Chính vì lẽ đó, việc dạy và học môn Địa lí một cách khoa học, một cách có hệ thống luôn luôn được đặt ra vì để người học thấm nhuần được những tri thức của khoa học Địa lí thông qua chươ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU VÀ VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TÍNH HỆ THỐNG NHẰM PHÁT TRIỂN
TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng 3
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của đề tài 4
PHẦN NỘI DUNG 5
1 Cơ sở lý luận 5
1.1 Hệ thống khoa học Địa lí 5
1.2 Hệ thống tri thức Địa lí trong nhà trường phổ thông 8
1.3 Đảm bảo tính hệ thống trong việc dạy học môn Địa lí 11
1.4 Đặc điểm tâm lí và quá trình phát triển tư duy học sinh THPT 12
1.4.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi THPT 13
1.4.2 Quá trình phát triển tư duy của học sinh lớp 10 14
1.4.3 Tìm hiểu việc đảm bảo tính hệ thống trong hoạt động dạy học Địa lí tại một số trường THPT ở Đồng Nai hiện nay 16
2 Tìm hiểu và vận dụng nguyên tắc hệ thống bảo đảm tính hệ thống nhằm phát triển tư duy cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 18
2.1 Tổng quan về kiến thức trong SGK Địa lí 10 18
2.2 Kiến thức Địa lí tự nhiên 20
2.3 Kiến thức Địa lí kinh tế xã hội 21
2.4 Liên hệ tính hệ thống trong chương trình THCS 23
2.5 Liên hệ tính hệ thống trong chương trình Địa lí 11, 12 24
2.6 Bảo đảm tính hệ thống trong chương trình SGK Địa lí 10 26
2.6.1.Tính hệ thống theo phần, chương 26
2.6.2.Tính hệ thống theo bài 31
2.6.3 Mối quan hệ liên môn trong dạy học Địa lí 10 43
3 Thực nghiệm sư phạm 46
3.1 Giáo án thực nghiệm 46
3.2 Đề kiểm tra môn Địa lí 55
3.3 Kết quả thực nghiệm 58
PHẦN KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu nhu cầu muốn khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người Ngay từ lúc sinh ra, trẻ con cũng đã luôn luôn tìm cách mở rộng không gian hiểu biết của mình từ cái nôi à ơi, đến cái nhà, cái sân, mảnh vườn của mình, đến khi lớn lên, đó chính là không gian sống, học tập, làm việc và giao tiếp Và khoa học Địa lí cũng bắt đầu hình thành
từ khi con người biết tìm cách khám phá Trái Đất nhằm mục đích sinh sống, chinh phục, tìm kiếm những miền đất mới Con đường phát triển của khoa học Địa lí không phải là một con đường trơn tru, thẳng tắp mà bao gồm những bước thăng trầm, những thời kỳ khủng hoảng và cả các giai đoạn hưng thịnh Khoa họa Địa lí là một trong những khoa học cổ nhất của nhân loại, là một trong những khoa học cơ bản mà ai cũng cần phải học và ít nhiều vận dụng trong đời sống hằng ngày Chính vì lẽ đó, việc dạy và học môn Địa lí một cách khoa học, một cách có hệ thống luôn luôn được đặt ra vì để người học thấm nhuần được những tri thức của khoa học Địa lí thông qua chương trình SGK phải có một quá trình lâu dài từ bậc tiểu học, THCS, THPT, xa hơn nữa là bậc đại học và cả trong thực tiễn đời sống hằng ngày Trong suốt quá trình đó, người giáo viên đóng vai trò cung cấp và hệ thống lại tri thức Địa lí giúp cho học sinh lĩnh hội được những tri thức đó, đồng thời phát triển tư duy của học sinh, nhất là tư duy logic
Trong giai đoạn hiện nay, việc tiến hành giảng dạy một khối lượng kiến thức lớn đến học sinh một cách có hiệu quả thì việc phân tích tính hệ thống cũng như đảm bảo tính hệ thống về kiến thức trong SGK Địa lí 10 là một điều hết sức cần thiết Qua việc phân tích tính hệ thống trong SGK, giáo viên có thể tự tin chuyển tải các kiến thức theo từng chương, từng bài, đồng thời giúp học sinh phát triển tư duy qua hệ thống bài đó
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 4Bài viết này mong muốn đóng góp ý kiến nhỏ trong việc giảng dạy bộ môn Địa lý ở trường THPT và cung cấp những nguyên tắc cơ bản đảm bảo tính
hệ thống nhằm phát triển tư duy cho học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 10 một số trường THPT ở tỉnh Đồng Nai
4 Phương pháp nghiên cứu
Sưu tầm, tổng hợp tài liệu, nghiên cứu sách giáo khoa địa lí THPT và một
số tài liệu liên quan
Liên hệ thực tế, tìm ra các giải pháp phát triển tư duy cho học sinh
Thực nghiệm: tiến hành giảng dạy, kiểm tra mức độ so sánh sự hứng thú tiếp thu bài của học sinh
Trong đề tài có sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, tổng hợp tài liệu, điều tra thực tế…
5 Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng
Chương trình địa lí phổ thông nhưng trong đề tài giới hạn trong khối 10
Ứng dụng nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống vào các bài học trong chương trình địa lí phổ thông và các hoạt động sinh hoạt ngoại khóa trong trường học
Sáng kiến chỉ dừng lại ở mức khái quát, không đi sâu vào từng bài cụ thể,
ở đây chỉ minh họa vài bài trong chương trình địa lí 10
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Hướng tiếp cận: Phân tích tính hệ thống trong chương trình địa lý 10 và mối quan hệ của nó với chương trình THCS và địa lí 11, 12
Phân tích tác động của phương pháp giảng dạy đảm bảo nguyên tắc hệ thống đối với việc phát triển tư duy học sinh, nhất là tư duy logic
Đưa ra các dẫn chứng cụ thể, những ứng dụng trong việc giảng dạy môn Địa lí nhằm đảm bảo tính hệ thống
Trang 5 Xây dựng một số giáo án nhằm ứng dụng trong thực nghiệm theo xu hướng đảm bảo tính hệ thống trong hoạt động dạy học, bước đầu đạt được một
Trang 6Vào thế kỷ II TCN Eratoxten cũng đã chú ý đến việc đo đạc Trái Đất, việc xác định phương hướng và vị trí địa lí, đồng thời mô tả khí quyển, thạch quyển khiến cho địa lí mang tính định lượng, sử dụng toán học, thiên văn học
Đến đầu Công nguyên, vào khoảng năm 58 TCN đến năm 25 SCN, Strabong lại chuyển sang nghiên cứu địa lí nhân văn, chú ý đến các dân tộc và chiều dài của lịch sử Vào thế kỷ thứ 2 SCN, khoa học Địa lí đã có bước thụt lùi với các công trình của Ptoleme (90 – 168 SCN) khi ông đưa ra thuyết “Địa tâm” – Trái đất là trung tâm của thế giới và là một vật thể tĩnh, đứng yên và không quay Học thuyết của ông được Giáo hội ủng hộ và trở thành kinh viện trong suốt thời kỳ Trung cổ Bản đồ cổ nhất thế giới được lưu giữ là một bản đồ bằng đất nung rất nhỏ có tuổi khoảng 2500 TCN, tìm thấy khi khai quật thành phố cổ Gasua, cách Babilon 200 dặm về phía Bắc Hai nhà bản đồ kiêm địa lí sớm nhất
là Anaximandre (610 – 547 TCN) và He1catée (thế kỷ VI TCN) Phần lớn các tập bản đồ thời cổ Hi Lạp được kèm theo các công trình của Hérodote và Strabong
Sang thời kỳ trung cổ, ảnh hưởng khắc nghiệt của Giáo hội chủ yếu diễn
ra ở Châu Âu, các công trình của nền văn minh Hi Lạp đều bị phủ định, cấm đoán và lãng quên Tòa án Giáo hội sẵn sàng xử phạt những nhà khoa học nói
