1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN một số HÌNH THỨC SINH ĐỘNG hóa bài GIẢNG lớp 10 PHẦN địa lý tự NHIÊN

38 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 4,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học K.D.Usinxky cũng nói “Việc dạy học không dựa trên những biểu tượng trừu tượng mà dựa trên những hình ảnh cụ thể do học sinh trực tiếp tri giác được : những hình ảnh này hoặ

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1 : MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Giới hạn của đề tài 3

PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Xu hướng chung của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay 4

1.2 Quá trình nắm tri thức của học sinh 4

Chương 2 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2 1 Thực trạng dạy và học Địa Lí hiện nay ở trường THPT 6

2.2 Nhận định chương trình Địa Lí tự nhiên lớp 10 ban Cơ bản 8

2.3 Một số hình thức sinh động hĩa bài giảng lớp 10 phần Địa Lý tự nhiên 10

PHẦN 3 : KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT 36

Tài liệu tham khảo 38

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Trong nhà trường và ngồi xã hội, nhiều người nghĩ Địa lý là mơn học khơ khan, kiến thức rộng, vừa thuộc lĩnh vực tự nhiên vừa thuộc lĩnh vực xã hội Thực chất đây là một môn học lí thú và hấp dẫn, liên quan đến nhiều mặt trong đời sống thực tế thế nhưng hiện nay vẫn bị xem là kém quan trọng Nhiều học sinh cịn thờ ơ, lãnh đạm, thiếu sự háo hức, đam mê tìm tịi, khám phá Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông là rất cần thiết, là yếu tố quan trọng khơi dậy niềm say mê, hứng thú học tập của các em

Vì lý do đó, trong các tiết dạy của mình ở nhà trường phổ thông, tôi đã cố gắng tìm mọi cách để khơi gợi hứng thú học tập của học sinh với môn Địa Lý bằng nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là đối với lớp 10 và 11 Một trong những giải pháp tôi thường xuyên áp dụng là ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy một cách có chọn lọc Ngoài ra tôi còn tổ chức nhiều hình thức dạy học khác nhau trong giờ giảng nhằm khơi gợi hứng thú và sự quan tâm thực sự của học sinh

Trong phạm vi đề tài này, xin trình bày một số hình thức làm sinh động bài giảng trong chương trình Địa Lý tự nhiên khối 10 THPT

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài, làm rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu của việc đổi mới hình thức tổ chức trong dạy học Địa Lí

- Phân tích thực trạng giảng dạy chương trình Địa Lý trong nhà trường PT hiện nay, nguyên nhân của thực trạng đĩ

- Trình bày một số hình thức tổ chức dạy học làm sinh động giờ dạy trong chương trình Địa Lý tự nhiên lớp 10

- Đề xuất một số giải pháp

Trang 3

3 Phương pháp nghiên cứu :

 Phương pháp tham khảo, nghiên cứu tài liệu

 Phương pháp sưu tầm, lưu trữ, xử lý thông tin

 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

4 Giới hạn của đề tài :

Phạm vi nghiên cứu :

- Đề tài giới hạn việc nghiên cứu, tìm hiểu và mở rộng kiến thức về việc đổi mới tổ chức dạy học ở một số bài học tiêu biểu trong chương trình Địa Lý tự nhiên lớp 10

Đối tượng nghiên cứu :

- Các giờ dạy Địa Lý tự nhiên tiêu biểu (các bài 5,6,8,12,15)

- Học sinh lớp 10 chuyên và khơng chuyên

Trang 4

UNESCO đã nêu ra 4 trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, đó là “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”, đồng thời yêu cầu “giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp giảng dạy mới nhất” “nhằm làm cho mỗi người trở thành người dạy và kiến tạo nên sự tiến bộ văn hoá của bản thân mình”

Theo đó, nhiệm vụ của nhà trường là phải đào tạo những con người có năng lực tự học,

tự bồi dưỡng tri thức, người giáo viên “dạy chữ đồng thời dạy cả kĩ năng, tri thức, thái độ để con người có thể thích nghi, sáng tạo cuộc sống”

