1.2.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng tình hình sử dụng và hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu tại xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong thời gian qua và nguyên nhân thực trạng, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu ở địa phương trong thời gian tới. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu nói riêng trong điều kiện sản xuất hiện nay. Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu tại xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất trồng rau và hoa màu ở địa phương Đề xuất những định hướng và giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước ta là một nước nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Trong đó đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không gì thay thế được, là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất nông nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng
Lịch sử phát triển xã hội đã khẳng định: Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển được thì những nhu cầu cần thiết như ăn, mặc và những tư liệu sinh hoạt khác không thể thiếu được, những cái đó do nông nghiệp cung cấp
Đặc biệt với Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện nay vẫn đang còn trên 70% dân số sống ở nông thôn Ngành nông nghiệp sử dụng trên 50% lực lượng lao động xã hội, là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, cùng với
sự bùng nổ về dân số, sự gia tăng nhanh chóng của đô thị hóa và việc xây dựng mở mang các khu công nghiệp… đã tác động nhiều đến quản lý và sử dụng đất đai Trong khi đó đất đai lại hạn hẹp, bình quân diện tích đất nông nghiệp vào loại thấp nhất trên thế giới chỉ vào khoảng 1073m2/người, lại đang
có xu hướng giảm đi giữa các địa phương, các vùng miền Mặt khác, việc phân bố diện tích đất nông nghiệp cũng không đồng đều Do vậy vấn đề sử dụng một cách hợp lý có hiệu quả đất đai trong nông nghiệp luôn luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng Tuy nhiên, việc nghiên cứu đánh giá tình hình
sử dụng ruộng đất mới chỉ có được những kết quả còn rất hạn chế, việc sử
Trang 2dụng đất đai có hiệu quả không chỉ biểu hiện ở năng suất các loại cây trồng
mà còn chịu rất nhiều của các yếu tố kinh tế - xã hội Các yếu tố tác động của mỗi địa phương đã ảnh hưởng đến sự phát triển khác nhau, cho nên cùng một phương thức sử dụng đất ở hai nơi khác nhau cũng có thể cho ta hiệu quả kinh
tế cao thấp khác nhau Nhìn chung cùng với sự phát triển chung của nền kinh
tế nước ta, sản xuất nông nghiệp ở một số năm gần đây đã có bước nhảy vọt,
đó cũng là quy luật phát triển của xã hội khi mà lực lượng sản xuất đã phát triển lại có quan hệ sản xuất phù hợp Xuất phát từ những đặc điểm cụ thể của đất nước để thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, đưa nước ta vào hàng ngũ của những nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Để đạt được mục tiêu này thì chính sách sử dụng đất, giao quyền sử dụng đất đai cho nông dân là vấn đề vô cùng quan trọng hiện nay; để có biện pháp sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này sao cho hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất Nói đến việc khai thác tiềm năng đất nông nghiệp nói chung và đất canh tác nói riêng, trước hết phải nói đến hai loại đất là đất trồng rau và đất trồng cây hoa màu, đây là hai loại đất được sử dụng để sản xuất ra phần lớn các loại nông phẩm thiết yếu phục vụ đời sống sản xuất và tiêu dùng
Yên Đồng là một xã có nền nông nghiệp tương đối vững chắc, ngành sản xuất chính là nông nghiệp Trong đó ngành trồng trọt chiếm 70% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của địa phương, tuy nhiên trong các năm qua việc sử dụng đất canh tác và đặc biệt là hai loại đất trồng rau và hoa màu của các hộ nông dân trong xã còn hạn chế Kết quả sản xuất đạt được từ hai loại đất trên còn chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của các hộ nông dân và địa phương Đây cũng là điều trăn trở của địa phương Xuất phát từ
vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất trồng rau, đất màu ở xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định” Với hy vọng góp một
phần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Trang 31.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng tình hình sử dụng và hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu tại xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong thời gian qua và nguyên nhân thực trạng, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau
và hoa màu ở địa phương trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu nói riêng trong điều kiện sản xuất hiện nay
Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu tại xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất trồng rau và hoa màu ở địa phương
Đề xuất những định hướng và giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình sử dụng, phương thức sử dụng đất trồng rau và hoa màu và các loại cây trồng trên đất trồng rau và hoa màu tại xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Đánh giá các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương, trên
cơ sở đó phát hiện ra những lợi thế cũng như các yếu tố làm cản trở đến việc
sử dụng hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất trồng rau và hoa màu của xã
Trang 4Đánh giá thực trạng sử dụng đất trồng rau và hoa màu nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng rau và hoa màu trên địa bàn nghiên cứu.
Đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế của các hình thức sử dụng đất trồng rau và hoa màu trong các nông hộ từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất trồng rau và hoa màu trên địa bàn xã trong thời gian tới
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Người nông dân mong muốn điều gì trên mảnh đất của mình?
Thực tế sản xuất trên đất canh tác, đặc biệt là đất trồng rau và hoa màu đang diễn ra như thế nào?
Nguyên nhân nào dẫn đến năng suất, chất lượng rau và hao màu ở địa phương còn thấp?
Địa phương đã có những giải pháp gì để nâng cao năng suất, chất lượng rau và hoa màu?
Cần có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất rau và hoa màu?
Trang 5PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được các nhà kinh tế và thống kê nêu ra với nhiều quan điểm khác nhau do điều kiện lịch sử và giác độ nghiên cứu từ nhiều phía khác nhau HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội khi có sự giới hạn về các nguồn lực Việc nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế có nghĩa là tăng cường trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có trong một hoạt động kinh tế Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất của cuộc sống con nghười ngày càng tăng Nói cách khác biện chứng do yêu cầu của công tác quản lý kinh tế cần phải có sự phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của các hoạt động kinh tế dã dẫn đến sự xuất hiện của phạm trù hiệu quả kinh tế
Vậy HQKT là gì? Năm 1878, Sapadonicop và nhiều nhà kinh tế, nhà thống kê học đã nêu ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế, nhưng cho mãi đến hơn 30 năm sau, vào năm 1910 mới có văn bản pháp quy đánh giá hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư cơ bản Đến nay khái niệm HQKT ngày càng được quan tâm nghiên cứu và là bộ phận quan trọng của kinh tế học trong nền kinh tế thị trường có nhiều ý kiến khác nhau về HQKT nhưng có thể tóm tắt hiệu quả kinh tế thành 3 hệ thống quan điểm như sau:
* Hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng: HQKT được xác định bởi tỷ
số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Trang 6C: Chi phí bỏ ra để đạt được kết quả Q
Đại diện quan điểm này, Culicop cho rằng: “Hiệu quả sản xuất là kết quả của một nền sản xuất nhất định, chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt được kết quả đó Khi lấy tổng sản phẩm chia cho vốn sản xuất chúng ta được hiệu suất vốn, tổng sản phẩm chia cho số vật tư ta được hiệu suất vật tư, tổng sản phẩm chia số lao động được hiệu suất lao động” Hệ thống quan điểm này đã chỉ rõ mức độ hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau, từ đó so sánh được hiệu quả kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau
* Hệ thống quan điểm thứ hai cho rằng: HQKT được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó
H = Q – CTrong đó: H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả đạt được
C: Chi phí bỏ ra để thu được kết quả Q
Điển hình của cách đánh giá này có quan điểm cổ truyền của nền kinh
tế học khu vực sản xuất cho rằng mục tiêu của doanh nghiệp là đạt lợi nhuận tối đa Chỉ tiêu này chỉ rõ quy mô hiệu quả kinh tế, nhưng chưa phản ánh đúng mức hiệu quả vì nhà sản xuất muốn đạt được kết quả với nguồn lực ít nhất chứ không phải đạt được kết quả sản xuất chịu bất cứ chi phí nào
* Hệ thống quan điểm thứ ba: xem xét HQKT trong phần biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất
Theo quan điểm này, hiệu quả kinh tế biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung
Trang 7Q H
∆
∆
=
Trong đó: ∆Q: Phần tăng thêm của kết quả sản xuất
∆C: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất
Hệ thống quan điểm này có ưu thế khi đánh giá HQKT đầu tư sản xuất theo chiều sâu, HQKT đầu tư tăng thêm, nhưng không xét đến HQKT của tổng chi phí bỏ ra
Tuy nhiên, chỉ tập chung vào tỷ số giữa kết quả và chi phí bỏ ra thì chưa toàn diện Bởi vì chỉ tiêu này chưa phân tích được tác động ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực tự nhiên (đất đai, khí hậu, thời tiết)
Như vậy, HQKT cần được bổ xung và mở rộng để mang tính toàn diện hơn Tóm lại, HQKT của một hiện tượng, quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên
và các phương thức quản lý HQKT được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất, phù hợp với yêu cầu sản xuất
Ngoài ra khi đề cập đến hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp như lao động, đất đat, vốn, hạt giống, phân bón, chúng ta hay nói đến HQKT của việc sử dụng các nguồn lực đó Bàn về hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, nhiều tác giả đã thống nhất cần phân biệt rõ ba khái niệm về hiệu quả, HQKT, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ
- HQKT: là phạm trù kinh tế, mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều này có nghĩa là yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp
- Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất; trong nông nghiệp điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Nó chỉ ra một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
Trang 8- Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm hay giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào
và giá của đầu ra
2.1.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
2.1.2.1 Nội dung của hiệu quả kinh tế
Để có một nội dung HQKT cũng như những chỉ tiêu nghiên cứu HQKT
sử dụng đất trồng rau và đất trồng cây hoa màu, đó là các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả Thế giới ngày nay chủ yếu phát triển kinh tế theo chiều sâu, với nguồn lực hữu hạn mà sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị sử dụng cao nhất và mức hao phí lao động xã hội thấp nhất Thực thi một chiến lược như vậy thì nước nào cũng vận dụng một cách thông minh và sắc sảo về trình độ khoa học kỹ thuật, từ đó mới có sự phấn đấu đạt HQKT cao và việc ứng dụng KHKT như một tất yếu Vì tài nguyên có hạn, nhu cầu vô hạn, cho nên cần phải có các chính sách Nhà nước, mục tiêu của các nhà quản lý… làm sao cho việc sản xuất nhất định có được chi phí ở mức thấp nhất mà HQKT lại cao Ở đây được biểu hiện rõ nhất giữa các yếu tố đầu vào với các yếu tố đầu ra bởi nó là kết quả của hiệu quả sản xuất Muốn khai thác nguồn tài nguyên có HQKT cao thì phải có phương pháp sử dụng đúng mục đích, làm sao cho cùng có lợi về mặt kinh tế và môi trường Tuy nhiên để có được HQKT cao là điều mong muốn của nền kinh tế nước ta nói chung và của xã Yên Đồng nói riêng nhưng cần phải biết chú trọng trong việc khai thác để làm cho đất nước ngày càng phát triển và vững mạnh Việc sử dụng đất canh tác nói chung và đất trồng rau và hoa màu nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng qua quá trình khai thác, làm sao vừa có HQKT cao, vừa để lại môi trường trong sạch và không làm cho các nguồn tài nguyên cạn kiệt Chính lẽ
đó Nhà nước cần phải có các chính sách đưa ra kịp thời cùng với các ban chức trách kết hợp lại cùng nhau ngăn chặn những mặt xấu để tiến tới việc sử dụng đất ngày càng tốt hơn và có hiệu quả hơn
Trang 92.1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Xuất phát từ sản xuất và sự phát triển của một nền kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày tăng về vật chất và tinh thần của mỗi thành viên trong xã hội một cách ổn định Để làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế cần phải phân biệt rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả
Kết quả (kết quả hữu ích) là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích con người, được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung, tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Do mâu thuẫn giữa sự hữu hạn của tài nguyên và nhu cầu ngày càng tăng lên không ngừng của con người mà phải xem xét mức chi phí và kết quả đạt được là thấp hay cao Chính vì vậy, khi đánh giá kết quả sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải xem xét chất lượng sản phẩm làm ra và các chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó
Hiệu quả là đại lượng dùng để xem xét kết quả được tạo ra như thế nào, với chi phí là bao nhiêu để đạt được kết quả đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả kinh tế Vì vậy, bản chất hiệu quả kinh tế sử dụng đất là với một diện tích đất đai, một lượng đầu vào nhất định cần phải bố trí sử dụng một cách tốt nhất để có thể sản xuất ra khối lượng sản phẩm nhiều nhất với lượng đầu tư chi phí và lao động thấp nhất nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất ngày càng tăng của xã hội
Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối là:
- Quy luật cung cầu
- Quy luật hiệu quả giảm dần
Trong đó hiệu quả sinh học của sản xuất nông nghiệp không phụ thuộc vào người tiêu dùng có thích hay có mua sản phẩm đó hay không, còn hiệu quả kinh tế nông nghiệp thì lại bị khống chế bởi những vấn đề này Nếu sản phẩm sản xuất ra không có người mua thì người sản xuất không có thu nhập
và sản xuất bị ngừng trệ, do đó tiêu thụ sản phẩm là mối quan tâm hàng đầu của người sản xuất
Trang 10Đánh giá HQKT của sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường, gặp khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào và đầu ra.
- Những khó khăn trong việc xác định yếu tố đầu vào:
Trong sản xuất nông nghiệp, các tư liệu sản xuất được sử dụng vào nhiều quá trình sản xuất, trong nhiều năm nhưng lại không đồng đều Hơn nữa có loại rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa lớn Vì thế việc khấu hao và phân bổ chi phí để tính đúng chi phí sản xuất chỉ có tính tương đối
Các chi phí sản xuất chung như chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, chi thông tin, tuyên truyền, giáo dục đào tạo, khuyến cáo kỹ thuật cần phải được hạch toán để tính vào chi phí, nhưng thực tế không tính được một cách cụ thể
Trong nông nghiệp chu kỳ sản xuất dài, nên chịu nhiều ảnh hưởng của biến động giá cả, mức độ trượt giá, gây khó khăn trong việc xác định các loại chi phí sản xuất
Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên tác động lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp và hiệu quả của nó Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu
tố này vẫn chưa có phương pháp xác định chuẩn
- Những khó khăn trong việc xác định yếu tố đầu ra
Các kết quả sản xuất về mặt vật chất có thể lượng hoá để tính và so sánh trong thời gian và không gian cụ thể nào đó Tuy nhiên xác định đúng và
đủ những kết quả về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất, khả năng cạnh tranh trên thị trường của một doanh nghiệp, của một vùng nông nghiệp là khó khăn bởi nó không thể lượng hoá được và chỉ được bộc lộ trong thời gian dài
2.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Bất kỳ một hoạt động sản xuất nào của con người đều nhằm mục đích cuối cùng là đạt hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không chỉ đơn thuần đạt được về mặt kinh tế mà còn tạo ra nhiều kết quả có liên
Trang 11quan đến đời sống kinh tế xã hội của con người cũng như ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Xét trên phạm vi cá biệt, một hoạt động kinh tế có thể đem lại HQKT cho một cá nhân, một đơn vị, một địa phương, nhưng xét trên phạm
vi toàn xã hội nó lại ảnh hưởng đến lợi ích và hiệu quả chung Vì vậy khi đánh giá HQKT cần phải phân loại và làm rõ mối liên hệ giữa chúng
* Căn cứ vào nội dung, bản chất của HQKT có thể chia thành HQKT, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả phát triển bền vững
- HQKT: thể hiện mối tương quan giữa các kết quả đạt được về măt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Do đó, xác định HQKT phải xem xét đầy đủ mối quan hệ giữa hai đại lượng tuyệt đối và tưong đối Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là tối đa hoá về kết quả sản xuất và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực bị giới hạn
- Hiệu quả xã hội: là mối tương quan giữa các kết quả đạt được về mặt
xã hội và chi phí bỏ ra để đạt dược kết quả đó Hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội có quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất Vì vậy khi xét HQKT của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, khai thác tiềm năng vào sản xuất nông nghiệp phải đứng trên quan điểm hiệu quả kinh tế xã hội
- Hiệu quả kinh tế - xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp về mặt kinh tế và xã hội với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra để đạt được kết quả đó
- Hiệu quả phát triển bền vững: là hiệu quả kinh tế - xã hội có được do những tác động hợp lý để tạo ra nhịp độ tăng trưởng tốt và đảm bảo những lợi ích kinh tế - xã hội, nhưng có tính tới yếu tố môi trường về lâu dài
* Căn cứ vào yêu cầu tổ chức quản lý kinh tế và các yếu tố cơ bản của sản xuất có thể chia HQKT thành:
- HQKT quốc dân: HQKT tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội
Trang 12- HQKT vùng và lãnh thổ: được xem xét đối với từng vùng kinh tế tự nhiên và phạm vi lãnh thổ hành chính.