Trang 7những điều không phù hợp với kinh thánh, đối với Địa lí đó là sự phủ nhật Trái đất hình cầu, coi Trái đất là mặt phẳng hay dạng cái dĩa
Thời kì Phục hưng đánh dấu bởi các phát kiến địa lí vĩ đại của Christophe Colomb (1451 – 1506) tìm ra châu Mỹ Đại phát kiến địa lí thứ 2 là chuyến đi vòng quanh châu Phi qua mũi Hảo Vọng để đến Ấn Độ do Vasco de Gama (1469 – 1524) – một người Bồ Đào Nha thực hiện vào năm 1498 Đại phát kiến thứ 3 là chuyến đi vòng quanh thế giới trong 3 năm (1519 – 1522) của một người Bồ Đào Nha làm việc cho vua Tây Ban Nha, Magiellan (1470 – 1521)
Sang thời kì tiền Tư bản chủ nghĩa (thế kỷ XVII – XVIII) và thời kỳ tư bản chủ nghĩa đánh dấu bộ môn Địa lí được đưa vào giảng dạy ngày càng nhiều tại các trường đại học Sự phát triển giáo dục và đào tạo Địa lí khởi đầu từ Đức ,
là ngọn cờ đầu của Địa lí thế kỷ XIX, sau đó đến Pháp và các nước châu Âu khác, còn Anh và Mỹ thì chậm hơn một chút Trường đại học nổi tiếng về Địa lí
là trường đại học Tổng hợp Berlin mà ở đó có Humbon – một nhà khoa học nổi tiếng thế giới đã có nhiều công trình viết về Địa lí, đã từng giảng dạy và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc
Trong thế kỷ XIX, thế mạnh thuộc về các khoa học Địa lí tự nhiên, vì thế Địa lí được xếp chung vào khoa học tự nhiên Điều này được lí giải vì để phát triển kinh tế chưa biết về tự nhiên thì phải đặt việc nắm bắt các điều kiện tự nhiên là nhiệm vụ ưu tiên Địa lí kinh tế hình thành chậm hơn vào cuối thế kỷ XIX Kích thích sự ra đời của Địa lí kinh tế là sự phân công lao động trên lãnh thổ trong sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, là sự phát triển của thống kê học
và của học thuyết về sự định vị các ngành sản xuất vì nghiên cứu phân bố không gian và mô tả thống kê là các xu hướng chính của Địa lí kinh tế Sự phân ngành Địa lí dần dần bộc lộ những nhược điểm khi các công trình phát triển kinh tế -
xã hội hoặc cải tạo tự nhiên ở quy mô lớn Tất cả các nhà nghiên cứu Địa lí nổi tiếng trong thế kỷ XIX có thể tập trung theo 3 khuynh hướng chính đó là khuynh hướng nghiên cứu vùng, nghiên cứu quan hệ con người – môi trường Địa lí và khuynh hướng nghiên cứu cảnh quan
Trang 8Trong nửa đầu thế kỷ XX, khoa học Địa lí không nổi bật như trong thế kỷ XIX Bước vào thế kỷ XX, hầu như mọi nơi trên Trái đất đều đã được tìm hiểu, không còn sự thu hút của các đại phát kiến địa lý Bản thân khoa học Địa lí vẫn thiên về khoa học tự nhiên tuy có chú ý đến tự nhiên và xã hội con người Trong khi đó vào thế kỷ XX, các nhà khoa học xã hội lại phát triển mạnh, đáp ứng các nhu cầu thực tiễn ngày càng đa dạng và thay đổi nhanh chóng của xã hội, còn các yếu tố tự nhiên thì ít thay đổi, cho nên các nhà Địa lí buộc phải tìm hiểu và vận dụng các thành tựu mới của khoa học xã hội nhân văn như kinh tế học, xã hội học, dân tộc học Trong sự lúng túng chung ấy thì giải pháp tình thế là xây dựng các trường phái theo quốc gia, căn cứ vào đặc điểm tự nhiên và nhu cầu riêng trong sự phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi nước mà tìm hướng cho thích hợp
Trường phái Địa lí Pháp được hình thành sớm nhất lấy sự phân hóa theo không gian theo vùng làm nền tảng Người thầy vĩ đại của Địa lí Pháp là Vidal
de la Blache Trường phái Địa lí Đức hình thành muộn hơn, trong số các bộ môn thì cảnh quan học độc đáo hơn cả, có ảnh hưởng sâu rộng đến cả trong và ngoài nước, vì vậy có thể coi trường phái cảnh quan là đặc trưng cơ bản trường phái này
Trường phái Địa lí Nga cũng là một trường phái mạnh ngay từ cuối thế kỷ với khuynh hướng cảnh quan là chính và Địa lí Nga cũng du nhập thuật ngữ cảnh quan (landschaft) của trường phái Địa lí Đức Tuy nhiên, trường phái Nga cũng có những tính cách riêng đó là sự phân biệt rõ giữa Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế, thiên về Địa lí tổng hợp, nghiên cứu các tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên
và các tổng hợp thể lãnh thổ sản xuất, có chỉ tiêu và ranh giới coi như rõ rệt Khác với phần lớn các nước Tây Âu và Bắc Mỹ theo trường phái địa lí thống nhất tự nhiên và kinh tế xã hội Về Địa lí tự nhiên nổi tiếng có Docudaep (1846 – 1903), về Địa lí kinh tế có N.N Baranxki (1881 – 1963) và Kolosopki (1891 – 1954)
Trang 9Trường phái Địa lí Mỹ, do hoàn cảnh lịch sử hình thành rất muộn nhưng lại phát triển rất nhanh, nổi tiếng qua các nhà Địa lí tiêu biểu: R Hartshorene, O.E Backer, C.D Sauer…Ngoài các trường phái kể trên không quốc gia nào có trường phái Địa lí rõ rệt Đa số đều chịu ảnh hưởng của các trường phái Địa lí trên
Vì vậy, Địa lí từ một khoa học thiên về tự nhiên trong nhiều thế kỷ (thế kỷ XVII – nửa đầu thế kỷ XX) đã trở thành một khoa học thiên về khoa học xã hội
Sự biến đổi ấy đã làm cho Địa lí cuối thế kỷ XX thâm nhập vào cuộc sống của mọi người, được mọi người cần đến, từ những nhà chiến lược toàn cầu, khu vực quốc gia đến địa phương cho tới nhà doanh nghiệp hay một người muốn đi du lịch, nghỉ ngơi, giải trí
Lịch sử khoa học Địa lí là một quá trình với những phát kiến vĩ đại, thăng trầm Tuy nhiên, mỗi giai đoạn đều chứa đựng những di sản quý báu của quá khứ, làm cho Địa lí học được củng cố, giữ vững vị trí của mình trong toàn bộ hệ thống các ngành khoa học phong phú và đa dạng
Như vậy, có rất nhiều trường phái địa lí đã được đặt ra Quan điểm nào đúng, quan điểm nào sai đến nay chúng ta vẫn chưa có câu trả lời Tuy nhiên, ở Việt Nam xét về hệ thống khoa học Địa lí đến nay chúng ta vẫn kế thừa tư tưởng
hệ thống khoa học Địa lí theo trường phái Nga bao gồm 2 nhóm: Địa lí tự nhiên
và Địa lí kinh tế xã hội Nhưng trong chương trình địa lí phổ thông, các tư tưởng Địa lí được đan xen, kết hợp với nhau bao gồm cả trường phái Nga và trường phái phương Tây
1.2 Hệ thống tri thức Địa lí trong nhà trường phổ thông
Các tri thức Địa lí trong nhà trường phổ thông bao gồm một hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Địa lí được lựa chọn trong hệ thống tri thức khoa học Địa
lí và được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm cung cấp nội dung học vấn
và giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông
Hệ thống tri thức Địa lí được lựa chọn để đưa vào chương trình học trong nhà trường phổ thông phải là những vấn đề cơ bản nhất, được hiểu là những tri
Trang 10thức thuộc khoa học Địa lí quan trọng nhất, cần thiết nhất giúp cho người học sinh có thể tiếp tục học tập và tham gia vào cuộc sống hiện tại và tương lai
Các kiến thức Địa lí: Là thành phần chủ yếu của nội dung học vấn Địa lí,
phân thành 2 nhóm: các kiến thức thực tiễn (kinh nghiệm) và các lý thuyết