Tuy nhiên, chất lượng giáo dục ở nước ta hiện chưa bắt kịp được yêu cầu của thời đại mới Tình hình thế giới và Việt Nam hiện nay đặt ra yêu cầu phải đổi mới giáo dục một cách toàn diện theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh thông qua việc sử dụng các phương tiện, phương pháp hiện đại, phù hợp với từng bộ môn, trong đó có môn Địa Lí

Đặc trưng của bộ môn Địa Lí là gần gũi với đời sống thực tế nhưng nhiều khi học sinh lại không thể tiếp xúc, quan sát trực tiếp mà phải tư duy, tưởng tượng gián tiếp Để nắm được các sự vật, hiện tượng cụ thể làm nền tảng cho hoạt động tư duy, học sinh cần phải được tiếp cận với các loại tư liệu khác nhau Có thể nói, trong dạy học Địa Lí, việc đưa tư liệu trực quan vào bài giảng là điều cần thiết và tất yếu Vấn đề này dù đã được chú ý đến trong sách giáo khoa các lớp nhưng vẫn còn nhiều hạn chế chưa được quan tâm đúng mức

1.2 Quá trình nắm tri thức của học sinh :

Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người Ban đầu, nhận thức còn đơn giản, cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức của con người

Trang 5

ngày càng phát triển đa dạng, phong phú và sâu sắc, thể hiện tính khoa học và khách quan hơn

Theo Lênin, nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất là nhận thức cảm tính thông qua hệ thống các giác quan, vì vậy mang tính chủ quan Giai đoạn thứ hai là nhận thức lý tính Trong giai đoạn này bằng sức mạnh của tư duy trừu tượng con người sẽ rút ra được những khái niệm, quy luật

Quan điểm trên đã khẳng định rằng thực tiễn là điểm xuất phát và là cơ sở của quá trình nhận thức Thực tiễn càng sinh động thì tính chính xác trong nhận thức càng

cao Trong dạy học K.D.Usinxky cũng nói “Việc dạy học không dựa trên những biểu tượng trừu tượng mà dựa trên những hình ảnh cụ thể do học sinh trực tiếp tri giác được : những hình ảnh này hoặc do học sinh tri giác ngay khi học dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc do các em độc lập quan sát trước đó Giáo viên sẽ tìm ở các em những hình ảnh có sẵn mà dạy Tiến trình dạy học này đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ biểu tượng đến tư tưởng…” (Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, Giáo dục học tập 1,

NXBGD,TP HCM, tr 154 )

Học thuyết phản xạ của I.P.Pavlốp cũng đề cập trực tiếp đến vấn đề này Phản xạ của con người là phản xạ có điều kiện Đồng thời ông đã chứng minh được quá trình nhận thức luôn luôn có hai tín hiệu

- Hệ thống tín hiệu thứ nhất : là tín hiệu truyền đi còn ở dạng cảm tính do tri giác thông qua hệ thống giác quan

- Hệ thống tín hiệu thứ hai : qua quá trình tư duy mà khái quát hóa các thông tin nhận được từ tín hiệu thứ nhất Hệ thống tín hiệu này được truyền đi dưới dạng lý tính là các khái niệm, quy luật … mang tính chủ quan

Hệ thống tín hiệu thứ hai (biểu hiện cho khối lượng, chất lượng, độ bền của tri thức) liên quan chặt chẽ với hệ thống tín hiệu thứ nhất vì hệ thống tín hiệu thứ nhất sẽ quyết định chất lượng, khối lượng kiến thức

Trong học tập Địa Lí, để cho hệ thống tín hiệu thứ nhất thêm phong phú, đa dạng thì phương pháp sử dụng thông tin hỗ trợ và các tài liệu trực quan để sinh động hóa kiến thúc là rất cần thiết Chính điều này góp phần quan trọng làm cho hệ thống tín

hiệu tăng thêm độ chính xác, trung thực và đáng tin cậy hơn

Từ những cơ sở khoa học trên không ai có thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của thị giác trong dạy học Nói rộng hơn đó là tầm quan trọng của phương tiện trực quan trong dạy học nói chung và dạy học Địa Lí nói riêng Sử dụng tư liệu trực quan là kích thích các giác quan cùng hoạt động, cùng phản ứng và thu nhận tín hiệu, thông tin, tri thức Điều này giúp cho quá trình tư duy thêm nhanh nhạy, hiệu quả và trung thực, rất có lợi cho việc học tập Thêm vào đó khơi gợi được ở các em lòng say mê, hứng thú học tập và do dó đạt được kết quả cao hơn

