suất củamình thông qua đầu tư vào trang thiết bị và các biện pháp khác Nhu cầu giatăng sức mạnh cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh tự do hóa thương mại vàođầu những năm 1960 đã khiến cho biện pháp này càng trở nên cấp thiết.Chính sách hiện đại hóa SME trong những năm 1960 trở nên cấp thiết Chínhsách hiện đại hóa các SME trong những năm 1960 là một chính sách đối phóvới tình hình cấp thiết nói trên Từ giữa những năm 1950, chính sách hiện đạihóa SMEs đã được phản ánh trong Chương trình cho vay vốn hiện đại hóatrang thiết bị (1954) và Luật về tài chính và các biện pháp khác nhằm trợ giúpcác doanh nghiệp vừa và nhỏ (1956), theo đó Chính phủ trung ương có thểcho phép các chính quyền địa phương thực hiện cho vay đối với SMEs Ngoàicác ngành dệt và chế tạo máy được xem xét riêng, quá trình hiện đại hóa trangthiết bị trong các ngành công nghiệp khác cũng được thúc đẩy một cách có hệthống thông qua Luật xúc tiến hiện đại hóa các doanh nghiệp vừa và nhỏ(1963) Theo luật này, các biện pháp cấp vốn và thuế được thực hiện mộtcách có hệ thống và có tổ chức hơn so với trước đây nhằm hiện đại hóa cáctrang thiết bị và thống nhất các doanh nghiệp (tăng quy mô doanh nghiệp),trong khuôn khổ các kế hoạch được soạn ra đối với từng ngành Cuối cùng,định hướng cơ bản trong chính sách đối với SMEs và các biện pháp chínhsách cần thiết đã được công bố một cách có hệ thống trong Luật cơ bản về cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ (1963), theo đó các luật khác như Luật hướng dẫncác doanh nghiệp vừa và nhỏ, Luật tài trợ cho quá trình hiện đại hóa các

Trang 24

doanh nghiệp vừa và nhỏ, và Luật hợp nhất công tư đầu tư kinh doanh nhỏđược thông qua một cách thuận lợi ( tất cả đều vào năm 1963).

Nếu như vào những năm 1960, ưu tiên được dành cho vào hiện đại hóatrang thiết bị ở các doanh nghiệp riêng rẽ, thì sang những năm 1970 các chínhsách cải thiện cơ cấu được thực hiện nhằm hiện đại hóa toàn bộ các nghànhcông nghiệp, với trọng tâm là phát triển các sản phẩm và công nghệ mới, thúcđẩy quá trình hình thành nguồn nhân lực, và các biện pháp khác nhằm giatăng ”hàm lượng tri thức” Việc sửa đổi một số điều khoản trong Luật xúc tiếnhiện đại hóa các doanh nghiệp vừa và nhỏ là sự phản ánh những thay đổitrong định hướng chính sách nói trên Để thực hiện mục tiêu cải thiện cơ cấu,Công ty xúc tiến kinh doanh nhỏ Nhật Bản đã được thành lập (1967) với chứcnăng tư vấn và tài trợ cho SMEs

Trong những năm 1970, những biến động lớn trong môi trường kinh tế đãảnh hưởng nặng nề đến SMEs Đó là sự phá giá đồng đô la, sự lên giá củađồng Yên và sự suy giảm tương đối sức cạnh tranh với hàng hóa của các nướcđang phát triển Để giúp SMEs đối phó lại tình trạng này, chính sách điềuchỉnh công nghiệp đã được áp dụng nhằm thúc đẩy những thay đổi tronghướng hoạt động kinh doanh của SMEs Mặt khác, trong bối cảnh các doanhnghiệp lớn có xu hướng xâm nhập lãnh địa hoạt động của SMEs, các chínhsách hạn chế cạnh tranh đã được đưa ra với việc thông qua một loạt các đạoluật nhằm hạn chế sự xâm nhập này Đó là Luật doanh nghiệp bán lẻ lớn(Luật liên quan đế điều tiết hoạt động bán lẻ của các doanh nghiệp bán lẻ lớn,1973) và Luật cơ hội công nghiệp (Luật đảm bảo cơ hội kinh doanh cho cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua điều tiết hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp lớn, 1977)

