NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA I.. Trước những yêu cầu đòi hỏi cấp thiết của giáo dục và đào tạo
Trang 1NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG NGOẠI KHÓA
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hội nghị lần thứ hai của ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII đã đề ra bốn giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cho ngành giáo dục và đào tạo, mà một trong bốn giải pháp đó là: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”
Dự thảo báo cáo chính trị tại đại hội X của Đảng đã nêu: “Một nền giáo dục hiện đại phải dạy cho con người biết học cách học, học cách làm, học cách tổ chức các tri thức, liên kết các tri thức nhằm nâng cao hiệu quả hành động của mình” Trước những yêu cầu đòi hỏi cấp thiết của giáo dục và đào tạo nước nhà, mà trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp học nhằm phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, nâng cao nhận thức của người học, giúp người học vừa lĩnh hội được hệ thống tri thức khoa học phổ thông, vừa cập nhật được những tri thức khoa học mới, hiện đại để khi bước vào đời không bị bỡ ngỡ trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật
Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thực hành trong dạy học hóa học không những tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội hệ thống tri thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, phát triển tư duy, mà còn giúp học sinh hình thành thế giới quan khoa học đúng đắn Trong hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học hóa học nói riêng, hứng thú học tập là động lực thúc đẩy tính tích cực, tự giác trong học tập, lòng say mê, ham hiểu biết tri thức khoa học Thực tiễn chứng tỏ rằng thiếu hứng thú học tập làm cho tinh thần mệt mỏi, làm giảm khả năng
tư duy, giảm khả năng lĩnh hội tri thức và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự yếu kém trong học tập
Do khối lượng kiến thức của nhân loại là một kho tàng khổng lồ và ngày càng được bổ sung, trong khi đó thời gian học trên lớp chưa đáp ứng được việc tiếp cận toàn bộ lượng kiến thức này Chủ trương của bộ giáo dục và đào tạo là tăng thời gian học tập trên lớp nhằm giảm tải và đưa thêm một lượng kiến thức mới vào chương trình sách giáo khoa mới so với bộ sách cải cách giáo dục Nhưng còn một lượng tri thức khoa học lớn cần hiểu, cần biết mà chưa có điều kiện để đưa vào chương trình Vì vậy, để giải quyết vấn đề này đối với bộ môn hóa học thì việc tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học có ý nghĩa thiết thực
Thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường THPT Sông Ray đã được chú trọng Nhưng nội dung và hình thức tổ chức chưa phong phú nên phần nào đã ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ môn hóa học của học sinh
Với những lí do trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao năng lực nhận
thức và hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động ngoại khóa”
Trang 2II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 C S LÍ LUẬN VÀ THỰC TI N C A VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1: Hoạt động nhận thức
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người,
là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể
- Nhận thức không phải là cái gì khác, mà là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người
- Con người có thể nhận thức thế giới vật chất, có những sự vật, hiện tượng mà con người chưa biết, nhưng trải qua thời gian với sự phát triển của khoa học kĩ thuật
và thực tiễn, con người rồi sẽ nhận thức được Không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được, nhưng rồi sẽ nhận thức được
- Khẳng định sự phản ánh hiện thực khách quan là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh đó xảy ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn
- Nhận thức không phải là sự phản ánh đơn giản, nhất thời mà là quá trình biện chứng, quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn
- Thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lí