- Các kiến thức thực tiễn (kinh nghiệm): Là những kiến thức phản ánh
những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng Địa lí mà học sinh có thể nhận thức được một cách dễ dàng bằng con đường kinh nghiệm, bao gồm: số liệu, sự kiện, biểu tượng và các mô hình sáng tạo Địa lí
+ Các số liệu và sự kiện trong Địa lí: đa dạng và phong phú Đó là những
kiến thức phản ánh thông tin về các đặc điểm của các sự vật, hiện tượng Địa lí Chẳng hạn như: Các số liệu về dân cư, về độ dài của các con sông, bảng thống
kê sản phẩm của các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp… Vai trò chủ yếu của các số liệu và sự kiện Địa lí là làm cơ sở để minh họa, dẫn chứng để khái quát các kiến thức Địa lí lý thuyết
+ Các biểu tượng Địa lí: Là những hình ảnh về các sự vật, hiện tượng Địa lí
được tri giác, phản ánh vào trong ý thức được giữ lại trong trí nhớ và có khả năng tái tạo theo ý muốn Chẳng hạn như: một con sông ở đầu làng, một bãi biển quê hương, chúng cũng có thể phản ánh những đối tượng Địa lí và lãnh thổ mà các em chưa bao giờ thấy: dãy núi An pơ ở Châu Âu, hoang mạc Sahara ở Châu Phi…
+ Mô hình sáng tạo: Là những mẫu vật cụ thể của việc vận dụng các tri thức
Địa lí vào thực tiễn (nghiên cứu, học tập, đời sống) Vai trò của mô hình sáng tạo có ý nghĩa trực quan và thực tiễn giúp cho học sinh hiểu được cách làm, vận dụng tri thức, mặt khác cũng khơi gợi cho học sinh tư duy sáng tạo…
Các kiến thức lí thuyết: Là những kiến thức được khái quát hóa, phản
ánh bản chất của sự vật, hiện tượng Địa lí với các đặc điểm và mối quan hệ bên trong chúng, bao gồm: các khái niệm Địa lí, các mối quan hệ nhân quả, các quy luật, các thuyết, các tư tưởng, các vấn đề phương pháp luận của Địa lí học, các kiến thức về phương pháp học tập và nghiên cứu Địa lí…
Trang 11- Các khái niệm Địa lí: Là sự phản ánh trong tư duy những sự vật, hiện tượng
Địa lí đã được trừu tượng hóa và khái quát hóa, dựa vào các dấu hiệu bản chất sau khi đã tiến hành các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp), gồm 3 nhóm: Khái niệm Địa lí chung, khái niệm Địa lí riêng và khái niệm Địa lí tập hợp
+ Các khái niệm Địa lí chung: Là những khái niệm được hình thành để chỉ
toàn bộ các sự vật hiện tượng Địa lí cùng loại, có những thuộc tính giống nhau: sông, biển, núi…
+ Các khái niệm Địa lí riêng: Là khái niệm chỉ những sự vật, hiện tượng
Địa lí riêng biệt, ví dụ: Sông Hồng, núi Chứa Chan, Thành phố Biên Hòa…
+ Các khái niệm Địa lí tập hợp: Là những khái niệm Địa lí trung gian giữa
các khái niệm Địa lí chung và Địa lí riêng Ví dụ: “sông” là khái niệm Địa lí chung, sông Hồng là khái niệm Địa lí riêng, “sông Châu Âu”, “sông Châu Á”
là khái niệm Địa lí tập hợp
- Các mối nhân quả Địa lí: Là những mối quan hệ biểu hiện tương quan phụ
thuộc một chiều giữa các sự vật hiện tượng và quá trình Địa lí Các mối quan
hệ nhân quả có thể chia ra:
Các mối quan hệ nhân quả đơn giản và mối quan hệ nhân quả phức tạp
Các mối quan hệ trực tiếp và mối quan hệ nhân quả gián tiếp
- Các quy luật Địa lí: Là những kiến thức được khái quát hóa biểu hiện các mối
quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình Địa lí có bản chất cố định Ví dụ: quy luật địa đới, phi địa đới…
- Các thuyết, tư tưởng và quan điểm địa lý: Là những kiến thức hoặc hệ thống
kiến thức có liên quan đến Địa lí được tập hợp và sắp xếp theo một cách nhìn, cách suy nghĩ nhất định Ví dụ: Quan điểm địa sinh thái, quan điểm kinh tế, thuyết kiến tạo mảng…
- Các kiến thức về phương pháp học tập và nghiên cứu Địa lí: Là một bộ
phận không thể thiếu trong nội dung môn học Địa lí ở nhà trường phổ thông Chúng là cơ sở để hình thành kỹ năng Nếu như không có kiến thức này thì học
Trang 12sinh không có khả năng tự học cũng như vận dụng tri thức vào việc tìm tòi, nghiên cứu các vấn đề
Các kỹ năng, kỹ sảo Địa lý: Là phương thức thực hiện một hành động
nào đó thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Kỹ năng, kỹ sảo Địa lí thực chất là những hành động thực tiễn mà học sinh hoàn thành một cách
có ý thức trên cơ sở kiến thức Địa lí của họ
Kỹ năng được lặp lại nhiều lần trở thành kỹ sảo, gồm 4 hướng sau:
- Kỹ năng làm việc với bản đồ, khai thác kiến thức Địa lí từ bản đồ: xác định
tọa độ Địa lí, xác định vị trí đối tượng trên bản đồ, đọc bản đồ và sử dụng bản
đồ
- Kỹ năng khảo sát các đối tượng Địa lí ngoài thực địa: gồm kỹ năng quan
sát, phân tích hiện tượng, đo đạc với các dụng cụ quan trắc đơn giản về thời tiết
và thổ nhưỡng…
- Kỹ năng nghiên cứu và làm việc với các tài liệu Địa lí: Lập các biểu đồ,
phân tích số liệu thống kê, mô hình, lát cắt…
- Kỹ năng học tập, nghiên cứu Địa lí: làm việc với SGK Địa lí, tài liệu tham
khảo, viết và trình bày những vấn đề Địa lí…
1.3 Đảm bảo tính hệ thống trong việc dạy học môn Địa lí
trong nhà trường phổ thông
Tính hệ thống là dấu hiệu đặc trưng của tri thức khoa học, khi xét đến nguyên tắc này, ta thấy nó yêu cầu đảm bảo không chỉ đối với nội dung dạy học
mà còn có ý nghĩa đối với việc lĩnh hội tri thức của học sinh Tất nhiên, hệ thống tri thức này không nhất thiết phải phản ánh hoàn toàn đúng thực tế của hệ thống khoa học Địa lí, bởi vì chương trình học cũng giống như SGK ở trường phổ thông còn phụ thuộc vào một số yêu cầu nữa về mặt Sư Phạm, nhưng về cơ bản
nó vẫn phù hợp với logic của khoa học Địa lí Chẳng hạn như: Địa lí đại cương được học trước Địa lí khu vực, Địa lí tự nhiên được học trước Địa lí kinh tế xã hội…
Trang 13Giáo viên cần phải quan tâm đến việc nghiên cứu chương trình và SGK không chỉ ở lớp mình, cấp mình đang dạy mà cả ở những cấp, những lớp khác
có liên quan Có như vậy mới thấy được vị trí của giáo trình mình phụ trách trong toàn bộ hệ thống tri thức ở nhà trường phổ thông, mới thấy hết mối liên hệ của nó với các giáo trình khác
Ngoài ra, giáo viên Địa lí cũng còn phải chú ý tìm hiểu các mối quan hệ liên môn, bởi vì trong khi xây dựng chương trình những mối quan hệ liên môn cũng đã được cân nhắc để quy định thứ tự sắp xếp các môn học trong kế hoạch dạy học ở trường phổ thông Điều đó có nghĩa là mỗi môn học đều có những quan hệ về mặt tri thức với các môn học khác, dựa vào các môn đó và phục vụ cho các môn đó Địa lí là môn học có nhiều tri thức liên quan đến các môn toán, sinh, lý, lịch sử, kinh tế…Do đó, việc nghiên cứu hệ thống tri thức của môn Địa
lí không thể tách rời khỏi việc nghiên cứu các mối quan hệ liên môn này
1.4 Đặc điểm tâm lí và quá trình phát triển tư duy học sinh THPT