Trang 25

2.2 NỘI DUNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ 2

Việc điểm qua lịch sử hình thành và phát triển của các chính sách pháttriển SMEs trên đây cho thấy các chính sách này có nội dung khá đa dạng.Phần trình bày dưới đây sẽ phân loại các chính sách này dựa theo trọng tâm

và các công cụ thực hiện của chúng

Trước tiên, chính sách có thể chia ra thành hai nhóm: một nhóm tập trungvào toàn bộ SMEs nói chung ( chính sách chung hoặc chính sách cơ bản), vànhóm kia bao gồm các chính sách đối với các nhóm SMEs riêng biệt (chínhsách đặc thù)

2.2.1 Mục tiêu của các chính sách

Mục tiêu của các chính sách chung là giúp cho SMEs có thể tồn tại bằngcách thủ tiêu các yếu tố bất lợi bắt nguồn từ thất bại trên các thị trường laođộng, vốn, hàng hóa, và thông tin Các chính sách này bao gồm: các chínhsách về lao động nhằm hỗ trợ cho sự phát triển kỹ năng thông qua đào tạonghề nghiệp và các chương trình khác; các chính sách tài chính như cấp vốnthông qua các tổ chức tài chính chuyên trách của chính phủ đối với kinhdoanh nhỏ và chương trình đảm bảo tín dụng; các chính sách duy trì các giaodịch thích hợp giữa các doanh nghiệp, chẳng hạn như biện pháp hạn chế cácdoanh nghiệp lớn lạm dụng sức mạnh thị trường và tổ chức SMEs; và cácchính sách tư vần và hướng dẫn nhằm cung cấp thông tinh về công nghệ, thịtrường ,và quản lý Các chính sách đặc thù bao gồm những chính sách tậptrung vào một ngành cụ thể, chẳng hạn như những chính sách hiện đại hóangành đặc thù và các chính sách điều chỉnh công nghiệp đối với các ngànhgặp khủng hoảng về cơ cấu, và các chính sách đặt trọng tâm vào một dạngdoanh nghiệp cụ thể như doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ hoặc các nhà thầuphụ Các chính sách đặc thù , về thực chất, là các biện pháp nhằm tới các mục

Trang 26

tiêu chính sách riêng biệt vào thời điểm nhất định, qua đó mà thực thi cácchính sách chung.

2.2.2 Nội dung của chính sách

Các công cụ chính sách bao gồm nhiều biện pháp khác nhau chẳng hạnnhư các biện pháp tài chính, thuế, trợ cấp và điều tiết, biện pháp cung cấpthông tin, và các hợp đồng mua sắm ưu đãi của chính phủ Trên phương diệntài chính, các khoản vốn với chi phí thấp được cung cấp thông qua việc phân

bổ các nguồn ngân sách chung và ngân sách tới các tổ chức tài trợ của chínhphủ đối với việc kinh doanh nhỏ và Công ty kinh doanh nhỏ Nhật Bản Cùngvới các biện pháp chung nhằm giảm bớt gánh nặng thuế của các doanh nghiệpsát nhập và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một chế độ khấu hao đặc biệt đốivới hiện đại hóa trang thiết bị và các biện pháp khác được áp dụng nhằm cungứng các khoản trợ cấp thông qua hệ thống thuế để đáp ứng các mục tiêu chínhsách cụ thể Trợ cấp trực tiếp được dành cho các tổ chức công cộng ở địaphương và các hiệp hội SMEs nhằm phục vụ các hoạt động tài trợ tư vấn.Biện pháp điều tiết được sử dụng như là một công cụ chính sách nhằm đốiphó với sự lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp lớn và sựthâm nhập của các doanh nghiệp này vào các khu vực do SMEs kiểm soát,cũng như phục vụ cho các hoạt động điều chỉnh (các cacten) trong các hiệphội SMEs Biện pháp cung cấp thông tin bao gồm việc soạn thảo các kế hoạchhiện đại hóa thông tin bao gồm việc soạn thảo các kế hoạch hiện đại hóa củatừng ngành và các Tầm nhìn Cùng với việc cung cấp thông tin về công nghệ,thị trường và quản lý Các chính sách liên quan đến cầu được áp dụng để đảmbảo cho các hợp đồng mua sắm sản phẩm của SMEs, do các chính quyềntrung ương và địa phương thực hiện; Luật mua sắm công cộng ( Luật bảo đảmcho các doanh nghiệp và các tổ chức hoạt động khác.1966) được soạn thảo

Trang 27

nhằm cho phép SMEs nhận được các hợp đồng như vậy Phần sau đây sẽ đềcập chi tiết, cụ thể hơn từng công cụ chính sách.