- HQKT khu vực sản xuất và chi phí vật chất
- HQKT của từng đơn vị sản xuất kinh doanh
- Hiệu quả các biện pháp kỹ thuật và quản lý
* Căn cứ vào các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất thì HQKT gồm có:
- Hiệu quả sử dụng vốn và thiết bị máy móc
- Hiệu quả sử dụng đất đai
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Hiệu quả sử dụng công nghệ kỹ thuật mới
Các cách phân loại trên làm cơ sở để chúng ta đánh giá HQKT một cách đúng đắn Như vậy khi đánh giá hiệu quả phải xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ hiệu quả chung của nền kinh tế quốc dân với hiệu quả bộ phận của các đơn vị, xí nghiệp, địa phương, quan hệ giữa vấn đề kinh tế - xã hội với kỹ thuật của sản xuất và môi trường sinh thái, quan hệ giữa HQKT hiện tại với tương lai Hiệu quả đó bao gồm cả HQKT và xã hội, có mối quan hệ mật thiết đến nhau như một thể thống nhất không thể tách rời
2.1.4 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau
và hoa màu và ý nghĩa của nó
2.1.4.1 Đặc điểm của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất nông nghiệp, theo quan điểm của người sử dụng và nghiên cứu kinh tế với nghĩa thông thường là toàn bộ đất đai được sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp bao gồm đất được sử dụng vào trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp
Trang 13Đặc điểm của đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt, có
độ phì và không thể thay thế được Đất đai được gọi là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến cây trồng và sử dụng đất đai đúng hướng
Diện tích đất đai có giới hạn về mặt tự nhiên, nên con người không thể
tự ý tăng diện tích lên một cách vô hạn như các tư liệu sản xuất khác
Đất đai có vị trí cố định và nó gắn liền với điều kiện thời tiết, khí hậu của từng vùng cụ thể, vì thế con người không thể di chuyển đất đai từ nơi này sang nơi khác mà phải bố trí hệ thống canh tác với các cây trồng và vật nuôi thích hợp với từng vùng sinh thái theo vị trí của đất đai, điều đó có nghĩa là sản xuất nông nghiệp mang tính chất địa phương rõ rệt
Đất nông nghiệp gồm các loại:
- Đất canh tác (đất trồng cây hàng năm)
- Đất trồng cây lâu năm
- Diện tích đồng cỏ đã được cải tạo để chăn thả gia súc
- Diện tích mặt nước đã được cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản
Trong đó đất canh tác là một bộ phận của đất nông nghiệp, được sử dụng trồng cây hàng năm và còn được gọi là đất trồng cây hàng năm Đất canh tác là đất có tiêu chuẩn về chất lượng nhất định, được thường xuyên cày bừa, cuốc xới để trồng cây có chu kỳ sản xuất dưới 1 năm
* Đặc điểm của đất trồng rau và hoa màu
Rau và hoa màu chủ yếu thích hợp trồng trên đất có thành phần cơ giới nhẹ và trung bình, hay ta thường gọi là đất pha cát
- Ưu nhược điểm của đất pha cát:
+ Ưu điểm: thích hợp với nhiều loại cây có củ và cây có chu kỳ sinh trưởng thấp như các loại rau, khoai lang, khoai tây, lạc Trong đất các rễ và củ
dễ dàng vươn xa, vươn sâu mà không bị đất chèn ép Các cây họ đậu cũng có
Trang 14thể thích ứng với đất pha cát Một số vùng đất cát người ta còn trồng các loại dưa hấu, dưa lê hoặc các cây đặc chủng như thuốc lá Muốn đạt năng suất cao nhất chỉ có thể trồng những loại cây trồng phù hợp với đất pha cát, đồng thời
áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý Dễ làm đất, chăm sóc ít tốn công
. Nhược điểm: dễ bị khô hạn do có tổng thể tích khe hở lớn, nghèo mùn,
dễ bị đốt nóng và mất nhiệt nên bất lợi cho sinh vật phát triển, kết cấu rời rạc,
dễ cày bừa, nhưng đất dễ bị lắng rẽ, bí chặt, khả năng hấp phụ thấp, giữ nước
và giữ phân kém do chứa it keo, nên nếu bón nhiều phân vào một lúc, cây không sử dụng hết thì sẽ bị rửa trôi Khi bón phân hữu cơ phải vùi sâu để tránh sự đốt cháy
Đối với đất trồng rau thường có thành phần cơ giới nhẹ hơn, lắm cát hơn, (do bộ rễ của rau yếu và chu kỳ sản xuất thấp hơn) do đó nó đòi hỏi chế
độ chăm sóc kỹ hơn và phức tạp hơn đất hoa màu và các loại đất khác
2.1.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau, hoa màu
và ý nghĩa của nó
Hiện nay, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế vẫn còn đang là một vấn đề phức tạp và còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá HQKT
là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí tiêu hao các nguồn lực Vì nhu cầu thì rất đa dạng, lại thay đổi theo thời gian và tuỳ thuộc vào trình độ khoa học công nghệ - kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất, nên ở mỗi thời kỳ phát triển khác nhau, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả cũng khác nhau Nhìn chung có thể coi lượng kết quả thu được tối đa trên một đơn
vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay
Trong nền sản xuất nông nghiệp, đất đai là nguồn lực quan trọng nhất,
là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu được không có đất đai thì không thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Nhưng nguồn lực này lại bị giới hạn và đang có nguy cơ giảm dần về diện tích và chất lượng Chính vì vậy yêu cầu
Trang 15cấp bách đặt ra là phải sử dụng đất đai mội cách đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và đem lại hiệu quả cao nhất.