Một trong hai quá trình của nhận thức lý tính là tư duy Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bên trong thuộc về bản chất, những liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong thực tại khách quan, dẫn tới tri thức mới
Trong cuộc sống con người phải giải quyết nhiều vấn đề có nội dung và giá trị khác nhau Tương ứng với những hoạt động đó tư duy của con người có thể là tư duy hành động trực quan hay tư duy hình ảnh trực quan hoặc tư duy logic trừu tượng
Người trưởng thành thường sử dụng cùng lúc các loại tư duy khác nhau, trong hoạt động thực tế, cả 3 dạng tư duy liên hệ tương hỗ và bổ sung cho nhau Tuy nhiên, các đặc tính riêng của cá nhân, sự phát triển của ngôn ngữ, trí tưởng tượng, mức độ nắm vững các thao tác tư duy… đều ảnh hưởng tới việc cá nhân
đó thiên về loại tư duy nào hơn
Trang 141.4.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi THPT
Trong tâm lí học, lứa tuổi người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc vào tuổi người lớn Đối với đa số thanh niên thì tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14 – 15 tuổi đến 25 tuổi, chia làm 2 thời kỳ:
- Từ 14 – 15 tuổi đến 17 – 18 tuổi: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (thanh niên mới lớn, học sinh)
- Từ 17 – 18 tuổi đến 25 tuổi: Giai đoạn hai của tuổi thanh niên
Như vậy lứa tuổi THPT thuộc giai đoạn đầu của tuổi thanh niên Về đặc điểm cơ thể, đây là thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý Các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng 16 – 17 tuổi, các em trai khoảng 17 – 18 tuổi Sự phát triển thần kinh có thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Nhìn chung, đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khỏe, đẹp Đa số các
em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn Vai trò
xã hội và hứng thú của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi
mà còn biến đổi cả về chất lượng Ở gia đình, thanh niên đã có những quyền lợi
và trách nhiệm của người lớn
Thái độ của học sinh đối với môn học trở nên có sự lựa chọn hơn, các em
đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp
Trang 15Lúc này động cơ thúc đẩy học tập là động cơ thực tiễn (ý nghĩa thực tiễn của các môn học đối với cá nhân, khả năng tiếp thu môn học của các em)
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
Ở tuổi thanh niên, học sinh ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày càng tăng lên rõ rệt, đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ Các em biết tài liệu nào cần ghi nhớ từng câu, từng chữ, cái gì cần hiểu
mà không cần nhớ…Nhưng một số em còn ghi nhớ máy móc, chung chung và còn đánh giá thấp việc ôn tập tài liệu
Do cấu trúc của não khá phức tạp và chức năng của não phát triển, do sự phát triển của quá trình nhận thức và ảnh hưởng của các hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của thanh niên và học sinh có sự thay đổi quan trọng Đó chính
là khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo đối với những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học ở trường Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm đó điều kiện cho các em thực hiện các thao tác tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và trong xã hội Đó chính là cơ sở để hình thành thế giới quan Tuy nhiên hiện nay số học sinh THPT đạt được mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như đã nêu trên còn chưa nhiều Việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên
Như vậy, ở tuổi thanh niên mới lớn, những đặc điểm chung của con người
về mặt trí tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn tiếp tục hoàn thiện
1.4.2 Quá trình phát triển tư duy của học sinh lớp 10
Lớp 10 là giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi thiếu niên (độ tuổi 11, 12 đến
14, 15 tuổi) sang lứa tuổi thanh niên (14, 15 đến 17, 18 tuổi) Đây là giai đoạn đánh dấu sự chuyển biến về sự phát triển nhân cách Nhân cách đang trong giai
Trang 16đoạn được định hình: sự phát triển trong đới sống nội tâm, ý thức rõ rệt hơn về cái tôi
Lớp 10 là lớp đầu tiên của bậc học THPT, đây là năm xây dựng các kiến thức nền cơ bản cho bậc học sau này, nhưng đồng thời cũng ôn lại các kiến thức
đã được giảng dạy trong bậc học THCS Chính vì vậy, các kiến thức được được giảng dạy trong lớp 10 đa số là kiến thức chung Trong độ tuổi này, các em cũng đang phát triển về tư duy, trí não phát triển giúp quá trình tư duy của các em được nâng lên nhiều
Bên cạnh đó, trong giai đoạn này việc hình thành thế giới quan, hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các quy tắc cư xử dần dần xuất hiện Trong giai đoạn này, nhân cách được phát triển tương đối cao thì các em mới có xuất hiện những nhu cầu đưa các tiêu chuẩn, nguyên tắc đó vào một hệ thống hoàn chỉnh Và khi đó đã đưa vào một hệ thống quan điểm riêng thì độ tuổi này không chỉ hiểu về thế giới quan mà còn đánh giá được nó, xác định được thái độ của mình với nó nữa
Một nhu cầu nữa ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy của học sinh của lứa tuổi này chính là nhu cầu giao tiếp Từ lớp 9 chuyển sang lớp 10, thay đổi về môi trường học, thay đổi về bạn bè, nhu cầu giao tiếp trong đám bạn là điều đáng quan tâm Đây là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất Điều quan trọng đối với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi Chính vì vậy, trong công tác giáo dục cũng cần phải chú ý ảnh hưởng của nhóm, hội trong nhà trường
Trong độ tuổi này, giáo viên phải biết cách xây dựng các hoạt động đa dạng, phong phú, hấp dẫn lôi cuốn thanh niên tham gia để phát triển nhân cách một cách lành mạnh, đúng đắn Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tác động đến ý thức của học sinh Và điều cần thiết nhất trong lứa tuổi này là trong tiết dạy của mình, giáo viên phải biết phát huy khả năng sáng tạo của học sinh, phát triển tư duy lí luận và tư duy trừu tượng Làm được điều đó, bài học mới đảm bảo các yêu cầu và mục tiêu đề ra
Trang 171.4.3 Tìm hiểu việc đảm bảo tính hệ thống trong hoạt động dạy học Địa lí tại một số trường THPT ở Đồng Nai hiện nay
Bắt đầu từ năm học 2006 – 2007 là năm đầu tiên bộ sách giáo khoa Địa lí
10 được đưa vào giảng dạy chính thức, và đã thực hiện được 6 năm Tất cả các trường đều thực hiện đúng phân phối chương trình của Bộ giáo dục đào tạo đề ra
là 2 tiết/tuần ở học kỳ I và 1 tiết/tuần ở học kỳ II Các phương pháp dạy học tích cực đều được đưa vào áp dụng tại các trường và mang lại nhiều hiệu quả nhất định Vấn đề đảm bảo tính hệ thống trong hoạt động dạy và học cũng được đặt
ra bởi chương trình mới như thế cùng với phương pháp mới liệu giáo viên có đảm bảo được tính hệ thống không?