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: “Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, trên cơ sở thực tiễn” V.I Lênin đã vạch rõ quy luật chung của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan”
* Hoạt động nhận thức có 2 hình thức:
- Nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng)
- Nhận thức lí tính (khái niệm, phán, đoán, suy luận)
Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập là một quá trình vận động không ngừng, từ chổ chưa biết đến biết được, từ chổ biết chưa đầy đủ, chưa đúng đắn đến đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, sự hoạt động đó phải trải qua nhiều con đường khác nhau
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động tìm tòi và tiếp thu những kiến thức trong kho tàng kiến thức của nhân loại Vì vậy, hoạt động nhận thức đóng vai trò rất quan trọng, ban đầu từ những cảm giác, tri giác, biểu tượng tiếp theo là những khái niệm, phán đoán, suy luận học sinh dần dần biết, hiểu và vận dụng kiến thức thành thạo
1.2:Hứng thú học tập
A.G Covaliop cho rằng: “Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đ c biệt
Trang 3của chủ thể với đối tượng của hoạt động học tập về sự cuốn hút về tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân”
iểu hiện của hứng thú học tập: Hứng thú học tập được biểu hiện ở m t sau:
- Về m t nhận thức: Người học nhận thức được vai trò của đối tượng hoạt động, trong cuộc sống, trong quá trình lĩnh hội tri thức
- Về m t xúc cảm: Ham học, chờ đón kiến thức mới, nhận thức và lí giải các nguyên nhân tạo ra sự yêu thích ấy của chủ thể
- Về m t hành động: Là tính tìm kiếm tích cực (biết giả định, biết tìm cách khắc phục khó khăn để giải quyết vấn đề) Quá trình tích cực suy nghĩ là hạt nhân của hứng thú học tập
Vai trò của hứng thú học tập
Về phương diện tâm lí học: Hứng thú được xem như là một cơ chế bên trong,
sự biểu hiện của động cơ thúc đẩy quá trình nhận thức của con người Trong đó, hứng thú nhận thức được xem là biểu hiện của động cơ chủ đạo trong hoạt động học tập của người học
Kết quả học tập của người học không chỉ phụ thuộc vào đ c điểm trí tuệ của cá nhân, mà còn phụ thuộc vào động cơ, thái độ và hứng thú học tập của người học Hứng thú học tập có tác dụng nâng cao tính tích cực, tự giác và làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, hứng thú học tập tạo ra sự say mê nghiên cứu, tìm tòi kiến thức, nhu cầu cần hiểu biết về một lĩnh vực, một bộ môn khoa học nào đó, giúp người học có thể vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích nhanh nhất
Trong hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học hóa học nói riêng hứng thú học tập có vai trò đ c biệt quan trọng, nó là động lực thúc đẩy học sinh tìm tòi, hiểu biết và vận dụng kiến thức một cách linh động Tài nghệ sư phạm và nhân cách của người giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự duy trì và phát triển hứng thú học tập cho học sinh
* Phương pháp kích thích hứng thú học tập của học sinh
- Nghiên cứu lí thuyết xen kẽ với thực nghiệm
- Tăng cường mối liên hệ giữa lí thuyết với thực tiễn
- Sử dụng có hiệu quả các thí nghiệm, các tư liệu lịch sử hóa học, tính hấp dẫn của các tình huống và tính chất các nguyên tố, các hợp chất
- Kết hợp dạy học chương trình nội khóa và ngoại khóa, tăng cường mối liên
hệ liên môn học
1.3:Hoạt động ngoại khoá
1.3.1: Khái niệm hoạt động ngoại khoá
Hoạt động ngoại khoá được hiểu là những hoạt động học tập, giáo dục học sinh
mà được tổ chức ngoài chương trình học bắt buộc và tự chọn, do giáo viên điều khiển có sự hỗ trợ của các đoàn thể và xã hội
1.3.2: Mục đích của hoạt động ngoại khoá
- Nâng cao năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ môn cho học sinh
- Giáo dục cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, củng cố niềm tin khoa học cho học sinh
Trang 4- Củng cố, mở rộng, nâng cao và khắc sâu kiến thức cho học sinh
- ước đầu cho học sinh tập làm quen với nghiên cứu khoa học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Hình thành ở học sinh những đức tính tốt đẹp của người lao động
1.3.3: Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động ngoại khoá hoá học