2.2.2.1 Ban hành luật đặc biệt

Ngay từ giữa những năm 1950, chính sách hiện đại hóa SMEs đã được thểhiện trong Chương trình cho vay vốn hiện đại hóa trang thiết bị (1954),Luật về tài chính và các biện pháp nhằm hỗ trợ SMEs (1956) và Luật xúctiến hiện đại hóa SMEs (1963) Tuy nhiên, chỉ khi Bộ luật cơ bản về cácSMEs ra đời năm 1963 thì các biện pháp chính sách và công cụ chính sáchđối với SMEs mới được công bố một cách có hệ thống Kèm theo đó, cácluật khác như Luật Hướng dẫn đối với SMEs, Luật Tài trợ cho quá trìnhhiện đại hóa SMEs, Luật Hợp nhất công ty đầu tư kinh doanh nhỏ cũng đãđược thông qua Mục tiêu của những biện pháp đối với SMEs được khẳngđịnh trong Bộ luật năm 1963 là:

- Sửa chữa những bất lợi của SMEs so hạn chế về mặt kinh tế và xã hội;

- Khuyến khích sáng kiến của SMEs;

- Xóa bỏ những bất bình đẳng trong sản xuất kinh doanh nhằm thúcđẩy sự phát triển của SMEs, cải thiện vị thế kinh tế và xã hội của người laođộng tại các SMEs

Đáng chú ý là nếu như vào những năm 1960, các biện pháp chính sáchđối với SMEs thường nhằm vào việc hiện đại hóa trang thiết bị ở các doanhnghiệp riêng rẽ thì vào những năm 1970, các biện pháp chính sách lại được ápdụng nhằm hiện đại hóa toàn bộ các ngành công nghiệp, với trọng tâm là pháttriển các sản phẩm và công nghệ mới, đồng thời khuyến khích gia tăng hàmlượng tri thức và khoa học công nghệ của sản phẩm làm ra Việc sửa đổi một

số điều khoản trong Luật Xúc tiến hiện đại hóa SMEs (lần thứ 3, vào năm1973) là sự phản ánh những thay đổi trong định hướng chính sách nói trên.Theo đó, Luật này đã bổ sung điều khoản tập trung vào việc phát triển nguồn

Trang 28

nhân lực quản lý phục vụ phát triển các sản phẩm và công nghệ mới Nhờnhững chính sách này, các SMEs của Nhật đã không những đứng vững trênthị trượng trong nước mà còn có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế,đóng góp dáng kể vào sự phát triển nhảy vọt của Nhật Bản trong những năm1970.

2.2.2.2 Biện pháp thuế

Hỗ trợ các SMEs thông qua công cụ thuế được coi là một trong nhữngbiện pháp quan trọng ở Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh và thực hiệncông nghiệp hóa Tuy nhiên, những chế độ về thuế cụ thể lại được áp dụngmột cách linh hoạt, tùy thuộc vào từng biện pháp được áp dụng để khuyếnkhích các SMEs Chẳng hạn, để hỗ trợ những hộ kinh doanh cá thể và công tynhỏ, Chính phủ áp dụng cơ chế khấu trừ thuế thu nhập, hoặc giảm tỷ suấtthuế đánh vào những công ty này Các biện pháp miễn thuế đối với SMEs đểgiúp họ có thể thay đổi hoạt động kinh doanh được dựa trên Luật về các biệnpháp tạm thời nhằm chuyển hướng kinh doanh của SMEs( 2976) và Luật vềcác biện pháp tạm thời đối với SMEs thuộc các ngành trì trệ (1978) và Luật

về các biện pháp tạm thời đối với SMEs (1979) Hay, để thúc đẩy việc đầu tưthiết bị, đầu tư nghiên cứu thử nghiệm, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa ônhiễm công nghiệp, các SMEs được hưởng chế độ khấu hao đặc biệt, khấu trừthuế, hoặc được miễn t huế đối với tài sản cố định…Do các biện pháp miễnthuế được áp dụng như vậy mà trong năm tài chính 1980, nguồn thu thuế củangân sách Nhật Bản đã giảm đi 38 tỷ Yên do biện pháp miễn thuế áp dụng đốivới SMEs và 53 tỷ yên do thực hiện biện pháp khấu hao trong quá trình hiệnđại hóa trong thiết bị của SMEs

Đặc biệt, để thúc đẩy các SMEs làm thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn,những doanh nghiệp nhỏ và vừa còn được hưởng chế độ miễn thuế hoạtđộng Nhờ biện pháp này, các doanh nghiệp nhỏ ngày càng có xu hướng

