1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong tài chính công tại xã duyên thái huyện thường tín thành phố hà nội

84 472 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 569,5 KB
File đính kèm xã Duyên Thái.rar (75 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.1 Mục tiêu chung Mục tiêu tổng quát mà đề tài đặt ra là thông qua tìm hiểu, đánh giá thực trạng các khoản đóng góp của người dân đối với tài chính công ở xã Duyên Thái huyện Thường Tín thành phố Hà Nội, đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các khoản đóng góp này của xã. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong tài chính công cấp cơ sở. Tìm hiểu thực trạng các khoản đóng góp của người dân xã Duyên Thái trong tài chính công và đánh giá tình hình quản lý sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong các hoạt động tài chính công tại xã Duyên Thái. Đề xuất những định hướng giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong tài chính công của xã.

Trang 1

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta bước vào quá trình đổi mới kể từ đại hội Đảng VI năm

1986, làm cho mọi mặt đời sống kinh tế xã hội được cải thiện đáng kể, tạocho đất nước ta một diện mạo mới trong mắt bạn bè quốc tế Trong nhữngnăm tới đây, phát triển kinh tế vẫn là quan điểm chủ đạo của Đảng dựa trênnội lực là chính Chúng ta đang đẩy mạnh cải cách, phát triển tài chính nhằmtạo dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, cơ chế tài chính phù hợp với thểchế kinh tế thị trường định hướng XHCN Mặt khác, Đảng cũng chủ trươngphát triển toàn diện giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi, thuhẹp tối đa khoảng cách giàu nghèo Với phương châm quan tâm nhiều hơnnữa đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn theo hướngCNH - HĐH nhằm nâng cao đời sống người nông dân So với trước đây, đờisống của người dân được cải thiện rất nhiều, tuy nhiên nếu so sánh với thànhthị thì nông thôn vẫn còn một khoảng cách Có một nghịch lý thấy rõ rằngphát triển cơ sở hạ tầng ở thành phố thì người dân không phải đóng gópnhưng ngược lại ở nông thôn xây dựng cơ sở hạ tầng thì người dân phải thamgia đóng góp Vì vậy, giá cả dịch vụ ở nông thôn thường cao hơn nhiều so vớithành thị Tính bình quân một hạt thóc nông dân làm ra đã phải "gánh" hàngchục các khoản phí, lệ phí, tiền đóng góp

Chính sách huy động sức dân dưới hình thức Nhà nước và nhân dân

Trang 2

số nơi còn buông lỏng quản lý dẫn tới chi tiêu sai nguyên tắc, không đúngmục đích, có biểu hiện tiêu cực.

Với bản chất của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, các cấp chínhquyền luôn có trách nhiệm lắng nghe ý kiến người dân và xử lý kịp thờinhững điều băn khoăn thắc mắc cũng như những đơn khiếu nại, tố cáo củanhân dân Nhằm khắc phục tình trạng "loạn thu" những khoản phí không hợplý đối với người dân như phí an ninh quốc phòng; phí phòng chống thiêntai…Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 01 tháng

11 năm 2007 bãi bỏ những khoản đóng góp không đúng quy định hoặc khôngđúng với tinh thần tự nguyện của nhân dân Tuy nhiên, tình trạng thu phí trànlan vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn, gây ra nhiều khó khăn và tạonên sự bất bình của người dân

Đứng trước thực trạng đó, tôi tiến hành tìm hiểu đề tài: “Tìm hiểu về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong tài chính công tại xã Duyên Thái huyện Thường Tín thành phố Hà Nội” nhằm nâng

cao hiệu quả quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu tổng quát mà đề tài đặt ra là thông qua tìm hiểu, đánh giá thựctrạng các khoản đóng góp của người dân đối với tài chính công ở xã DuyênThái huyện Thường Tín thành phố Hà Nội, đưa ra một số giải pháp chủ yếunhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các khoản đóng góp này của xã

Trang 3

- Đề xuất những định hướng giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quảquản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong tài chính côngcủa xã.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu là công tác quản lý và sử dụng các khoảnđóng góp của người dân xã Duyên Thái huyện Thường Tín thành phố Hà Nội

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Về không gian

Đề tài điều tra khảo sát trên địa bàn xã Duyên Thái huyện Thường Tín

thành phố Hà Nội

Trang 4

PHẦN 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ

VÀ SỬ DỤNG CÁC KHOẢN ĐÓNG GÓP CỦA DÂN TRONG

TÀI CHÍNH CÔNG CẤP CƠ SỞ

2.1 Các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở:

2.1.1 Tài chính công cấp cơ sở:

2.1.1.1 Khái niệm tài chính công cấp cơ sở:

Từ cách nhìn nhận về tài chính công, thì khái niệm về tài chính côngcấp cơ sở được hiểu:

Tài chính công cấp cơ sở là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinhtrong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền nhànước cấp cơ sở (Cấp xã, phường, thị trấn) nhằm phục vụ cho việc thực hiệncác chức năng của nhà nước ở cấp cơ sở trong khuôn khổ đã được phân công,phân cấp quản lý

Theo hệ thống công thì tài chính công cấp cơ sở chính là tài chính củacấp xã, nó cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động củabộ máy nhà nước ở cấp xã và là một công cụ đặc biệt quan trọng để chínhquyền cấp xã thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội tại địaphương

Tài chính công cấp cơ sở chính là tài chính công cấp xã, phường, thịtrấn và được thống nhất gọi chung là tài chính công cấp xã

2.1.1.2 Vai trò của tài chính công cấp xã:

Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước trong thời đại mới, vai trò củatài chính công cấp cơ sở ngày càng được coi trọng hơn Tài chính công cấp cơsở có vai trò quan trọng trong bộ máy quản lý tài chính địa phương, thực hiệncác mục tiêu của nhà nước tại cơ sở, giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước

Trang 5

Thứ nhất: Tài chính công cấp cơ sở đảm bảo nguồn lực vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy chính quyền Nhà nước cấp xã:

Trải qua quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước ra đời từ khi xã hội cósự phân chia giai cấp Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn lực vật chất nhấtđịnh để nuôi sống bộ máy và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội do cộngđồng đối phó Nguồn lực vật chất này chỉ có thể được đảm bảo từ nguồn tàichính của xã Tài chính công ở cấp cơ sở chính là ngân sách xã của địa phương.Để đảm bảo nguồn lực vật chất này cung cấp cho toàn bộ các hoạt động kinhtế, xã hội, an ninh quốc phòng và đời sống của mọi người được đảm bảo

Tài chính công cấp cơ sở phải khai thác triệt để các nguồn thu tại cơ sởtheo luật định Đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu chi tiêucho các công việc thuộc chức năng nhiệm vụ theo quy định của luật Ngânsách Nhà nước như: Chi lương, sinh hoạt phí cho các công chức, các khoảnchi tiêu quản lý hành chính hay mua sắm trang thiết bị cho văn phòng mớiđược thực hiện Do vậy không có các khoản chi này của Ngân sách xã thì bộmáy chính quyền Nhà nước cơ sở không tồn tại và phát triển được

Thứ hai: Tài chính công cấp cơ sở là công cụ quan trọng để chính quyền quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội tại địa phương.

Với tư cách là chính quyền cấp cơ sở gắn liền với đời sống nhân dân vàthực hiện quản lý trực tiếp đối với nhân dân Do vậy chức năng và nhiệm vụcủa ngân sách xã phải thực hiện là luôn đảm bảo quyền và lợi ích của nhândân trên địa bàn Trực tiếp liên hệ và giải quyết các công việc của dân trên

Trang 6

kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và các hoạtđộng khác được pháp luật cho phép Việc kiểm soát thông qua tài chính côngcấp cơ sở được thể hiện qua việc phân loại các ngành nghề kinh doanh, cácchủng loại hàng hóa…mà qua đó chống các hoạt động kinh tế phi pháp, trốnlậu thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác.

