1.2.1 Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng về sự đóng góp của hộ nông dân trong các chi tiêu công trên địa bàn xã Cảnh Hưng huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh; Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm huy động và sử dụng hợp lý các khoản đóng góp cho phù hợp với điều kiện kinh tế của hộ nông dân tại địa phương. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về các khoản đóng góp của hộ nông dân trong chi tiêu công . Đánh giá thực trạng thu, nộp các khoản đóng góp của hộ nông dân cho chi tiêu công trên địa bàn xã. Đề xuất những giải pháp nhằm huy động và sử dụng hợp lý các khoản đóng góp cho chi tiêu công phù hợp với điều kiện kinh tế của hộ nông dân trên địa bàn xã.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thôngtin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Người cam đoan
Nguyễn Thị Mai
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân,
em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo TS.Nguyễn Phượng Lê, người đã hết lòng giúp đỡ em trong suốt quá trình thựchiện đề tài và hoàn thành luận văn này
Em xin cảm ơn tất cả các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và PTNT - TrườngĐại học Nông Nghiệp Hà Nội đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm học tập vàlàm việc cho em trong thời gian học tập tại trường
Em xin trân trọng cảm ơn ông Nguyễn Văn Xuyên, Chi cục trưởng Chicục PTNT Bắc Ninh đã tạo điều kiện cho em xuống cơ sở điều tra và thu thậpthông tin phục vụ cho luận văn của mình Bên cạnh đó, em xin trân trọng cảm ơnông Nguyễn Hữu Bảo - chủ tịch UBND xã Cảnh Hưng cùng toàn thể cán bộUBND xã đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và tất cả bạn bè đãluôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực tập của mình
Do kinh nghiệm và trình độ còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏinhững thiếu sót trong quá trình làm khoá luận này Em rất mong nhận được sựgóp ý của thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai
Trang 3TÓM TẮT KHOÁ LUẬN
Quá trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện choViệt Nam có những bước phát triển đáng kể, với tốc độ tăng trưởng cao và ổnđịnh So với trước đây, cuộc sống của người dân nông thôn được cải thiệnđáng kể Tuy nhiên, nếu so với dân cư đô thị thì vẫn còn khoảng cách khá xa
và ở nông thôn thì sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu
Cảnh Hưng là một xã thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mà kinh tếchủ yếu dựa vào nông nghiệp, không có ngành nghề truyền thống, việc dunhập phát triển nghề phụ từ các địa phương khác rất hạn chế Nhưng trongnhững năm gần đây thì đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày mộtnâng cao Tuy nhiên, người dân cũng phải đóng góp nhiều khoản khác nhau
mà không phải hộ nào cũng có khả năng, đặc biệt là đối với những hộ nghèo
Do vậy việc sử dụng hợp lý và điều chỉnh các khoản đóng góp của hộ nôngdân là biện pháp cần thiết
Vì vậy tôi chọn xã Cảnh Hưng làm địa điểm nghiên cứu cho đề tài của
mình: “Sự đóng góp của hộ nông dân trong các chi tiêu công tại xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” Với mục tiêu là đánh giá thực trạng
về sự đóng góp của hộ nông dân trong các chi tiêu công trên địa bàn xã CảnhHưng - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh; Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằmhuy động và sử dụng hợp lý các khoản đóng góp cho phù hợp với điều kiệnkinh tế của hộ nông dân tại địa phương
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống thu thập tàiliệu trên các kênh thông tin khác nhau, phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với cácđối tượng nghiên cứu, Số liệu thu thập được từ điều tra, khảo sát được mãhoá và nhập vào hệ cơ sở dữ liệu trên máy tính sử dụng phần mềm EXCEL.Bên cạnh đó sử dụng kết hợp cả phương pháp phân tích định lượng và địnhtính, phương pháp chuyên gia chuyên khảo Thông qua các số liệu điều tra,tính toán các chỉ tiêu liên quan đến tình hình của hộ Từ đó, phân tích thực
Trang 4trạng kinh tế hộ, các khoản đóng góp của hộ Đồng thời, chỉ ra những bất hợp
lý trong đóng góp của hộ tại địa phương Ngoài ra, đề tài còn sử dụng hệthống các chỉ tiêu liên quan đến lĩnh vực kinh tế để nghiên cứu thực trạngđóng góp của hộ nông dân trong các chi tiêu công tại xã Cảnh Hưng