Trang 6

CHƯƠNG 2

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2 1 Thực trạng dạy và học Địa Lí hiện nay ở trường THPT:

Thực tế cho thấy rằng, có nhiều thầy cô bộ môn rất yêu nghề, có tâm huyết, trình độ chuyên môn vững, luôn tìm cách cải thiện phương pháp, biên soạn thêm các tài liệu trợ giảng nhằm giúp cho việc dạy và học đạt hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, đa số các thầy cô dạy Địa Lí hiện nay thường chỉ dừng lại ở kiểu truyền đạt kiến thức có sẵn, học sinh nghe giảng, trả lời câu hỏi rồi ghi chép bài trên bảng, về nhà học bài tiết sau kiểm tra Chu trình cứ lặp lại như thế có thể gây nhàm chán và mệt mỏi Trong tiết học, học sinh chỉ ngồi thụ động hoặc đứng lên trả lời một số câu hỏi phát vấn Thậm chí ở một số tiết giảng, câu hỏi phát vấn của giáo viên cũng chưa chú trọng đến khả năng phát triển năng lực nhận thức cho học sinh - đó là những câu hỏi mà đáp án nằm sẵn ngay trong sách giáo khoa, học sinh chỉ cần tìm và đọc Học sinh chỉ sử dụng sách để trả lời những kiến thức mà em “cần”, cần để làm bài thi, cần để trả lời câu mà thầy cô hỏi, chứ các em chưa có cơ hội để có được những kiến thức mà mình thật sự

“muốn”, chưa cĩ cơ hội tiếp cận tư liệu để chủ động, sáng tạo lĩnh hội kiến thức, chưa sử dụng thêm các tư liệu trực quan ngoài sách giáo khoa Tranh ảnh, bản đồ - loại tư liệu rất cần thiết trong dạy học Địa Lí - cũng ít được dùng, nên khái niệm, biểu tượng về không gian Địa Lý của các em còn khá kém

Đặc biệt là đối với chương trình Địa Lý tự nhiên lớp 10, có nhiều kiến thức khó hoặc bị xem là khô khan, nhiều thầy cô còn có tâm lý ngại dạy, khó nói Trong khi đây lại là những kiến thức rất thực tế và cần thiết để học sinh nắm bắt và quan sát đồng thời hiểu được những quy luật trong tự nhiên Đồng thời đây là nền tảng để em nắm các kiến thức về kinh tế xã hội cũng như tạo niềm say mê hứng khởi đối với Địa Lý trong những năm học về sau Chính vì thế nên việc sinh động hóa những kiến thức này

Trang 7

để nó trở nên gần gũi và được các em quan tâm, đó là điều quan trọng, đòi hỏi sự đầu

tư của giáo viên

2.1.1 Những vấn đề cụ thể trong việc tổ chức dạy học của giáo viên :

- Sách giáo khoa viết theo lối mở, yêu cầu giáo viên phải cập nhật thơng tin và am hiểu về các quy luật Địa lí, song nhiều giáo viên khi dạy rập khuơn máy mĩc, chỉ liệt kê những kiến thức ở sách giáo khoa, khơng giải thích, mở rộng Các kĩ năng về lược đồ, bản đồ, bảng số liệu, vẽ và phân tích biểu đồ thì qua loa Khi kiểm tra, đánh giá chỉ cho học sinh học thuộc những gì được ghi trong vở, cịn các kĩ năng, vận dụng thì khơng thực hiện được dẫn đến học sinh chỉ nắm kiến thức một cách thụ động, máy mĩc mà khơng phát huy được tính sáng tạo

- Một số GV chưa đầu tư đúng mức cho khâu chuẩn bị kiểm tra đánh giá, chưa nắm được cách khai thác các thiết bị ứng dụng CNTT trong dạy học, kiểm tra, đánh giá