Do điều kiện có hạn, việc khảo sát thực trạng trên chỉ được thực hiện tại 3 trường của Đồng Nai: THPT Long Khánh, THPT DL Văn Hiến và THPT TT Trương Vĩnh Ký
Qua tìm hiểu, có một số vấn đề về hoạt động dạy và học đảm bảo tính hệ thống cần lưu tâm như sau:
- Về phương pháp: Các thầy cô trong tổ bộ môn rất chú trọng dạy học
theo phương pháp mới - lấy học sinh làm trung tâm, phát triển tư duy cho học sinh là vấn đề các thầy cô trong tổ bộ môn quan tâm
- Về hình thức tổ chức hoạt động trên lớp: Học sinh đóng vai trò trung
tâm, giáo viên là người hướng dẫn khai thác thi thức, việc sử dụng kênh hình,
hệ thống câu hỏi trong bài học được giáo viên sử dụng triệt để Hoạt động
Trang 18nhóm các em thực hiện khá tốt, qua hoạt động này các em phát huy được tính đồng đội rất cao
- Về thái độ họ tập của học sinh: Các em nhiệt tình tham gia hoạt động
trên lớp học, đối với các câu hỏi khó, cần yêu cầu tư duy thì các em đều chịu khó tìm hiểu và chủ động phát biểu Trong các hoạt động giao việc về nhà sưu tầm tài liệu, làm bài thuyết trình trước lớp cũng được các em tích cực hưởng ứng
Trường THPT DL Văn Hiến
Đây là ngôi trường dân lập thành lập đầu tiên ở tỉnh Đồng Nai, chất lượng khá tốt, trường không thực hiện chia lớp theo phân ban như trường THPT Long Khánh, các em đều học chương trình cơ bản
- Về phương pháp: Các thầy cô trong tổ bộ môn vận dụng cả phương
pháp truyền thống và phương pháp tích cực Nội dung bám sát sách giáo khoa
- Về hình thức tổ chức hoạt động trên lớp: Hoạt động theo cá nhân,
nhóm/cặp được học sinh thực hiện nhằm khai thác tri thức trong bài học Tuy nhiên, hoạt động thảo luận nhóm vẫn chưa thật sự đạt nhiều hiệu quả Hệ thống kênh hình, sơ đồ vẫn chưa khai thác triệt để
- Về thái độ họ tập của học sinh: Các em tích cực trong giờ lên lớp, tích
cực xây dựng bài Nhưng hoạt động tìm hiểu và thuyết trình trước lớp thì chưa nhiều
Trường THPT TT Trương Vĩnh Ký
Đây là ngôi trường tư thục thành lập cách đây 11 năm, hiện nay số lượng lớp cũng khá lớn: 40 lớp, các em đều học chương trình cơ bản
- Về phương pháp: Phương pháp học tập theo hướng tích cực cũng được
thực hiện , hệ thống câu hỏi, kênh hình, kênh chữ được giáo viên quan tâm Tuy nhiên, do đặc thù của học sinh trường là đầu vào không cao lắm nên phương pháp giáo viên thực hiện chủ yếu là diễn giảng Các phương pháp mới
là cặp/nhóm rất khó thực hiện
Trang 19- Về hình thức tổ chức hoạt động trên lớp: Giáo viên hầu như vẫn giữ
vai trò trung tâm, học sinh ít tham gia phát biểu trong giờ học Hệ thống theo bài và theo chương khó thực hiện, các hoạt động tự học và dạy học theo nhóm rất ít
- Về thái độ họ tập của học sinh: Các em ít tham gia vào bài học, chỉ
vài cá nhân tham gia xây dựng bài, như vậy việc nắm bắt kiến thức có hệ thống rất khó thực hiện
Trên đây là vài nhận định về hoạt động dạy và học đảm bảo tính hệ thống tại 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nhận định trên chỉ là bước đầu đưa ra các thuận lợi và khó khăn của các trường Tuy nhiên, tùy vào điều kiện từng trường mà việc dạy và học có sự khác biệt
Vấn đề nêu ra là một chương trình mới và người giáo viên cần phải thực hiện những gì để đảm bảo hoạt động dạy học theo tính hệ thống?
2 Tìm hiểu và vận dụng nguyên tắc hệ thống bảo đảm tính
hệ thống nhằm phát triển tư duy cho học sinh trong dạy học Địa
lí 10
2.1 Tổng quan về kiến thức trong SGK Địa lí 10
Chương trình THPT môn Địa lí được Bộ trưởng Bộ giáo dục ban hành là một bộ phận quan trọng trong tổng thể chương trình môn Địa lí ở trường phổ thông Chương trình Địa lí ở trường phổ thông được thiết kế theo kiểu đồng tâm với ba khối kiến thức cơ bản chủ yếu về địa lí đại cương (tự nhiên và kinh
tế xã hội đại cương), Địa lí thế giới (khu vực và các nước), Địa lí tổ quốc (tự nhiên và kinh tế xã hội) Các kiến thức này bắt đầu được đưa vào từ bậc tiểu học (chủ yếu trong môn tự nhiên và xã hội) dưới dạng đơn giản rồi trở thành môn độc lập ở bậc THCS và được hoàn thiện ở bậc THPT Do đó, chương trình Địa lí 10 là một phần của chương trình Địa lí THPT, một mặt có sự kế thừa, nâng cao các kiến thức đã có ở bậc THCS, mặt khác là tiền đề để trang bị các kiến thức tiếp theo ở lớp 11, 12
Trang 20Chương trình Địa lí 10 bao gồm chương trình cơ bản và chương trình nâng cao Giữa hai chương trình này có sự chênh lệch về thời lượng kiến thức nhưng không đáng kể như chương trình phân ban và được triển khai vào thập niên 90 của thế kỷ XX
Về kiến thức: Chương trình Địa lí 10 cơ bản được cấu tạo bởi hai phần
kiến thức: Địa lí tự nhiên đại cương và kinh tế xã hội đại cương
* Phần tự nhiên đại cương: chiếm ½ thời lượng chương trình Bộ khung
kiến thức cốt lõi được thiết kế bao gồm:
- Bản đồ
- Vũ trụ - Hệ quả chuyển động của Trái đất
- Cấu trúc của Trái đất – các quyển của lớp vỏ địa lí
- Một số qui luật của lớp vỏ địa lí
* Phần địa lí kinh tế xã hội đại cương: chiếm ½ thời lượng chương trình
Bộ khung kiến thức cốt lõi được thiết kế bao gồm:
- Địa lí dân cư
- Cơ cấu nền kinh tế
- Địa lí nông nghiệp
- Địa lí công nghiệp
- Địa lí dịch vụ
- Môi trường và sự phát triển bền vững
Về mặt trình tự thực hiện: trước hết là phần Địa lí tự nhiên đại cương
sau đó đến địa lí kinh tế xã hội
Về nội dung chương trình: So với chương trình Địa lí 10 đại trà (từ năm
2005 -2006 trở về trước), chương trình này hoàn thiện hơn, khoa học hơn, cập nhật hơn Thể hiện ở các vấn đề sau:
Trang 21- Bổ sung toàn bộ kiến thức về Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế xã hội
đại cương, đây có thể xem là kiến thức mới tương đối khó đối với giáo viên và học sinh
- Ngay cả trong bản thân phần Địa lí kinh tế xã hội đại cương, mặc dù đã có sự
kế thừa của chương trình đại trà, nhưng được bổ sung, cập nhật để chương trình hoàn thiện và khoa học hơn
2.2 Kiến thức Địa lí tự nhiên