Sau khi tổng hợp, so sánh và phân tích thực trạng tình hình, căn cứ vàomục tiêu phát triển kinh tế chung, các khoản đóng góp của hộ nông dân xãCảnh Hưng, đề tài đã rút ra được một số nhận xét sau:
Với những tiềm năng vốn có của mình trong những năm gần đây, CảnhHưng đã có những bước phát triển đáng kể và đặc biệt còn được bổ sung từNgân sách cấp trên cho xây dựng trên cơ sở quy hoạch tổng thể kinh tế - xãhội Do thiếu vốn đầu tư nên việc khai thác và phát triển nguồn thu của xã còn
bị hạn chế Song nhìn chung UBND xã đã tìm mọi cách khắc phục khó khănmọi mặt, khai thác triệt để nguồn thu, đồng thời tạo điều kiện khuyến khíchphát triển kinh tế trong nhân dân
Ba năm qua (2007 - 2009) nguồn thu ngân sách của xã đều tăng đã gópphần tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao mọimặt về đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân trong xã
Công tác khuyến nông của xã cũng được đảm bảo hoạt động thườngxuyên với vai trò hướng dẫn nông dân trong việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuậtmới, những giống mới vào sản xuất và chăm sóc cây trồng vật nuôi phù hợp
Tinh thần tự nguyện của các hộ trong xã ngày càng cao cũng một phần donhững năm gần đây, đời sống của người dân ngày một được nâng lên do vậy việchuy động các khoản đóng góp tự nguyện được dễ dàng hơn trước Tuy nhiên, việcphải đóng góp các khoản này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của ngườidân địa phương, đặc biệt là các hộ còn khó khăn Nhiều hộ nông dân không có tiềnđảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt khác như chăm sóc sức khoẻ, chăm lo cho con cáihọc hành
Trang 5Thực tế điều tra cho thấy tổng giá trị đóng góp cho chi tiêu công trong
xã của các nhóm hộ không có sự khác biệt nhiều (hộ khá giàu với tổng giá trịđóng góp là 0.446 triệu đồng/năm, hộ trung bình là 0.572 triệu đồng/năm, hộkhó khăn là 0.273 triệu đồng/năm BQ chung mỗi hộ đóng góp 0.491 triệuđồng/năm) nhưng thu nhập giữa các nhóm hộ thì lại chênh lệch rất lớn (tổngthu nhập của hộ khá giàu là 48.120 triệu đồng/năm, của hộ trung bình là30.736 triệu đồng/năm và của hộ khó khăn là 6.542 triệu đồng/năm), cho nênđối với hộ nghèo tại địa phương thì thật khó khăn để có thể đóng góp đầy đủnhững khoản theo qui định Tuy nhiên, nhìn chung trình độ học vấn cũng như
sự hiểu biết của người dân ngày một nâng cao, vì thế mà ngành nghề của họcũng phong phú hơn
Bên cạnh đó, có một thực tế không thể phủ nhận đó là bộ mặt chungcủa toàn xã ngày càng khang trang, mọi người đều được đi trên những conđường được đổ bê tông sạch đẹp mà mỗi người dân trong xã đều thấy rất tựhào khi họ cũng đã góp một phần vào những thành quả đó
Một số đề xuất chủ yếu nhằm huy động và sử dụng hợp lý các khoảnđóng góp cho phù hợp với điều kiện kinh tế của hộ nông dân tại Cảnh Hưngtrong thời gian tới như sau:
- Để việc huy động đạt hiệu quả cao và được người dân đồng tình ủng
hộ thì các khoản đóng góp tự nguyện của các hộ nông dân phải do nhân dânbàn bạc và quyết định trên cơ sở dân chủ, công khai, quyết định theo đa số.Mức huy động đóng góp của nhân dân, mức miễn, giảm cho các đối tượngchính sách xã hội do nhân dân bàn bạc và quyết định căn cứ vào thu nhậpbình quân và khả năng đóng góp của nhân dân trên địa bàn
- UBND xã nên xác định các đối tượng cần huy động và tính toán huyđộng đối với từng đối tượng có thể căn cứ vào số người trong độ tuổi laođộng, thu nhập bình quân và khả năng đóng góp của họ Cần tăng cường sựtham gia giám sát của người dân trong quá trình thu và sử dụng các khoản
Trang 6đóng góp nhằm thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở và sử dụng hiệu quảnguồn kinh phí mà trong đó có sự đóng góp của người dân
- Cần điều chỉnh một số khoản đóng góp cho hợp lý để tránh tình trạngmột số người dân phải thắc mắc Đồng thời tăng cường đóng góp bằng ngàycông lao động thay cho đóng góp bằng tiền, đặc biệt là đối với hộ nghèo và hộ
có lao động không có việc làm
Tóm lại, việc huy động đóng góp của hộ nông dân xã Cảnh Hưng trongthời gian qua đã góp phần quan trọng tạo nên các nguồn lực cho đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng hoàn thiện, phục vụ cho sản xuất vànâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân, đặc biệt là những hộ cóhoàn cảnh khó khăn Bên cạnh những mặt tích cực nó cũng tồn tại một số hạnchế là nó tác động đến đời sống kinh tế của một bộ phận nông dân, đó lànhững hộ nghèo những gì họ làm ra có khi còn không đủ ăn chứ chưa nói đếnchuyện phải đóng góp các khoản này khác Và các khoản mang tính tựnguyện nhưng được đưa ra như hình thức bắt buộc người dân phải nộp
