Khái niệm phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận Mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận là mối quan hệ giữacác nhân tố giá bán, khối lượng số lượng, mức độ ho
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu cuối cùng của tất cả các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sảnxuất kinh doanh là lợi nhuận, tuy nhiên không phải bất cứ doanh nghiệp nàocũng đạt được mục tiêu đó Khác với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trướckia – nơi được kế hoạch hóa và cân đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngày nay,các doanh nghiệp đang hoạt động trong cơ chế thị trường chịu sự tác động củacác quy luật thị trường, bất cứ một sai lầm nào đều có thể dẫn đến hậu quả khólường, thậm chí là phá sản Do đó, việc ra quyết định đúng đắn là vô cùng cầnthiết và trách nhiệm này thuộc về các nhà quản trị Các nhà quản trị sẽ tổ chức,phối hợp, ra quyết định và kiểm soát mọi hoạt động trong doanh nghiệp, nhằmmục tiêu chỉ đạo, hướng dẫn để doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao nhất bằngcách phân tích, đánh giá và đề ra những dự án chiến lược cho tương lai
Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận là một công cụ kếhoạch hóa và quản lý hữu dụng Qua việc phân tích này, các nhà quản trị sẽ biếtảnh hưởng của từng yếu tố như giá cả, sản lượng, cơ cấu mặt hàng và đặc biệt làảnh hưởng của kết cấu chi phí đối với lợi nhuận doanh nghiệp như thế nào, đã,đang và sẽ làm tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp ra sao Ngoài rathông qua việc phân tích dựa trên những số liệu mang tính dự báo sẽ phục vụcho các nhà quản trị trong lĩnh vực điều hành hiện tại và cả hoạch định kế hoạchtrong tương lại Từ đó cho phép nhà quản trị đi đến nhiều quyết định quan trọngnhư: Chọn lựa dây truyền sản xuất, xác định giá bán sản phẩm dịch vụ, tìmkiếm và xây dựng thị trường tiêu thụ, lựa chọn nguyên vật liệu thích hợp, tiết
Trang 2Với những đặc điểm trên việc vận dụng mối quan hệ chi phí – khối lượng –lợi nhuận vào mỗi doanh nghiệp là vô cùng cần thiết, tuy nhiên việc vận dụng
nó là một vấn đề còn khá mới mẻ ở nước ta hiện nay Xuất phát từ những lý do
trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Phân tích chi phí – khối lượng – lợi nhuận tại Công ty TNHH Thương mại Đức Hà”.
1.2.Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Vận dụng việc phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận của
kế toán quản trị vào lĩnh vực kinh doanh của công ty TNHH Thương mại Đức
Hà, từ đó giúp cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản lý
Đưa ra một số biện pháp nhằm áp dụng có hiệu quả hơn phương pháp phântích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận để tăng cường hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổng chi phí, chi phí cố định, chi phí biến đổi, các khoảnmục phí
Chi phí biến đổi đơn vị
Giá bán xe máy
Lợi nhuận kinh doanh
Trang 4PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận
2.1.1 Khái niệm phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận
Mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận là mối quan hệ giữacác nhân tố giá bán, khối lượng (số lượng, mức độ hoạt động), kết cấu hàngbán, chi phí (cố định, biến đổi) và sự tác động của các nhân tố này đến lợi nhuậncủa doanh nghiệp [Thông tư 53/2006/TT-BTC]
Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận (cost – volume –profit relationship analysics) là xem xét mối quan hệ nội tại của các nhân tố giábán, sản lượng, CPCĐ, CPBĐ và kết cấu mặt hàng đồng thời xem xét sự ảnhhưởng của các nhân tố đó đến lợi nhuận của doanh nghiệp [Giáo trình kế toánquản trị- Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2000]
Việc phân tích thông qua mô hình CVP không chỉ giúp việc lựa chọn dâychuyền sản xuất, định giá bán sản phẩm, xây dựng chiến lược tiêu thụ, chiếnlược marketing nhằm khai thác có hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp mà còn giúp ích nhiều cho việc xem xét rủi ro của doanh nghiệp
2.1.2 Mục đích phân tích CVP
Mục đích của phân tích CVP chính là phân tích cơ cấu chi phí hay nói cáchkhác là nhằm phân tích rủi ro từ cơ cấu chi phí này Dựa trên những dự báo vềkhối lượng hoạt động, doanh nghiệp đưa ra cơ cấu chi phí phù hợp để đạt đượclợi nhuận cao nhất
Để có thể thực hiện phân tích CVP đòi hỏi người quản lý phải nắm vữngcách ứng xử của chi phí, phân biết được CPCĐ, CPBĐ, phải hiểu rõ báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh theo LĐG, đồng thời phải nắm vững một số kháiniệm cơ bản sử dụng trong phân tích CVP như LĐG, tỷ lệ LĐG
Trang 52.1.3 Vận dụng phân tích CVP trong kinh doanh
Phân tích CVP có thể dùng cho các tổ chức tìm kiếm lợi nhuận và các tổchức không vì lợi nhuận Với các tổ chức tìm kiếm lợi nhuận, người quản lýthường nghiên cứu ảnh hưởng của khối lượng đầu ra tới thu nhập (doanh thu),chi phí, lãi ròng Các tổ chức không vì lợi nhuận cũng nghiên cứu mối quan hệCVP vì các tổ chức này đều có nguồn lực hạn chế và cần hiểu kinh phí thay đổithế nào khi khối lượng thay đổi để giúp cho người quản lý kiểm soát kinh phí.Trong các quyết định kinh doanh có thể vận dụng phân tích CVP vào hainhóm quyết định là quyết định kinh doanh hoà vốn gắn với nội dung phân tíchhoà vốn và các biện pháp chóng đạt hoà vốn, quyết định kinh doanh có lợinhuận gắn các phương án lựa chọn làm tăng lợi nhuận
2.2 Báo cáo kết quả theo LĐG
Các doanh nghiệp có thể lập báo cáo kết quả theo 2 phương pháp làphương pháp tài chính và phương pháp LĐG
Phương pháp tài chính: Đây là phương pháp truyền thống của cách lập báo
cáo tài chính Phương pháp này coi tất cả các chi phí sản xuất chung là chi phísản phẩm và trở thành chi phí dưới dạng chi phí sản xuất của hàng bán
Báo cáo kết quả theo phương pháp tài chính có dạng sau:
(Trừ) Chi phí sản xuất hàng bán xxxx Nguyên vật liệu trực tiếp
Lao động trực tiếp Chi phí sản xuất chung
(Trừ) Chi phí bán hàng Chi phí quản lý
xx
Phương pháp LĐG: Theo phương pháp này chi phí sản xuất kinh doanh
Trang 6xử chi phí này để lập ra một báo cáo kết quả kinh doanh và chính dạng báo cáonày sẽ được sử dụng rộng rãi như một kế hoạch nội bộ và một công cụ để raquyết định.