Về lí thuyết: phần này tập trung vào 4 nội dung:
2.2.2 Vũ trụ - Hệ quả các chuyển động của Trái Đất
Các mội dung chính được đưa vào là Vũ tru, Hệ mặt trời, Trái đất và hệ quả
tự quay quanh trục và quay quanh Mặt trời của Trái đất
2.2.3 Cấu trúc của Trái đất – Các quyển của lớp vỏ địa lí
- Cấu trúc của Trái đất – Thạch quyển – Thuyết kiến tạo mảng
- Tác động của nội lực, ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất
2.2.3.1 Khí quyển
Các nội dung chính bao gồm: Khí quyển, sự phân bố nhiệt độ không khí, sự phân bố khí áp, một số loại gió chính, ngưng đọng hơi nước và mưa
2.2.3.2 Thủy quyển
Các nội dung chính bao gồm: tuần hoàn của nước trên Trái đất, một số nhân
tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông, một số sông lớn trên thế giới, sóng, thủy triều và dòng biển
Trang 222.2.3.3 Thổ nhưỡng quyển và sinh quyển
Các nội dung chính bao gồm: Khái niệm thổ nhưỡng và sinh quyển, các nhân
tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của thổ nhưỡng và sinh quyển
2.2.4 Một số quy luật của lớp vỏ địa lí
Khái quát lớp vỏ địa lí, ba quy luật: thống nhất và hoàn chỉnh cảu lớp vỏ địa
lí, quy luật địa đới và phi địa đới
Về mặt thực hành: các nội dung đều tập trung vào việc làm rõ lý thuyết,
rèn luyện kỹ năng đọc và phân tích bản đồ qua các thành phần tự nhiên, số liệu thống kê, phân tích biểu đồ
Nội dung mới và khó: Bản thân kiến thức là tương đối trừu tượng, đòi
hỏi phải tư duy nhiều hơn GV trước năm học 2005 - 2006 không phải dạy phần Địa lí tự nhiên, do đó, khi dạy phần này nhiều GV thấy lúng túng HS phải kế thừa những kiến thức từ lớp 6 và 7 thì mới tiếp thu được nội dung này Hơn nữa
về mặt tâm lí, môn Địa lí lâu nay được xếp vào các môn xã hội, đối với các học sinh học không tốt các môn tự nhiên, học sinh ở vùng sâu vùng xa sẽ gặp nhiều khó khăn
2.3 Kiến thức Địa lí kinh tế xã hội
Về lí thuyết: phần này tập trung vào 6 nội dung:
2.3.1 Địa lí dân cư
Các nội dung cơ bản về Địa lí dân cư: dân số, sự gia tăng dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, các loại hình quần cư và đô thị hóa
2.3.2 Cơ cấu nền kinh tế
Các nội dung cơ bản được đưa vào là: nguồn lực phát triển kinh tế xã hội
và cơ cấu nền kinh tế
2.3.3 Địa lí nông nghiệp
Trang 23Các nội dung cơ bản về địa lí nông nghiệp là: vai trò, đặc điểm, các nhân
tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp, một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
2.3.4 Địa lí công nghiệp
Các nội dung cơ bản: vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố công nghiệp, địa lí một số ngành công nghiệp chủ yếu, một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp
2.3.5 Địa lí dịch vụ
Các nội dung cơ bản: vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành dịch vụ
2.3.6 Môi trường và sự phát triển bền vững
Hai nội dung cơ bản trong chương trình gồm môi trường và tài nguyên thiên nhiên, môi trường và sự phát triển bền vững
Về thực hành: Nội dung đi vào phân tích số liệu thống kê, xây dựng biểu
đồ trên cơ sở số liệu cho trước, phân tích bản đồ dân cư, bản đồ địa lí kinh tế xã hội
Nội dung mới: Nội dung SGK 10 trước năm 2005 – 2006 và SGK 10
phần địa lí kinh tế xã hội giống nhau, tuy nhiên, SGK hiện nay có một số phần mới như sau:
- SGK Địa lí 10 trước năm 2005 – 2006 gồm 27 tiết, phân phối 1 tiết/tuần, SGK
Địa lí 10 theo chương trình chuẩn gồm 22 tiết (1,5 tiết/tuần) Như vậy, thời lượng phần địa lí kinh tế xã hội chương trình chuẩn ít hơn 5 tiết
- Về cấu trúc: Các chương, bài của phần địa lí kinh tế xã hội được sắp xếp trong SGK Địa lí hiện hành hợp lí hơn, hệ thống và cập nhật hơn
- Về nội dung: SGK chương trình chuẩn phần địa lí kinh tế xã hội thay đổi theo một số hướng chính là:
+ Bổ sung những nội dung mới trước đây chưa đưa vào SGK
Trang 24* Cơ cấu nền kinh tế: Các nguồn lực để phát triển kinh tế, các bộ phận hợp thành cơ cấu nền kinh tế
* Địa lí dịch vụ: Có thêm bài thông tin liên lạc (hiện nay đã đưa vào giảm tải)
* Môi trường và sự phát triển bền vững
+ Trên cái nền về Địa lí kinh tế xã hội đã bổ sung thêm và nhấn mạnh đến tổ chức lãnh thổ
+ Hiện đại hóa và cập nhật kiến thức: Trong SGK Địa lí 10 cũ chưa có hiện đại hóa và cập nhật hóa, chẳng hạn như trong phần Địa lí công nghiệp đã xuất hiện khái niệm công nghiệp hóa, tách công nghiệp điện tử tin học ra khỏi ngành công nghiệp cơ khí
2.4 Liên hệ tính hệ thống trong chương trình THCS
Chương trình THCS gồm các lớp 6, 7, 8, 9 và được đưa vào giảng dạy từ năm 2001 – 2002, bắt đầu từ lớp 6 Nếu SGK cũ chỉ có hai màu chủ đạo là đen
và trắng thì SGK mới được in các hình màu trên giấy khổ lớn, dễ gây sự chú ý
và hứng thú cho học sinh Nội dung của chương trình Địa lí 6 và 7 cũng chính là
cơ sở cho Địa lí 10 Xét trong cấu trúc chương trình SGK Địa lí 6 chúng ta có
thể thấy trong hai chương của lớp 6: “Chương I – Trái đất, chương II – Các thành phần tự nhiên của Trái đất” thì đến phần Địa lí 10, nội dung đó được đề
cập trong 3 chương (I, II và III) nhưng trình bày sâu hơn và tỉ mỉ hơn Để nắm được phần tự nhiên 10 thì cần phải có nền tảng từ lớp 6 Tương tự như vậy để nắm được phần Địa lí kinh tế xã hội 10 thì phải có nền tảng từ lớp 7 Đó chính là
sự kế thừa kiến thức một cách liền mạch, đảm bảo tính hệ thống theo từng bậc học, cấp học phù hợp với tâm sinh lí của lứa tuổi, cũng như khả năng tiếp thu của các em trong từng độ tuổi khác nhau Sự sắp xếp hệ thống kiến thức theo từng cấp học như thế vừa đảm bảo tính vừa sức, tính khoa học, tính hệ thống cũng như tu duy cho học sinh Tư duy học sinh sẽ phát triển dần theo hệ thống kiến thức, tư duy ghi nhớ, định hình, mô tả, phân tích tổng hợp sẽ giúp học sinh phát triển tư duy một cách logic
Trang 25Chương trình Địa lí 8 và 9 đề cập nhiều đến các châu lục và Địa lí Việt Nam, qua phần này học sinh có cái nhìn khái quát về đặc điểm tự nhiên, dân cư