- Nhiều GV đã mạnh dạn áp dụng các PPDH phát huy tính tích cực chủ động của

HS (như ƯDCNTT vào dạy học, chú ý, chịu khĩ sử dụng TB - đồ dùng dạy học để rèn luyện kĩ năng địa lí cho học sinh) song khi kiểm tra, đánh giá lại yêu cầu HS học thuộc lịng và ghi nhớ máy mĩc Vì vậy, dẫn đến khơng cĩ HS yêu thích bộ mơn Địa lí

Bên cạnh những hạn chế trên, vẫn cĩ nhiều giáo viên rất tâm huyết với bộ mơn, song kinh nghiệm cịn ít, vốn kiến thức tích luỹ chưa nhiều nhưng đã cố gắng tìm tịi vươn lên tự hồn thiện nên đã cĩ những tiết dạy sáng tạo, sinh động, mang tính khoa học cao, phù hợp với xu thế đổi mới

2.1.2 Nnhững vấn đề về phía học sinh :

Chủ yếu tài liệu học tập của học sinh là sách giáo khoa, lại học nhiều mơn học nên

số học sinh cĩ ý thức yêu thích thực sự đối với mơn Địa lí rất ít, do đĩ các em chỉ chú trọng những gì thầy cung cấp trong vở học là đủ, ít tìm tịi sáng tạo thêm Ngồi ra, khơn

ít em xem đây là mơn phụ, mơn học bài nên cĩ tâm lý chán nản Cần phải tạo ấn tượng cho học sinh ngay từ lớp đầu cấp và ngay từ đầu năm Nếu ngay từ đầu tiết học đã khơng

cĩ sự mới lạ gây hứng thú thì dần dần sẽ khắc sâu thêm ấn tượng khơng tốt và rồi giáo viên sẽ rất khĩ khăn trong việc làm cho tiết học hiệu quả

Thực trạng trên cũng bắt nguồn từ sự sa sút của các mơn khoa học xã hội trong nhà trường hiện nay, do yêu cầu của thị trường lao động, dưới áp lực mạnh mẽ của nhu cầu tìm kiếm việc làm, nhiều học sinh khá giỏi đã theo học các mơn thuộc khối A,B, D để thi

Trang 8

vào đại học Chương trình học quá nhiều mơn, các mơn đều nặngvà khĩ Do đĩ học sinh phân biệt mơn “chính”, mơn “phụ”, chỉ chú tâm vào học mơn chính mà đối phĩ với mơn phụ Do đĩ kĩ năng nhận biết, thơng hiểu, vận dụng cịn rất hạn chế

2.1.3 Đối với các cấp quản lí:

Ở một số nơi cán bộ QLGD vẫn cịn xem nhẹ mơn này nên cơng tác quản lí chỉ đạo cịn lỏng lẻo Ở những trường cĩ hoạt động của tổ chuyên mơn nghiêm túc, giáo viên tâm huyết, cĩ trình độ và năng lực, dạy đúng bộ mơn, ban giám hiệu cĩ năng lực quản lí tốt, nhận thức đúng, thường xuyên thanh - kiểm tra thì các tiết dạy cĩ tác dụng tốt, kích thích được ý thức, thái độ học tập của HS và ngược lại

Nhằm đánh giá đúng, đầy đủ thơng tin về trình độ, kĩ năng, thái độ học tập của học sinh thì các CBQL cần cĩ các biện pháp đánh giá đa dạng Khơng chỉ đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên qua các tiết dự giờ thăm lớp mà đồng thời phải đánh giá cả kết quả và thái độ, hứng thú học tập của HS, sự tín nhiệm và yêu thích của HS đối với giờ giảng của giáo viên Điều này cĩ thể xem xét qua kết quả của các bài kiểm tra ( kiểm tra miệng, 15 phút, 45 phút, học kì ) và đánh giá việc nắm kiến thức kĩ năng của HS qua các hình thức:

- Các hoạt động học tập trên lớp như làm việc với các phương tiện, đồ dùng dạy học, các câu hỏi ngắn trong khi giảng bài mới