Báo cáo kết quả theo phương pháp LĐG có dạng sau:
CPCĐ sản xuất chung CPCĐ bán hàng
CPCĐ quản lý
So sánh báo cáo kết quả theo phương pháp LĐG và phương pháp tài chính.Theo phương pháp tài chính Theo phương pháp LĐG
Sự giống nhau của 2 loại báo cáo này là cùng xem xét tới các chỉ tiêu nhưdoanh thu, lãi thuần, cùng nguồn số liệu chi phí nhưng giữa 2 loại báo cáo này
có rất nhiều điểm khác nhau
Điểm khác nhau cơ bản giữa 2 báo cáo kết quả là tên gọi và cách phân loạichi phí: Báo cáo tài chính phân biệt chi phí thành chi phí trong sản xuất và chiphí ngoài sản xuất, phương pháp này coi tất cả chi phí sản xuất là chi phí sảnphẩm và trở thành chi phí sản xuất của hàng bán trừ giá vốn hàng bán, báo cáokiểu LĐG phân biệt chi phí thành 2 loại CPCĐ và CPBĐ Các nhà quản lý sẽchia chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp ra
Trang 7CPCĐ và CPBĐ, còn các chi phí trực tiếp nghiễm nhiên là CPBĐ CPBĐ sẽđược xem xét trước sau đó là CPCĐ.
Phương pháp LĐG nhấn mạnh số CPCĐ sẽ được trừ đi để có lãi thuần Đặcđiểm này của CPCĐ tập trung sự chú ý quản lý vào ứng xử và kiểm tra CPCĐtrong cả quản lý ngắn hạn và dài hạn
Kế toán tài chính chỉ sử dụng và lập báo cáo kết quả theo phương pháp tàichính còn kế toán quản trị sử dụng cả 2 loại báo cáo nhưng có sự phân biệt nhưsau: báo cáo kiểu tài chính thường nhấn mạnh vào việc lập cho từng mặt hàng,từng hoạt động hơn là cho toàn doanh nghiệp, báo cáo này để theo dõi thựchiện Báo cáo kiểu LĐG có thể lập và sử dụng cho theo dõi thực hiện và raquyết định, đặc biệt có tác dụng trong việc ra quyết định kinh doanh ngắn hạn Khi nhận được báo cáo của kế toán tài chính thì không thể xác định đượcđiểm hòa vốn và phân tích mối quan hệ chi phí, doanh thu, lợi nhuận vì hìnhthức báo cáo của kế toán tài chính nhằm mục đích cung cấp kết quả hoạt độngkinh doanh cho các đối tượng bên ngoài, do đó báo cáo của kế toán tài chínhcho biết rất ít về cách ứng xử của chi phí Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhtheo LĐG lại có mục tiêu sử dụng cho các nhà quản trị, do đó qua báo cáo kếtquả theo LĐG có thể hiểu sâu thêm được về phân tích hòa vốn cũng như giảiquyết mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận
2.3 Các tính toán liên quan đến phân tích CVP
2.3.1.Chi phí sản xuất kinh doanh
2.3.1.1 Phân loại chi phí trong phân tích CVP
Chi phí sản xuất kinh doanh là sự biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các haophí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã chi ra cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất định
Trang 8thành như thế nào? Ở đâu ? Chi phí đó liên quan như thế nào đến quyết địnhđang xem xét? Có thể tác động tới chúng như thế nào? Sự khôn khéo trong sửdụng của nhà quản trị được thể hiện ngay từ đầu khâu lựa chọn phương án sảnxuất kinh doanh Việc nhận định và thấu hiểu cách phân loại của từng loại chiphí sẽ giúp cho các nhà quản trị có cơ sở để đưa ra quyết định kịp thời, đúngđắn.
Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động: Việc phân loại chi phí theo
chức năng hoạt động có 2 mục đích chính sau: Xác định rõ vai trò của chi phítrong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp; Cung cấp thôngtin có hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính Theo cách phân loại này chi phíđược phân loại thành:
Chi phí sản xuất: Là toàn bộ chi phí có liên quan đến chế tạo sản phẩmtrong một kỳ nhất định, chi phí sản xuất bao gồm 3 khoản mục sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếpChi phí nhân công trực tiếpChi phí sản xuất chung
Chi phí ngoài sản xuất: Gồm 2 loại chi phí bán hàng và chi phí quản lýdoanh nghiệp
Ngoài việc phân loại chi phí thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sảnxuất trong kế toán quản trị chi phí còn được phân loại thành chi phí thời kỳ (baogồm những chi phí phát sinh trong kỳ kế toán) và chi phí sản phẩm (gắn liền vớicác sản phẩm được sản xuất ra hoặc mua vào để bán lại)
Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí: Việc phân loại chi
phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí có tác dụng thiết thực trong quản
lý chi phí, nó cho biết tỷ trọng của từng yếu tố chi phí để phân tích tình hìnhthực hiện dự toán chi phí sản xuất làm tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phícho sản xuất Theo cách phân loại này chi phí được phân loại thành:
Trang 9 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ chi phí về các loạinguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… mà doanh nghiệp đã sửdụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả và cáckhoản trích theo lương
Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu haotài sản cố định sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệpphải trả cho nhà cung cấp về các dịch vụ mua từ bên ngoài như: điện, nước,điện thoại…
Chi phí phát sinh bằng tiền: Bao gồm toàn bộ chi phí dùng cho hoạt độngngoài sản xuất ngoài 4 yếu tố đã nói trên
Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí: Đây là cách phân loại quan
trọng phục vụ trực tiếp cho việc phân tích CVP Theo cách phân loại này chi phíđược phân thành: CPBĐ, CPCĐ, chi phí hỗn hợp
CPBĐ: Là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ với biến động
về mức độ hoạt động của đối tượng CPBĐ tính cho một đơn vị thì ổn định,không thay đổi, CPBĐ khi không có hoạt động bằng không CPBĐ được phânthành CPBĐ biến đổi đều (tức là tổng CPBĐ tỷ lệ thuận trực tiếp với khốilượng hoạt động) và CPBĐ không đều ( tức là tổng CPCĐ tăng nhanh hoặcchậm hơn khối lượng hoạt động), phân tích CVP giả định rằng tất cả CPBĐ làCPBĐ đều
Đồ thị biểu diễn CPBĐ
CPBĐ đều
CPBĐ không đều
Trang 10 CPCĐ: Là những khoản không biến đổi khi mức hoạt động thayđổi CPCĐ giữ nguyên trong phạm vi phù hợp, phạm vi phù hợp là phạm vigiữa khối lượng tối thiểu và khối lượng tối đa mà doanh nghiệp định sản xuất.CPCĐ chỉ thay đổi khi mức hoạt động vượt qua phạm vi phù hợp Theo cáchnhìn nhận này CPCĐ được phân thành:
CPCĐ tuyệt đối: Là CPCĐ mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi
khối lượng hoạt động, còn chi phí trung bình thì giảm đi Nhưng CPCĐ chỉ xéttrong một khoảng khối lượng hoạt động nhất định
CPCĐ tương đối: Nếu tính đến các yếu tố sản xuất tiềm tàng đã khai thác
tối đa muốn tăng được khối lượng hoạt động cần phải bổ sung đầu tư các khảnăng sản xuất tiềm tàng mới Khi đó xuất hiện chi phí cấp bậc
Trang 11CPCĐ tuyệt đối Chi phí tương đối
CPCĐ bắt buộc: Khi thay đổi mức hoạt động mỗi tổ chức có một số chi
phí bắt buộc có thể không thay đổi trong một số năm Chi phí bắt buộc thườngxuất hiện khi có năng lực sản xuất, công cụ, tổ chức không thể giảm đến không.Chi phí cố định bắt buộc gồm số trả cho thế chấp, cầm cố hoặc thuê, trả lãi dàihạn, thuê tài sản, bảo hiểm, khấu hao TSCĐ, lương cán bộ chủ chốt… Chỉ khi
có các thay đổi rất cơ bản của doanh nghiệp thì loại CPCĐ này mới thay đổi
CPCĐ không bắt buộc: Một số chi phí chỉ cố định ở một mức nào đó theo
ý người quản lý Các chi phí này không có quan hệ rõ ràng với mức đầu ra màchỉ được xác định như một phần của quá trình lập kế hoạch theo một kỳ nào đónhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp Mỗi giai đoạn kế hoạch, người quản lýquyết định sẽ chi một khoản chi phí không bắt buộc, ví dụ: chi phí quảng cáo,nghiên cứu, đào tạo…
Người quản lý có thể dễ dàng chọn chi phí không bắt buộc cho giai đoạn
dự thảo nếu thấy tác dụng của chúng, còn với chi phí bắt buộc thì không thểthay đổi nhanh chóng dù nó không có tác dụng và thậm chí có khi còn cản trởsản xuất Chi phí không bắt buộc cũng quan trọng với việc đạt mục tiêu dài hạn
Q
C
Q C
Trang 12Chi phí hỗn hợp: Bao gồm các thành phần của cả CPCĐ và CPBĐ Nó
giống như chi phí cấp bậc ở chỗ thành phần cố định được xác định bởi vùnghoạt động dự kiến nhưng điểm khác là CPCĐ chỉ có một vùng thích hợp và chỉ
có một mức CPCĐ Thành phần CPBĐ sẽ hoàn toàn biến đổi và tỷ lệ với mứchoạt động trong một vùng thích hợp riêng rẽ và được tính thêm vào với CPCĐ
để có chi phí hỗn hợp
2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh khối lượng
Khối lượng nói lên mức độ hoạt động của đối tượng, tùy vào đặc điểm raquyết định mà chỉ tiêu khối lượng được đo bằng các phương thức khác nhau.Trong kinh doanh chỉ tiêu khối lượng được thể hiện qua: doanh thu, khối lượngsản phẩm, mức dịch vụ, lao vụ
2.3.2.1 Doanh thu
Doanh thu có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.Doanh thu là nguồn quan trọng để đảm bảo trang trải các khoản chi phí hoạtđộng kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp tái sản xuất giản đơn và mởrộng…, nếu doanh thu không đủ bù đắp chi phí bỏ ra doanh nghiệp sẽ gặp khókhăn về tài chính
Doanh thu bao gồm nhiều loại khác nhau, phát sinh từ các hoạt động khácnhau Doanh thu bao gồm: doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch
vụ, doanh thu hoạt động tài chính và doanh thu hoạt động bất thường
2.3.2.2 Sản phẩm
Là khối lượng công việc mà doanh nghiệp đã sản xuất và đã được tiêu thụ
ra ngoài kể cả thành phẩm, nửa thành phẩm và sản phẩm dở dang
2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với doanh nghiệp và là kết quả tàichính cuối cùng của một kỳ kinh doanh Lợi nhuận là kết quả của 3 hoạt độngchính: hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác
Trang 13Tùy vào từng lĩnh vực, mục tiêu quản lý mà ta có thể có các tên gọi lợinhuận khác nhau.