Trang 29

nhận đơn đặt hàng của các doanh nghiệp lớn hơn về quy mô để chế biến các

bộ phận hay để sản xuất các phụ kiện phục vụ cho sản xuất của các doanhnghiệp lớn Giao dịch giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhận thầu phụkhác với giao dịch thị trường đối với các loại sản phẩm là ở chỗ các SMEs giacông những sản phẩm trên cơ sở doanh nghiệp lớn cung cấp những thông tin,đặt hàng cụ thể về chất lượng, kiểu dáng và đặc điểm của sản phẩm đó Chođến năm 1976, sự phụ thuộc của các doanh nghiệp lớn vào các hợp động phụtăng lên đáng kể và đạt tỷ trọng doanh thu là 32,9% trong ngành cơ khí vậntải, 31,6% trong ngành cơ khí chính xác, 25,6% tổng ngành may mặc và dệt

Bảng 3: Ngân sách dành cho chính sách đối với SMEs giai đoạn

Trang 30

2.2.2.3 Tài trợ vốn

Trong thời kỳ công nghiệp hóa , các SMEs được hỗ trợ về mặt tài chínhthông qua nhiều hình thức khác nhau, thông qua việc Chính phủ hỗ trợ vốncho các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn, cung cấp thông tin, đào tạo kỹ năngcho SMEs hoặc những tổ chức tài chính chuyên trách của Chính phủ đối vớiSMEs Bảng trên cho thấy nếu như năm 1960, ngân sách Nhật Bản được dành

để thực hiện các biện pháp hỗ trợ SMEs là 2186 tỷ yên thì đến năm 1980, tứcsau 20 năm , con số này đã tăng lên gấp gần 106 lần, đạt 230868 tỷ yên

Trong bảng này, ta thấy biện pháp xúc tiến hiện đại hóa SMEs bao gồmviệc hỗ trợ tài chính cho việc hiện đại hóa trang thiết bị, thúc đẩy hợp đồngphụ, hiện đại hóa SME trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ Trong khi đó,nguồn ngân sách để tổ chức phục vụ hiện đại hóa SMEs được sử dụng vàonhững khoản đầu tư và trợ cấp cho công ty kinh doanh nhỏ Nhật Bản Ngânsách phục vụ hoạt động tư vấn cho SMEs được dụng để hỗ trợ thực hiện giámsát SMEs, tổ chức chương trình tư vấn, tư vấn kỹ thuật, thúc đẩy nghiên cứutriển khai của các SMEs hay để tài trợ cho các chính sách về tổ chức Ngoài

ra, ngân sách của chính phủ đối với SMEs còn được dùng để tài trợ chonhững khoản đầu tư, trợ cấp và cho vay đối với 3 tổ chức cấp vốn vay củaChính phủ và các tổ chức bảo lãnh tín dụng đối với SMEs

Trang 31

dụng này đã cấp tổng vốn vay đối với các SMEs là 74,4 tỷ yên (1960); 552,3

tỷ yên (1970) và 3400,4 tỷ yên (năm 1980)

Ngoài ra, một số tổ chức chuyên trách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏđược Chính phủ hỗ trợ để giúp các SMEs ngăn ngừa phá sản, thông qua việccho doanh nghiệp hưởng chế độ vay không lãi suất hoặc không cần thế chấpđối với khoản vay lớn gấp 10 lần số tiền được vay mỗi lần Các hiệp hội bảolãnh tín dụng và cơ quan bảo hiểm tín dụng của các SMEs có thể thực hiệnnghiệp vụ bảo lãnh cho các SMEs vay vốn Ở cấp địa phương, biện pháp hỗtrợ các SMEs được thực hiện thông qua việc cho vay nhằm hiện đại hóa trangthiết bị không phải chịu lãi suất, hoặc cho các doanh nghiệp thuê thiết bị, thuêtài chính để đổi mới trang thiết bị

2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SMES

2.3.1.Đánh giá các chính sách hiện đại hóa SMEs

Luật xúc tiến hiện đại hóa doanh nghiệp vừa và nhỏ là cở sở hình thànhchính sách kinh doanh nhỏ trong những năm 1960 và đầu những năm 1970.Thực chất của chính sách này là vạch ra nguyên tắc chỉ đạo đối với các chínhsách hiện đại hóa từng ngành cụ thể, và các biện pháp tài chính, thuế đã được sửdụng để giúp hiện đại hóa các cơ sở sản xuất của các SME và đạt tới quy mô