Thông qua thu vào tài chính công cấp cơ sở với các hình thức thu phùhợp, công bằng, một mặt tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanhở cơ sở, mặt khác góp phần thực hiện các chính sách xã hội ở địa phương.Thông qua chi mà các hoạt động của Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể, chínhtrị, xã hội được duy trì và phát triển liên tục và ổn định, nhờ đó mà nâng caohiệu lực quản lý cơ sở

Hoạt động thu – chi của tài chính công có vai trò quan trọng trong việckhắc phục các khuyết tật của thị trường, tạo môi trường kinh doanh thuận lợiở địa phương….từng bước thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đưa khoahọc kỹ thuật vào từng làng xã giúp kinh tế nông thôn ngày càng phát triển, từthuần nông sang nền kinh tế tổng hợp Nông – Công – Thương đáp ứng nhucầu của thị trường

Thông qua chi cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp y tế đã góp phầnvào việc nâng cao dân trí, sức khỏe người dân, đảm bảo nâng cao trình độnhân dân và sức khỏe người dân, các xã không ngừng nâng cấp và xây dựngmới các công trình cho giáo dục và y tế đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việcgiảng dạy và khám chữa bệnh, giúp người dân yên tâm khi tham gia phát triểnsản xuất tại cơ sở Từng bước xây dựng nông thôn mới theo đúng chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước

Từ phân tích trên cho ta thấy tài chính công cấp cơ sở là công cụ tàichính quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ củaĐảng và Nhà nước ở địa phương Từng bước cải thiện bộ mặt nông thôn vàrút ngắn sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, khắc phục dần tình trạng

Trang 7

kinh tế nước ta phát triển.

2.1.1.3 Cấu trúc của tài chính công cấp xã:

Tài chính công cấp cơ sở bao gồm hai nội dung cơ bản đó là ngân sáchxã, phường, thị trấn và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn

Thứ nhất: Là Ngân sách xã, phường, thị trấn Đây là một loại quỹ tiền

tệ của cơ quan chính quyền nhà nước cấp xã Hoạt động của quỹ này này thểhiện trên hai phương diện: huy động nguồn thu vào quỹ (thu ngân sách) vàphân phối, sử dụng các khoản vốn quỹ đó Ngân sách cấp xã cung cấp cácphương diện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước ở cơsở và ngân sách cấp xã chính là một công cụ đặc biệt quan trọng để chínhquyền phường, thị trấn thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, xãhội địa phương

Thức hai: Là các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn

theo quy định của pháp luật bao gồm:

Các quỹ công chuyên dùng của xã, phường, thị trấn

Tài chính các hoạt động sự nghiệp của xã, phường, thị trấn

Các hoạt động tài chính khác theo quy định của pháp luật

2.1.2 Các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở:

Khoản đóng góp: là những khoản được trích từ thu nhập của hộ (vật

chất, tiền và công lao động) được hộ tự nguyện hoặc bắt buộc đóng cho các tổchức, đơn vị mà hộ có quan hệ

Hộ gia đình đóng góp bằng tiền đối với các quỹ phát động từ các tổchức đoàn thể như quỹ tình nghĩa, quỹ vì người nghèo, quỹ bảo trợ trẻ, quỹ

Trang 8

dân phải đóng góp theo văn bản pháp quy của Chính phủ, các Thông tưhướng dẫn của các Bộ và các cơ quan ban ngành có liên quan Như các khoảnphí, lệ phí,… theo quy định của Nhà nước và hội đồng nhân dân các tỉnh,thành phố các khoản thu có tính chất như một loại thuế mà bất kể người dânnào cũng phải nộp.

+ Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân cónghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tínhchất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trangtrải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng

+ Phí là khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổchức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong danh mục phí banhành (Điều 2 – pháp lệnh phí, lệ phí số 38/2001/PL – UBTVWH10)

+ Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quanNhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý được quyđịnh trong danh mục lệ phí (điều 3 – pháp lệnh phí, lệ phí số 38/2001/PL –UBTVWH10)

Khoản đóng mang tính chất tự nguyện (phi chính thống): là những

khoản hộ dân tự nguyện đóng góp theo quy chế dân chủ do thôn bản đề xuấtđược hội đồng nhân dân xã quyết định Như các quỹ phòng chống bão lũ, quỹxây dựng trường học, quỹ xây dựng giao thông nông thôn, quỹ tình nghĩa…Những khoản đóng góp vào tài chính công cấp xã là những khoản đóng góp đượcHội đồng nhân dân cấp xã cho phép thu và được theo dõi ghi thu – ghi chi, đây là

một trong những khoản thu nằm trong ngân sách của địa phương

2.1.3 Các quy định pháp luật liên quan đến các khoản đóng góp của dân:

Một số vấn đề được dư luận xã hội rất quan tâm trong thời gian qua làgánh nặng đóng góp của người nông dân hiện nay Khảo sát của các cơ quanchức năng mới đây cho thấy đang có hàng chục loại phí “đè đầu” nông dân,

“một hạt thóc gánh hàng chục khoản thu” Câu chuyện về gánh nặng đóng

Trang 9

xem xét những khoản nào hợp lý, những khoản nào cần loại bỏ cho phù hợpvới đời sống của người dân hiện nay.

Nông nghiệp, nông thôn, nông dân là một vấn đế rất lớn đã được nêutrong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10 Hiện nay, cán bộ ngành chức năngđang hoàn thiện phương án miễn giảm các khoản đóng góp bất hợp lý để trìnhchính phủ Cần khẳng định rằng, thực hiện khoan sức dân là hợp lý, nhữngcách thức tiến hành như thế nào phải được nghiên cứu kỹ và làm một cáchkhoa học, phù hợp với xu hướng đất nước ta đang thực hiện

Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã ra một số quy định vềhuy động các khoản đóng góp của dân và chính sách quản lý và sử dụng cáckhoản đóng góp, nội dung một số Quy định, Thông tư như sau:

Nghị định số 24/NĐ-CP ngày 16/04/1999 của Chính phủ về việc ban

hành quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tựnguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, thị trấn và Thông

tư số 85/1999/TT-BTC ngày 7/7/1999 của bộ Tài chính hướng dẫn thực hiệnquy chế

Thông tư số 29/1999/TT-BTC ngày 19 tháng 03 năm 1999 về việc

hướng dẫn thực hiện công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn thu từkhoản đóng góp của nhân dân

Thông tư số 118/1000/TT-BTC ngày 22/12/200 của Bộ Tài chính quản

lý ngân sách phường xã và hoạt động tài chính khác ở phường xã, thị trấn

Thông tư số 41/2001/TT-BTC ngày 12/6/2001 của Bộ Tài chính về việc

hướng dẫn việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp theo Nghị định

Trang 10

chi tiết thu hành pháp lệnh phí, lệ phí.

Chỉ thị số 10917/BTC-CST ngày 16 tháng 8 năm 2007 của Bộ Tài chính

về việc đề nghị rà soát, bãi bỏ các khoản thu phí, lệ phí không đúng quy định

Chỉ thị số 24/2007/CT-TTG ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng

về tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các quy định về phí, lệ phí, chínhsách huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân

Công văn số 6189/BTC-NSNN ngày 29 tháng 4 năm 2009 của Bộ Tài

chính về việc tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, rà soát việc huy động đóng gópcủa nhân dân

Quyết định số 04/2007/QĐ-UB ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Sở Tài

chính về việc hướng dẫn thực hiện miễn một số khoản phí, lệ phí theo Chỉ thịsố 24/2007/CT-TTg ngày 01/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ

2.2 Quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp xã

2.2.1 Khái niệm về công tác quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp xã:

Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ màchủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương phápthích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triểnphù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định

Trong hoạt động quản lý các vấn đề: chủ thể quản lý, đối tượng quảnlý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trungtâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn

Quản lý tài chính công là sự tác động của hệ thống các cơ quan của Nhà nước đến những mặt hoạt động của tài chính công nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Thực chất của quản lý tài chính công là quá trình lập kế hoạch tổ chức, điều hành và kiểm soát hoạt động thu, chi của Nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước một

Trang 11

Quy trình tổ chức quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân trongtài chính công cấp xã Nơi nào có phát sinh các quỹ từ nguồn thu đóng góp củadân thì Chủ tích UBND cấp xã sẽ phải tiến hành thực hiện công việc sau:

Thứ nhất: Mọi quyết định đóng góp phải do dân và vì dân, tất cả mọi

việc đều do dân quyết định – Hội đồng nhân dân cấp xã tiến hành tổ chức lấyý kiến của đại đa số nhân dân về nội dung đóng góp, mục đích và lợi ích đónggóp của nhân dân

Thứ hai: Việc quản lý và sử dụng phải thực hiện chặt chẽ và tuân theo trình tự sau:

+ Huy động nguồn vốn dưới hình thức nào, số lượng bao nhiêu, thờigian huy động

+ Việc thu tiền dân phải có biên lại

+ Phải mở sổ kế toàn đúng theo quy định, chế độ kế toàn, thống kê Nhà nước.+Thực hiện thanh toán qua tài khoản kho bạc Nhà nước cấp huyện.+ Phản ánh cân đối thu – chi qua tài chính cấp xã

+ Quyết toán đầy đủ rõ ràng

+ Thực hiện công khai tài chính trước dân

2.2.2 Yêu cầu về công tác quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp xã:

Công tác quản lý và sử dụng các nguồn thu trong tài chính công cầnphải đáp ứng những yêu cầu sau:

Bảo toàn nguồn vốn, quỹ của tài chính cấp xã: Phát huy tính chủ động

của địa phương trong việc tự cân đối ngân sách, chống lại tư tưởng ỷ lại,

Trang 12

quản lý ngân sách, đảm bảo thu đúng, thu đủ ngân sách; chi đúng việc, tiếtkiệm đem lại hiệu quả cao Thực hiện tốt quy chế dân chủ tại địa phương,phát huy và đề cao tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trongcông tác quản lý ngân sách xã.