Đối với kế toán tài chính
Lợi nhuận gộp là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần hoạt động sảnxuất kinh doanh với giá vốn hàng bán
Lợi nhuận thuần: Là khoản chênh lệch giữa lợi nhuận gộp với chi phí bánhàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Lợi nhuận hoạt động tài chính: Là khoản chênh lệch giữa thu nhập hoạtđộng tài chính và chi phí hoạt động này
Lợi nhuận bất thường: Là khoản chênh lệch giữa thu nhập bất thường vàchi phí bất thường
Đối với kế toán quản trị
Lãi thuần: Là khoản chênh lệch giữa lãi đóng góp và CPCĐ
2.4 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích CVP
2.4.1 LĐG
LĐG là phần chênh lệch giữa doanh thu và CPBĐ LĐG được dùng trướchết để bù đắp CPCĐ, số dư ra chính là lãi thuần LĐG có thể tính cho tất cả cácloại sản phẩm, một loại sản phẩm hoặc một đơn vị sản phẩm
LĐG tính cho một đơn vị sản phẩm gọi là LĐG đơn vị LĐG đơn vị chính
Trang 14Từ báo cáo kết quả tổng quát trên ta có các trường hợp sau:
Khi doanh nghiệp không hoạt động sản lượng bằng 0, nên lợinhuận của doanh nghiệp P = - b, doanh nghiệp lỗ một khoản bằng CPCĐ
Khi doanh nghiệp hoạt động ở mức sản lượng xHV, là mức sảnlượng tại đó có LĐG bằng CPCĐ, lợi nhuận của doanh nghiệp Pr = 0, doanhnghiệp đạt mức hòa vốn
Trang 15Kết luận : LĐG trước hết dùng để trang trải CPCĐ và một khi sản phẩm
được bán chưa đạt điểm hòa vốn thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ Khi doanh nghiệp đãđạt hòa vốn thì thu nhập thuần túy sẽ tăng dần theo LĐG đơn vị tính cho từngđơn vị sản phẩm bán tăng thêm
Việc sử dụng LĐG cũng có một số nhược điểm sau:
Không giúp cho nhà quản lý có cái nhìn tổng quát ở giác độ toàn
bộ doanh nghiệp nếu doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nhiều loại sản phẩmbởi vìi sản lượng của từng loại sản phẩm không thể tổng hợp ở toàn doanhnghiệp
Làm cho nhà quản lý dễ nhầm lẫn trong việc ra quyết định bởi vìtưởng rằng tăng doanh thu của những sản phẩm có LĐG lớn thì lợi nhuận tănglên nhưng điều này có khi hoàn toàn ngược lại
Để khắc phục nhược điểm của LĐG, cần sử dụng kết hợp khái niệm LĐG vớikhái niệm tỷ lệ LĐG
2.4.2 Tỷ lệ LĐG
Tỷ lệ LĐG là tỷ lệ phần trăm của LĐG tính trên doanh thu hoặc giữa phầnđóng góp với đơn giá bán Chỉ tiêu này có thể tính cho tất cả các loại sản phẩm,một loại sản phẩm hay một đơn vị sản phẩm
Tỷ lệ LĐG = Doanh thuLĐG X 100
= g – ag X 100
Từ những dữ liệu trên trong báo cáo thu nhập ở phần trên ta có:
Tại sản lượng x1, doanh thu gx1, lợi nhuận Pr 1= (g –a ) x1 – b
Tại sản lượng x2, doanh thu gx2, lợi nhuận Pr 2= (g –a ) x2 – b
Trang 16= (g - a)(x2-x1) x g
g
= (g – a)g x (x2 – x1) g
= Tỷ lệ LĐG x Doanh thu tăng lên
Kết luận : Thông qua khái niệm về tỷ lệ LĐG ta thấy được mối quan hệ
giữa doanh thu và lợi nhuận, khi doanh thu tăng lên một lượng thì lợi nhuậncũng tăng một lượng bằng doanh thu tăng lên nhân với tỷ lệ LĐG
Nếu tăng cùng một lượng doanh thu ở tất cả những sản phẩm, những lĩnhvực, những bộ phận… thì ở những bộ phận nào có tỷ lệ LĐG càng lớn thì lợinhuận tăng lên càng nhiều
2.4.3 Đòn bẩy hoạt động kinh doanh
Đối với các nhà vật lý đòn bẩy dùng để lay chuyển một vật rất lớn với lựctác động nhỏ Đối với nhà quản lý, đòn bẩy có nghĩa là bằng cách nào đó doanhnghiệp có thể đạt lợi nhuận với sự tăng nhỏ hơn về doanh số hoặc khối lượngsản phẩm Một trong những loại đòn bẩy mà người quản lý sử dụng để làmđược điều này là đòn bẩy kinh doanh
Đòn bẩy kinh doanh là một thuật ngữ phản ánh về mức độ sử dụng củaCPCĐ trong doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với phầnCPCĐ cao hơn CPBĐ doanh nghiệp đó gọi là có đòn bẩy kinh doanh hơn vàngược lại
Đòn bẩy kinh doanh lớn doanh nghiệp có thể đạt được tỷ lệ tăng cao hơn
về lợi nhuận với một tỷ lệ tăng thấp hơn về doanh thu Đòn bẩy kinh doanh nhỏdoanh nghiệp có tỷ lệ tăng lợi nhuận thấp hơn tỷ lệ tăng doanh thu Đòn bẩykinh doanh cao thì rủi ro cao hơn vì nó có thể cho lãi cao hơn nhưng cũng cóthể cho lỗ lớn hơn Để kiểm soát và sử dụng đòn bẩy kinh doanh phù hợp và cóhiệu quả, các nhà quản lý cần xác định được độ lớn của đòn bẩy kinh doanh
Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh = Tốc độ tăng doanh thuTốc độ tăng lợi nhuận x 100
Trang 17Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh cho biết khi doanh thu tăng 1% thì lãithuần tăng bao nhiêu phần trăm, nên nó là một công cụ để dự kiến lãi ròng.Tại sản lượng x1, doanh thu gx1, lợi nhuận P1= (g –a ) x1 – b
Tại sản lượng x2, doanh thu gx2, lợi nhuận P2= (g –a ) x2 – b
Tốc độ tăng lợi nhuận
∆ Pr = (g –a ) x(g - a)(x2-x1) x 100
1 – bTốc độ tăng doanh thu
2.5 Phân tích điểm hòa vốn
Phân tích điểm hòa vốn là một nội dung quan trọng trong phân tích mốiquan hệ CVP Nó cung cấp thông tin cho nhà quản trị về số lượng sản phẩm cầnphải bán để đạt lợi nhuận mong muốn và thường bắt đầu tại điểm hòa vốn, điểm
mà doanh số không mang lại lợi nhuận Tuy nhiên không một doanh nghiệp nàohoạt động mà không muốn doanh nghiệp mình đạt lợi nhuận cao Vì vậy, phântích điểm hòa vốn có vai trò là điểm khởi đầu để xác định số lượng sản phẩm
Trang 18cần để đạt được lợi nhuận mong muốn nhằm lập kế hoạch cho hoạt động kinhdoanh của mình.