Việt Nam là một nước nông nghiệp trên 50% lao động xã hội đang làm việc trong khu vực nông thôn, trình độ thấp trong khi ruộng đất lại ít, vì vậy cần phải tác động vào đất đai một cách có hiệu quả nhất để mang lại thu nhập, đồng thời đảm bảo các yêu cầu về xã hội, môi trường Xuất phát từ những yêu cầu đó, quan điểm khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất là với số lượng diện tích đất đai nhất định cần phải tiến hành sản xuất đạt kết quả cao nhất với những chi phí thấp nhất về lao động và các yếu tố khác trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng đồng thời phải đảm bảo sự phát triển bền vững
Sử dụng đất phải cố gắng cực tiểu hoá chi phí sản xuất và cực đại hoá lượng sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích Điều này có nghĩa là việc
sử dụng đất có hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu:
- Thu được nhiều giá trị nông sản phẩm trên một đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho người lao động, với chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp nhất
- Đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.\
Đảm bảo tăng độ phì của đất, cải tạo và bảo vệ đất, chống ô nhiễm, xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước phát triển nền nông nghiệp bền vững
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất trồng rau, hoa màu
2.1.5.1 Nhóm nhân tố tự nhiên
Các cây trồng nói chung và cây rau và cây hoa màu nói riêng sinh trưởng và phát triển theo các quy luật tự nhiên riêng vốn có của chúng, đồng thời chịu tác động rất nhiều của nhóm nhân tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu,
Trang 16nguồn nước tự nhiên Các quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người Nếu như điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng vật nuôi sẽ sinh trưởng phát triển mạnh, cho năng xuất và chất lượng cao Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế đạt được thấp và các quá trình
đó gắn liền với đất đai cùng với việc sử dụng nó Chính vì vậy trong quá trình sử dụng đất canh tác, nhất là trong quá trình sử dụng đất trồng rau và hoa màu sẽ không đạt được hiệu quả nếu như chúng ta không nắm vững các quy luật của tự nhiên và sinh vật để có thể hạn chế các tác hại, đồng thời lợi dụng để tác động một cách phù hợp tới cây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển theo chiều hướng có lợi cho con người
2.1.5.2 Nhóm nhân tố công nghệ và kỹ thuật
Đây là một trong những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả trong sản xuất ngành trồng trọt và nó đồng hành với quá trình sử dụng đất Công nghệ trong nông nghiệp là tập hợp các tri thức khoa học nông nghiệp áp dụng vào quá trình sử dụng đất Công nghệ áp dụng trong nông nghiệp cần theo hướng làm giảm sự lệ thuộc quá mức vào việc sử dụng các sản phẩm hóa học của người nông dân Nhờ áp dụng công nghệ và kỹ thuật mới vào sản xuất, đã giúp cho quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao hơn, giúp cho con người sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, với số lượng nguồn lực không đổi, thậm chí còn ít hơn Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật mới cần phải kết hợp hài hoà với công nghệ cổ truyền đang có trong dân, đồng thời phải chú ý đến môi trường sinh thái
2.1.5.3 Nhóm nhân tố kinh tế tổ chức
2.1.5.3.1 Trình độ sản xuất của người dân
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nhưng trình độ của người sản xuất có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất của cây
Trang 17trồng và vật nuôi Việc áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất không đảm bảo chắc chắn mang lại HQKT cao ngay từ lúc mới áp dụng nếu như người nông dân không có kiến thức khoa học và thành thạo kỹ thuật Những người nông dân nắm vững kỹ thuật, có kinh nghiệm sản xuất, trình độ tổ chức quản lý tốt bao giờ cũng thu được sản phẩm nhiều hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn trên một đơn vị diện tích so với người nông dân có trình độ học vấn thấp, không hoặc
ít am hiểu về kỹ thuật nông nghiệp
2.1.5.3.2 Quy mô sản xuất
Quy mô sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất Quy mô sản xuất càng lớn thì chi phí quản lý cũng như các chi phí khác được tiết kiệm hơn và ngược lại
2.1.5.3.3 Thị trường
Hệ thống thị trường thực hiện sự trao đổi hàng hóa, của quá trình hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường Nói đến thị trường là nói đến cung cầu của một loại sản phẩm hàng hóa hoặc hàng hoá dịch vụ nào đó Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng sản phẩm sản xuất ra của người sản xuất Khi cầu của một loại hàng hoá xuất hiện trên thị trường thì người sản xuất sẽ tìm cách đáp ứng mức cầu của hàng hoá đó, sản phẩm nào được thị trường chấp nhận sẽ đứng vững, tồn tại và đem lại HQKT cao cho người sản xuất
2.1.5.3.4 Cơ sở hạ tầng
Trong sản xuất nông nghiệp cơ sở hạ tầng đóng vai trò rất quan trọng Nếu cơ sở hạ tầng không tốt sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, năng xuất và chất lượng cây trồng, nhất là vào mùa hạn hán và lũ lụt Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình sản xuất sẽ tạo động lực kích thích phát triển nông nghiệp hàng hoá và các hoạt động phi nông nghiệp, trên cơ sở
đó tăng thu nhập cho các hộ gia đình ở nông thôn
Trang 182.1.5.3.5 Các chính sách liên quan đến sản xuất nông nghiệp
Các chính sách của chính phủ được đưa ra nhằm tác động vào một lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, điều này được thể hiện rõ Nếu chính sách đúng đắn phù sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, và ngược lại nếu chính sách không phù hợp sẽ góp phần kìm hãm
sự phát triển của sản xuất Trên thực tế chúng ta đã thấy rõ điều này ở thời kỳ bao cấp Hiện nay, một số chính sách nông nghiệp mới ra đời như chính sách trợ giá nông sản, chính sách khuyến nông… đã góp phần thúc đẩy việc phát triển sản xuất nông nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, sử dụng hợp lý
và có hiệu quả các nguồn lực hơn
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác trên thế giới
Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đưa ra nhiều phương pháp đánh giá để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất canh tác Các nước Đông Nam Á đã áp dụng các phương pháp như: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế… vào việc áp dụng đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác thông qua việc tập chung hướng nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng, để từ đó sắp sếp, bố trí một công thức luân canh phù hợp hơn, khai thác một cách tối ưu tiềm năng của đất
Các nhà khoa học nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra một số cây trồng mới có năng suất và chất lượng cao, giúp cho việc sử dụng đất ngày càng có hiệu quả hơn Tạp chí Farming JaPan của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình của các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai Các nhà khoa học Nhật Bản hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác là sự phối hợp giữa các cây
Trang 19trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi… các nhà khoa học Hàn Quốc đã đề xướng và phát triển phương pháp canh tác tự nhiên tại Hàn Quốc, đến nay phương pháp này đã được áp dụng rất thành công không những tại Hàn Quốc mà còn ở một số nước trong khu vực Châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản… sản xuất theo phương pháp canh tác tự nhiên
sẽ kiểm soát được toàn bộ quá trình sản xuất từ nguyên liệu đầu vào để tạo ra các chế phẩm, quá trình làm đất, bón phân, chăm sóc (sử dụng hợp lý chất dinh dưỡng cho cây trồng) do vậy sản phẩm mang tính an toàn cao, nâng cao năng suất Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng đối với các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang lại kết quả và hiệu quả cao hơn
Hiện nay, khi dân số tăng nhanh thì nhu cầu lương thực thực phẩm cũng tăng theo trong khi đất nông nghiệp đang ngày bị thu hẹp dần Theo tài liệu của FAO, năm 1980 diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới là gần 1467 triệu hecta (chiếm10%) tổng diện tích đất tự nhiên của thế giới Trong đó có tới 973 triệu hecta là ở vùng đồi núi Hàng năm đất bị xói mòn mất khoảng 57 triệu hecta Trên toàn thế giới có gần 1200 triệu hecta đất bị thoái hoá ở mức trung bình hoặc nghiêm trọng, có gần 544 triệu hecta đất canh tác mất khả năng sản xuất do không sử dụng hợp lý Trung Quốc chiếm 23% dân số thế giới nhưng chỉ có 7% đất canh tác Theo thống kê mới nhất cho thấy diện tích đất đai bị cát hoá của Trung Quốc đã đạt hơn 1 triệu 740 nghìn km2, chiếm 18,2% diện tích lãnh thổ Diện tích cát hoá đang lan rộng với tốc độ mỗi năm 3436km2 Ấn Độ 30% diện tích đất bị xói mòn 31% diện tích Tây Ban Nha
có nguy cơ trở thành sa mạc
Dự báo tới năm 2025, 2/3 đất canh tác ở Châu phi sẽ biến mất cùng với 1/3 đất canh tác ở Châu Á và 1/5 của Nam Mỹ Các khu vực bị ảnh hưởng
Trang 20nhiều nhất là vùng khô cằn nằm cạnh những sa mạc hiện nay, bao gồm nhiều vùng ở cận shahara (Châu Phi) hay sa mạc Gobi ở Trung Quốc.