“thích hợp” cho các donah nghiệp và quá trình sản xuất Chính sách hỗ trợ tàichính bao gồm một chương trình cho vay đặc biệt với các khoản vay lãi xuấtthấp dành cho việc hiện đại hóa cơ sở sản xuất qua các kênh là Công ty tài chínhkinh doanh nhỏ và công ty tài chính nhân dân, còn các biện pháp thuế bao gồmviệc thực hiện một chế đồ khấu hao nhanh hơn đối với trang thiết bị

Để đáp lại sự gia tăng mức lương, các chính sách hiện đại hóa đượcnhằm tới mục tiêu tăng hàm lượng vốn (tỷ lệ vốn/lao động) của các SMEs và

từ đố tăng năng sất lao động Việc đánh giá kết quả của chính sách hiện đạihóa sẽ là nội dung trả lời cho câu hỏi: mục tiêu hiện đai hóa đã được thực thi

Trang 32

đến mức độ nào Bảng 4 sau đây cho thấy những biến động về tỷ lệ vốn/ laođộng và năng suất lao động trong các nhành công nghiệp được lựa chòn trongLuật xúc tiến hiện đại hóa Từ cuối những năm 1960 cho đến đầu những năm

1970, các chỉ tiêu này đối với các ngành được lựa chọn hoặc cao hơn chút ít,hoặc ngành bằng với các chỉ tiêu tương ứng đối với toàn bộ SMEs, với cácmức chênh lệch đều không đáng kể, có chăng là sự khác biệt gữa các ngànhkhác nhau có cao hơn Như vậy, điều này cho thấy trong số các ngành đượclựa chọn có những ngành có năng suất lao động gia tăng nhờ hiện đại hóa cơ

sở sản xuất (cơ khí hóa) và sản xuất hàng loạt, nhưng đồng thời cũng cónhững ngành trong đó những biến động như vậy là không đáng kể

Bảng 4: Biến động về năng suất và hàm lượng vốn của các ngành công

nghiệp được lựa chọn trong Luật xúc tiến hiện đại

hóa (10 000 Yên)

Năng suất lao động (a) tỷ lệ vốn / lao động (b)

mứctăng 1965-1970

mứctăng1970-1975

mứctăng1965-1970

mứctăng 1970-1975SMEs trong

Nguồn: Tsusansho [MITI], Kogyo Tokeihyo [điều tra các ngành công nghiệp]

(a) Gía trị gia tăng tính theo mỗi lao động

(b) Tài sản cố định tính theo mỗi lao động

Trang 33

Nếu như quá trình hiện đại hóa cơ sở sản xuất và sản xuất hàng loạtchỉ tỏ ra hữu hiệu khi “có một phát minh kỹ thuật làm cho qua trình cơ khíhóa và sản xuất hàng loạt trở nên có lợi, và nhất là khi có thể lường trướcđược sự gia tăng nhu cầu đủ để khai thác việc mở rộng quy mô sản xuất”.Thì khi đó khó có thể cho rằng tất cả các ngành đều thỏa mãn các tiêu thứcnày Chính sách hiện đại hóa trong những năm 1960 theo đuổi mục tiêutăng năng suất lao động trong SMEs thông qua quá trình hiện đại hóa cơ sởsản xuất và sản xuất hàng loạt, nhưng không phải mục tiêu này đều đạtđược trong tất cả các ngành công nghiệp Như đã nói ở trên, trên thực tếchính sách áp dụng theo khuôn khổ Luật xúc tiến hiên đại hóa có mục tiêu

là đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa dựa trên cách tiếp cận theo ngành cụthể, và đây là một trong những chính sách ”có chọn lọc” mà trọng tâmđược đặt vào những đặc điểm riêng biệt của từng ngành cụ thể Tuy nhiên,với thực tế là hiện tại có hơn 200 ngành công nghiệp đã trở thành nhữngngành được lựa chọn, các chính sách áp dụng với tất cả các ngành, do đó

mà làm giảm hiệu lực của các chính sách hiện đại hóa

2.3.2 Đánh giá chung về chính sách phát triển SMEs

Như đã lưu ý trong phần mô tả nội dung chính sách, trọng tâm củachính sách doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu dành cho việc hỗ trợ SMEsnhằm thích ứng với những biến động trong cơ cấu công nghiệp Chính sáchkinh doanh nhỏ là một phần trong chính sách xã hội chung kể từ trướcChiến tranh thế giới thứ hai cho đến những năm 1950 Nhưng hiện tại bảnchất của nó có sự thay đổi theo hướng trở thành một phần của chính sáchcông nghiệp Đối với chính sách kinh doanh nhỏ với tư cách là một chínhsách công nghiệp, đã có những phê phán cho rằng các chính sách nàykhông mang tính phân biệt Nếu xuất phát từ trọng tâm của chính sách thìđương nhiên sẽ có những chính sách chung áp dụng cho tất cả SMEs, thế