- Quan sát HS trong khi thực hành, thảo luận nhĩm,

- Các báo cáo ngắn của HS về một vấn đề địa lí để tìm hiểu, nghiên cứu

- Vở soạn bài theo sự hướng dẫn của GV, vở bài tập, thực hành và cả những nhận xét của giáo viên về thái độ, kết quả học tập của HS trong suốt năm học

2.2 Nhận định chương trình Địa Lí tự nhiên lớp 10 ban Cơ bản :

Sách giáo khoa là một công cụ thiết yếu, cơ sở để tiến hành hoạt động dạy học của giáo viên, học sinh Hình thức trình bày, nội dung kiến thức của sách giáo khoa ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học Vì thế, khi tiếp cận với thực tế dạy học Địa Lí ở trường phổ thông, chúng ta rất cần tìm hiểu về nội dung sách giáo khoa của chương trình

Như ta biết, phần Địa Lí tự nhiên đại cương giữ vai trò rất quan trọng trong tổng thể khoa học Địa Lí lẫn môn Địa Lí được giảng dạy trong nhà trường Đây là nền tảng,

Trang 9

cơ sở để học sinh học tập, tìm hiểu thêm về Địa Lí tự nhiên khu vực và Địa Lí kinh tế xã hội ở các lớp tiếp theo

Phần Địa Lý tự nhiên chiếm 17 bài, từ bài 5 đến bài 21, chia làm 3 chương Chương II – Vũ trụ Hệ quả các chuyển động của Trái Đất có 2 bài Chương III – Cấu trúc Trái Đất Các quyển của lớp vỏ Địa Lý gồm 13 bài Cương IV – Một số quy luật của lớp vỏ Địa Lý có 2 bài

Chương đầu giới thiệu về các chuyển động của Trái Đất, chỉ 2 bài nhưng bao hàm những kiến thức quan trọng và cũng khá khó truyền đạt Chương tiếp theo học về toàn bộ 5 quyển của Trái Đất là các thành phần tự nhiên quan trọng Chương kế mang tính tổng kết lại các quy luật đã học

Có thể khẳng định kiến thức của phần này là khá khó và khô khan nếu không áp dụng các biện pháp làm sinh động bài dạy Toàn bộ nội dung là những khái niệm, các mối quan hệ nhân quả của các thành phần tự nhiên trên toàn thế giới Các thành phần này có những yếu tố mà các em chưa thấy bao giờ, thí dụ như khái niệm về Front khí quyển, hoặc về các hiện tượng lớn như quá trình bồi tụ, bóc mòn, phong hóa, hay đường chuyển ngày quốc tế, quỹ đạo chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời… Đây là điều khó cho giáo viên khi dạy vì kiến thức rất chung, khó hình dung và chuyển tải Bên cạnh đó, kiến thức khá nhiều và được trình bày khá dàn trải Việc trình bày các kiến thức Địa Lí bằng kênh chữ không tách rời với kênh hình Toàn bộ các phần trong sách giáo khoa : bài viết, câu hỏi, bài tập, sơ đồ, lược đồ, hình vẽ, tranh ảnh … là một tổng thể thống nhất Cách trình bày này đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tiến hành rèn luyện các loại kĩ năng cho học sinh, đặc biệt là kĩ năng bản đồ Tuy nhiên các bản đồ lại rất nhỏ như bản đồ phân bố các kiểu thảm thực vật, bản đồ đất Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách khai thác tri thức từ các kênh, cách tự vận dụng để bổ sung bài học sao cho có hiệu quả

Nhìn chung chương trình sách giáo khoa đã đổi mới rất nhiều so với trước, tạo điều kiện thuận lợi cho cả giáo viên lẫn học sinh trong hoạt động dạy - học Tuy nhiên vẫn còn một số những hạn chế nhất định Các kênh hình chưa thật sự thu hút và bắt mắt, là yếu tố tĩnh nên kém sinh động, lôi cuốn Thêm vào đó, một số hình ảnh, sơ đồ

… còn chưa được rõ nét hoặc kích cỡ chưa hợp lí (đa phần là quá nhỏ cả về chú thích lẫn nội dung đối tượng thể hiện) đã làm hạn chế quá trình tiếp thu tri thức