Tài nguyên đất dùng vào sản xuất nông nghiệp trên thế giới vốn đã không nhiều, nhưng lại ngày càng bị thu hẹp bởi sự gia tăng của mục đích phi nông nghiệp, trong khi đó khả năng mở rộng không còn nhiều
Do vậy, phát triển nông nghiệp nhằm đảm bảo nhu cầu nông sản và luơng thực cho gần 7 tỷ người trên trên trái đất này yêu cầu chúng ta cần phải nghiên cứu các biện pháp sử dụng đất nông nghiệp tối ưu theo hướng thâm canh tăng vụ trên cơ sở bố trí hệ thống cây trồng hợp lý là cần thiết
2.2.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất canh tác nói chung ở nước ta hiện nay
2.2.2.1 Vài nét về tình hình sử dụng đất canh tác nước ta
Việt Nam có nhiều nét đặc thù với các nước trên thế giới với diện tích đất ít, người đông, trình độ phát triển kinh tế thấp, tốc độ đô thị hoá tăng nhanh Hiện nay nước ta có khoảng 9,382 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm khoảng 28,5% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước với khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và 50% lao động đang hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm là 2% Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số đạt kế hoạch từ 1 – 2%/năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015, trong khi quỹ đất nông nghiệp hầu như không tăng
Dựa vào nguồn đất đai hiện có, theo phương pháp đánh giá của FAO các nhà nghiên cứu đã xác định một số loại hình sử dụng đất chính sau
- Loại hình sử dụng đất bền vững:
+ Loại hình sử dụng trồng lúa 2 – 3 vụ, có 51 đơn vị đất đai, chủ yếu trên các nhóm đất phù sa, nhóm đất cát biển, nhóm đất lầy
Trang 21+ Loại sử dụng trồng lúa màu có 59 đơn vị đất đai, phân bố tập chung ở các nhóm đất như nhóm đất xám, nhóm đất phù sa, nhóm đất cát với chủ yếu
là 2 vụ màu và lúa màu
+ Loại sử dụng trồng cây công nghiệp dài ngày có 82 đơn vị đất đai, sử dụng trồng cây ăn quả có 30 đơn vị đất đai, đất rừng 166 đơn vị đất đai
- Loại hình sử dụng đất không bền vững về kinh tế: đất được sử dụng trồng lúa một vụ, tuy nhiên loại hình này chưa tận dụng hết khả năng của đất,
hệ số sử dụng còn thấp, hiệu quả kinh tế không cao, không ổn định
- Loại hình sử dụng đất không bền vững về môi trường: chủ yếu là loại đất trồng cây cạn ngắn ngày, có 134 đơn vị đất đai Do địa hình cao, dốc, thoát nước và không có khả năng tưới, đất trở nên khô hạn, dễ bị rửa trôi xói mòn, làm cho môi trường đất bị phá huỷ nghiêm trọng do đó cần thay đổi cơ cấu cây trồng một cách hợp lý
- Loại hình sử dụng đất bền vững về kinh tế và môi trường: đây là loại hình đất đồi núi trọc có 215 đơn vị đất đai
Qua bảng 2.1 ta thấy sản lượng lương thực từ năm 1980 đến nay có tăng lên theo xu hướng ổn định Mặc dù diện tích đất canh tác bị giảm đi qua các năm Hệ số sử dụng ruộng đất tuy có tăng lên khá đều đặn nhưng vẫn chưa cao
Bảng 2.1: Tình hình đất nông ngiệp và đất canh tác Việt Nam
Trang 22Nhìn chung, điều kiện đất đai đa dạng, trình độ canh tác ngày càng tăng, hệ số sử dụng ruộng đất tăng lên, cơ cấu sản xuất được bố trí hợp lý hơn, năng suất cây trồng tăng khá nhanh Đây là xu hướng tốt là cơ sở quyết định để nâng cao HQKT trong sử dụng đất.
2.2.2.2 Một số công trình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất trồng cây hoa màu có liên quan tới đề tài
Trong những năm gần đây, bên cạnh việc nghiên cứu đưa các giống cây trồng mới vào sản xuất, các biện pháp tăng hiệu quả sử dụng đất đều dựa vào việc nghiên cứu đưa ra các công thức luân canh mới, bằng phương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây trồng, từng công thức luân canh Từ đó các công thức luân canh tiến bộ, các kiểu sử dụng đất luôn được cải tiến để khai thác ngày một tốt hơn tiềm năng của đất
Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng các nguồn lợi về đất đai, khí hậu để bố trí hệ thống các cây trồng đã được nhiều tác giả đề cập đến như: Bùi Huy Đáp (1974), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987) Trong đó các loại cây hoa màu đặc biệt
là lạc và đậu tương được chú ý (diện tích đậu tương tăng 282%, diện tích lạc tăng 207%)
Chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đang nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp đồng bằng sông Hồng Nội dung quan trọng nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ năm 1993 – 2010
Nghiên cứu hệ thống cây trồng trên đất dốc nhằm nâng cao năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta với các công trình nghiên cứu như: Nguyễn Ngọc Bình (1987), Nguyễn Tử Siêm(1993), Nguyễn Thanh Trà (1996)
Trang 23Kết quả nghiên cứu, bố trí luân canh cây họ đậu trên đất 3 vụ làm tăng HQKT sử dụng đất hoa màu và nâng cao độ phì của đất bạc màu ở tỉnh Sóc Sơn.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu cũng như thực tiễn khai thác tiềm năng đất đai hiện nay mới giải quyết được phần nào những vấn đề đang đặt ra của việc sử dụng đất đai Nhiều mô hình canh tác có năng suất cây trồng cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả kinh tế đem lại thấp Trong khi
đó có mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng chưa có gì đảm bảo cho việc khai thác lâu dài ổn định Vì vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đòi hỏi phải có những biện pháp kinh tế kỹ thuật đồng bộ phù hợp
Trang 24PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Yên Đồng – Ý Yên – Nam Định
3.1.1.1 Vị trí Địa lý
Yên Đồng là một xã đồng bằng nằm trên dải đất phù xa thuộc đồng bằng Sông Hồng ở phía Đông Nam huyện Ý Yên
- Phía Đông giáp xã Yên Nhân
- Phía Tây giáp xã Yên Khang
- Phía Nam giáp xã Yên trị
- Phía Bắc giáp xã Yên Thắng
Yên Đồng có điểm thuận lợi là gần thị xã Ninh Bình đang trên đà phát triển lại nằm sát trục đường 10 nối Tỉnh Ninh Bình và Nam Định, nên nên có lợi thế lớn cho giao thưong, là một trong các tiềm lực to lớn cần phải phát huy
để phát triển kinh tế xã
3.1.1.2 Địa hình đất đai
Địa hình xã Yên Đồng tương đối bằng phẳng, tuy nhiên độ cao đất đai trong xã tương đối gồ gề, nhấp nhô, hình thành các giải đất thấp dần từ Nam xuống Bắc từ Đông sang Tây Đất có địa hình cao dùng để trồng rau và hoa màu chiếm khoảng 40% diện tích, đất có địa hình trung bình chiếm khoảng 20% diện tích dùng để trồng lúa màu, đất trũng khoảng 40% diện tích chuyên trồng lúa và thả cá
3.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Trang 25Khí hậu thời tiết xã Yên Đồng mang đặc điểm khí hậu của vùng đồng bằng Bắc Bộ, chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa nóng ẩm, mưa nhiều, mùa khô lạnh và hanh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ hàng tháng dao động trong khoảng từ 250C đến 300C Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ hàng tháng giao động trong khoảng từ 120C đến 240C Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 230C Vào mùa Hè nhiệt độ tăng cao, trời nắng nhiệt độ trong ngày cao nhất có thể lên tới trên 370C Vào mùa Đông nhiệt độ xuống thấp, trời rét, nhiệt độ trong ngày có thể xuống tới dưới 60C Trung bình trong năm có khoảng hơn 200 ngày có nhiệt độ từ 200C đến 300C, nhiệt độ thích hợp cho cây trồng vật nuôi phát triển Độ ẩm trung binh 86%, lượng mưa trung bình cả năm 1563,3mm, có khoảng 150 đến 170 ngày mưa Mùa mưa ẩm, nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% đến 85% lượng mưa cả năm Trong khi đó lượng mưa vào mùa khô chỉ chiếm 20 – 25% tổng lượng mưa cả năm Do lượng mưa không đều giữa các tháng trong năm nên thường gây ra các hiện tượng hạn hán vào mùa khô và úng lụt vào mùa mưa.