Nhìn chung với nhu cầu phát triển của xã hội, đại đa số nông dân đềumong muốn được sự quan tâm nhiều hơn nữa của Nhà nước cho khu vựcnông thôn để nâng cao mức sống cho người dân, rút ngắn khoảng cách giàunghèo cũng như giảm bớt được phần nào gánh nặng đóng góp, nhất là đối vớinhững hộ khó khăn Đồng thời việc sử dụng hợp lý các khoản đóng góp củangười dân cũng luôn cần được quan tâm
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN iii
MỤC LỤC vii
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HỘP xi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xii
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Phạm vi về nội dung 3
1.4.2 Phạm vi không gian 3
1.4.3 Phạm vi về thời gian 3
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Khái niệm về chi tiêu công 4
2.1.2 Đặc điểm của chi tiêu công 5
2.1.3 Vai trò đóng góp của dân cho chi tiêu công 8
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 10
2.2.1 Tình hình đóng góp của hộ nông dân ở một số địa phương 10
2.2.2 Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về các khoản đóng góp của hộ nông dân 15
2.2.3 Một số văn bản có liên quan đến các khoản đóng góp của hộ nông dân cho chi tiêu công 20
Trang 8PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 29
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 29
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 30
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 39
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 39
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 40
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 40
3.2.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 41
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 41
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Tình hình thu, chi ngân sách tại xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 42
4.1.1 Tình hình thu ngân sách của xã giai đoạn 2007 – 2009 42
4.1.2 Tình hình chi ngân sách của xã giai đoạn 2007 – 2009 44
4.2 Tình hình thu, chi của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 - 2009 46
4.2.1 Tình hình thu của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 - 2009 46
4.2.2 Tình hình chi của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 48
4.3 Tình hình thu, chi của các tổ chức đoàn thể xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 - 2009 50
4.3.1 Tình hình thu của các tổ chức đoàn thể xã giai đoạn 2007 – 2009 50
4.3.2 Tình hình chi của các tổ chức đoàn thể xã giai đoạn 2007 – 2009 52
4.4 Các khoản đóng góp của hộ điều tra năm 2009 54
4.4.1 Tình hình chung của hộ 54
4.4.2 Tình hình thu nhập của hộ 56
Trang 94.4.3 Định mức đóng góp của hộ điều tra năm 2009 59
4.4.4 Thực trạng đóng góp của hộ điều tra năm 2009 62
4.4.5 Một số chỉ tiêu so sánh giá trị các khoản đóng góp với thu, chi và thu nhập của các hộ điều tra năm 2009 73
4.4.6 Đánh giá của hộ nông dân về các khoản đóng góp và đề xuất đóng góp của hộ 75
4.4.7 Đánh giá của cán bộ địa phương về sự đóng góp của hộ cho chi tiêu công tại xã trong giai đoạn 2007 – 2009 77
4.5 Một số đề xuất nhằm huy động và sử dụng hợp lý các khoản đóng góp của hộ nông dân trong xã 78
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
5.1 KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp chi tiêu công của Việt Nam 7
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai đai của xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 32 Bảng 3.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 34
Bảng 3.3: Hệ thống cơ sở hạ tầng xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 - 2009 36
Bảng 3.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 38
Bảng 3.5: Phân loại hộ điều tra 40
Bảng 4.1: Tình hình thu ngân sách của xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 43
Bảng 4.2: Tình hình chi Ngân sách của xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 45
Bảng 4.3: Tình hình thu của HTX DVNN xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 - 2009 47