Bài soạn khá dài, nhiều khái niệm trừu tượng, kết luận khó hiểu đối với học sinh, trong khi đó các tài liệu trực quan, sinh động thì có được chú ý nhưng chưa đảm bảo về mặt mỹ thuật và độ chính xác Một số bản đồ, tranh ảnh còn sai sót trong quá trình biên tập, dẫn đến tình trạng phải đính kèm bản sửa lỗi, gây khó khăn cho quá trình tiếp nhận tri thức của học sinh

Chương trình còn nặng về cung cấp lý thuyết, nhẹ về thực hành, tổ chức các hoạt động thực tiễn liên quan đến bài học Điều này làm cho các bài học trở nên nặng nề, chưa tạo được khả năng kích thích tư duy, phát huy hứng thú học tập nơi các em Chính

ở điểm này chúng ta cần bổ sung các yếu tố nhằm khai thác những nội dung gắn bó với hiểu biết vốn có của học sinh, những nội dung gắn với cuộc sống thực tế của các em, những nội dung giúp học sinh phát triển năng lực tự học, năng lực vận dụng hiểu biết vào việc phát hiện, giải quyết những vấn đề học tập, cuộc sống

Trang 10

2.3 Một số hình thức sinh động hóa bài giảng lớp 10 phần Địa Lý tự nhiên

Do phạm vi và thời gian nghiên cứu, trình bày sáng kiến có hạn nên ở đây chỉ xin trích lọc những bài học tiêu biểu làm ví dụ Nội dung sẽ được trình bày theo từng bài học

cụ thể

Bài 5 : VŨ TRỤ, HỆ MẶT TRỜI , TRÁI ĐẤT

HỆ QUẢ CHUYỂN ĐỘNG TỰ QUAY QUANH TRỤC CỦA TRÁI ĐẤT

* Mục tiêu bài học : HS cần

- Nhận thức được Vũ trụ là vô cùng rộng lớn Hệ Mặt Trời trong đó có Trái Đất chỉ

là một bộ phận bé nhỏ trong Vũ trụ

- Hiểu khái quát về hệ Mặt Trời, Trái Đất trong hệ Mặt Trời

- Giải thích được các hiện tượng: sự luân phiên ngày – đêm, giờ trên Trái Đất, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt Trái Đất

- Xác định hướng chuyển động của các hành tinh trong hệ Mặt Trời, vị trí của Trái Đất trong hệ Mặt Trời

- Xác định các múi giờ, hướng lệch của các vật thể khi chuyển động trên bề mặt đất

* Phương pháp

Trong bài này tôi sử dụng công nghệ thông tin là chủ yếu Khái niệm vũ trụ và hệ Mặt Trời khó hình dung nên tôi tìm và tải trên mạng những hình ảnh cụ thể về vũ trụ, các hình dạng khác nhau của vũ trụ, các hành tinh trong hệ Mặt Trời có kèm theo quỹ đạo

Từ đó cho học sinh rút ra khái niệm, đặc điểm chuyển động (hướng, quỹ đạo) của các đối tượng trên, đồng thời nêu được vị trí của Trái Đất, ý nghĩa của vị trí đó trong hệ Mặt Trời Đồng thời giảng thuật thêm 1 số điều về kích thước của vũ trụ (so sánh bằng năm ánh sáng và đời người) để học sinh hình dung được độ lớn của không gian

Trang 11

Sau đó, để chuyển sang phần Hệ quả, tôi chiếu 2 đoạn phim ngắn 1-2 phút Đoạn phim thứ nhất là về một số hành tinh trong hệ Mặt Trời (có tên, quỹ đạo, thời gian quay quanh MT 1 vòng) và vị trí của Trái Đất Đoạn phim thứ 2 về hiện tượng Trái Đất tự quay quanh trục, có ánh sáng chiếu ban ngày và ban đêm, có các đường kinh tuyến trên Trái Đất Từ đó cho học sinh rút ra hệ quả về ngày và đêm, giờ trên Trái Đất

Dùng Power Point vẽ một sơ đồ và phát vấn học sinh về trường hợp nếu Trái Đất không tự quay thì xảy ra hiện tượng nửa năm liên tục là ban ngày, nửa năm còn lại là ban đêm Qua đó để học sinh rút ra ý nghĩa của hiện tượng ngày-đêm