Công tác quản lý và sử dụng phải đảm bảo mang lại cho người dân tại địa phương được hưởng lợi: Yêu cầu trong công tác quản lý phải đảm bảo

nguyên tắc mọi quyết định đóng góp phải do dân – Hội đồng nhân dân cấp xãtiến hành tổ chức lấy ý kiến của đại đa số nhân dân về nội dung đóng góp đó,mục đích và lợi ích đóng góp của người dân trong dự án đó Nếu người dânthấy việc đóng góp của mình mang lại lợi ích, họ được hưởng lợi nhiều thìkhông những người dân tại địa phương đóng mà họ còn tích cực vận độngnhững người xung quanh tham gia đóng góp nhằm xây dựng quê hương ngàycàng giàu đẹp

2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng:

Một vấn đề hết sức quan trọng trong công tác quản lý và sử dụng cáckhoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở là việc xác định mứcđóng góp và lĩnh vực đóng góp một các đúng đắn, hợp lý Mức đóng góp vàlĩnh vực đóng góp lại chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xãhội Có các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng

Chính sách, quan điểm của Nhà nước, chính quyền đại phương: Đây là

nhóm nhân tố vĩ mô phản ánh tình hình kinh tế - xã hội nói chung của mộtquốc gia nếu các chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước phù hợp nhằmphát triển kinh tế của xã hội cũng như của người dân sẽ có tác động rất lớnđến việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp của người dân … Trong những nămgân đây Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách hợp lòng dân nhưcho rà soát lại toàn bộ các khoản dân phải đóng góp ở tất cả các đại phươngtrong cả nước, ra chính sách xóa bỏ nhiều khoản đóng góp bất hợp lý (CV6189/BTC-NSNN ngày 4/2009 của Bộ Tài chính về việc tăng cường chỉ đạo,

Trang 13

Lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở: Khi lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở

được nhận thức là người đại diện và hoạt động vì lợi ích Nhà nước và cộngđồng thì người dân sẽ tích cực tham gia đóng góp cho chính quyền nhằm làmthay đổi bộ mặt nông thôn Một chính quyền không đại diện cho quyền lợichung sẽ giảm sự hợp tác và tăng sự chống đối đóng góp của người dân Mặtkhác, sự đại diện của một cấp lãnh đạo còn được người dân nhận thức ở sựcông tâm, trong sạch, không tham những, vụ lợi; quản lý – công khai minhbạch các nguồn lực tài chính tại địa phương

Công tác tuyên truyền: Đây là công tác quan trọng nhằm giúp người

dân hiểu hơn về chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước, đây trở thànhcông cụ nâng cao tính tự giác của người dân Do vậy, muốn thực hiện tốt côngtác tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước thì công tácnày phải được đổi mới và tăng cường cả về nội dung và hình thức

Quan điểm và lợi ích của người dân: Nếu các khoản đóng góp mà người dân

được hưởng lợi nhiều thì họ sẽ sẵn sàng đóng góp cho địa phương Ngược lạinếu người dân thấy các khoản đóng góp mặc dù ít nhưng không hiệu quả hoặccó nhưng không đáng kể người dân sẽ không tuân thủ đóng góp cho chínhquyền địa phương dẫn đến nợ đọng tăng lên Vì vậy, công tác quản lý và sửdụng như thế nào? Để người dân thấy được lợi ích được hưởng từ việc đónggóp thì họ sẽ thực hiện đóng góp tự nguyện làm cho công tác thu nộp và quảnlý được tốt hơn

2.2.4 Nguyên tắc quản lý và sử dụng các khoản đóng góp:

Quản lý và sử dụng các nguồn thu trong tài chính công được thực hện

Trang 14

đẳng, công bằng, hiệu quả, hạn chế những tiêu cực, nhất là những rủi ro cótính chất chủ quan khi quyết định các khoản chi tiêu mang tính chất công.

Nguyên tắc công khai, minh bạch: Thực hiện công khai, minh bạch

trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giàm sát, kiểm soát cácquyết định về thu – chi tài chính, hạn chế những thất thoát và bảo đảm tínhhiệu quả

Mọi khoản thu chi của xã phường, thị trấn phải được phản ánh vàongân sách để hội đồng nhân dân thảo luận, quyết định và kiểm tra việc thựchiện Xã, phường, thị trấn không được tùy tiện đặt ra các chế độ thu, chi riênghoặc giữ nguồn thu để lập quỹ ngoài ngân sách trái quy định của nhà nước

Các khoản thu, chi tài chính khác của xã, phường, thị trấn phải hoạchtoán rõ ràng, minh bạch theo từng loại hoạt động

2.3 Những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu về công tác quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở:

Thứ nhất: Nghiên cứu những quy định về các khoản đóng góp.

Tìm hiểu thực trạng các khoản đóng góp Bao gồm những khoản đónggóp gì? Các cấp quy định thu, hình thức thu và thủ tục thu được thực hiện nhưthế nào? Từ đó xem xét các khoản đóng góp đó có phù hợp hay không, xemxét mức tỷ lệ đóng góp so với tổng thu nhập của người dân là bao nhiêu?

Thứ hai: Nghiên cứu về công tác quản lý các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở.

Tìm hiểu quy trình quản lý tài chính công tại cấp xã được thực hiện nhưthế nào và nguyên tắc quản lý? Từ đó thấy được thực trạng quản lý các khoảnđóng góp của dân trên địa bàn xã Duyên Thái huyện Thường Tín thành phốHà Nội như thế nào? Có thực hiện đúng quy trình quản lý

Thứ ba: Nghiên cứu về công tác sử dụng các khoản đóng góp của dân trong tài chính công.

Từ thực trạng công tác quản lý, tìm hiểu nguyên tắc sử dụng các khoản

Trang 15

mức độ người dân được hưởng lợi từ việc đóng góp của họ?

2.4 Thực tiễn quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở ở Trung Quốc và ở nước ta:

2.4.1 Thực tiễn tại Trung Quốc:

Để có những chính sách phù hợp với công tác quản lý và sử dụng cáckhoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở ở nước ta, với kinhnghiệm học tập ở nước bạn láng giềng có nhiều nét tương đồng với ta

Về cơ chế quản lý:

Trung Quốc hiện đang thực hiện chế độ quản lý tài chính cấp xã trựctiếp từ cấp huyện (việc quản lý tài chính cấp xã chỉ mang tính chất đại diện,không trực tiếp tiến hành hoạch toán và phê chuẩn) Mục tiêu của việc quản lýnày là nhằm tránh những sai phạm trong việc thu chi sai chế độ và thu chikhông đúng mục đích của các cấp quản lý tài chính cấp xã Hiện các huyệnthực hiện phân cấp quản lý rõ ràng theo cơ chế chuyên môn, tức cơ quan quảnlý tài chính cấp huyện sẽ phân thành các quầy chuyên môn: quầy quản lý cáckhoản thu, quầy thu – chi bù trừ, quầy quản lý ngân sách giáo dục, quầy quảnlý quỹ bảo hiểm, quầy quản lý quỹ dự án, quầy quản lý tài chính thôn bản vàquầy quản lý tiền lương (7 cửa giao dịch)

Tuy nhiên việc lập dự toán sử dụng các nguồn tài chính của xã vẫnthuộc bộ môn quản lý tài chính cấp huyện quản lý tập trung việc phê duyệt dựtoán ngân sách cấp xã, quản lý tập trung các nguồn thu và hệ thống tài khoản,hóa đơn

Chế độ thu:

Trang 16

- Vượt 25 – 30% thì được giữ lại 60%.