- Phát triển hứng thú học tập, nâng cao và mở rộng kiến thức hoá học, phát triển kĩ năng thực hành, thí nghiệm, kích thích lòng ham hiểu biết hoá học
- Phát triển tính tích cực, sáng tạo và rèn luyện kĩ năng giải quyết các vấn đề khoa học, trí thông minh của học sinh
- Chuẩn bị cho học sinh đi vào hoạt động thực tiễn, hướng nghiệp, phát triển và bồi dưỡng tài năng về hoá học
- Huy động học sinh tham gia vào các hoạt động công ích có mang nội dung hoá học
- Tổ chức vui chơi, giải trí một cách văn hoá, có trí tuệ, bổ ích
1.3.4: Nguyên tắc hoạt động của ngoại hoá học khoá
- ảo đảm tính mục đích và tính kế hoạch của toàn bộ các hoạt động ngoại khoá
- ảo đảm tính thích hợp và tính hiệu quả
- ảo đảm sự thống nhất giữa ngoại khoá với nội khoá
- ảo đảm thống nhất sự chỉ đạo của giáo viên, với sự tự nguyện, chủ động và
sự quan tâm hứng thú của học sinh
- Nội dung hoạt động ngoại khoá phải linh hoạt, phong phú, huy động được tối
đa học sinh tham gia
- Huy động được tối đa sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và nhà trường, của cộng đồng xã hội trong và ngoài trường
1.3.5: Các hình thức tổ chức của hoạt động ngoại khoá hoá học
a) Hoạt động ngoại khoá tập thể
- Nói chuyện có tính chất phổ biến khoa học với nội dung liên quan đến hoá học, có thể mời chuyên gia, các nhà khoa học trình bày
- Tham quan viện bảo tàng, nhà máy, xí nghiệp, phòng truyền thống
- Chiếu phim về các đề tài hoá học
b) Ngày hội hoá học
c) Tổ ngoại khóa
- Tổ tìm hiểu lịch sử hóa học
- Tổ tìm hiêu những tiến bộ về khoa học và công nghệ hóa học đầu thế kỷ 21
- Tổ tìm hiểu từng ngành của hoá học: Hóa vô cơ, hóa hữu cơ, hóa môi trường, hóa lí
- Tổ thí nghiệm và phòng thí nghiệm
- Tổ thiết kế hóa học: Nghiên cứu, chế tạo đồ dùng trực quan
- Tổ giải toán hóa học
1.4: Thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường THPT Sông Ray
1.4 : Mục đích đi u tra
Trang 5Chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các Lớp của trường THPT Sông Ray để nắm các nội dung sau:
- Tình hình tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường từ năm 2 đến
2013
- Nhận thức của giáo viên và học sinh về hoạt động ngoại khóa hóa học
- kiến góp ý của giáo viên và học sinh để hoàn thiện hơn hoạt động ngoại khóa hóa học
Từ kết quả của các nội dung tìm hiểu, chúng tôi có cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu và định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
1.4 : K t uả đi u tra ph ng v n
1.4.2.1:V nhận thức của học inh
- Phần lớn ( , ) học sinh hiểu được mục đích, ý nghĩa của hoạt động ngoại khóa hóa học như:
- Tạo được sân chơi giải trí khoa học, bổ ích
- Củng cố, khắc sâu và mở rộng thêm kiến thức
- èn luyện thêm nhiều kĩ năng và hình thành những đức tính tốt đẹp cho bản thân
1.4.2.2: Đ i v i giáo viên
- Một số giáo viên ( , ) nhận thức chưa đúng về hoạt động ngoại khóa hóa học và cho rằng đây là hoạt động ngoài chương trình chính khóa nên không cần thiết lắm
- , giáo viên hóa học ít quan tâm, đầu tư cho hoạt động ngoại khóa
1.4.2.3: Đ i v i ban giám hiệu nh trường
- an giám hiệu các trường chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động ngoại khóa nói chung và hoạt động ngoại khóa hóa học nói riêng và lấy lí do rằng nếu trong một năm học mà môn nào c ng tổ chức hoạt động ngoại khóa thì tốn kém kinh phí, không có nguồn chi, không có nguồn tài chính hỗ trợ Nên trong kế hoạch hoạt động của năm học, hoạt động này c ng chỉ đề cập chung chung, không đưa ra chỉ tiêu
1.4.2.4: Một nguyên nhân chủ y u l m cho hoạt động ngoại khoá hoá học ở Trường THPT còn hạn ch
- Một số giáo viên chưa hiểu hết tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa hóa học
- Một số giáo viên thiếu nhiệt tình, sợ tốn thời gian, công sức cho việc chuẩn bị
và tổ chức hoạt động ngoại khóa
- Năng lực của giáo viên trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học còn hạn chế
- Chưa nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể và xã hội
2:Nội dung biện pháp thực hiện các giải pháp của đ t i
2.1: Nội dung
Chúng tôi đã sưu tập, xây dựng, chọn lọc được một số thí nghiệm hoá học vui,