Nhìn chung, điều kiện thời tiết khí hậu của xã Yên Đồng tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, có điều kiện thâm canh gối vụ, chuyển đổi cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên việc phòng chống
và giảm nhẹ thiên tai cũng là một vấn đề đặt ra đối với xã Yên Đồng
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Yên Đồng – Ý Yên – Nam Định
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai
Xã Yên Đồng có tổng diện tích đất tự nhiên là 1071.87 ha, diện tích này hầu như không thay đổi qua 3 năm, (nguyên nhân do xã không có sông ngòi lớn chảy qua nên hàng năm hầu như không có sự bồi đắp) Chỉ có sự biến động giữa các loại đất Diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua 3 năm, năm 2007 là 764.03 ha, đến năm 2008 chỉ còn 762.60 ha giảm 0.15% Diện
Trang 26tích đất nông nghiệp giảm kéo theo diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất canh tác giảm theo, năm 2007 diện tích đất canh tác là 711.85 ha, đến năm 2008 giảm còn 710.52 ha, năm 2009 là 710.11, mặc dù cơ cấu vẫn giữ nguyên là chiếm 96.89% diện tích đất sản xuất nông nghiệp Nguyên nhân của sự sụt giảm đất nông nghiệp là do sự tăng nhanh của dân số xã dẫn đến tăng lên diện tích đất ở và đất có mục đích công cộng, cụ thể năm 2007 diện tích đất ở là 68.87 ha chiếm 23.93% đất tự nhiên, tăng lên 69.57 ha chiếm 24.03% năm 2008 và 69.98 ha chiếm 24.16% năm 2009, diện tích đất có mục đích công cộng tăng từ 148.62 hs năm 2007 lên 149.40 ha năm 2008 và 149.51 năm 2009 Do địa hình xã tương đối bằng phẳng nên diện tích đất chưa sử dụng tương đối ít chỉ khoảng 19.75 ha chiếm 1.84% diện tích đất tự nhiên và hầu như không có sự biến động qua 3 năm.
Qua bảng 3.1 cho ta thấy trong các loại đất thì hầu như đều có sự biến động, diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng chuyển dần sang đất phi nông nghiệp
Cũng qua bảng 3.2 ta thấy rõ diện tích đất rau và hoa màu tương đối ổn định chỉ có sự giảm nhỏ qua các năm do xu thế giảm của đất nông nghiệp, cụ thể năm 2007 là 246.22 ha chiếm 34.59% diện tích đất canh tác, năm 2008 giảm xuống còn 245.72 ha, năm 2009 là 245.71 ha chiếm 34.60%
Mặc dù diện tích đất trồng rau và cây hoa màu không lớn, nhưng hiệu quả của nó đem lại khá lớn vì hệ số sử dụng đất của loại đất này là rất cao, toàn bộ là đất 3 vụ, thậm chí đất trồng rau có thể lên tới 6 vụ mỗi năm Vì thế khi phát triển sản xuất nông nghiệp cần đặc biệt chú ý đến loại đất này
Trang 27Bảng 3.1 Tình hình phân bố đất đai của xã qua 3 năm (2007 – 2009)
- Đất hai lúa, lúa màu 465.39 65.38 464.56 65.38 464.16 65.36 100.00 99.97 99.98
- Đất rau và hoa màu 246.22 34.59 245.72 34.58 245.71 34.60 99.97 100.06 100.01
Trang 28Diện tích đất hai lúa và lúa màu cũng có sự biến động, đặc biệt trong nội bộ cũng có sự thay đổi về cơ cấu cây trồng, đất 2 lúa có xu hướng giảm dần và tăng dần diện tích lúa màu (một vụ lúa một vụ màu), (do hiệu quả của cây hoa màu đem lại lớn hơn cây lúa.)
Nhận xét: Nhìn chung tình tình hình phân bố đất đai của xã tương đối đơn giản, tuy nhiên để khai thác tốt tiềm năng của đất đòi hỏi cán bộ cũng như người dân phải có kiến thức chuyên môn tốt, khai thác triệt để tiềm năng của đất nhưng cũng phải đảm bảo sự phát triển bền vững của đất đặc biệt là chân đất trồng rau và hoa màu
3.1.2.2 Tình hình hộ khẩu và lao động
Dân số và lao động đóng vai trò quan trọng trong mọi quá trình sản xuất, là nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội Lao động là nguồn lực, lực lượng sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội đồng thời cùng với dân cư đó là lực lượng tiêu thụ sản phẩm của xã hội
Xã Yên Đồng là xã có mật độ dân số cao của huyện Ý Yên Trong những năm qua, dân số của xã tăng tương đối nhanh, tỷ lệ tăng dân số năm
2008 là 1.96% và năm 2009 là 2.46% Tổng dân số vào thời điểm ngày 31/12/2009 là 12.824 người trong đó số hộ nông nghiệp chiếm khá cao là 86.40% trong tổng số hộ của xã,
Lao động ở Yên Đồng rất dồi dào, có thể nói là dư thừa và chủ yếu là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Năm 2009, toàn xã có 8503 lao động, tăng 1.70% so với năm 2008 trong đó có tới 5087 lao động nông nghiệp chiếm 59.83% tổng số lao động của toàn xã Tuy là một xã nhỏ nhưng mỗi năm bình quân số lượng lao động của xã tăng lên 1.31% Mặc dù lao động tăng nhanh, nhưng lượng lao động trong nông nghiệp lại tăng không đáng kể, lượng lao động phi nông nghiệp tăng nhanh, (cụ thể năm 2009 lao động phi nông nghiệp tăng 2.24% so với năm 2008) Điều đó chứng tỏ Yên Đồng đang khuyến khích
Trang 29Bảng 3.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của xã qua 3 năm (2007 – 2009)
1 Khẩu nông nghiệp Người 10414 84.84 10601 84.70 10850 84.61 101.80 102.35 102.07
2 Khẩu phi nông nghiệp Người 1861 15.16 1912 15.28 1974 15.39 102.74 103.24 102.99
1 Lao động nông nghiệp Người 4956 60.22 5020 60.04 5087 59.83 101.29 101.33 101.31
2 Lao động phi nông nghiệp Người 3279 39.78 3341 39.96 3416 40.17 102.05 102.24 102.15III Các chỉ tiêu bình quân
(Nguồn: Thống kê xã Yên đồng
Trang 30chuyển lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp Đây
là một dấu hiệu đáng mừng trong quá trình phát triển của xã
3.1.2.3 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật
Xã Yên Đồng có nền cơ sở vật chất (điện, đường, trường, trạm…) tương đối hoàn chỉnh Những năm qua thực hiện nghị quyết của đảng bộ xã
về phát triển kinh tế xã hội, xã đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng cơ sở
hạ tầng nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh, từng bước dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH
* Về hệ thống giao thông của xã.