- Vượt > 30% thì được giữ lại 70%

Nếu không đạt chỉ tiêu kế hoạch thì tùy điều kiện cụ thể mà có đượcnhững sự hỗ trợ khác nhau

Chế độ chi:

Chi thủy lợi phí, chi giáo dục, chi văn hóa, chi thể dục thể thao, chi bảovệ môi trường, chi cho các dịch vụ công cộng

2.4.2 Thực tiễn tại Việt Nam:

Tổng hợp các khoản đóng góp của dân trong cả nước:

Trong thời gian qua, chính sách huy động và sử dụng các khoản đónggóp của nhân dân đã được nhiều địa phương, đơn vị thực hiện có kết quả tíchcực, góp phần quan trọng vào việc huy động các nguồn lực tài chính, khôngnhững đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng mà còn giúp nhau xóa đói giảmnghèo, khơi dậy được sức mạnh của cộng đồng với những việc làm hết sứcthiết thực ở địa bàn dân cư Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện các quyđịnh về phí, lệ phí và huy động các khoản đóng góp của nhân dân vẫn cònnhững tồn tại, hạn chế cần khắc phục Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 01tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấn chỉnhviệc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy độngđóng góp mang tính chất xã hội, từ thiện, phải thực hiện theo đúng nguyên tắctự nguyện, hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp không được ra vănbản bắt buộc đóng góp, không được giao chỉ tiêu huy động cho cấp dưới,không việc huy động đóng góp với việc cung cấp các dịch vụ công mà ngườidân được hưởng

Theo đánh giá của Ủy ban Tài chính – ngân sách Quốc hội, một số địaphương nông nóng, huy động đóng góp quá mức so với thu nhập của ngườidân vô hình tạo gánh nặng cho người dân trong điều kiện thu nhập còn thấp,đời sống khó khăn Mức huy động đóng góp của người dân còn được thực

Trang 17

tế khó khăn thì mức đóng góp có xu hướng cao hơn vùng thuận lợi.

Theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố, kết quả điều tra ở 135 xã và 117hợp tác xã nông nghiệp cho thấy số lượng và mức thu của các khoản đónggóp từ hộ nông dân rất khác nhau giữa các địa phương, các vùng Bình quân 1hộ có khoảng 30 khoản với mức đóng góp từ 250.000 đồng đến 800.000đồng/năm Trong đó, có trên 20 khoản phải đóng góp do xã và các tổ chứcthu, với mức thu từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/hộ/năm và khoảng 10khoản chi dịch vụ do hợp tác xã thu, với mức thu từ 200.000 đồng đến400.000 đồng/hộ/năm

Nếu thống kê theo báo cáo của địa phương về các khoản thu chính thứclà loại trừ mức tăng đột xuất của một số khoản thu (so với đa số các địa phươngtrong vùng) thì số lượng các khoản thu và mức thu của các vùng như sau:

Trung du miền núi phía Bắc: có 28 khoản đóng góp chính thức, mứcthu từ 250.000 đến 450.000 đồng hộ/năm, trong đó có 18 khoản do xã khác tổchức thu và 10 khoản phí dịch vụ do hợp tác xã thu

Đồng bằng sông Hồng: có 26 khoản đóng góp chính thức, với mức từ350.000 đến 500.000 đồng hộ/năm, trong đó có 15 khoản do xã và các tổ chứcthu và 11 khoản phí dịch vụ do hợp tác xã thu

Bắc Trung bộ: có 24 khoản đóng góp chính thức, với mức thu 500.000đến 800.000 đồng hộ/năm, trong đó có 14 khoản do xã và các tổ chức khácthu và 9 khoản phí dịch vụ do hợp tác xã thu

Duyên hải Nam Trung bộ: có 28 khoản đóng góp chính thức, với mứcthu từ 400.000 đồng đến 700.000 đồng hộ/năm, trong đó có 19 khoản do xã

Trang 18

khoản phí dịch vụ do hợp tác xã thu.

Đồng bằng sông Cửu Long: có 25 khoản đóng góp chính thức, với mứcthu từ 300.000 đến 700.000 đồng hộ/năm, trong đó có 13 khoản do xã và cáctổ chức thu và 12 khoản phí dịch vụ do hợp tác xã thu

Các khoản đóng góp của nông dân vào tài chính công cấp cơ sở hiệnnay được phân loại như sau:

Các khoản đóng góp do các tổ chức đoàn thể thu, gồm:

Các khoản đóng góp do các tổ chức quy định theo hướng dẫn của cấptrên hoặc được xác định trên cơ sở bàn bạc, thống nhất trong các thành viênđể đảm bảo các hoạt động của tổ chức đó như: Quỹ Hội Nông dân, Hội Phụnữ… với mức thu không lớn, bình quân mỗi thành viên nộp khoảng 7.000đồng/năm

Các khoản đóng góp mang tính chất xã hội như Quỹ chăm sóc ngườicao tuổi, Quỹ xóa đói giảm nghèo hoặc Quỹ vì người nghèo, Quỹ bảo trợ trẻ

em, Quỹ khuyến học… với mức đóng góp bình quân 1 hộ khoảng 5.000 đến10.000 đồng/năm

Các khoản đóng góp do xã thu:

Các khoản do xã thu chủ yếu là thực hiện theo nhiệm vụ được cấp trêngiao: nghĩa vụ lao động công ích, Quỹ an ninh – quốc phòng, Quỹ phòngchống bão lụt, xây dựng trường học, xây dựng giao thông nông thôn… Hiệnnay quỹ An ninh – quốc phòng được miễn thu theo Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ

Mức thu: Các khoản thu cố định được thực hiện theo các văn bản quy

định của Nhà nước như nghĩa vụ lao động công ích, Quỹ an ninh – quốcphòng, Quỹ phòng chống bão lụt… Các khoản thu để xây dựng cơ sở hạ tầngphụ thuộc vào mục đích sử dụng Trong trường hợp để đầu tư mới, các khoảnthu thường lớn Trường hợp để sửa chữa thường xuyên các hạng mục cơ sở hạtầng thì khoản thu không nhiều những ổn định trong thời gian dài

Hình thức thu:

Trang 19

thành viên của tổ chức đó như nông dân, Phụ nữ… Các khoản đóng góp mangtính chất xã hội như Quỹ chăm sóc người cao tuổi, Quỹ xóa đói giảm nghèohoặc Quỹ vì người nghèo, Quỹ bảo trợ trẻ em, Quỹ khuyến học… chủ yếu thutheo hộ.

Các khoản đóng góp do xã thu chủ yếu theo hộ, trừ những khoản đóng

góp được quy định cụ thể đối tượng thu: lao động công ích thu theo lao độngtrong độ tuổi quy định của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích, các hội thucủa các đối tượng là hội viên

Thực trạng công tác thu và sử dụng các khoản đóng góp của dân tại một số địa phương:

Tại tỉnh Thanh Hóa: (Theo PV báo Nhân dân đăng ngày 25/6/2009)

Chấn chỉnh việc thu, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân Thựchiện chỉ thị 24/2007/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cườngchấn chỉnh thực hiện các quy định pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huyđộng, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân, tỉnh Thanh hóa đã và đangchỉ đạo các địa phương tổ chức rà soát, chấn chỉnh việc thu, sử dụng cáckhoản đóng góp của nhân dân

Qua khảo sát, các xã trong tỉnh đang thực hiện 29 khoản thu Riêngnăm 2008, tổng số tiền cấp xã thu được 104 tỷ 583 triệu đồng, gồm: Thu đónggóp xây dựng cơ sở hạ tầng 90 tỷ 120 triệu đồng chiếm 86%; thu đóng gópquỹ xã hội, từ thiện 3 tỷ 530 triệu đồng, chiếm 3% tổng thu đóng góp tại xã.Nguyên tắc thu đóng góp của dân phải trên tinh thần dân chủ, tự nguyệnnhưng nhiều khoản thu thực chất là bắt buộc thực hiện Nhiều địa phương huyđộng đóng góp xây dựng hạ tầng không theo dự án mà ấn định mức thu hằng

Trang 20

thực hiện cưỡng chế thu qua việc khấu trừ vào tiền chính sách bảo trợ xã hộihoặc bắt buộc phải đóng góp các khoản còn nợ chính quyền mới xác nhận cácthủ tục hành chính gây bức xúc, phản ứng gay gắt trong dân sinh.