2.5.1 Khái niệm điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ bù đắp hết chi phí hoạtđộng kinh doanh bỏ ra, hay nói cách khác điểm hòa vốn là điểm mà tại đódoanh nghiệp không có lãi cũng không có lỗ
Trên đồ thị phẳng, điểm hòa vốn là tọa độ được xác định bởi khối lượngthể hiện trên trục hoành – còn gọi là khối lượng hòa vốn và bởi doanh thu thểhiện trên trục tung – còn gọi là doanh thu hòa vốn Tọa độ đó chính là giao điểmhòa vốn của hai đường biểu diễn: doanh thu và chi phí Mối quan hệ chi phí,doanh thu và lợi nhuận có thể trình bày bằng mô hình sau:
Doanh thu
Tổng chi phí Lãi thuần hoạt độngNhư vậy, mô hình trên thể hiện:
LĐG = CPCĐ + Lãi thuần
DT = CPBĐ + CPCĐ + Lãi thuần
Theo khái niệm trên điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ bùđắp tổng chi phí, nghĩa là lãi thuần bằng không Nói cách khác, tại điểm hòavốn lãi đóng góp sẽ bằng CPCĐ
LĐG = CPCĐ
Hày Slg (g – CPBĐ đơn vị) = CPCĐ (*)
Phân tích điểm hòa vốn giúp nhà quản trị xem xét kinh doanh trong mỗiquan hệ giữa nhiều yếu tố tác động tới lợi nhuận, xác định rõ ràng vào lúc nào
Trang 19trong kỳ kinh doanh hay ở mức sản xuất và tiêu thụ bao nhiêu sẽ đạt điểm hòavốn, từ đó có các chính sách và biện pháp tích cực chỉ đạo các hoạt động kinhdoanh đạt hiệu quẩ kinh tế cao.
2.5.2 Phương pháp xác định điểm hòa vốn
Tại điểm hòa vốn thì tổng chi phí được bù đắp Khi xác định điểm hòa vốn
là phải xác định số lượng hòa vốn, doanh thu hòa vốn, tỷ lệ hòa vốn, thời gianhòa vốn Có thể xác định điểm hòa vốn theo 2 phương pháp: Phương pháp đại
số hay còn gọi là phương pháp phương trình và phương pháp vẽ đồ thị
Trang 20Gọi số lượng hòa vốn là SLHV Từ phương trình (*) ở phần trên rút ra
Tổng CPBĐ thay đổi tỷ lệ với sản lượng sản phẩm tiêu thụ, nghĩa là giữachúng có mối quan hệ tuyến tính
Đối với các doanh nghiệp chỉ sản xuất hoặc bán một loại sản phẩm hànghóa thì CPCĐ là của loại hàng hóa đó hoặc CPCĐ có thể phân chia được chotừng sản phẩm hàng hóa nếu có nhiều sản phẩm hàng hóa Bởi vậy với cácdoanh nghiệp sản xuất sản phẩm có giá trị tương đối lớn hoặc chuyên môn hóathì dễ dàng tính được số lượng hòa vốn
b Xác định doanh thu hòa vốn
Doanh thu hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu bằng tổng chi phí hoạtđộng sản xuất kinh doanh Nói cách khác, đó là doanh thu tối thiểu cần đạt được
để đủ trang trải các chi phí đã phát sinh trong kinh doanh, phần doanh thu sauhòa vốn là doanh thu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu doanh thu thực hiệntrong kỳ mà thấp hơn doanh thu hòa vốn thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ và ngược lạinếu doanh thu thực hiện trong kỳ cao hơn doanh thu hòa vốn thì doanh nghiệp
sẽ có lãi Doanh thu thực hiện càng lớn hơn doanh thu hòa vốn bao nhiêu thì lãi
SLHV( g – CPBĐ đơn vị) = CPCĐ
SLHV = G – CPBĐ đơn vịCPCĐ
SLHV = LĐG đơn vịCPCĐ (1)
Trang 21thu được càng nhiều bấy nhiêu Doanh thu hòa vốn thông thường được xác địnhtại đầu kỳ hoạt động kinh doanh Doanh thu hòa vốn là doanh thu của sản lượnghòa vốn, do vậy doanh thu hòa vốn được xác định bằng cách lấy sản lượng hòavốn nhân với giá bán
Tỷ lệ LĐGTrong trường hợp doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nhiều mặt hàngkhác nhau thì khó có thể tính riêng CPCĐ cho từng hoạt động, nhưng có thểtính sản lượng hòa vốn cho từng mặt hàng theo các bước sau:
Bước 1: Xác định tỷ lệ kết cấu mặt hàng tiêu thụ
Tỷ lệ kết cấu mặt hàng tiêu thụ là tỷ lệ phần trăm của mỗi mặt hàng trongtổng số các sản phẩm tiêu thụ và có thể được xác định dựa vào số lượng hiệnvật các đơn vị tiêu thụ hoặc dựa vào đơn vị tiền tệ (doanh thu)
Tỷ lệ kết cấu mặt hàng i = Doanh thu mặt hàng i x 100
Tổng doanh thuBước 2: Xác định tỷ lệ LĐG bình quân của các mặt hàng
Bước 3: Xác định doanh thu hòa vốn chung (DTHVC)
DTHVC = Tỷ lệ LĐGCPCĐ
Trang 22Bước 4 : Xác định doanh thu hòa vốn và sản lượng hòa vốn cho từng mặthàng
Doanh thu hòa vốn mặt hàng i
DTHVi = DTHVC x Tỷ lệ kết cấu mặt hàng iSản lượng hòa vốn mặt hàng i
Gọi sản lượng tiêu thụ trong kỳ là SLTT thì tỷ lệ hòa vốn (h) được xác định
h (%) = SLHV x 100
SLTT
= LĐG x SLCPCĐ x 100
TTThông qua tỷ lệ hòa vốn người quản lý có thể đánh giá được doanh nghiệp
có đạt được hòa vốn trong kỳ hay không
Nếu tỷ lệ hòa vốn lớn hơn 1 thì công suất thiết kế không cho phép doanhnghiệp đạt điểm hòa vốn
Nếu tỷ lệ hòa vốn càng nhỏ hơn 1 càng thể hiện năng lực sản xuất củadoanh nghiệp là rất dồi dào, hiệu suất đầu tư cố định cao Doanh nghiệp có thểtăng lợi nhuận mà không cần đầu tư thêm thiết bị lâu bền
Trang 23d Thời gian hòa vốn
Thời gian hoà vốn là thời gian cần thiết để doanh nghiệp sản xuất và tiêuthụ một khối lượng sản phẩm trên thị trường có tổng doanh thu bằng tổng chiphí, doanh nghiệp không có lãi và cũng không bị lỗ
Dựa vào sản lượng
Thời gian hoà vốn = Sản lượng hoà vốn x 12 tháng
Sản lượng tiêu thụ cả nămDựa vào doanh thu
Thời gian hoà vốn = Doanh thu hoà vốn x 12 tháng
Doanh thu bán hàng cả nămVới những doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng tương đối đều đặntheo thời gian thì thường xây dựng thời gian hòa vốn còn các doanh nghiệp kinhdoanh theo mùa vụ thì không xác định thời gian hòa vốn
e Doanh thu an toàn