Toàn xã đã mở rộng và hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn theo hướng nhựa hoá và bê tông hoá ở tất cả các đường liên xã, liên thôn, giao thông nội đồng phục vụ cho sản xuất và phát triển nông nghiệp
- Hệ thống đường giao thông liên xã: được trải nhựa, có hai trục đường chính từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây với tổng chiều dài 6 Km
- Hệ thống đường giao thông liên thôn: toàn xã có 8 thôn, 35 xóm cho đến nay toàn bộ các đường liên thôn đều được bê tông hoá và lát gạch 100%
- Hệ thống đường giao thông nội đồng: tính đến cuối tháng 12 năm
2009, 80% đường giao thông nội đồng là đường đá cấp phối, chỉ còn khoảng 20% là đưòng đất Xã đang đặt mục tiêu phấn đấu cuối năm 2010, 100% đường giao thông nội đồng được giải đá cấp phối điều này là vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế xã
* Về hệ thống thuỷ lợi
Yên Đồng coi thuỷ lợi là yếu tố quan trọng hàng đầu với sản xuất nông nghiệp Về máng tiêu xã có ba sông tiêu đi qua đó là sông S45, S47, S49, và một phần sông S43 đi qua với tổng chiều dài gần 10 km nhằm phục vụ nước tưới và tiêu cho sản xuất nông nghiệp Về máng tưới: xã có có kênh Nam của
Trang 31nhà nước chảy qua với chiều dài 2.5 km và còn nhiều kênh tưới do nguồn đóng góp của dân như kênh xây N17, N19, N21, N23… với chiều dài 10 km
Hệ thống máng cấp 2, cấp 3 dài trên 30 km, máng cấp 4, cấp 5 dài trên 60 km
Hệ thống thuỷ lợi trên đã đáp ứng khá tốt cho nhiệm vụ tưới tiêu trong những năm vừa qua cho sản xuất nông nghiệp
Bảng 3.3: Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của xã
I Thuỷ lợi
Trang 32* Hệ thống trạm bơm
Xã có 10 trạm bơm cố định với công suất 24.000 m3/h và năm máy bơm dã chiến với tổng công suất 2500 m3/h, cùng hàng chục máy bơm chạy dầu đủ điều kiện phục vụ sản xuất trong mọi hoàn cảnh
* Hệ thống điện của xã
Được xây dựng từ năm 1990 Yên Đồng hiện nay đã có mạng lưới điện
35 kv phục vụ cho toàn xã, với 4 trạm biến thế có tổng công suất lên tới 1.400
KV Hệ thống đường dây hạ thế 0.4 KV với chiều dài trên 20 km, và trên 25
km đường dây dong ngõ đến từng hộ xã viên Hiện nay ở Yên Đồng 100% số
hộ được sử dụng điện, đây là điều đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển đi lên của kinh tế xã
Ngoài ra còn một số cơ sở vật chất sẽ được thể hiện rõ qua bảng 3.3
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh ngành nông nghiệp của xã qua 3 năm
Mấy năm gần đây nền kinh tế của xã phát triển rất nhanh Một mặt do
có thuận lợi về đất đai, mặt khác do có sự mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất lúa hiệu quả thấp chuyển sang trồng các cây màu có hiệu quả cao như: lạc, đỗ tương các loại rau hiệu quả cao Diện tích dịch chuyển ngày càng tăng, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư thâm canh vào sản xuất (chủ yếu là trên đất rau và hoa màu), tuy nhiên phạm vi vẫn còn hẹp và chưa đồng bộ
Cụ thể qua bảng 3.4 ta thấy tổng giá trị kinh tế ngành sản xuất nông nghiệp của xã tăng lên rõ rệt năm 2007 là 46551.5 triệu đồng , năm 2008 là 52343.8 triệu đồng và năm 2009 là 72136.1 triệu đồng, bình quân mỗi năm tăng 25.13% Trong đó năm 2007 giá trị sản xuất ngành trồng trọt là 34051.5 triệu đồng chiếm 73.15%, chăn nuôi là 12500 chiếm 26.85% Sang năm 2009 mặc dù tổng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt tăng mạnh lên 40885.9 triệu đồng nhưng cơ cấu lại giảm chỉ chiếm 56.68% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp do sự phát triển rất mạnh mẽ của ngành chăn nuôi, năm 2009 giá
Trang 33Bảng 3.4: Kết quả SXKD ngành nông nghiệp của xã qua 2 năm 2007 – 2009
Trang 34trị ngành chăn nuôi là 31250.2 triệu đồng tăng 18750.2 triệu đồng so với năm 2007 và chiếm 43.32% Qua đó ta thấy được về giá trị sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi đều đều có xu hướng tăng qua các năm, nhưng về
cơ cấu của giá trị sản xuất thì ngành trồng trọt lại có xu hướng giảm do sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi Điều đó chứng tỏ sản xuất nông nghiệp của xã đang từng bước phát triển và có xu hướng chuyển dịch từ trồng trọt sang chăn nuôi
Mấy năm gần xác định lấy cây màu làm mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp, xã Yên Đồng đã mở rộng diện tích trồng màu lấn chân hai lúa trong
đó đặc biệt là cây lạc rất được chú trọng
Chính vì từ việc chuyển đổi cơ cấu cấu cây trồng từ chân 2 lúa sang trồng màu đã làm hiệu quả sản xuất tăng lên rõ rệt, năm 2007 chỉ đạt 47 triệu đồng/ ha sang năm 2009 đã tăng lên 49 triệu đồng tăng 4.68% Từ đó ta càng thấy rõ hơn hiệu quả cũng như là tầm quan trọng của cây hoa màu trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất của nền kinh tế xã
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu
Để có kết quả làm cơ sở đánh giá chung cho tình hình và HQKT trong
sử dụng đất trồng rau và hoa màu trong toàn xã tôi tiên hành chọn điểm và mẫu nghiên cứu, điểm và mẫu nghiên cứu, phải đặc trưng, điển hình, đại diện cho địa bàn nghiên cứu Từng điểm nghiên cứu đại diện cho một kiểu vùng sinh thái và một kiểu sử dụng đất đặc trưng của địa bàn sao cho có thể phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của toàn xã Cụ thể tôi tiến hành điều tra trên
90 hộ dân phân bố ở các làng: La Ngạn I, La Ngạn II 30 mẫu; làng Cốc Dương 30 hộ và làng An Chung 30 hộ, đây là các hộ sản xuất điển hình Làng
La Ngạn I và II có diện tích màu lớn nhất, làng Cốc Dương và An Chung có diện tích rau màu lớn nhất
Trang 353.2.2 Phương pháp thu thập số liệu và sử lý số liệu
- Số liệu sẵn có: Số liệu này chủ yếu được thu thập từ các báo cáo, số liệu của bên thống kê, địa chính và các bên liên quan của xã, thôn, xóm Đây
là những thông tin có sẵn và được công bố chính thức trong các văn bản của các bên
-Số liệu điều tra: Đây là số liệu được thu thập từ các hộ nông dân thuộc các thôn xóm được chọn làm địa điểm nghiên cứu Việc điều tra được áp dụng theo phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của nông dân Các thông tin về tình hình sản xuất trên đất rau, đất màu; những ý kiến của người nông dân