Kết quả kiểm tra cho thấy, có tới 17 khoản thu do cấp xã ban hànhkhông đúng thẩm quyền, hoặc thu cả những khoản cấp có thẩm quyền đã bãibỏ Ngoài ra, các thôn hiện tại đang thực thu 11 khoản đóng góp với tổng sốthu 19 tỷ 34 triệu đồng Tỉnh chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn bãi bỏngay các khoản đóng góp của nhân dân không đúng quy định, dừng ngay việchuy động đóng góp các loại quỹ đã được bãi bỏ, miễn giảm như quỹ lao độngcông ích, quỹ phòng, chống bão lụt, quỹ dân nuôi, quỹ kiến thiết xã hội, quỹ

tu bổ trường lớp, quỹ an ninh tự quản, quỹ đắp đất dự trữ, quỹ văn hóa xã hội,quỹ quản trang, quỹ chỉ đạo sản xuất, quỹ phòng bệnh gia súc, tiêm phòng thú

y, quỹ dịch vụ bảo nông, quỹ bảo vệ đồn điền, hỗ trợ lương giáo viên mầmnon… Chỉ có ngành tài chính là đơn vị tham mưu cho cấp có thẩm quyền banhành các khoản thu, quản lý nguồn thu Yêu cầu các địa phương thực hiệnnghiêm nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong quản lý,sử dụng các khoản thu đóng góp của nhân dân

Trong khi những cơ chế, chính sách của Nhà nước đang hướng tới việcmiễn, giảm những khoản phí, đóng góp nhằm giảm gánh nặng cho người dân,thì tại xã Xuân Lộc, huyện Triệu Sơn (Thanh Hóa), người dân thường xuyênphải oằn mình với các khoản đóng góp trái với quy định của Nhà nước, khiếnnhân dân bất bình

Qua điều tra, chúng tôi được biết, hiện nay UBND xã Xuân Lộc đangthu các khoản đóng góp của dân trái với quy định của Nhà nước gồm: phí anninh quốc phòng (1,6kg thóc/hộ/năm); đóng góp hỗ trợ các tổ chức đoàn thể(10kg thóc/khẩu/năm); đóng góp làm đường giao thông nông thôn đượcUBND xã này thu với phương thức rất “không giống ai” là 5kg thóc/tạ/năm(mỗi sào ruộng được tính là 3 tạ/vụ); tiền xây dựng cơ sở hạ tầng là 80.000đồng/hộ/vụ tức là 160.000 đồng/hộ/năm).3

Trang 21

“Hiện thành phố Đà Nẵng chỉ còn duy nhất một quỹ đóng góp từ nhândân được huy động dưới hình thức giao chỉ tiêu là quỹ đền ơn đáp nghĩa” –Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Võ Duy Khương khẳng định Theođó, tổng mức vận động cho quỹ đền ơn đáp nghĩa của toàn thành phố trongnăm 2009 là trên 5,33 tỉ đồng “Số tiền này được phân bổ đều cho tất cả cáckhối từ doanh nghiệp, hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và khối cấpquận huyện, xã phường Với cách phân bổ này thì khi về đến địa phương,bình quân mỗi người trong độ tuổi lao động sẽ phải đóng góp 10.000đồng/năm.

Ngoài quỹ đền ơn đáp nghĩa, các quỹ khác là quỹ “Vì người nghèo”,quỹ “Khuyến học” và quỹ “Bảo trợ trẻ em nghèo bất hạnh” đều được huyđộng dưới hình thức vận động không bắt buộc Theo ông Đặng Công Nhật –chủ tịch phường Bình Thuận (quận Hải Châu), người dân vẫn còn tham giađóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùnglàm “Tuy nhiên khoản tiền mà người dân đóng góp không lớn, chiếm khoảng5% giá trị công trình, số còn lại do ngân sách địa phương bỏ ra Việc xâydựng hạ tầng như bê tông hẻm hay mắc điện chiếu sáng công cộng đều phảiđược người dân đồng thuận mới triển khai” Theo ông Đỗ Duy Khương, trongthời gian tới thành phố sẽ dần dẹp bỏ mô hình “Nhà nước và nhân dân cùnglàm”, thay vào đó là ngân sách nhà nước

Trang 22

PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1.1.2 Địa hình đất đai:

Xã Duyên Thái huyện Thường Tín thành phố Hà Nội thuộc đồng bằngchâu thổ sông Hồng Vùng đất có cấu tạo địa chất tương đối đơn giản do lớpthổ nhưỡng được hình thành bởi lượng phù sa sông Hồng bồi đắp

3.1.1.3 Khí hậu thời tiết:

Duyên Thái là xã đồng bằng với khí hậu đặc thù vùng nhiệt đới quanhnăm bốn mùa xuân, hạ, thu, đông

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai:

Trang 23

Bảng 3.1 Tình hình biến động đất đai của xã qua 3 năm 2007- 2009

ĐVT: ha

2.2Đất điểm công nghiệp làng nghề 12,5 12,5 12,5 100,00 100,00 100,00

(Nguồn: Ban thống kê xã Duyên Thái)

Trang 24

Đất đai trong nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt khôngthể thay thế được, đất đai vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động.Đất là thành phần quan trọng của môi trường sống, phân bố dân cư, xây dựngcác cơ sở kinh tế văn hóa và xã hội Với sinh vật, đất đai không chỉ là môitrường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suấtcây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Do vậy, đất đailà một tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt.Đất đai ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống dân sinh – kinh tế - xãhội, trở thành mối quan tâm hàng đầu vì đất có hạn trong khi đó các nhu cầusử dụng đất ngày càng tăng, đặc biệt là ở các vùng đô thị Đất đai sản xuấtnông nghiệp đang dần bị thu hẹp, nhường chỗ cho các khu công nghiệp, khi

đô thị, đây chính là một bài toán khó đối với Nhà nước nói chung và chínhquyền địa phương nói riêng

Diện tích đất nông nghiệp của xã 209,5ha chiếm 53,94%; diện tích đấtchuyên dùng 169,46ha chiếm 43,63% (Trong đó: đất cụm công nghiệp 18,7

ha chiếm 4,8%, đất điểm công nghiệp làng nghề 12,5ha chiếm 3,2%); đấtchưa sử dụng 9,47ha chiếm 2,44%

3.1.2.2 Tình tình dân số và lao động:

Hiện xã có 2535 hộ với 9840 nhân khẩu làm ăn sinh sống trên địa bàn(số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009); 99,8% là người thuộc dân tộckinh có đời sống tinh thần tín ngưỡng hướng đạo phật; lực lượng lao độngtrong độ tuổi của xã chiếm 53,6% với 5269 lao động (trong đó lao độngchuyên về nông nghiệp chiếm 17% với 896 lao động; lao động kết hợp nông,công, tiểu thủ công nghiệp ngành nghề, thương mại, dịch vụ chiếm 65% với

3424 lao động; lao động chuyên về công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựngchiếm 18% với 949 lao động)

Trang 25

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2007 – 2009

(người)

2008 (người)

2009 (người)

So sánh (%)

1.Theo ngành nghề

Trang 26

ty Hồng Vân quản lý, ba trạm của xã quản lý) đảm bảo quản lý phục vụ tướitiêu sản xuất nông nghiệp đạt 90% hiệu quả, hệ thống kênh mương của xãkhoảng 22km đã được kiên cố hóa các tuyến chủ yếu 8km đạt 63,4%.