Trang 12

Khi giảng sang phần đường đổi ngày quốc tế, tơi lấy ví dụ về 2 quốc gia ở 2 bên kinh tuyến 180, một bên là giao thừa năm mới, một bên sau 24 tiếng mới đĩn giao thừa Học sinh sẽ nhớ khái niệm khi qua kinh tuyến này phải cộng/trừ 1 ngày Về phần múi giờ, cho một vài bài tốn tính giờ đơn giản để học sinh làm, tơi sửa và cho điểm để học sinh khắc sâu bài tập

Về hiện tượng lệch do lực Coriolit, cho một thí dụ về một đối tượng ở xích đạo, dùng ống kính ngắm từ trên cực, 1 phút sau khơng cịn thấy đối tượng đĩ trong ống kính nữa Lý do : lực làm lệch do sự tự quay vì vận tốc dài ở cực và xích đạo khác nhau Cực gần như quay tại chỗ cịn vận tốc ở xích đạo lớn (464m/s) Yêu cầu hs lên vẽ hướng lệch

và so sánh với sơ đồ giáo viên vẽ bằng Power Point để học sinh nhớ rõ phần này

Bài 6 : HỆ QUẢ CHUYỂN ĐỘNG XUNG QUANH MẶT TRỜI CỦA TRÁI ĐẤT

* Mục tiêu bài học

Sau bài học, HS cần:

Trang 13

- Trình bày và giải thích được các hệ quả chuyển động xung quanh Mặt trời của Trái đất: chuyển động biểu kiến hằng năm của Mặt trời, các mùa, ngày đêm dài ngắn khác nhau theo mùa

- Sử dụng tranh ảnh, hình vẽ, mô hình để trình bày các hệ quả chuyển động quanh Mặt trời của Trái đất

- Nhận thức đúng đắn các qui luật tự nhiên

* Phương pháp

Trước hết cho hs quan sát một số bức ảnh để nhận thấy cĩ những nơi trên TĐ cĩ hiện tượng MT khơng mọc hoặc khơng lặn trong suốt 1 thời gian dài Phát vấn hs đĩ là nơi nào Hiện tượng Mặt Trời mọc trên đỉnh đầu giữa 12 giờ trưa là hiện tượng gì

Tơi dùng sơ đồ chuyển động biểu kiến, sử dụng cơng cụ trong Power Point vẽ Mặt Trời bằng chấm đỏ, sau đĩ cho Mặt Trời chuyển động 1 vịng để hs quan sát hiện tượng biểu kiến này Qua đĩ phát vấn, những nơi nào trên TĐ cĩ hiện tượng này trong năm, một năm mấy lần, vị trí 4 ngày quan trọng lúc MT lên thiên đỉnh tại xích đạo và 2 chí tuyến

Trang 14

Chuyển sang hiện tượng mùa, trước khi vào phần này, cho hs quan sát 4 bức tranh thời tiết, cảnh vật để hs đoán ra những bức tranh nói về hiện tượng gì Sau đó yêu cầu học sinh giải thích tại sao có các mùa, tại sao 4 mùa lại có thời tiết khác nhau HS giải thích xong, giáo viên đưa sơ đồ Hiện tượng mùa, chỉnh sửa nội dung trả lời của hs Lưu ý nhấn mạnh vào hướng nghiêng của Trái Đất và các phần mà từng nửa cầu hướng về phía MT khác nhau (gv dùng công cụ Power Point vẽ 2 màu phân biệt trước - vàng và đỏ để hs quan sát cho rõ phần này), từ đó xác định nửa cầu nào ngả nhiều về phía MT là mùa nóng

và ngược lại Còn 2 mùa xuân – thu góc chiếu gần như nhau nên thời tiết không khác nhau nhiều Nhờ có sơ đồ này, phần mô tả bằng lời của giáo viên sẽ dễ hiểu, ngắn gọn và trực quan hơn, khắc sâu ấn tượng hơn với hs