Trang 34

nhưng đối với những chính sách đặc thù áp dụng cho từng ngành côngnghiệp cụ thể hoặc các nhóm doanh nghiệp khác nhau như trong trườnghợp các ngành công nghiệp được lựa chọn trong khuôn khổ Luật xúc tiếnhiện đại hóa, thì khó có thể xác nhận được rằng trọng tâm chính sách nhưvậy là tồn tại trên thực tế Xét theo các công cụ chính sách thì có nhiềucông cụ khác nhau được sử dụng như các biện pháp tài chính, thuế và trợcấp, điều chỉnh, cung cấp thông tin, ưu tiên trong các hợp đồng mua sắm.Đối với các lĩnh vự chính sách khác ngoài chính sách kinh doanh nhỏ thìcũng có khuynh hướng vận dụng chính sách theo cách thức không mangtính phân biệt, thế nhưng khuynh hướng đó dược thể hiện rõ nhất trongchính sách kinh doanh nhỏ vởi vì tác động của cơ chế sau đây Đặc biệt,

so SMEs có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng áp đảo về nhân công, cùng vớimột thực tế là SMEs được nhìn nhận là “ốm yếu”, cho nên đa số các đảngphái chính trị đều luôn tuyên bố rằng mở rộng chính sách kinh doanh nhỏ

là một trong những chính sách then chốt mà họ theo đuổi Mặt khác, các cơquan Chính phủ (các bộ và cơ quan khác) chịu trách nhiệm hoạch địnhchính sách đã đáp lại bằng cách tích cực đề xuất các biện pháp đối với kinhdoanh nhỏ (mà theo dự kiến sẽ được tất cả các đảng phái chính trị chấpthuận) bởi vì nhìn chung các cơ quan này có khả năng tác động một cáchthuận lợi đến việc gia tăng ngân sách chi tiêu và quyền hạn cho nhữngngười thiết kế chính sách

Cơ chế chính sách không mang tính phân biệt này ảnh hưởng tới việchoạch định và thi hành chính sách trên cơ sở nhận định rằng liệu có cầnthiết hoặc có tác dụng hay không khi giúp cho SMEs thích ứng đối với môitrường hoạt động thông qua đáp ứng các nhu cầu về lao động, hàng, hóa,vốn, và thông tin, hoặc khi phải quyết định (trong điều kiện có sự khácbiệt rất lớn về kiều kiện và nguồn lực quản lý trong các ngành công nghiệp)

Trang 35

là các doanh nghiệp hoặc ngành công nghiệp nào được coi là trọng tâm củachính sách Rất khó phủ nhận một điều là bản chất không phân biệt củachính sách đã làm yếu đi tác động (hiệu lực) của chính sách.

Xu hướng rõ ràng về chính sách không mang tính phân biệt nói trênkhông phải lúc nào cũng hàm ý rắng có sự gia tăng các chính sách bảo hộnhằm bảo vệ các doanh nghiệp biên, hoạt động không hiệu quả Thực vậy,tác động tiêu cực của việc duy trì các doanh nghiệp biên, hoạt động khônghiệu quả dường như tỏ ra không đáng kể Thứ nhất, các chính sách hạn chếcạnh tranh trong khu vực SMEs lại khống có mấy hiệu lực, và thứ hai, bêncạnh đầu tư của Chính phủ như là công cụ chính sách chủ yếu thì công cụtrợ cấp trực tiếp chỉ tạo ra tác động rất nhỏ Hai đặc tính này của các công

cụ chính sách đã dẫn đến kết quả là cạnh tranh vẫn được duy trì trong khuvực SMEs Tình trạng này rất khác so với trường hợp chính sách nôngnghiệp