- Điện: xã có 10 tuyến đường điện hạ thế với 12km đáp ứng phục vụ100% hộ, cơ sở sản xuất sử dụng điện sinh hoạt, sản xuất

- Trường học, trạm y tế: xã có ba trường học (trường trung học cơ sởvới quy mô 15 lớp đáp ứng học tập cho 500 học sinh; trường tiểu học 20 lớpđáp ứng học tập cho trên 700 học sinh; trường mầm non 20 lớp đáp ứng họctập cho trên 700 học sinh; số học sinh trung học cơ sở hàng năm tốt nghiệpđược tiếp tục học trung học phổ thông, học nghề đạt 50%; địa phương có mộttrạm y tế đạt chuẩn Quốc gia theo quy định của ngành, phong trào nhân dântham gia các hình thức bảo hiểm y tế tự nguyện hàng năm đạt 21%

- Các cơ sở xã hội khác: trên địa bàn xã có 4 chợ nhỏ; một đội vệ sinhmôi trường thu gom rác thải, 1 nghĩa trang liệt sỹ, 3 nghĩa trang nhân dân ở bathôn; một điểm bưu điện văn hóa; 11 điểm truy cập internet; một sân thể thaocấp xã, một sân thể thao cấp thôn; 3 nhà văn hóa thôn; 3 đình chùa ở 3 thôn(có 2 đình chùa Duyên Trường – Hạ Thái được xếp hạng di tích cấp tỉnh); xãcó 2/4 thôn, khu dân cư đạt tiêu chuẩn làng văn hóa cấp huyện; xã không cònnhà tạm, nhà dột nát, số hộ có nhà kiên cố đạt 30%; số hộ có nhà bán kiên cốđạt 70%; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 89,3%; tỷ lệ ngườidân của xã sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 97,6%

Trang 27

3.1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế:

Cơ cấu ngành kinh tế của xã công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm40%; thương mại dịch vụ chiếm 30%; nông nghiệp chiếm 30%, những nămgần đây tỷ trọng doanh thu ngành kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,ngành nghề, thương mại dịch vụ chiếm 80%, tỷ trọng doanh thu ngành kinh tếnông nghiệp chỉ chiếm 20%; tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của xã từ8,5% đến 11% Trên địa bàn xã có 5 tổ chức kinh tế (4 tổ chức kinh tế cổphần nhà nước; 1 tổ chức kinh tế vốn đầu tư nước ngoài); một tổ chức kinh tếtập thể Hợp tác xã kinh doanh phục vụ tổng hợp nông nghiệp; một cụm côngnghiệp với quy mô 10 cơ sở kinh tế tư nhân sản xuất kinh doanh; một điểmcông nghiệp với 153 cơ sở, hộ gia đình tham gia đầu tư sản xuất kinh doanhcòn lại là các hộ gia đình sản xuất, kinh doanh buôn bán nhỏ kết hợp nông,công, thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ; thu thập bình quân đầu người mộtnăm của xã đạt khoảng 8.200.000đ; tỷ lệ hộ nghèo của xã còn 3,4%

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu:

3.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp:

Là các tài liệu đã được công bố, được thu thập thông qua các tài liệu về

cơ sở lý luận và các báo cáo của địa phương như:

- Các giáo trình về tài chính công; các quyết định, văn bản của nhànước về quy định các khoản đóng góp của dân (Phục vụ cho phần cơ sở lýluận của đề tài)

- Phòng kế toán xã, phòng thống kê xã, phòng nông nghiệp xã, phòng

Trang 28

3.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu sơ cấp:

a Đối tượng thu thập số liệu:

Đối tượng thu thập chủ yếu là 02 nhóm gồm:

- Cán bộ quản lý tài chính công cấp xã: tìm hiểu bộ máy quản lý tàichính công cấp xã; tìm hiểu quy trình quản lý tài chính công cấp xã; tổng hợpkết quả thu và chi các khoản đóng góp của dân; tìm hiểu kết quả sử dụng cácnguồn thu đóng góp của dân

- Người dân tham gia trực tiếp đóng góp: tìm hiểu thực tế các khoản đónggóp của người dân theo từng loại hộ (khá – giàu, trung bình, nghèo) từ đó sosánh mức độ đóng góp/tổng thu ngân sách xã; tìm hiểu thu thập của từng loại hộ,từ đó so sánh mức độ đóng góp của từng loại hộ so với tổng thu nhập; đánh giávề mức độ đóng góp dưới cái nhìn của người hưởng lợi

b Chọn mẫu điều tra:

Theo đối tượng điều tra ở trên thì số mẫu điều tra được phân làm hailoại: điều tra cán bộ tham gia quản lý tài chính công cấp xã và người dân trựctiếp đóng góp cho địa phương

- Đối với cán bộ quản lý tài chính xã: đề tài tiến hành điều tra 04 cánbộ gồm 01 cán bộ tài chính xã, 03 cán bộ trưởng, phó các ban ngành

- Đối với người dân: các hộ điều tra được lựa chọn theo điều kiện kinhtế: hộ khá – giàu, hộ trung bình và hộ nghèo

Sau khi chọn số lượng mẫu, chúng tôi lấy danh sách hộ để phân loại hộtheo loại hình hộ sản xuất nông nghiệp, hộ kiêm, hộ nghề thủ công nghiệp,phân theo mức sống hộ nghèo, hộ trung bình và hộ khá – giàu của xã để từ đóchọn mẫu điều tra theo cách chọn ngẫu nhiên

Trang 29

Bảng 3.3 Số lượng các hộ điều tra tại xã

hộ (hộ)

Hộ khá giàu

Hộ trung bình

Hộ nghèo

Số hộ điều tra Hộ

khá giàu

Hộ trung bình

Hộ

Cơ cấu (%)

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)

Trang 30

c Nội dung thu thập:

Nội dung phỏng vấn các cán bộ quản lý tài chính xã về các khoản đónggóp của dân trong tài chính công: công tác lập kế hoạch thu – chi các khoảnđóng góp; quy trình, cách thức thu chi các khoản đóng góp của dân trong tàichính công cấp xã; hàng năm có thực hiện công khai thu chi các khoản đónggóp của dân; hình thức công khai; có ghi chép, theo dõi chi tiết thu và chi cáckhoản đóng góp của dân vào ngân sách địa phương không…

Nội dung phỏng vấn các hộ trên điạ bàn nghiên cứu về thực trạng mứcđóng góp: tìm hiểu tình hình chung của hộ; mức đóng góp vào tài chính cấpxã; nhận định về các khoản đóng góp…

3.2.2 Phương pháp phân tích

Phương pháp xử lý số liệu:

Số liệu thu thập được từ điều tra, khảo sát được mã hóa và nhập vào hệ

cơ sở dữ liệu trên máy tính, sử dụng phần mềm Excel

Phương pháp phân tích số liệu:

Phương pháp thống kê kinh tế được sử dụng chủ yếu trong quá trìnhphân tích để rút ra nhận xét, kết luận về đối tượng nghiên cứu gồm:

- Thống kê mô tả: phương pháp này sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối,

số tương đối để mô tả thực trạng tình hình đóng góp của người dân trong tàichính công xã; thông qua số liệu điều tra, tính toán các chỉ tiêu liên quan đếntình hình của hộ Từ đó, phân tích thực trạng kinh tế hộ, các khoản đóng gópcủa hộ, thực trạng quản lý và sử dụng các khoản đóng góp Đồng thời chỉ ranhững bất hợp lý trong đóng góp của hộ tại địa phương, đề xuất công tác quảnlý và sử dụng có hiệu quả hơn

- Thống kê so sánh: phương pháp này để so sánh số tuyệt đối, số tương

đối, so sánh để thấy được mức độ đóng góp của nhóm hộ dân này so vớinhóm hộ khác, cũng như mức độ đóng góp của từng loại hộ tại địa phương; sosánh khoản đóng góp của dân trong tổng ngân sách xã; so sánh khoản đóng

Trang 31

năm trước để biết được nhịp độ biến động như tốc độ phát triển về thu nhập,dân số, lao động…

Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: khi thu thập số liệu, xây

dựng đề cương chi tiết về vấn đề nghiên cứu cần tham khảo ý kiến lãnh đạocấp cơ sở, cán bộ quản lý tài chính, hộ nông dân và những người có kinhnghiệm, hiểu biết về vấn đề nghiên cứu Sau khi tổng hợp, phân tích số liệuthực trạng tại địa bàn nghiên cứu căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế chungcủa xã và ý kiến của lãnh đạo để đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quảquản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân

3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu:

Các khoản đóng góp/hộ/năm: chỉ tiêu này phản ánh một hộ/năm phải

đóng bao nhiêu khoản, đó là những khoản gì, các khoản ấy phải đóng thườngxuyên hay chỉ phát sinh ở mỗi năm, số lượng các khoản ấy so với mức bìnhquân chung…

Mức đóng góp/hộ/năm: với các khoản đóng góp ấy thì mức độ đóng là

bao nhiêu, hợp lý hay chưa hợp lý và giữa các hộ khác nhau có mức độ đóngnhư thế nào

Mức đóng góp/khẩu: với số lượng và mức đóng góp của từng loại hộ

khác nhau như vậy thì mỗi khẩu trong một hộ sẽ phải đóng bao nhiêu

Tỷ lệ đóng/tổng thu nhập của hộ/năm: đây là một trong những chỉ tiêu

quan trọng, phân tích đánh giá chỉ tiêu này để biết được tổng số tiền mà mộthộ phải đóng chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập của hộ, từ đóxem xét tác động của nó đến đời sống của các hộ