câu hỏi hoá học vui có nội dung liên quan đến các hiện tượng hoá học trong thiên
Trang 6nhiên, trong cuộc sống, bài tập có tác dụng phát triển tư duy logic, bài tập thực tiễn của hoá vô cơ, hoá hữu cơ và bài tập dùng cho câu lạc bộ giải toán hoá học Sau đây là một số ví dụ tiêu biểu
2.1.1: Thí nghiệm hoá học vui
Thí nghiệm : Không có lửa m lại có khói
* Dụng cụ và hóa chất:
Cốc thủy tinh, đĩa thủy tinh, đ a thủy tinh, bông, dung dịch NH3 25% và dung dịch HCl đ c
* Tiến hành thí nghiệm:
Có thể tiến hành thí nghiệm này bằng 2 cách:
a) Dùng hai đ a thủy tinh, ở mỗi đầu đ a có quấn một nhúm bông Nhúng một
đ a vào dung dịch NH3 đậm đ c và nhúng đ a thứ hai vào dung dịch HCl đậm đ c, đưa hai đ a lại gần nhau (đ a nhúng dung dịch NH3 ở dưới, còn đ a nhúng dung dịch HCl ở trên) Khói trắng sẽ xuất hiện ở hai đầu đ a thủy tinh
b) Dùng bông tẩm dung dịch NH3 đ c, bôi lên đáy và thành cốc thủy tinh, lấy nhúm bông khác tẩm dung dịch HCl đ c, bôi lên m t trong của đĩa thủy tinh, rồi úp đĩa thủy tinh lên cốc thủy tinh Khói trắng sẽ xuất hiện ở trong cốc
* Giải thích hiện tượng:
Khi đưa hai đầu đ a thủy tinh lại gần nhau sẽ có phản ứng giữa NH3 và HCl, tạo ra những hạt nhỏ li ti NH4Cl (giống khói trắng)
ba tẩm dung dịch HCl đ c, miếng thứ tư tẩm dung dịch benzen
- Châm lửa đốt bông tẩm cồn, cồn cháy có lửa mà không có khói
- Gắp bông tẩm dung dịch HCl, bỏ lên bông tẩm dung dịch NH3, có khói mà không có lửa
- Châm lửa đốt bông tẩm benzen, benzen cháy có cả lửa và khói
* Giải thích hiện tượng:
- Cồn cháy gần như hoàn toàn nên có lửa mà không có khói
Trang 7ình thủy tinh, miếng sắt tây, dung dịch NH3 và bột Cr2O3
* Tiến hành thí nghiệm:
ót 1 ml dung dịch NH3 vào bình thủy tinh miệng rộng, sau đó đổ từ từ vào bình bột Cr2O3 đã được đun nóng trên miếng sắt tây Những đốm lửa sáng như sao
lả tả rơi xuống, giống như trận “mưa lửa”
* Giải thích hiện tượng:
Khi có Cr2O3 làm xúc tác, NH3 bị oxi hóa bởi oxi không khí
4NH3 + 5O2 Cr 2O3 ,t o
4NO + 6H2O Phản ứng này xảy ra trên bề m t của các hạt Cr2O3 và tỏa ra rất nhiều nhiệt, làm các hạt này nóng và sáng lên
* Giải thích hiện tượng:
Khí NH3 tan rất nhiều trong nước (ở điều kiện thường 1 thể tích nước hòa tan được khoảng thể tích khí NH3), làm cho áp suất trong bình giảm xuống rất thấp,
áp suất không khí ngoài bình lớn hơn, sẽ đẩy quả trứng chui vào bình cầu
Khi hơ nóng bình cầu (phần có nước) thì khí NH3 được tạo ra nhiều, nóng lên
và nở ra, sẽ đẩy quả trứng chui ra
* Chú ý: có thể thay khí NH 3 bằng khí HCl hoặc khí CO 2 và dung dịch NaOH
Hình 2.1 : Thí nghiệm trứng chui vào lọ
Thí nghiệm 5: Thu khói v t n thu c lá
* Dụng cụ và hóa chất:
Trang 8Cốc thủy tinh, đĩa thủy tinh, bàn, diêm, điếu thuốc lá, lá nhôm, dung dịch NaOH loãng, dung dịch HgCl2 đậm đ c, dung dịch NH3 đậm đ c, dung dịch HCl đậm đ c
và nước
* Tiến hành thí nghiệm:
- Hai cốc thủy tinh rửa sạch, lau khô, và đ t ở một đầu bàn, cách nhau 2 cm,
lá nhôm ngâm vào dung dịch NaOH loãng, lấy ra, rửa lại bằng nước cất và lau khô
- Lấy bông tẩm dung dịch HgCl2 lau thật kỹ lên m t của lá nhôm, đậy lá nhôm lên cốc thủy tinh và cho m t lau dung dịch HgCl2 vào phía trong
- Châm lửa một điếu thuốc lá và đ t ở đầu bàn phía bên kia
- Lấy bông tẩm dung dịch NH3 đậm đ c, bôi vào m t trong của cốc thứ hai, lấy nhúm bông khác tẩm dung dịch HCl đậm đ c, bôi lên m t của đĩa thủy tinh Lấy đĩa thủy tinh đậy lên cốc thứ hai (úp m t bôi HCl vào trong)
Khói thuốc lá sẽ “chui” vào cốc thứ hai và vài phút sau tàn thuốc lá c ng “chui” qua lá nhôm vào cốc thứ nhất
* Giải thích hiện tượng
- Ở cốc thu khói: Có phản ứng giữa NH3 và HCl tạo ra những hạt nhỏ li ti
NH4Cl (giống khói thuốc lá)
Al2O3 rắn chắc, vì thế, nhôm không được bảo vệ như trước Ở từng điểm nhỏ nhôm
bị oxi hóa bởi oxi không khí, tạo thành Al2O3 dưới dạng sợi nhỏ giống tàn thuốc lá (hiện tượng nhôm mọc lông tơ)
4Al + 3O2 2Al2O
* Lưu ý: Các muối thủy ngân đều rất độc nên khi dùng không để nó giây vào
cơ thể
Thí nghiệm 6: Đ t cháy bằng nư c
Thường ai c ng biết nước được dùng để dập tắt lửa, còn dùng nước để đốt cháy các chất chắc là không thể Thế mà ta có thể đốt cháy các chất bằng nước đấy!