Với tư cách là bộ phận của chính sách kinh doanh nhỏ, một số biệnpháp đã được áp dụng để hạn chế cạnh tranh, chẳng hạn như việc thừa nhận

sự hình thành cacten theo khuôn khổ Luật tổ chức SMEs (Luật liên quanđến tổ chức các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 1957) và việc hạn chế sự xâmnhập của các doanh nghiệp lớn vào thị trướng bán lẻ và các thị trườngkhác của SMEs Khi xem xét cơ chế tác động thực tế cảu các chính sáchnày, có thể thấy rằng số lượng cacten hình thành trong khuôn khổ Luật tổchức SME đã tăng lên hàng năm cho đến đầu những năm 1960 (khi cácchính sách hiện đại hóa được thực sự bắt đầu), để rồi lại giảm xuống mộtcách nhanh chóng, cho đến cuối năm 1983 chỉ còn có 19 ngành côngnghiệp trong đó còn tồn tại hình thức cacten Do vậy, có thể ghi nhận sựchuyển hướng của các chính sách hạn chế cạnh tranh từ cuối những năm

1960 Điều này còn được phản ánh trong quan điểm về chính sách hạn chế

Trang 36

sử dụng các chính sách hạn chế cạnh tranh, và thay vào đó sử dụng cácchính sách điều chỉnh công nghiệp tích cực như giúp các doanh nghiệpchuyển sang các ngành khác khi nhập khẩu tăng lên nhanh chóng trong cácngành công nghiệp được lựa chọn từ những năm 1970.

Như đã lưu ý ở trên, các khoản cho vay đối với SMEs và các tổ chứccủa SMEs (như các hợp tác xã) từ ngân sách của Chính phủ được sử dụngchủ yếu như là một công cụ chính sách Được thực hiện thông qua các thểchế tài chính chính phủ đối với SMEs, các chính sách tài chính nhìn chung

đã giúp các doanh nghiệp này có được nguồn vốn (chính sách chung), vàđồng thời được sử dụng như một công cụ để đạt tới các mục tiêu chính sáchriêng rẽ dưới hình thức hỗ trợ cho SMEs tiếp cận cụ thể được với nguồnvốn (chính sách đặc thù) Nguồn vốn do các thể chế tài chính của chính phủchiếm khoảng 10% quy mô các khoản cho vay đối với SMEs, do đó cỏ thểnói rằng nguồn vốn đó có đóng góp nhất định đối với khả năng vay vốn củaSMEs Tuy nhiên, điều này không hàm ý rằng việc cấp vốn như vậy củachính phủ được coi là nhằm bảo hộ các doanh nghiệp biên không có hiệuquả

Trường hợp cấp vốn khác với trợ câp trực tiếp ở chỗ các doanhnghiệp phải trả cả vốn lẫn lãi suất, trong khi đó sự vận hành của cơ chế thìtrường sẽ không cho phép nguồn vốn được cấp cho các doanh nghiệpkhông có khả năng thanh toán Mặc dù trợ cấp trực tiếp cũng được sử dụngnhư là một bộ phận của chính sách kinh doanh nhỏ, thế nhưng xét trongtương quan với nguồn vốn được cấp từ ngân sách của Chính phủ thì quy

mô của trợ cấp trực tiếp là rất nhỏ

Có thể đưa ra sự đánh giá tổng quát về chính sách kinh doanh nhỏnhư sau Việc loại bỏ hoàn toàn các chính sách không mang tính phân biệt

là điều rất khó khăn, bởi vì các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường có

Trang 37

thể dẫn đến vị thế bất lợi cho SMEs theo nhiều kênh khác nhau, và sự vậnhành của các yếu tố kinh tế chính trị cũng có ảnh hưởng tới quá trìnhhoạch định và thực hiện chính sách Không thể phủ nhận rằng việc sử dụngcác chính sách không mang tính phân biệt sẽ làm yếu đi hiệu lực của chínhsách Vai trò chủ đạo của việc cấp vốn diễn ra trong cơ chế thị trường, chứkhông phải là việc sử dụng các biện pháp hạn chế cạnh tranh và trợ cấptrực tiếp như là những công cụ chính sách, sẽ đặt dấu chấm hế cho việc sựdụng chính sách kinh doanh nhỏ như là chính sách bảo hộ Về phương diệnnày có thể thấy sự đối lập rất rõ với các chính sách nông nghiệp, trong đócác biện pháp hạn chế nhập khẩu và trợ cấp trực tiếp được sử dụng rồngrãi.