Trang 32

Tỷ lệ các khoản đóng góp được theo dõi ghi thu chi qua ngân sách:

phản ánh tỷ lệ số khoản đóng góp trên tổng số khoản đóng góp của dân đượctheo dõi vào ngân sách Qua đây cho thấy tình hình quản lý các khoản đónggóp có đúng quy định tài chính không, những khoản đóng góp nào để ngoàingân sách…

Mức độ hưởng lợi của người dân từ các khoản đóng góp: chỉ tiêu này

phản ánh xem người dân được hưởng lợi ích gì từ các khoản đóng góp, mứcđộ hưởng lợi nhiều hay ít…

Giá trị các khoản đóng góp/tổng giá trị các công trình được xây dựng

từ nguồn đóng góp của dân trên địa bàn: chỉ tiêu này xem xét tỷ lệ đóng góp

của người dân chiếm bao nhiêu % trong tổng giá trị các công trình, mức độnhư vậy là nhiều hay ít…

Trang 33

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thực trạng các khoản đóng góp và thực trạng công tác quản lý sử dụng các khoản đóng góp của dân trong tài chính công xã Duyên Thái:

4.1.1 Thực trạng các khoản đóng góp của người dân xã:

4.1.1.1 Tổng thu ngân sách xã giai đoạn 2007-2009

Quá trình xây dựng và phát triển của xã phụ thuộc lớn vào các khoảnthu ngân sách của xã Là một xã ngành nghề công nghiệp – tiểu thủ côngnghiệp chiếm tỷ trọng lớn 40%, thương mại dịch vụ chiếm 30%, nông nghiệpchiếm tỷ trọng 30% trong cơ cấu kinh tế Nhưng Đảng bộ và nhân dân xãDuyên Thái luôn nỗ lực hết sức mình để thực hiện thắng lợi mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội với những tiềm năng vốn có của mình, trong những nămgần đây xã đã có những bước phát triển đáng kể về tổng thể, đặc biệt là tìnhhình kinh tế tài chính bên cạnh đó còn được bổ sung từ ngân sách cấp trên.Mặc dù nguồn thu của huyện còn hạn chế, song UBND xã đã tìm mọi cáchkhắc phục khó khăn để khai thác triệt để mọi nguồn thu Đồng thời tạo điềukiện khuyến khích phát triển kinh tế trong nhân dân, chú trọng việc làm ăn cóhiệu quả

Xã Duyên Thái cũng như bất cứ địa phương nào khác để có đượcnguồn thu ngân sách duy trì hoạt động thì nguồn thu chủ yếu là dựa vào cáckhoản đóng góp của người dân cũng như vào các loại phí, lệ phí và các khoảnthuế Qua 3 năm (2007 – 2009) tổng nguồn thu toàn xã đã tăng từ 992,8 triệu

Trang 34

(2009) Năm 2009 có nhiều khoản thu như phí, lệ phí tăng lên đến 73,9 triệuđồng nguyên nhân một phần là do huyện Thường Tín giao cho xã thu phíchứng thực, tiền thu quỹ đến công ích chiếm 194,3 triệu đồng do thu nợ từ cácnăm trước, năm 2009 xã không thu tiền chuyển quyền sử dụng đất do việc sátnhập tỉnh Hà Tây vào Hà Nội.

Bảng 4.1 Tổng hợp thu ngân sách tại xã Duyên Thái huyện Thường Tín

thành phố Hà Nội giai đoạn năm 2007-2009

Nội dung

Giá trị (triệu đồng)

Cơ cấu (%)

Giá trị (triệu đồng)

Cơ cấu (%)

Giá trị (triệu đồng)

Cơ cấu (%)

1 Các khoản thu xã

1.1 Phí, lệ phí 34,9 3,50 41,9 0,36 73,9 1,791.2 Quỹ đất công ích 23,6 2,37 5800 49,96 194,3 4,711.3 Thuế môn bài 20,5 2,06 22,1 0,19 37,6 0,91

4.1.1.2.1 Nội dung các khoản đóng góp của dân:

Các khoản đóng góp của người dân thể hiện rất đa dạng đó là cáckhoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác Có những khoản được

Trang 35

pháp lý, nhiều khoản đóng góp được quy định trong các văn bản của Nhànước, của tỉnh, tuy nhiên còn nhiều khoản đóng góp do địa phương tự đặt ra,có khoản mang tính chất tự nguyện nhưng cũng có khoản mang tính chất bắtbuộc.

Các khoản do UBND xã thu là:

- Thuế nhà đất, tiền chuyển quyền sử dụng đất, thuế môn bài: đóng góptheo pháp lệnh Nhà nước

- Phí, lệ phí: đóng góp theo pháp lệnh Nhà nước, công văn số619/STC–QLNS–UB ngày 07/04/2008 của Sở Tài Chính về việc hướng dẫnthực hiện miễn một số khoản phí, lệ phí theo Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày01/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ

- Quỹ tình nghĩa: thông báo của UBND xã, trung bình 10.000đ/hộ/năm

- Quỹ khuyến học: thông báo của UBND xã 7.000đ/hộ/năm

- Quỹ vệ sinh môi trường: thông báo của UBND xã 5.000/hộ/tháng

- Quỹ xây dựng cơ sở hạ tầng: mức thu theo từng hạng mục công trình.Các khoản do hợp tác xã thu là: phí quản lý và điều hành hợp tác xã,dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ thú y, phí bảo vệ đồn điền, thiết kế đồngruộng: do hợp tác xã dịch vụ nên người dân sử dụng dịch vụ nào thì đóng tiềndịch vụ đó

Các khoản do thôn, xóm thu là: quỹ xóm, quỹ tang hiếu: do thôn xómquy định

Để thực hiện huy động các khoản đóng góp theo văn bản Nghị định củaChính phủ, chủ trương của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn của Bộ, cơquan ngang Bộ, các kế hoạch giao thu… Tại xã thu các khoản đóng góp của

Trang 36

quyền cho thôn, xóm tự cân đối thực hiện sau khi công trình hoàn thành sẽ lậpquyết toán gửi UBND xã để ghi chép vào Ngân sách Trong phạm vi nghiên cứucủa đề tài là đóng góp của dân vào tài chính công cấp cơ sở nên tôi chỉ dừng lạinghiên cứu các khoản do UBND xã quyết định cho thu Những khoản thu dohợp tác xã quy định đây là chi phí để dùng các dịch vụ do hợp tác xã cung cấp.Còn các khoản thu do thôn, xóm tự quy định thu thì đây là những khoản thuphục vụ cho một nhóm người, không được pháp luật quy định, thu để phục vụlợi ích của người dân trong khu vực, không phải là một cấp chính quyền đượchưởng ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước.

4.1.1.2.2 Tình hình chung về hộ điều tra:

Bảng 4.2 Tình hình chung về hộ điều tra năm 2009

- Tổng số nhân khẩu Khẩu 247

- Hộ khá – Giàu đ/hộ 60.320.000

- Hộ trung bình đ/hộ 37.186.00

(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra) 4.1.1.2.3 Thực trạng các khoản đóng góp của hộ dân vào tài chính công cấp

cơ sở

Các khoản đóng góp của người dân thể hiện rất đa dạng, đó là cáckhoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác Có những khoản đượcquy định trong danh mục, có khoản không có quy định và chỉ phát sinh trong

Trang 37

được quy định trong các văn bản của Nhà nước, của tỉnh, tuy nhiên cũng cónhiều khoản do địa phương đặt ra, có khoản mang tính chất tự nguyện nhưngcũng có khoản mang tính chất bặt buộc.

Đối tượng thu chủ yếu nghiên cứu ở mức tỉnh quy định thu và UBNDxã quy định thu thì tại xã có 8 khoản thu; khoản thu từ UBND xã thu có giá trịlớn, trong đó nhiều nhất là khoản đóng góp để xây dựng cơ sở hạ tầng ở nôngthôn như: đóng quỹ xây dựng đường, quỹ xây dựng nhà văn hóa…

Vấn đề cần quan tâm là số khoản thu từ các đối tượng do ai quy định,quy trình quản lý như thế nào và các tổ thức thu để sử dụng vào mục đích gì?Có hiệu quả hay không? Người dân được hưởng lợi gì từ những khoản đónggóp đó? Đây là vấn đề cần làm rõ để điều chỉnh các hành vi thu – quản lý vàsử dụng cho hợp lý

Mức đóng góp bình quân của hộ cho các đối tượng

Bảng 4.3 Mức đóng góp bình quân của hộ cho các đối tượng năm 2009

ĐVT: 1.000đồng

Đối tượng thu

Số

lượng

Cơ cấu(%)

Số

lượng

Cơ cấu(%)

Số

lượng

Cơ cấu(%)

UBND xã quy định thu

- Quỹ vệ sinh môi trường 60 18,75 60 19,80 60 32,96

Trang 38

thì phải đóng phí cho nhà nước; thứ hai là những khoản đóng góp mang tínhphúc lợi được thu dưới hình thức bắt buộc hay tự nguyện.