) Cho dầu hỏa vào chén sứ, bí mật bỏ vào dầu hỏa một miếng kim loại natri (ho c kali) to bằng hạt đậu Sau đó, rót thêm nước trong cốc vào chén sứ Chất lỏng trong chén sứ bùng cháy
Trang 9* Giải thích hiện tượng:
1) Nước phản ứng mạnh với natri và giải phóng khí H2, phản ứng tỏa nhiệt mạnh, làm khí H2 thoát ra tự bốc cháy và natri c ng cháy theo 2Na + 2H2O 2NaOH + H2 ↑
2) Phản ứng của nhôm với iot xảy ra khi có xúc tác là nước, hỗn hợp bốc cháy mạnh thành ngọn lửa có màu tím của iot (iot thăng hoa) lẫn màu vàng của AlI3 2Al + 3I2 nước 2AlI3
) Khi rót nước vào, nước n ng hơn dầu hỏa nên chìm xuống dưới và tác dụng với natri Phản ứng tỏa nhiệt mạnh làm khí H2 thoát ra tự bốc cháy và natri c ng cháy theo
Thí nghiệm 7: Đ t cháy nư c đá
* Giải thích hiện tượng:
Khi bỏ nước đá vào đất đèn (thành phần chính CaC2), sẽ có phản ứng giải phóng khí C2H2
Lấy ống nghiệm, lần lượt rót vào ống các dung dịch sau:
Ống 1: Đựng dung dịch NaOH loãng, thêm vào vài giọt phenolphtalein (có màu hồng)
Ống 2: Đựng dung dịch aCl2 (không màu)
Ống : Đựng ZnO bột lẫn với nước có màu trắng đục như vôi sữa
Lần lượt rót dung dịch H2SO4 vào các ống nghiệm
Ống 1: Từ màu hồng chuyển thành không màu
Ống 2: Từ trong suốt chuyển thành màu trắng như sữa
Ống : Từ màu trắng đục như vôi sữa, chuyển thành trong suốt
* Giải thích hiện tượng:
- Ống 1: Đựng dung dịch NaOH loãng, có vài giọt phenolphtalein nên có màu hồng Khi cho dung dịch H2SO4 vào trung hòa hết NaOH, nên dung dịch trở thành không màu
2NaOH + H2SO4 Na2SO4 + 2H2O
Trang 10- Ống 2: Đựng dung dịch aCl2 trong suốt, khi phản ứng với axit H2SO4, tạo ra kết tủa trắng aSO4 nên dung dịch chuyển thành trắng như vôi sữa
* Giải thích hiện tượng:
Khi hòa tan CoCl2 khan vào axeton có màu xanh, màu của CoCl2 khan Còn khi hòa tan CoCl2 khan vào nước sẽ có màu hồng, màu của CoCl2.6H2O
Thí nghiệm 0: Bắn cháy t u chi n địch
* Giải thích hiện tượng:
Nước thấm qua giấy phản ứng với natri theo PTHH sau 2Na + 2H2O 2NaOH + H2 ↑
Phản ứng trên tỏa nhiều nhiệt làm H2 thoát ra tự bốc cháy, đồng thời NaOH tạo thành, làm nước trong chậu từ trong suốt chuyển sang màu hồng
Thí nghiệm : Vòi phun nư c đổi m u
* Dụng cụ và hóa chất:
Lọ thủy tinh (ho c bình tam giác), nút cao su kín, nút cao su có ống thủy tinh vuốt nhọn xuyên qua (đầu nhọn hướng vào bình), chậu thủy tinh, dung dịch NH3đậm đ c, dung dịch H2SO4 đậm đ c, NaCl rắn, phenolphtalein, dung dịch quỳ tím
Trang 11vào bình thủy tinh và nhanh chóng đưa đầu ống thủy tinh vào chậu nước thứ nhất
Nước ở chậu thủy tinh tự phun lên bình và biến thành màu hồng
Làm tương tự với bình đựng khí HCl, thì nước trong chậu thủy tinh thứ hai
c ng tự phun lên và chuyển từ màu tím sang màu đỏ
* Giải thích hiện tượng:
Khí NH3 tan rất nhiều trong nước (ở điều kiện thường 1 thể tích nước hòa tan
được khoảng thể tích NH3), làm cho áp suất trong bình thủy tinh giảm mạnh,
so với áp suất bên ngoài Để cân bằng áp suất giữa bên trong và bên ngoài bình thủy
tinh thì nước trong chậu thủy tinh sẽ tự phun lên Khi g p nước một phần NH3 sẽ
phản ứng với nước
NH3 + H2O NH4+ + OH
Dung dịch NH3 có tính bazơ, làm phenolphtalein từ không màu chuyển sang
màu hồng
Tương tự khí NH3, khí HCl c ng tan rất nhiều trong nước (ở điều kiện thường 1
thể tích nước hòa tan được khoảng thể tích khí HCl) Khí HCl tan trong nước
tạo thành dung dịch axit HCl, làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ
Hình 2.2: Thí nghiệm về tính Hình 2.3: Thí nghiệm về tính
tan của amoniac tan của hiđro clorua
Thí nghiêm 12: Bi n nư c th nh rượu m u
* Dụng cụ và hóa chất:
Chai nước khoáng ml đã qua sử dụng, bông, băng dính 2 m t, nước vôi
trong Ca(OH)2 và phenolphtalein
* Tiến hành thí nghiệm:
Lấy một ít bông tẩm dung dịch phenolphtalein, rồi dùng băng dính 2 m t dính
vào m t bên trong của nút chai Nước vôi trong cho vào khoảng ¾ chai nước
khoáng, lấy nút chai v n ch t Lắc mạnh cho nước vôi trong tiếp xúc với nhúm
bông, nước ở trong chai chuyển từ trong suốt, sang màu hồng ( giống rượu màu)
* Giải thích hiện tượng:
Khi lắc làm dung dịch Ca(OH)2 tiếp xúc với phenolphtalein, dung dịch bazơ làm
phenolphtalein chuyển sang màu hồng
* Lưu ý: Thí nghiệm này cũng có thể biểu diễn bằng cách dùng đũa khuấy, một
đầu đũa nhúng vào dung dịch phenolphtalein trước
Trang 12Thí nghiệm 3: Đ t khăn không cháy
* Giải thích hiện tượng:
Axeton (ho c ete) là những chất bắt lửa mạnh và bay hơi nhanh Với một lượng nhỏ các chất trên, khi cháy nhiệt lượng tỏa ra chỉ đủ để làm bay hơi một phần nước
ở trên khăn tay Vì vậy, khăn không bị cháy
Thí nghiêm 14: Hóa than m không cần đ t cháy
* Dụng cụ và hóa chất:
Đĩa thủy tinh, cốc thủy tinh, H2SO4 đậm đ c và đường saccarozơ C12H22O11
* Tiến hành thí nghiệm:
Đổ khoảng 1 gam đường saccarozơ vào một cốc cao và hẹp, đ t lên đĩa thủy
tinh, rót vào cốc khoảng -7 ml dung dịch H2SO4 đậm đ c, rồi trộn nhanh các chất này Lát sau khối chất trong cốc bắt đầu hóa đen, phồng ra, dâng lên cao, cuối cùng trào ra khỏi miệng cốc và đông đ c lại
* Giải thích hiện tượng:
Dung dịch H2SO4 đậm đ c rất háo nước, đường saccarozơ là cacbohiđrat có công thức phân tử C12H22O11 (viết dưới dạng ngậm nước: C12(H2O)11) Axit H2SO4đậm đ c phân hủy đường, chiếm nước, giải phóng cacbon
C12H22O11 H2SO4, đăc
12C + 11H2O Phản ứng trên tỏa nhiều nhiệt, do nhiệt độ tăng, một phần C giải phóng ra phản ứng với dung dịch H2SO4 đậm đ c, tạo thành khí SO2 và CO2
C + 2H2SO4 CO2 ↑ + 2SO2 ↑ + 2H2O
Các khí đó làm cho C trở nên xốp và tăng thể tích
* Chú ý: Không để axit H 2 SO 4 giây vào cơ thể, quần áo
Thí nghiệm 5: Thắp đèn không cần lửa
* Giải thích hiện tượng:
Khi trộn kali pemanganat KMnO4 với dung dịch H2SO4 đậm đ c sẽ có phản ứng tạo thành axit pemanganic HMnO4
2KMnO4 + H2SO4 K2SO4 + 2HMnO4
Dưới tác dụng của dung dịch H2SO4 đậm đ c, HMnO4 mất nước tạo thành anhiđrit maganic Mn2O7, chất này là chất lỏng màu nâu, sánh như dầu, dễ bị phân
Trang 13hủy ở nhiệt độ thường, tạo thành MnO2 và O2
* Giải thích hiện tượng:
Các hạt kali pemanganat KMnO4 rơi vào hỗn hợp, tới lớp phân cách giữa axit
H2SO4 và cồn sẽ có phản ứng
2KMnO4 + H2SO4 K2SO4 + 2HMnO4
Dưới tác dụng của dung dịch H2SO4 đậm đ c HMnO4 mất nước tạo thành anhiđrit maganic Mn2O7, chất này là chất lỏng màu nâu, sánh như dầu, dễ bị phân hủy ở nhiệt độ thường tạo thành MnO2 và O2
* Tiến hành thí nghiệm:
a) Dùng hồ tinh bột, viết lên tờ giấy trắng một hàng chữ, rồi dùng một tờ giấy thấm, tẩm dung dịch iot, áp lên tờ giấy vừa viết chữ, sau đó mở tờ giấy thấm ra sẽ xuất hiện những nét chữ màu xanh
b) Dùng dung dịch phenolphtalein viết lên tờ giấy trắng một hàng chữ, rồi dùng giấy thấm tẩm nước vôi trong, áp lên tờ giấy vừa viết chữ, sau đó mở tờ giấy thấm
ra sẽ xuất hiện những nét chữ màu hồng
c) Dùng dung dịch Na2S (ho c K2S) viết một hàng lên tờ giấy trắng, rồi dùng giấy thấm tẩm dung dịch Pb(NO3)2,áp lên tờ giấy vừa viết chữ, sau đó mở tờ giấy thấm ra sẽ xuất hiện những nét chữ màu đen
d) Dùng đ a thủy tinh, chấm vào dung dịch CoCl2, viết lên giấy pơluya một hàng chữ (không nhìn thấy nét chữ) Hơ giấy pơluya trên bếp than, ho c bàn là, sẽ xuất hiện những dòng chữ có màu xanh
Trang 14e) Dùng đ a thủy tinh chấm vào dung dịch H2SO4 loãng, viết lên tờ giấy trắng