Trang 38

CHƯƠNG III

SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

VỪA VÀ NHỎ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 QUAN ĐIỂM , ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN SMES CỦA VIỆT NAM

3.1.1 Quan điểm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam

3.1.1.1 Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phậncấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh

3.1.1.2 Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sáchthuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc mọi thành phần kinh tế pháttriển bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trongnước kết hợp với nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển

3.1.1.3 Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo phương châm tích cực,vững chắc, nâng cao chất lượng, phát triển về số lượng, đạt hiệu quả kinh tế,góp phần tạo nhiều việc làm, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo trật tự, an toàn xãhội; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn với các mục tiêu kinh tế - xã hộiphù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương, khuyến khích pháttriển công nghiệp nông thôn, làng nghề truyền thống; chú trọng phát triểndoanh nghiệp nhỏ và vừa ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế -

xã hội khó khăn; ưu tiên phát triển và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa dođồng bào dân tộc, phụ nữ, người tàn tật … làm chủ doanh nghiệp; chú trọngphát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư sản xuất một số lĩnh vực có khảnăng cạnh tranh cao

Trang 39

3.1.1.4 Hoạt động trợ giúp của Nhà nước chuyển dần từ hỗ trợ trực tiếpsang hỗ trợ gián tiếp để nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa 3.1.1.5 Gắn hoạt động kinh doanh với bảo vệ môi trường, bảo đảm trật

- Tạo thêm khoảng 2,7 triệu chỗ làm mới trong giai đoạn 2006 - 2010;

- Có thêm 165.000 lao động được đào tạo kỹ thuật làm việc tại các doanhnghiệp nhỏ và vừa

3.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DNNVV THỜI GIAN QUA

3.2.1 Bối cảnh kinh tế – xã hội giai đoạn 2006-2010:

Nước ta xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển DNNVV 5 năm

Ngày đăng: 29/07/2016, 23:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội giai đoạn “thần kỳ” và Việt Nam thời kỳ Đổi mới”, PGS.PTS Lê Văn Sang; PTS Kim Ngọc. NXB chính trị quốc gia, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội giai đoạn “thần kỳ” vàViệt Nam thời kỳ Đổi mới
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
2. “Nhật Bản câu chuyện về một quốc gia” Viện kinh tế thế giới, Edwin O Reischauer; NXB Thống Kê, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản câu chuyện về một quốc gia
Nhà XB: NXB Thống Kê
3. “Nhật Bản đường đi tới một Siêu cường kinh tế” – Lê Văn Sang, Lưu Ngọc Trịnh; NXB Khoa học xã hội… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản đường đi tới một Siêu cường kinh tế
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội…
4. “Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp- Kinh nghiệm của Nhật Bản và Bài học rút ra cho công nghiệp hoá của Việt Nam”-Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương-NXB Lao động, Năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp-Kinh nghiệm của Nhật Bản và Bài học rút ra cho công nghiệphoá của Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động
5. “Chính sách công nghiệp Nhật Bản”-NXB Chính trị Quốc Gia, Năm 1999.6. Các Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công nghiệp Nhật Bản
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lượng các SMEs theo các ngành - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 1 Số lượng các SMEs theo các ngành (Trang 10)
Bảng 2: Giá trị gia tăng và hiệu suất của giá trị gia tăng của SMEs và các - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 2 Giá trị gia tăng và hiệu suất của giá trị gia tăng của SMEs và các (Trang 11)
Bảng 3: Ngân sách dành cho chính sách đối với SMEs giai đoạn 1960- - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 3 Ngân sách dành cho chính sách đối với SMEs giai đoạn 1960- (Trang 28)
Bảng 4: Biến động về năng suất và hàm lượng vốn của các ngành công - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 4 Biến động về năng suất và hàm lượng vốn của các ngành công (Trang 31)
Bảng 5: Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh ở Việt Nam - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 5 Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh ở Việt Nam (Trang 46)
Bảng 6: Số lượngđăng ký kinh doanh mới từ năm 2000 - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 6 Số lượngđăng ký kinh doanh mới từ năm 2000 (Trang 47)
Bảng 7: Tổng vốn đầu tư các Doanh nghiệp Việt Nam - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 7 Tổng vốn đầu tư các Doanh nghiệp Việt Nam (Trang 50)
Bảng 9: Thuế và các khoản phí khác nộp NSNN của các doanh nghiệp - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 9 Thuế và các khoản phí khác nộp NSNN của các doanh nghiệp (Trang 51)
Bảng 12. Lương trả cho người lao động - Luận văn chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhật bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 12. Lương trả cho người lao động (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w