Bảng 4.4: Tình hình chi của HTX DVNN xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 .49 Bảng 4.5: Tình hình thu của các TCĐT xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 51
Bảng 4.6: Tình hình chi của các TCĐT xã Cảnh Hưng giai đoạn 2007 – 2009 53
Bảng 4.7: Tình hình chung về nhóm hộ điều tra 55
Bảng 4.8: Tình hình đất đai của hộ điều tra năm 2009 56
Bảng 4.9: Tình hình thu nhập của hộ điều tra năm 2009 58
Bảng 4.10: Định mức thu các khoản đóng góp của hộ do UBND xã thu 59
Bảng 4.11: Định mức thu các khoản đóng góp của hộ do HTX thu năm 2009 61
Bảng 4.12: Định mức thu các khoản đóng góp của hộ do tổ chức đoàn thể thu năm 2009 62
Bảng 4.13: Các khoản đóng góp của hộ điều tra do UBND xã thu năm 2009 65
Bảng 4.14: Các khoản đóng góp của hộ điều tra do HTX thu năm 2009 69
Bảng 4.15: Các khoản đóng góp của hộ điều tra do TCĐT thu năm 2009 72
Bảng 4.16: Một số chỉ tiêu đánh giá mức đóng góp của hộ điều tra năm 2009 74
Bảng 4.17: Đánh giá của hộ nông dân về các khoản đóng góp và đề xuất mức đóng góp của hộ 76
Trang 11DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1: Ý kiến của người dân về tình hình an ninh quốc phòng 63
Hộp 4.2: Sự bức xúc 63
Hộp 4.3: Ý kiến của người dân về các khoản thu của xã 64
Hộp 4.4: Bảo vệ đồng ruộng 66
Hộp 4.5: Ý kiến của người dân về công tác vệ sinh môi trường 67
Hộp 4.6: Các hộ nghèo 70
Hộp 4.7: Việc tham gia các hội 70
Hộp 4.8: Ý kiến của người dân 75
Hộp 4.9: Đánh giá của lãnh đạo xã 77
Hộp 4.10: Đánh giá của cán bộ xã 77
Trang 13PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước ta là một nước nông nghiệp với đại đa số người dân sống bằngnghề nông Quá trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điềukiện cho Việt Nam có những bước phát triển đáng kể, với tốc độ tăng trưởngcao và ổn định Sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ những thành tựu to lớn trongphát triển nông nghiệp và nông thôn, thu nhập của nông dân đã tăng lên gấp 2
- 3 lần Tuy nhiên, do quá trình chuyển đổi cơ cấu còn chậm nên 78% nôngdân vẫn dựa vào nguồn thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến sản xuấtnông nghiệp, phát triển nông thôn nhằm nâng cao đời sống của nông dân Sovới trước đây, cuộc sống của người dân nông thôn được cải thiện đáng kể.Tuy nhiên, nếu so với dân cư đô thị thì vẫn còn khoảng cách khá xa Đến nay,
ở nông thôn sản xuất nông nghiệp vẫn còn là chủ yếu Song chi phí sản xuấtnông nghiệp đang ở mức rất cao do giá vật tư đầu vào liên tục tăng, các khoảnđóng góp lại rất nặng đối với họ Có một nghịch lý đã tồn tại ở nước ta làngười dân thành thị không mất tiền làm đường đi, làm hệ thống thoát nước,xây dựng hệ thống điện ; còn dân cư nông thôn phải bỏ tiền đóng góp để làmcác công trình trên Vì thế, giá các loại dịch vụ này ở nông thôn trở nên caohơn nhiều so với thành thị
Trong công cuộc đổi mới thực hiện CNH - HĐH nông thôn, Đảng vàNhà nước ta cần bổ sung nhiều chính sách mới nhằm xây dựng nông thôn.Nước ta đã gia nhập WTO, phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp và thựchiện cắt giảm các khoản đóng góp của nông dân Đi đôi với chính sách bồidưỡng sức dân, tăng hộ giàu, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, rút ngắn khoảngcách hộ giàu và hộ nghèo, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, khoảngcách giữa miền núi và miền xuôi để xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn
Trang 14minh, hiện đại và công bằng xã hội Khi gia nhập WTO các nguồn hỗ trợ trựctiếp cho nông dân sẽ bị cắt bỏ Do vậy, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp bị chịunhiều tác động do sức cạnh tranh sản phẩm kém hơn các lĩnh vực khác Đểgiảm bớt chi phí sản xuất của người nông dân, tăng sức cạnh tranh của nôngsản, hỗ trợ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông dân cóthêm nguồn vốn để đầu tư sản xuất, nâng cao đời sống thì việc sử dụng hợp lý
và điều chỉnh các khoản đóng góp của hộ nông dân là biện pháp cần thiết
Cảnh Hưng là một xã thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mà kinh tếchủ yếu dựa vào nông nghiệp, không có ngành nghề truyền thống, việc dunhập phát triển nghề phụ từ các địa phương khác rất hạn chế Trong nhữngnăm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bộ mặt kinh tế, văn hoá
xã hội của địa phương đã được phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân đượcnâng lên, đã xoá được hộ đói, số hộ khá, giàu tăng lên