một bức thư ngắn, nét chữ sẽ không có màu Hơ bức thư lên bếp than ho c bàn là,
những dòng chữ màu đen của bức thư xuất hiện
* Giải thích hiện tượng:
a) Dung dịch iot làm hồ tinh bột chuyển sang màu xanh
b) Dung dịch bazơ Ca(OH)2 làm phenolphtalein chuyển sang màu hồng
c) Na2S sẽ phản ứng với Pb(NO3)2 tạo thành PbS kết tủa, màu đen
Na2S + Pb(NO3)2 PbS ↓ + 2NaNO3
d) Dung dịch CoCl2.6H2O có màu hồng nên khi ta viết lên giấy pơluya màu
hồng sẽ không nhìn thấy nét chữ Hơ giấy pơluya trên bếp than ho c bàn là, nước
bay hơi, chuyển CoCl2.6H2O, thành CoCl2 khan, có màu xanh
e) Hơ bức thư lên bếp than ho c bàn là nước ở nét chữ sẽ bay hơi, làm cho dung
dịch H2SO4 loãng, thành H2SO4 đậm đ c H2SO4 đậm đ c nó chiếm nước của
xelulozơ là thành phần chính của giấy và giải phóng cacbon, làm xuất hiện nét chữ
Châm thủng 2 lỗ ở 2 đầu quả trứng và hút hết lòng trứng ra Trộn axit oxalic
H2C2O4 và muối natri hiđrocacbonat NaHCO3 theo tỉ lệ 1 : 2 về khối lượng Cho
hỗn hợp trên vào trong quả trứng đến khoảng 1/ thể tích quả trứng (nếu cho nhiều
quá trứng sẽ chìm) Lấy sáp gắn kín 2 đầu quả trứng lại, quả thứ nhất châm thủng 1
lỗ nhỏ bên sườn quả trứng ở phần chìm dưới nước, quả thứ 2 châm thủng 1 lỗ ở đầu
chìm dưới nước Thả 2 quả trứng vào chậu nước, quả thứ nhất nó sẽ quay tít, còn
quả thứ 2 nó sẽ nhảy nhấp nhô
* Giải thích hiện tượng:
Nước qua lỗ thủng chảy vào trong quả trứng hòa tan axit oxalic H2C2O4 và natri
hiđrocacbonat NaHCO3 Trong dung dịch 2 chất này sẽ phản ứng với nhau
H2C2O4 + 2NaHCO3 Na2C2O4 + 2CO2↑ + 2H2O
Khí CO2 thoát ra mạnh, qua lỗ thủng, gây ra những lực đẩy, làm cho quả trứng
quay tròn ho c nhảy nhấp nhô
Thí nghiệm 9: Pháo hoa trên miệng ng nghiệm
* Dụng cụ và hóa chất:
Ống nghiệm, kẹp ống nghiệm, đèn cồn, KMnO4 rắn, than và diêm
* Tiến hành thí nghiệm:
Nghiền mịn KMnO4, than và trộn đều (mỗi loại lấy khoảng ½ thìa) đổ hỗn hợp
vào ống nghiệm và hơ nóng trên ngọn lửa đèn cồn, một lúc sau từ miệng ống
nghiệm sẽ bắn ra những tia sáng rực rỡ như chùm pháo hoa
* Giải thích hiện tượng:
Trang 15Khi đun nóng KMnO4 bị phân hủy giải phóng ra oxi
2KMnO4 K2MnO4 + MnO2 + O2 ↑
Oxi được giải phóng, sẽ đốt cháy các hạt than rất nhỏ, đã được nung nóng Khí oxi thoát ra từ ống nghiệm làm bắn tung tóe các hạt than đang cháy
Thí nghiệm 0: Đun ôi không cần lửa
* Dụng cụ và hoá chất:
ình cầu, chậu thuỷ tinh, nút cao su có gắn ống dẫn khí, dung dịch H2SO4 đậm
đ c, ete và nước
* Tiến hành thí nghiệm:
ót vào bình cầu khoảng 2 ml ete, đậy nút cao su có gắn ống dẫn khí, rồi đ t
nó vào trong chậu nước Lúc này trong bình không có hiện tượng gì xảy ra
Dùng pipep rót dung dịch H2SO4 đậm đ c vào chậu thuỷ tinh đựng nước, thấy ete trong bình sôi lên và có khí thoát ra ở ống dẫn khí, châm lửa đốt, khí trong ống dẫn khí cháy sáng
* Giải thích hiện tượng thí nghiệm:
Khi hoà tan H2SO4 đậm đ c vào nước, dung dịch toả nhiệt, làm nhiệt độ nước trong chậu thuỷ tinh tăng lên đến mức làm cho ete trong bình sôi và bay hơi (nhiệt
độ sôi của ete thấp)
2.1 : Câu h i hóa học vui hiện tượng hóa học trong thiên nhiên v trong cuộc
ng
Câu 1: ằng kiến thức hóa học hãy giải thích câu ca dao sau:
“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Nghe tiếng Sấm động, phất cờ mà lên”
- Khi trời mưa dông có Sấm, Sét tạo ra tia lửa điện, là điều kiện để nitơ N2 và oxi O2 phản ứng với nhau
N2 + O2 tia lửa điện 2NO
- NO sinh ra kết hợp với oxi trong không khí tạo ra NO2
Câu 2 :Thế nào là “Hiệu ứng nhà kính” ? Nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng
“Hiệu ứng nhà kính” ?