Doanh thu an toàn còn gọi là số dư an toàn được xác định như phần chênhlệch giữa doanh thu hoạt động trong kỳ so với doanh thu hòa vốn Chỉ tiêudoanh thu an toàn được thể hiện theo số tuyệt đối và số tương đối
Mức doanh thu an toàn = Mức doanh thu đạt được - Mức doanh thu an toàn
Doanh thu an toàn phản ánh mức doanh thu thực hiện đã vượt qua mứcdoanh thu hòa vốn như thế nào Chỉ tiêu này có giá trị càng lớn thì càng thể hiệntính an toàn cao của hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tính rủi ro trong kinhdoanh của doanh nghiệp càng thấp và ngược lại
Doanh thu an toàn được quyết định bởi cơ cấu chi phí Thông thườngnhững doanh nghiệp có CPCĐ chiếm tỷ trọng lớn thì thỉ lệ lãi đóng góp lớn Do
Trang 24vậy nếu doanh số giảm thì lỗ phát sinh nhanh hơn và doanh nghiệp có doanh thu
an toàn thấp hơn
Để đánh giá mức độ an toàn ngoài việc sử dụng doanh thu an toàn cần kếthợp với chỉ tiêu tỷ lệ số dư an toàn
Tỷ lệ số dư an toàn = Mức doanh thu an toàn x 100
Mức doanh thu đạt được
2.5.2.2 Phương pháp đồ thị
Đồ thị của điểm hòa vốn là một hình thức biểu hiện mối quan hệ chi phí khối lượng - lợi nhuận Để vẽ đồ thị điểm hòa vốn ta có các đường sau:
-Trục hoành Ox: Phản ánh mức độ hoạt động (sản lượng)
Trục tung Oy: Phản ánh số tiền hay chi phí
Trang 25Đồ thị tổng quát
Đường tổng doanh thu và đường tổng chi phí cắt nhau tại điểm M Tạiđiểm M với tổng doanh thu bằng tổng chi phí, tương ứng là sản lượng xHV đượcgọi là điểm hòa vốn và xHV được gọi là sản lượng hòa vốn Những giá trị nàocủa x mà nhỏ hơn xHV phản ánh phạm vi sản lượng bị lỗ và ngược lại giá trị nàocủa x lớn hơn xHV phản ánh phạm vi sản lượng có lãi
Ngoài dạng tổng quát của đồ thị hòa vốn, các nhà quản lỹ còn sử dụng đồthị dạng phân biệt Về cơ bản hai dạng này giồng nhau về các bước xác định,các đường biểu diễn, chỉ khác nhau ở chỗ dạng phân biệt có thêm đường biếnphí y = ax song song với đường tổng chi phí yTC = ax + b
Đồ thị hòa vốn dạng phân biệt phản ánh rõ CPCĐ, CPBĐ lãi đóng góp vàlợi nhuận của mối quan hệ CVP Đồng thời cũng phản ánh rất rõ bằng hình vẽkết cấu của mối quan hệ này
Trang 262.6 Hạn chế của phương pháp phân tích CVP
Qua nghiên cứu mối quan hệ CVP ở trên, chúng ta thấy, việc đặt chi phítrong mối quan hệ với khối lượng và lợi nhuận để phân tích đề ra quyết đinhkinh doanh chỉ có thể thực hiện được trong một số điều kiện giả định Nhữngđiều kiện giả định đó là:
Mối quan hệ giữa khối lượng sản phẩm, mức độ hoạt động với chi phí vàthu nhập là mối quan hệ tuyến tính trong suốt phạm vi thích hợp Tuy nhiênthực tế cho thấy, khi sản lượng thay đổi sẽ làm thay đổi cả lợi nhuận lẫn chi phí.Khi gia tăng sản lượng, CPBĐ tăng theo đường cong còn CPCĐ sẽ tăng theodạng gộp chứ không phải tuyến tính như giả định
Phải phân tích một cách chính xác chi phí của doanh nghiệp thành CPCĐ
và CPBĐ Việc phân tích này chỉ mang tính chất gần đúng
Tồn kho không thay đổi trong khi tính toán điểm hòa vốn, tức là lượng sảnxuất bằng lượng bán ra, điều này rất khó thực hiện trong thực tế, bởi vì khốilượng sản phẩm tiêu thụ không chỉ phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm sản xuất
mà còn phụ thuộc vào tình hình tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm như hợpđồng tiêu thụ, chiến dịch tiếp thị, quảng cáo, tình hình thanh toán…
Năng lực sản xuất như máy móc thiết bị, công nhân không thay đổi trongsuốt phạm vi thích hợp Điều này không đúng, bởi vì nhu cầu kinh doanh làluôn phải phù hợp với thị trường Muốn hoạt động hiệu quả, tạo ra nhiều lợinhuận doanh nghiệp phải luôn đổi mới
Giá bán sản phẩm không đổi Tuy nhiên giá bán không chỉ do doanhnghiệp định ra mà còn phụ thuộc quan hệ cung cầu trên thị trường
Trang 27PHẦN III ĐẶC ĐIỂM CÔNG TY VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của công ty TNHH Thương mại Đức Hà
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH Thương mại Đức Hà là một công ty chuyên buôn bán cácloại xe gắn máy do 3 thành viên góp vốn thành lập với số vốn điều lệ ban đầu
là 500.000 triệu đồng
Tiền thân của công ty TNHH Thương mại Đức Hà là một cửa hàng bánbuôn, bán lẻ hàng điện tử, điện lạnh, đồ gia dụng, xe máy và phụ tùng xe máy.Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất và lắp ráp xe máy,nhận thấy nhu cầu xe máy trên thị trường ngày càng cao cộng với việc kinhdoanh ngày càng mở rộng, có lãi lớn, các cá nhân đã góp vốn lại thành lập công
ty TNHH Thương mại Đức Hà
Công ty TNHH Thương mại Đức Hà có giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh công ty TNHH số: 0102000665 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố HàNội cấp ngày 09/06/2000, trụ sở chính đặt tại số nhà 47 Mai Hắc Đế -Hà Nội,văn phòng giao dịch đặt tại tầng 2 số nhà 09, phố Tuệ Tĩnh, Hà Nội Với nhiệm
vụ chủ yếu là cung cấp cho thị trường các loại xe gắn máy hai bánh với nhiềunhãn hiệu khác nhau
Quá trình hoạt động và trưởng thành công ty TNHH Thương mại Đức Hà
đã đạt được những thành tựu đáng kể, trong suốt thời gian thành lập cho tới naycông ty liên tục làm ăn có lãi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhànước Với mong muốn được mở rộng hoạt động kinh doanh hơn nữa ngày 17
Trang 28Hồ Chí Minh nhằm mở rộng thêm thị trường đem sản phẩm của công ty đến vớingười tiêu dùng trên khắp mọi miền của Tổ quốc.