Ngoài những khoản đóng góp có tính chất tự nguyện thì các hộ nôngdân nơi đây còn phải đóng thêm các loại thuế, phí và các loại lệ phí khác nhaunhư thuế nhà đất, thuế môn bài đối với những hộ kinh doanh buôn bán Tuynhiên thuế nhà đất là khoản thu thường xuyên chiếm từ 9% - 18% số tiền màngười dân phải đóng góp Các khoản phí và lệ phí mà người dân phải đóngcho xã mỗi khi có liên quan đến thủ tục hành chính: như đăng ký khai sinh,tạm trú tạm vắng, chứng thực hồ sơ…mức thu của mỗi loại phí này rất khácnhau 2000 – 4000đ/lần, số tiền phải đóng cho mỗi lần tuy không nhiều nhưngnếu nhiều lần và cộng tất cả vào thì thật sự không phải là nhỏ khi mà ngườidân đã phải đóng nhiều khoản đóng góp như hiện tại Bình quân mỗi hộ cũngphải đóng 9 – 10 % tổng đóng góp trong năm

Đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng là khoản đóng góp chiếm tỷ lệ nhiềunhất trong tổng số phải nộp đối với hộ dân, khoản này chiếm tư 30 – 48%tổng đóng góp hàng năm của hộ dân Đối với những hộ khá – giàu, trung bìnhthì mức đóng góp để xây dựng cơ sở hạ tầng như vậy thì họ có khả năng sẵnsàng đóng góp không ảnh hưởng nhiều đến đời sống kinh tế của hộ nhưngngược lại đối với những hộ nghèo đời sống đang khó khăn, họ phải lo từngbữa cơm manh áo thì đây là một con số khó khăn đối với họ Xét về sự côngbằng trong xã hội, trên thực tế nhiều địa phương người nông dân phải tự bỏtiền để xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng lại được hưởng chất lượng dịch vụ thấphơn cư dân thành phố được hưởng dịch vụ từ cơ sở hạ tầng phát triển nhưnglại do Nhà nước đầu tư Đó là sự chưa được công bằng và điều này vẫn xảy ratrên mọi miền đất nước Có nhiều sự hệ lụy của các khoản đóng góp khi mộtsố hộ dân do đời sống kinh tế khó khăn họ không nộp đủ các khoản đóng gópcủa xã, nhiều địa phương gây cản trở trong việc giải quyết các thủ tục hànhchính như xin chứng thực các loại giấy tờ, thủ tục như xác nhận hồ sơ, nhập

Trang 39

người dân Mà theo quy định người dân chỉ phải nộp các khoản lệ phí của cácloại hồ sơ công việc được giải quyết theo danh mục phí và lệ phí được niêmyết công khai tại nơi tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cho người dân.

Nhận định chung của hộ điều tra về khoản đóng góp trong năm 2009:

Theo nhận định của hộ điều tra: 100% số khoản đóng góp đều giảmnhưng giá trị đóng góp thì tăng Vì thế, tuy nhiên hầu hết các hộ điều tra đềumong muốn được giảm hoặc xóa bớt một số khoản đóng góp như quỹ xâydựng cơ sở hạ tầng đề nghị Nhà nước đầu tư ngân sách hơn nữa để giảm phầnđóng góp cho người dân, đặc biệt là những hộ khó khăn

Số khoản đóng góp hiện nay giảm được đi nhiều so với năm 2007nhưng giá trị vẫn còn cao đặc biệt là đóng góp vào quỹ xây dựng cơ sở hạtầng Nhìn chung, theo số liệu điều tra tham vấn sự nhận định của người dântrên địa bàn tôi nhận thấy đối với hộ dân khá – giàu thì những khoản đónggóp này không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của hộ hơn nữa đóng góp nàytác động tích cực nên họ sẵn sàng chi trả thậm chí đối với đóng góp xây dựng

cơ sở hạ tầng còn có hộ đề nghị được tăng cường đầu tư hơn nữa

Qua điều tra, người dân đều mong muốn rằng các loại phí thuộc tráchnhiệm của Nhà nước hoặc mang tính chất phúc lợi xã hội thì được ngân sáchchi, những khoản phục vụ lợi ích riêng cho cộng đồng dân cư đặc biệt là cáckhoản xây dựng các công trình thì nhân dân sẵn sàng đóng góp, song Nhànước nên có những chính sách hỗ trợ nhiều hơn nữa cho nhân dân Riêng đốivới những khoản đóng góp từ thiện tiếp tục duy trì đóng góp trên cơ sở tựnguyện chứ đừng bắt buộc

Trang 40

- Thuế nhà đất 28,85 75,15 30,38 69,62 69,64 30,36

- Tiền CQSD đất 29,55 70,45 46,48 53,32 55,39 44,61

- Quỹ XDCSHT 16,84 83,16 19,38 80,62 23,23 76,77

(Nguồn:Tổng hợp phiếu điều tra) 4.1.1.3 Đánh giá các khoản đóng góp của người dân trong tài chính công cấp xã: 4.1.1.3.1 Ý kiến của người dân:

Qua tìm hiểu thực tế được biết người dân nơi đây đang phải chịu nhiềukhoản đóng góp với mức độ và số lượng khác nhau Họ đều cho rằng ngoài khoảnthu lớn nhất là các khoản xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn, các khoảncòn lại có mức đóng góp thấp hơn tuy nhiên số lượng vẫn còn nhiều

Về khoản đóng góp xây dựng giao thông nông thôn hàng năm phảiđóng bình quân với mức 112 nghìn đồng/khẩu, nếu với mức đóng góp này thìmột hộ có 4 khẩu một năm phải đóng tới gần 448 nghìn đồng Người dân đềnghị nên giảm mức đóng góp xây dựng đường giao thông xuống còn 60.000đồng/khẩu/năm Ngoài khoản đóng góp xây dựng đường giao thông nôngthôn thì hàng năm người dân trong xã còn phải đóng nhiều khoản phát sinhnhư xây dựng trường học, xây dựng đường làng ngõ xóm… Vì vậy, ngườidân cũng đề nghị được giảm mức đóng với những khoản này xuống với mứclà 20-30% so với trước đây

Về khoản đóng góp xây dựng nhà văn hóa hiện nay mức đóng bìnhquân mỗi hộ là 20 nghìn đồng/khẩu/năm người dân đề nghị giảm xuống còn

16 nghìn đồng/khẩu/năm

Theo ý kiến của các hộ nông dân các loại việc thuộc trách nhiệm củaNhà nước hoặc mang tính chất phúc lợi chung thì do ngân sách nhà nước chi,những loại việc kết cấu hạ tầng thì phải huy động sự đóng góp của cộng đồngnhưng Nhà nước phải hỗ trợ, các khoản hội phí…tiếp tục được duy trì trên cơ

Ngày đăng: 29/07/2016, 21:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Tình hình biến động đất đai của xã qua 3 năm 2007- 2009 - Tìm hiểu về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong  tài chính công tại  xã duyên thái huyện thường tín thành phố hà nội
Bảng 3.1 Tình hình biến động đất đai của xã qua 3 năm 2007- 2009 (Trang 23)
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2007 – 2009 - Tìm hiểu về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong  tài chính công tại  xã duyên thái huyện thường tín thành phố hà nội
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2007 – 2009 (Trang 25)
Bảng 3.3 Số lượng các hộ điều tra tại xã - Tìm hiểu về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong  tài chính công tại  xã duyên thái huyện thường tín thành phố hà nội
Bảng 3.3 Số lượng các hộ điều tra tại xã (Trang 29)
Bảng 4.2 Tình hình chung về hộ điều tra năm 2009 - Tìm hiểu về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong  tài chính công tại  xã duyên thái huyện thường tín thành phố hà nội
Bảng 4.2 Tình hình chung về hộ điều tra năm 2009 (Trang 36)
Bảng 4.5: Tỷ lệ các khoản thu được phát biên lai cho các hộ trên địa bàn - Tìm hiểu về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong  tài chính công tại  xã duyên thái huyện thường tín thành phố hà nội
Bảng 4.5 Tỷ lệ các khoản thu được phát biên lai cho các hộ trên địa bàn (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w