* Các chỉ tiêu điều tra: Tiến hành điều tra các hộ nông dân, tôi điều tra các chỉ tiêu cơ bản: Tình hình sử dụng đất đai, lao động, vốn và các chỉ tiêu khác có liên quan
* Phương pháp tổng hợp: Trong đề tài tôi sử dụng phương pháp phân tổ thống kê
* Phương pháp phân tích: Nguồn số liệu phục vụ cho tình hình sử dụng đất canh tác của xã phải được thu thập từ thực tế sản xuất, điều tra chọn mẫu từ các hộ nông dân Do đó, muốn có được kết quả nghiên cứu đúng phải có phương pháp xử lý và phân tích phù hợp, tôi sử dụng những phương pháp: Phương pháp tính số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, phương pháp dự báo
3.2.3 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
Thực hiện tham khảo ý kiến của các chuyên gia nông nghiệp, cán bộ của xã, huyện, các hộ canh tác giỏi trong xã Các ý kiến này cùng với tài liệu
và số liệu minh chứng, ta đem vận dụng, chọn lọc và kế thừa để từ đó tìm ra phương pháp nội dung nghiên cứu phù hợp với đề tài
Trang 363.2.4 Phương pháp thống kê kinh tế
Phương pháp này sử dụng trong việc tập hợp, xử lý và điều tra các số liệu, tài liệu thu thập được về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội Trên cơ sở
số liệu đã thu thập và tổng hợp, mô tả sự biến động của các hiện tượng qua từng thời kỳ để tìm ra bản chất và sự vận động của sự vật, hiện tượng đó, qua
đó rút ra các kết luận khoa học, và đưa ra những dự báo cho tương lai
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài nghiên cứu
Vì HQKT là một phạm trù kinh tế hết sức phức tạp và được thể hiện hết sức đa dạng và phong phú HQKT sử dụng đất là một bộ phận của nền sản xuất xã hội Vì vậy khi đánh giá HQKT sử dụng đất trồng rau và đất trồng hoa màu phải có một hệ thống chỉ tiêu phù hợp để phản ánh đúng thực trạng của
nó, hệ thống chỉ tiêu đó phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân và ngành nông nghiệp
- Đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống tức là có cả chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu bộ phận và tiêu thụ
- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta
- Kích thích sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp phát triển
Xác định chỉ tiêu đánh giá HQKT đúng sẽ định hướng phát triển sản xuất và đưa ra những quyết định phù hợp để tăng nhanh HQKT
Qua nghiên cứu và thống nhất nhiều ý kiến chúng tôi đưa ra các chỉ tiêu đánh giá HQKT sau:
Trang 37HSSDĐ = Tổng diện tích gieo trồng
Tổng diện tich đất canh tác
- Năng suất cây trồng
- Năng suất đất đai
- Tổng sản lượng thu được
- tổng thu nhập
* Chỉ tiêu xác định yếu tố đầu ra
- Gí trị sản xuất (GO): là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm tính trên một đơn vị diện tích
1
*
n i
=
=∑
Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i
Pi: Đơn giá sản phẩm thứ in: Số lượng sản phẩm sản xuất ra
- Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ trong quá trình sản xuất
IC = Ii.CiTrong đó: Ii: Số đầu vào thứ i được sử dụng
Ci: Đơn giá sản phẩm thứ i
- Giá trị gia tăng (VA): là giá trị tăng thêm của người sản xuất trên một đơn vị diện tích
VA = GO – ICTrong dó: GO: Giá trị sản xuất
IC: Chi phí trung gian
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao gồm thu nhập của người lao động và lợi nhuận thu được trên một đơn vị diện tích
MI = VA – (A+T)
Trang 38Trong đó: A: Giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ.
T: Thuế nông nghiệp
* Chỉ tiêu hiệu quả
- Hiệu quả kinh tế/1 đơn vị diện tích đất gieo trồng
+ Giá trị sản xuất/1 đơn vị diện tich
+ Giá trị gia tăng/1 đơn vị diện tich
+ Thu nhập hỗn hợp/1 đơn vị diện tích
- Hiệu quả/1 đơn vị chi phí sản xuất
+ Giá trị sản xuất/1 đồng chi phí trung gian
+ Giá trị gia tăng/1 đồng chi phi trung gian
+ thu nhập hỗn hợp/1 đồng chi phí trung gian
- Hiệu quả đầu tư công lao động
+ Giá trị sản xuất/1 công lao động
+ Giá trị gia tăng/1 công lao động
+ Thu nhập hỗn hợp/1 công lao động
Ngoài ra còn một số chỉ tiêu như: năng suất cây trồng, mức thu hút lao động, trình độ hiểu biết khoa học - kỹ thuật của người dân…
Trang 39PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG RAU VÀ HOA MÀU CỦA XÃ YÊN ĐỒNG, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
4.1.1 Tình hình sử dụng đất trồng rau và hoa màu của xã Yên đồng
Để đánh giá đúng đắn kết quả và hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất rau, màu; trước hết cần phải đánh giá tình hình sử dụng đất rau, màu ở xã Trong mấy năm gần đây có sự thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế, cùng với dường lối đúng đắn của Đảng, nhà nước và sự nỗ lực cố gắng của các hộ nông dân trong xã, nên nguồn lực về đất rau, màu ở xã đang được khai thác sử dụng ngày càng tốt hơn đem lại hiệu quả cao hơn
4.1.1.1 Tình hình bố trí cây trồng và các công thức luân canh
Qua tìm hiểu tình hình thực tế của xã cho thấy, Yên Đồng là một xã thuộc đồng bằng sông Hồng rất thuận lợi cho phát triển kinh tế theo hướng hàng hóa Diện tích đất đai mầu mỡ, cây trồng đa dạng
Qua biểu 4.1 ta thấy diện tích gieo trồng rau và hoa màu ngày càng có
xu hướng tăng dần, diện tích tăng này chủ yếu là do nông dân thâm canh tăng
vụ Năm 2007 diện tích gieo trồng hoa màu của xã là 462.12 ha, năm 2008 tăng lên 475.32 ha, đến năm 2009 lại có xu hướng giảm nhẹ xuống còn 462.43 ha với tốc độ tăng bình quân là 2.86% Trong số các cây màu thì cây lạc, lúa, và khoai tây vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong các vụ gieo trồng Diện tích cây lạc luôn có xu hướng tăng qua các năm, năm 2007 chiếm 31.12%, năm 2008 chiếm 32.01 và năm 2009 chiếm 33.38% diện tích Cây ngô và đậu tương lại có xu hướng giảm
Đối với diện tích trồng rau, nhìn chung cũng tăng nhẹ qua các năm, các cây chủ đạo như cải bắp, súp lơ, cà chua, hành đều có xu hướng tăng nhẹ Cải bắp năm 2007 là 65,23ha, năm 2008 là 66.96ha và năm 2009 là 67,56ha Bình
Trang 40Bảng 4.1: Tình hình bố trí các loại cây trồng chính trên đất trồng rau và hoa màu của xã