và kinh tế xã hội của các châu lục dựa trên nền tảng kiến thức đại cương đã học
từ lớp 6 và 7
Xét một cách một cách tổng thể chương trình môn Địa lí ở bậc THCS được xây dựng theo kiểu đồng tâm với 3 khối kiến thức chính gắn với Địa lí đại cương, Địa lí thế giới và khu vực, Địa lí Việt Nam Các kiến thức này bắt đầu đưa vào từ bậc tiểu học ở dạng đơn giản rồi đến THCS trở thành môn độc lập, khi đến THPT những kiến thức này trở thành hoàn thiện tạo thành chương trình thống nhất và logic
2.5 Liên hệ tính hệ thống trong chương trình Địa lí 11, 12 2.5.1 Chương trình SGK Địa lí 11
Phần thứ nhất xúc tích và ngắn gọn tập trung vào 3 nội dung:
- Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế xã hội của các nhóm nước trên thế giới Hiện nay có trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau Dựa vào một số tiêu chí, chia làm 2 nhóm nước: phát triển và đang phát triển
- Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa là những xu thế tất yếu trong thời đại hiện nay mà chương trình đã lựa chọn để đưa vào
- Một số vấn đề mang tính toàn cầu như: bùng nổ dân số, già hóa dân số,ô nhiễm môi trường và hậu quả của nó
Phần thứ hai đề cập đến Địa lí khu vực và một số quốc gia trên thế giới
- Đối với khu vực (Liên minh Châu Âu, Đông Nam Á, Tây Nam Á và Trung Á, Châu Phi, Mỹ Latinh), các nội dung này cập nhật và khoa học hơn
- Đối với các quốc gia gồm: Hoa Kỳ, Liên Bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia, Đức (ban cơ bản), Ban xã hội nhân văn có thêm Ấn Độ, Brasil,
Ai cập và Pháp
Trang 26Như vậy, chương trình Địa lí 11 có sự kế thừa và nâng cao kiến thức ở bậc THCS và ở lớp 10, đồng thời góp phần trang bị kiến thức cho Địa lí Việt Nam ở lớp 12
Nếu xét chương trình Địa lí 7 và 8, các em đã được học về thiên nhiên và con người các châu lục Đây chính là cơ sở để lên lớp 11 các em tiếp tục tìm hiểu về các quốc gia tiêu biểu của các khu vực Kiến thức địa lí kinh tế xã hội đại cương 10 chính là cơ sở để các em tìm hiểu đặc điểm kinh tế xã hội thế giới
và quốc gia
Ví dụ: Khái niệm dân số già, dân số trẻ được vận dụng để tìm hiểu đặc điểm dân số của các nhóm nước phát triển và đang phát triển Khái niệm cơ cấu khu vực kinh tế được sử dụng thống nhất gồm các ngành: Nông lâm ngư nghiệp (khu vực I), công nghiệp - xây dựng (khu vực II) và dịch vụ (Khu vực III), được
sử dụng trong bài “Đông Nam Á”, tiết 2 “Kinh tế”
Một số phần trong chương trình Địa lí 8 các em đã học, nhưng sang chương trình Địa lí 11, các em sẽ có cái nhìn kĩ hơn về các vấn đề này
2.5.2 Chương trình SGK Địa lí 12
Phần thứ nhất trang bị các kiến thức về Địa lí tự nhiên Việt Nam: Vị trí địa lí, lịch sử hình thành lãnh thổ, đặc điểm chung tự nhiên, vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên
- Khác với chương trình Địa lí 8 cung cấp các kiến thức về thành phần tự nhiên cũng như sự phân hóa của chúng theo lãnh thổ, phần này trong chương trình Địa lí 12 có tầm khái quát ở mức độ cao hơn, đi sâu vào đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam
Phần thứ hai: Cung cấp các kiến thức về Địa lí dân cư (đặc điểm dân số, lao động, việc làm, đô thị hóa và chất lượng cuộc sống)
Phần thứ ba: Cung cấp các vấn đề về Địa lí kinh tế và được sắp xếp dưới dạng: Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc và dịch vụ
Trang 27Chương trình Địa lí 9 đã trình bày tất cả các ngành kinh tế của nước ta, do
đó trong chương trình này một mặt đi sâu hơn về Địa lí các ngành kinh tế (tổ chức lãnh thổ), chọn lọc các vấn đề tiêu biểu của ngành Trong phần này, các vấn đề về tổ chức lãnh thổ công nghiệp và nông nghiệp trong SGK Địa lí 10 được sử dụng khá nhiều
Phần thứ tư: Các vấn đề phát triển kinh tế xã hội của các vùng
Phần thứ năm: Địa lí địa phương
Như vậy, chương trình Địa lí 12 có sự kế thừa khá nhiều khái niệm được trình bày trong SGK 10, chính vì vậy, việc nắm được tính hệ thống trong chương trình SGK các bậc học là điều rất cần thiết Điều đó giúp cho giáo viên vừa ôn lại kiến thức cũ cho học sinh vừa không mất quá nhiều thời gian cho việc dạy lại kiến thức cũ mà dành thời gian phân tích kiến thức mới
2.6 Bảo đảm tính hệ thống trong chương trình SGK Địa lí 10
Nói đến tính hệ thống của một chương trình, chúng ta thường nghĩ ngay đến trình tự, cấu trúc của chương trình đó Trong việc dạy học Địa lí 10, việc đảm bảo tính hệ thống theo phần, theo chương, theo bài và theo mối quan hệ kiên môn là những vấn đề cần được chú ý Để làm được điều đó, giáo viên cần
có sự tìm hiểu và phối hợp giữa các yếu tố trên vì chúng có sự liên quan mật thiết với nhau, gắn bó, thống nhất với nhau để tạo nên tính hệ thống trong chương trình SGK Địa lí 10 Vì vậy, khi nghiên cứu từng yếu tố, chúng ta không thể tách rời chúng để nghiên cứu riêng biệt mà phải đặt chúng trong một thể thống nhất Làm như vậy, chúng ta mới có thể phát triển tư duy cho học sinh được
2.6.1.Tính hệ thống theo phần , chương
Cấu trúc và nội dung
Về cấu trúc, nội dung SGK Địa lí 10 gồm 2 phần: phần Địa lý tự nhiên và địa lí - xã hội
Trang 28+ Phần Địa lí tự nhiên gồm 4 chương, 21 bài (trong đó riêng bài 9 là 2 tiết, còn lại các bài đều 1 tiết), bao gồm 18 bài lí thuyết và 3 bài thực hành
Cấu trúc của phần địa lý tự nhiên như sau:
Bảng 2.1 :cấu trúc của phần địa lý tự nhiên
+ Phần địa lý kinh tế- xã hội gồm 6 chương, 21 bài (trong đó có 17 bài lý thuyết và 4 bài thực hành)
Cấu trúc cụ thể của phần địa lý kinh tế-xã hội như sau:
Trong đó
Lý thuyết Thực
hành
Trang 29Để đảm bảo dạy học theo tính hệ thống theo chương trình trước hết phải nắm được cấu trúc của từng chương theo phân phối chương trình như trên Từ
đó, người giáo viên muốn đưa ra kế hoạch giảng dạy theo từng năm, theo học kì, theo tháng và theo tuần như vậy giáo viên sẽ đảm bảo cấu trúc của bài Việc lập