Trang 16

Khi dạy đến phần ngày đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ, trước tiên gv gợi ý hs hình dung : trong thực tế, có những ngày trời tối rất muộn, 6 giờ hơn trời vẫn còn sáng, nhưng ngược lại có những ngày mới 5 giờ trời đã xẩm tối Buổi sáng cũng vậy, có thời gian 4 giờ trời đã hửng sáng, trong khi có mùa phải 6 giờ mới thấy le lói bình minh Đồng thời gợi ý hs nhớ lại câu ca dao của Việt Nam có nhắc đến hiện tượng này Như vậy là có hiện tượng khi ngày dài, đêm ngắn và ngược lại GV phát vấn để hs nhớ lại thời điểm đó rơi vào từng mùa nào, thử giải thích lý do tại sao Khi hs giải thích, gv sử dụng

sơ đồ sau để chỉnh sửa kiến thức

Ở sơ đồ này, trước tiên gv cho hs khai thác sự chênh lệch ngày đêm ở các vĩ độ GV

vẽ những đường màu đỏ và màu trắng chồng lên hình để hs dễ quan sát, đường màu đỏ là

độ dài ban ngày, đường màu trắng là độ dài ban đêm Dễ thấy ở xích đạo ngày luôn bằng đêm, từ xích đạo trở lên vòng cực có độ dài ngày và đêm chênh lệch, còn từ vòng cực trở lên cực có hiện tượng đêm trắng – ngày đen

Sau đó chuyển sang hiện tượng chênh lệch ngày đêm theo mùa, liên hệ đến phát vấn lúc nãy của hs để cho thấy mùa nóng sẽ có ngày dài hơn đêm, mùa lạnh ngược lại Có 2 ngày duy nhất trên TĐ có ngày – đêm bằng nhau ở tất cả các nơi, gv phát vấn lý do tại sao, hs trả lời, gv đưa sơ đồ minh họa nguyên nhân do hướng nghiêng và góc chiếu MT

Trang 17

Cuối bài, gv giảng thuật thêm về hiện tượng đêm trắng ở những nơi gần cực Cho hs xem thêm hình ở một số địa điểm như Na Uy, Phần Lan giữa đêm vẫn cĩ ánh sáng, giảng thuật thêm về ảnh hưởng của hiện tượng đêm trắng đến sức khỏe, cơng việc của những người sinh sống gần vùng cực

Bài 8 : TÁC ĐỘNG CỦA NỘI LỰC ĐẾN ĐỊA HÌNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT

* Mục tiêu bài học

Sau bài học, HS cần:

- Trình bày khái niệm nội lực và nguyên nhân sinh ra nội lực

- Trình bày tác động của nội lực thể hiện qua vận động kiến tạo theo phương thẳng đứng và theo phương nằm ngang

- Quan sát hình vẽ, tranh ảnh, băng… về các tác động của nội lực để nêu được kết quả của sự tác động đó

- Rèn luyện kĩ năng đọc, chỉ và giải thích các đối tượng địa lí trên bản đồ

* Phương pháp

Trang 18

Trước khi vào bài học, để thu hút sự chú ý và say mê của hs, cho hs quan sát những bức tranh đẹp về các dạng địa hình khác nhau trên bề mặt TĐ Sau đó phát vấn hs : tại sao có nhiều dạng địa hình khác nhau như vậy, nơi là đồng bằng, nơi đại dương, nơi lại là núi cao, thung lũng… Hs sẽ phát biểu nguyên nhân do nội lực Từ đó đi đến định nghĩa

và nguồn gốc sinh ra nội lực

Trang 19

Sau đó cho hs xem đoạn phim ngắn trong phim hoạt hình nổi tiếng Ice Age – Kỉ băng hà, nói về hiện tượng các lục địa bị trôi dạt và tách giãn, nguyên nhân chính là do nội lực trong lòng đất tạo ra Từ đó dẫn đến phần Các tác động của nội lực

Ngày đăng: 29/07/2016, 21:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ sau để chỉnh sửa kiến thức. - SKKN một số HÌNH THỨC SINH ĐỘNG hóa bài GIẢNG lớp 10 PHẦN địa lý tự NHIÊN
Sơ đồ sau để chỉnh sửa kiến thức (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w