3.1.2 Mô hình tổ chức quản lý của công ty
3.1.2.1 Đặc điểm tổ chức kinh doanh
Là một doanh nghiệp thương mại công ty TNHH Thương mại Đức Hà cónhiệm vụ tổ chức và thực hiện việc mua bán các loại xe máy Trung Quốc, đápứng yêu cầu của người tiêu dùng Việc tổ chức kinh doanh của công ty theo môhình sau:
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức kinh doanh của công ty
Phòng kinh doanh nhận được đơn đặt hàng của các công ty cửa hàng, đại lýbuôn bán xe máy yêu cầu công ty bán cho họ một số lượng xe máy nhất địnhtổng hợp lại trình lên phó giám đốc kinh doanh và giám đốc để tiến hành muahàng
Công ty tiến hành mua hàng theo hợp đồng tại Nhà máy sản xuất và lắpráp xe máy
Hàng hóa công ty mua về có thể chuyển về kho của công ty sau đó chuyểntới địa điểm giao hàng theo yêu cầu trong hợp đồng mua hàng của khách hànghoặc chuyển ngay tới kho của bên mua không qua kho của công ty sao chothuận tiện và tiết kiệm được chi phí mà vẫn đáp ứng yêu cầu giao hàng của bênmua
3.1.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý
Công ty TNHH Thương mại Đức Hà là một đơn vị hạch toán kinh tế độclập, bộ máy quản lý của công ty được tổ chức thành các phòng ban, thực hiệnchức năng quản lý nhất định
Trang 29a Ban giám đốc
Giám đốc công ty là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động cũng như đưa
ra những quyết định chiến lược mang tính chất chiến lược phát triển công ty.Giúp việc cho giám đốc là 2 phó giám đốc và các phòng ban chức năng
Hai phó giám đốc: tham mưu về các mặt kinh doanh, tài chính phụ trách chỉ đạocác phòng ban và chịu trách nhiệm trước giám đốc về các việc làm của mìnhtrên lĩnh vực được giao
b Các phòng ban chức năng
Phòng kinh doanh: Nghiên cứu, tìm hiểu thăm dò và phát triển thị trườngtiêu thụ hàng hóa Xây dựng hệ thống các kênh phân phối, các cửa hàng, đại lý,các chiến lược về giá bán…
Phòng kế hoạch: Có chức năng lập kế hoạch kinh doanh, giao cho các bộphận thực hiện và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch của từng bộ phận
Phòng bảo hành và đăng kiểm: Sau khi công ty tiến hành mua xe từ cáccông ty sản xuất và lắp ráp xe máy hoặc từ các đại lý chính hãng thì phòng bánhàng và đăng kiểm có nhiệm vụ ghi chép số khung, số máy của số lượng xe đãnhập để giao cho khách hàng mua xe phục vụ cho công việc đăng ký xe máycủa người tiêu dùng cuối cùng Đồng thời phòng cũng có nhiệm vụ xem xét việcbảo hành sản phẩm cho khách hàng khi sản phẩm có trục trặc kỹ thuật nằmtrong phạm vi được bảo hành
Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ ghi chép, xử lý và phân tích các sốliệu về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, tổ chức hạch toán các hoạtđộng đúng với chế độ kế toán của Nhà nước, tham mưu cho giám đốc trong hoạtđộng của công ty về mặt tài chính đảm bảo cho công ty hoạt động bình thường
Trang 30Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
3.1.3 Tổ chức bộ máy kế toán của công ty
3.1.3.1.Đặc điểm bộ máy kế toán
Phòng kế toán công ty TNHH Thương mại Đức Hà có chức năng thammưu cho giám đốc trong hoạt động của công ty về mặt tài chính Phòng cónhiệm vụ tổ chức mọi hoạt động liên quan đến công tác tài chính của công ty
Sơ đồ 3: Bộ máy kế toán của công ty
Giám đốc
PGĐ tài chính
Phòng tài chính kế toán
PGĐ kinh doanh
Phòng bảo hành
và đăng kiểm
Phòng
kinh
doanh
Phòng kế hoạch
Kế toán trưởng
Kế toán tiêu thụ và thanh toán
Kế toán
kho
Kế toán quỹ tiền mặt, tiền gửi
Thủ quỹ
Trang 31Nhiệm vụ của mỗi phần hành kế toán:
Kế toán trưởng: Chịu trách nhiệm chỉ đạo chung mọi công việc của phòng
kế toán Thực hiện việc tập hợp số liệu, định kỳ lập báo cáo tài chính theo yêucầu của cơ quan quản lý
Kế toán kho: Theo dõi, tính toán giá thành sản phẩm hàng hóa xuất kho.Làm báo cáo tình hình nhập – xuất – tồn hàng hóa
Kế toán tiêu thụ và thanh toán: Theo dõi việc hạch toán, tiêu thụ sản phẩm,tính doanh thu, lãi lỗ tiêu thụ sản phẩm
Theo dõi tình hình công nợ phải thu, số tiền ứng trước, trả trước của kháchhàng liên quan tới việc tiêu thụ hàng hóa
Theo dõi tình hình thanh toán về các khoản nợ phải trả cho bên cung cấphàng hóa cho công ty theo các hợp đồng đã ký kết
Kế toán quỹ tiền mặt, tiền gửi: Quản lý và hạch toán các khoản vốn vaybằng tiền, có nhiệm vụ phản ánh số hiện có, tình hình tăng giảm các loại quỹtiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản vay ngắn hạn, dài hạn
Thủ quỹ: Làm thủ quỹ của công ty, có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tiềnmặt không để hư hỏng và mất mát xảy ra Chịu trách nhiệm thu chi tiền sau khi