kế hoạch và xây dựng cấu trúc bài theo chương giúp người giáo viên dễ dàng liên hệ về hệ thống nội dung theo chương Từ đó dễ dàng chuyển tải kiến thức đến học sinh một cách logic
2.6.1.1.Xác định phương pháp dạy học để đảm bảo tính hệ thống theo phần, chương
Để đảm bảo tính hệ thống trong từng phần người giáo viên cũng phải áp dụng phương pháp dạy học thích hợp
Ví dụ như: trong phần địa lí tự nhiên đã có định hướng rõ rệt về việc đổi mới phương pháp dạy học những định hướng này đã được thể hiện qua việc giảm kênh chữ, tăng kênh hình và câu hỏi bài tập nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh Qua dó phát triển tư duy cho học sinh Tuy nhiên đó cũng chỉ là những phần cứng trong bài dạy, điều quan trọng là giáo viên tùy theo từng bài
cụ thể, phải lựa chọn một (hoặc 1 số) phương pháp sao cho thích hợp với nội dung của bài và với điểu kiện cụ thể của trường và địa phương mình.đó cũng chính là “phần mềm” tạo nên sự khác biệt trong phương pháp giảng dạy của từng người Nếu nắm vững tính hệ thống giáo viên có thể vận dụng được tối đa trong phương pháp giảng dạy của mình để liên hệ về nội dung giữa 2 phần Địa lí Kinh tế - xã hội Và Địa lí tự nhiên
Về phần địa lí kinh tế xã hội, cà SGK và SGV đã chú trọng đến việc định hướng phương pháp dạy học dựa trên tinh thần đổi mới theo những nét đặc trung của bộ môn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS Điểu này thể hiện rất rõ trong việc giảm bớt kênh chữ, tăng kênh hình với hệ thống bản
đồ, biểu đồ, sơ đồ, các bảng số liệu, hình ảnh và nhiều câu hỏi bài tập trong bài
và cuối bài
Trang 30Như vậy, nhìn chung để giảng dạy phần địa lí kinh tế-xã hội và Phần Địa
lí tự nhiên có 2 nhóm phương pháp dạy học chính có thể đem lại hiệu quả cao:
đó là nhóm phương pháp phát huy tính chủ động tích cực của học sinh và nhóm phương pháp với sự hỗ trợ của các phương tiên và thiết bị dạy học hiện đại
Nhóm phương pháp phát huy tính chủ động tích cực của học sinh coi trọng quá trình tự nhận thức, tự khám phá chứ không thụ động tiếp nhận kiến thức đã được giáo viên sắp đặt GV đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức các hoạt động dạy học Để làm được điều này GV cần suy nghĩ tìm ra phương pháp thích hợp với từng bài cụ thể GV nên phối hợp các phương pháp khác nhau (thảo luận, hoạt động nhóm, động não, nghiên cứu tình huống…) để có thể tác động vào việc khai thác năng lực chủ động, tích cực học tập của học sinh
Nhóm phương pháp với sự hỗ trợ của các thiết bị và phương tiện hiện đại Đây cũng là những phương pháp đem lại hiệu quả cao Các thiết bị và phương tiện dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai vào các hoạt đông tích cực, chủ động của học sinh Các thiết bị dạy học bao gồm Alat, bản đồ giáo khoa treo tường, các sơ đồ, biểu đồ, cùng với các phương tiện hiện đại như máy chiếu đa năng, các băng hình, các đĩa CD ROM,… các thiết bị phương tiện này giúp cho học sinh thực hiện các hoạt động cá nhân hay theo nhóm để tự khám phá kiến thức
Ví dụ: Khi dạy chương II-vũ trụ Hệ quả các chuyển động của Trái đất
bao gồm hai bài 5 &6, người GV có thể yêu cầu HS tìm hiểu lại các kiến thức đã được học trong chương trình Địa lí 6, đồng thời sưu tầm một số hình ảnh, phim
về chương này Từ đó, trên cơ sở tim hiểu của học sinh, người GV định hướng kiến thức cho các em trong bài dạy Bên cạnh đó, đưa thêm các phim ảnh mà
GV đã sưu tầm trước đó để tăng thêm tính trực quan cho bài học
Ngoài ra, trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, GV nên lưu ý một vài điểm sau đây:
+ Phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của học sinh
Trang 31+ Kết hợp giữa làm việc cá nhân (trên lớp, chuẩn bị bài ở nhà) với hoạt động theo cặp, nhằm khuyến khích học sinh động não, tìm tòi, khám phá để bộc lộ nhận thức của mình dù có thể chưa chính xác
+ Tăng cường phát hiện mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng tự nhiên Đó cũng chính là đảm bảo tính hệ thống trong chương và bài học
+ Chú ý khai thác có hiệu quả kênh hình, câu hỏi – bài tập trong SGK, Alat cũng như các thiết bị và phương tiện dạy học tiên tiến
2.6.1.2 Hệ thống kênh hình theo phần, chương
Hệ thống kênh hình trong SGK năm nay là đã được đánh giá là đã tăng đáng kể so với SGK từ các năm trước Việc áp dụng phương pháp dạy học theo hương tích cực đã thúc đẩy người GV tăng cường sử dụng kênh hình trong giảng dạy Đặc biệt đối với phần địa lí tự nhiên, những kiến thức mới trừu tượng làm cho HS khó có thể liên tưởng khi chưa một lần được nhìn thấy Vì thế, việc xây dựng hệ thống các tranh ảnh, sơ đồ trong SGK, người GV cũng cần phải sưu tầm các hình ảnh khác giúp cho việc giảng dạy trở nên sinh động, hấp dẫn
Đối với phần Địa lí kinh tế-xã hội, hệ thống các kênh hình lại càng cân thiết, mặc dù các hoạt động kinh tế- xã hội đã trở nên gắn bó mật thiết với cuộc sống con người nhưng những khái niệm khó hoặc trừu tượng, hay khi diễn tả sự phân bố của đới tương kinh tế-xã hội thì hình ảnh sơ đồ là những vật dụng không thể thiếu trong hoạt động giảng dạy
Ví dụ: Khi dạy chương VIII-Địa lí Công nghiệp, để diễn tả sự phân bố
của các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, GV sử dụng các hình 32.3,32.4 trang 123, hay hình 32.5 trang 124 và hình 32.9 trang 130 bên cạnh
đó, việc sử dụng các sơ đồ để diễn tả khái niệm” Hình thức lãnh thổ công nghiệp” trong bài 33-Một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp là điều hết sức cần thiết, vì đầy là một khái niệm mới trong chương trình SGK Địa lí 10.có như thế việc hình dung và nắm bắt kiến thức của HS mới trở nên có hiệu quả
Sau khi lên kế hoạch giảng dạy và phương pháp giảng dạy cần thiết, thì nhiệm vụ của người giáo viên là phải tổng hợp hệ thống các kênh hình trong