- “Hiệu ứng nhà kính” là hiện tượng Trái Đất nóng dần lên bởi khí CO2, NO2,
O3 (chủ yếu khí CO2) có trong khí quyển
- Khí CO2 chỉ hấp thụ một phần những tia hồng ngoại (bức xạ nhiệt) của M t Trời và cho các tia có bước sóng λ từ đến 1 A chiếu xuống M t Đất Những bức xạ nhiệt phát ngược lại từ M t Đất có bước sóng λ >1 A, bị khí CO2 hấp thụ mạnh và phát trở lại M t Đất, làm cho Trái Đất nóng lên Về m t
Trang 16hấp thụ nhiệt, lớp khí CO2 trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh ở các nhà
kính dùng để trồng hoa ở xứ lạnh Nên hiện tượng Trái Đất nóng lên bởi khí CO2
còn được gọi là “Hiệu ứng nhà kính”
- Nguyên nhân của sự làm tăng hàm lượng khí CO2 trong khí quyển là do việc
ch t phá rừng bừa bãi, sử dụng nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện, các nhà
máy ở các khu công nghiệp
Câu 3: Tầng ozon O3 ở độ sao nào ? Ozon là chất bảo vệ hay chất gây ô nhiễm ?
- Tầng ozon ở phía trên tầng đối lưu và phần dưới của tầng bình lưu, ở độ cao
khoảng 2 - km so với M t Đất
- Ở trên cao, tầng ozon đóng vai trò cực kỳ quan trọng, nó có tác dụng như lá
chắn bảo vệ sự sống trên Trái Đất, ngăn không cho tia cực tím từ M t Trời chiếu
xuống M t Đất Trên tầng cao của khí quyển ozon O3 được hình thành từ oxi O2
UV
3O2 (phóng điện trong cơn dông) 2O3
- Ở dưới thấp (trên M t Đất) thì ngược lại ozon là chất gây ô nhiễm Nó cùng
với các hợp chất nitơ oxit gây nên mù quang hóa, bao phủ bầu trời thành phố trong
những ngày hè không có gió Mù quang hóa gây đau cơ bắp, cuống họng, đó là
nguồn gốc của bệnh khó thở, ozon O3 c ng giống như khí cacbonic CO2 là chất gây
nên “Hiệu ứng nhà kính”
Nếu nồng độ O3 trong khí quyển tăng lên gấp 2 lần thì nhiệt độ Trái Đất tăng
thêm 1oC
Câu 4: Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng tầng ozon bị thủng ?
Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm tầng ozon là do sử dụng
các hợp chất CFC (Cloflocacbon) như: CCl2F2, CClF3, có tên chung là freon
Freon là chất sinh hàn, được dùng trong tủ lạnh, máy điều hòa Khi thải CFC
vào tầng đối lưu, nó khuếch tán dần sang tầng bình lưu, ở đây dưới tác dụng của tia
phá hủy hàng nghìn, hàng chục nghìn phân tử O3, gây ra hiện tượng thủng
tầng ozon Khi tầng ozon bị thủng, tia cực tím của ánh sáng M t Trời qua lỗ thủng
này chiếu xuống M t Đất, gây ra một số bệnh cho con người như: Ung thư da, hủy
hoại mắt
Hiện nay công ước quốc tế về môi trường đã cấm sản xuất hợp chất CFC,
nhưng với khối lượng CFC đã thải vào khí quyển trước đây, hiện có trong khí quyển
nó sẽ tiếp tục phá hủy tầng ozon tới hàng trăm năm sau
Câu 5: Giải thích sự tạo thành thạch nh trong các hang động đá vôi ?
Trong các hang động như: Động Hương Tích (Chùa Hương), động Thiên Cung,
hang Đầu Gỗ (Vịnh Hạ Long), động Phong Nha (Quảng ình) và các hang động ở