đã kiểm tra và thấy rõ chứng từ đã đủ điều kiện để thu chi Vào sổ quỹ hàngngày và thường xuyên đối chiếu số dư với kế toán quỹ
3.1.3.2 Hình thức kế toán sử dụng
Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính để tiếnhành các hoạt động hạch toán kế toán Phần mềm kế toán sử dụng là phần mềmFast với hình thức ghi sổ được thực hiện là chứng từ ghi sổ
Một số chính sách kế toán ở công ty được áp dụng như sau:
Phương pháp khấu hao: Theo đường thẳng
Trang 32Tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
Trình tự hạch toán trên máy vi tính do kế toán trưởng phân công cho từng
kế toán chi tiết, nhập dữ liệu vào máy và trong quá trình tính toán từ đầu chođến kết thúc được thực hiện theo trình tự, nếu sai sót sẽ được phát hiện và xử lýkịp thời Trình tự luân chuyển chứng từ như sau:
Hàng ngày, căn cứ vào chứng từ kế toán đã được kiểm tra, được dùng làmcăn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi nợ, tài khoản ghi có để nhập dữ liệu vàomáy vi tính theo các bảng, biểu được thiết kế sẵn trên phần mềm kế toán Theoquy trình của phần mềm kế toán, các thông tin được tự động nhập vào sổ cái vàcác sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan
Tùy vào từng thời điểm cần thiết các kế toán viên thực hiện các thao táckhóa sổ theo yêu cầu phần hành của mình
Sơ đồ 4: Trình tự ghi sổ kế toán
Trang 33Để tiến hành một quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệpphải hội đủ 3 yếu tố: lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Trong
đó, lao động là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của doanhnghiệp Việc sử dụng đúng lao động theo chuyên môn và đầy đủ về mặt sốlượng là một trong những nguyên tắc thúc đẩy kinh doanh phát triển Để tìmhiểu tình hình lao động của công ty chúng tôi tổng hợp ở bảng 1
Bảng 1: Tình hình lao động của công ty trong 2 năm
Chỉ tiêu
Số lượng (Người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (Người)
Cơ cấu (%)
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Như vậy tổng số lao động của công ty năm 2006 giảm so với năm 2005 là
7 người, tương đương giảm 17,95% Nguyên nhân của việc giảm lao động trongnăm 2006 là do công ty đã sử dụng phần mềm quản lý doanh nghiệp làm giảm
số lao động trong doanh nghiệp Nhìn chung, số lao động có trình độ đại học,cao đẳng tương đối cao, số lao động có trình độ trung cấp, THPT chiếm tỷ lệnhỏ Năm 2006 mặc dù số lao động trong công ty giảm nhưng số lao động giảmchủ yếu là lao động có trình độ trung cấp (giảm 6 người tương đương với 75%)
Do đặc trưng mặt hàng kinh doanh của công ty là xe máy nên lao động nam
Trang 34trong công ty chiếm ưu thế, năm 2006 chiếm 68,75 % trong tổng số lao độngcủa công ty.
Có thể nói chất lượng lao động của công ty khá cao Đây sẽ là một trongcác yếu tố thúc đẩy quá trình kinh doanh của công ty ngày một phát triển
3.1.5 Tình hình tài sản và nguồn vốn
Tài sản và nguồn vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu của một doanh nghiệp,
là tiền đề cơ sở vật chất đảm bảo cho sự ra đời và hoạt động của tất cả cácdoanh nghiệp
Tài sản thể hiện tiềm lực mà các đơn vị có quyền quản lý và sử dụng,nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kýkinh doanh, về số tài sản được hình thành bằng nguồn vốn vay và trách nhiệmcủa doanh nghiệp phải thanh toán các khoản nợ phải trả đối với các nhà cungcấp, đối với ngân sách Nhà nước và người lao động Như vậy để tạo điều kiệncho công tác quản lý cần xem xét toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo hai hìnhthức biểu hiện là giá trị của tài sản và nguồn hình thành tài sản
Qua bảng 2 cho thấy tổng tài sản của công ty năm 2006 tăng so với năm
2005 là 12,73 % tương đương với 696,71 triệu đồng, trong đó TSLĐ tăng 11,82
% tương đương với 599,9 triệu đồng, TSCĐ tăng 22,61% tương đương 89,6triệu đồng Sở dĩ trong năm 2006 có sự tăng lớn về TSCĐ của công ty là dotrong năm này công ty đã mua thêm nhà kho tại TP Hồ Chí Minh để chuẩn bịcho việc mở chi nhánh tại khu vực phía Nam cũng trong năm này công ty đãmua và đưa vào sử dụng hai phần mềm là phần mềm kế toán và phần mềm quản
lý bán hàng Là một doanh nghiệp thương mại công ty TNHH Thương mại Đức
Hà có tỷ trọng TSLĐ trong cơ cấu tài sản lớn chiếm 92,76% năm 2005 và92,01% năm 2006, do yêu cầu hàng hóa quay vòng nhanh đòi hỏi vốn lưu độngphải đáp ứng kịp thời để có mua hàng hóa giao cho khách hàng
Bảng 2a Tình hình tài sản của công ty qua hai năm