Tuy nhiên, người dân cũng phải đóng góp nhiều khoản khác nhau nhưcải tạo đất, BVTV, bảo vệ sản xuất Ngoài ra, còn rất nhiều các loại quỹkhác như hội phí, các quỹ vận động nhân đạo, từ thiện Đối với những hộ phinông nghiệp và hộ kiêm thì có khả năng nhưng đối với những hộ thuần nông,
hộ có hoàn cảnh khó khăn thì vẫn là một vấn đề cần phải xem xét
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Sự đóng góp của hộ nông dân trong các chi tiêu công tại xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng về sự đóng góp của hộ nông dân trong các chi tiêucông trên địa bàn xã Cảnh Hưng - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh; Từ đó, đềxuất một số giải pháp nhằm huy động và sử dụng hợp lý các khoản đóng gópcho phù hợp với điều kiện kinh tế của hộ nông dân tại địa phương
Trang 151.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các khoản đóng góp của hộ nông dân trong chi tiêu côngtại xã Cảnh Hưng - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
- Các tổ chức, đơn vị thu các khoản đóng góp của hộ nông dân
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Tìm hiểu sự đóng góp của hộ nông dân trong các chi tiêu công, trong
đó gồm các khoản đóng góp do: UBND xã thu, Hợp tác xã thu và các tổ chứchội, đoàn thể thu
+ Tìm hiểu công tác thu, nộp các khoản đóng góp đó trong giai đoạn
2007 – 2009
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm về chi tiêu công
Chi tiêu công là việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực khu vực công nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định [3]
Quá trình phân bổ chính là việc quyết định và giao dự toán chi cho đơn
vị thuộc khu vực công Quá trình sử dụng được thực hiện dưới hình thức dùngtiền trong phạm vi dự toán để mua các yếu tố mang tính chất hàng hoá, dịch
vụ, chuyển giao hoặc trả nợ, nhằm thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước
Trong bối cảnh hiện đại, những phân tích lý luận và thực tiễn đều chỉ rarằng, muốn phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế thịtrường thì phải có cơ chế Nhà nước can thiệp vào thị trường Trong đó, sự canthiệp của Nhà nước cần được giới hạn ở mức vừa đủ để bù đắp vào chỗ thiếuhụt, khiếm khuyết của thị trường Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tếtrong chừng mực cho phép, là một tất yếu khách quan và chi tiêu công là công
cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện sự can thiệp này Nghĩa là vừa phảidùng “ bàn tay vô hình” của thị trường và “bàn tay hữu hình” của Nhà nước
để có thể vỗ tay điều khiển một cách nhịp nhàng cho xã hội phát triển trongnền kinh tế thị trường Chi tiêu công có vai trò quan trọng trong việc thu hútvốn đầu tư xã hội (của tư nhân trong, ngoài nước); giúp Nhà nước điều chỉnhchu kỳ kinh tế theo hướng tích cực; góp phần phân phối lại thu nhập, nhằm thựchiện công bằng xã hội [3]
Căn cứ vào chức năng quản lý của Nhà nước, chi tiêu công bao gồmcác khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảođảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và
Trang 17các khoản chi khác Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi tiêu công gồm các khoảnchi thường xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan, đơn vị khu vực công; chiđầu tư phát triển (xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, đầu tư,
hỗ trợ cho các doanh nghiệp cần có sự tham gia của Nhà nước, dự trữ nhànước, ); chi khác (trả nợ gốc tiền vay, viện trợ, ) [3]
2.1.2 Đặc điểm của chi tiêu công
Cùng với thuế, chi tiêu công là một trong những công cụ chủ yếu củahoạt động tài chính quốc gia, với hai chức năng chủ yếu: chức năng xã hội vàchức năng kinh tế Theo quan điểm của trường phái Keynes, chi tiêu công bảođảm sự hài hòa xã hội nhất định đồng thời đóng vai trò ổn định nền kinh tế.Theo cách hiểu chung nhất, chi tiêu công là tập hợp các khoản chi nhằm bảođảm cho nhà nước hoạt động và thực hiện các chức năng của mình về quản lýkinh tế, xã hội [1]
Chi tiêu công trước hết phụ thuộc vào phạm vi của các hoạt động cônghay của các cơ quan hành chính công Thông thường, phạm vi của các cơquan hành chính công bao gồm: cơ quan hành chính công trung ương có vaitrò, thẩm quyền ở cấp quốc gia, tức là chính phủ và các cơ quan khác thuộc
bộ máy hành chính trung ương, đơn vị sự nghiệp công; cơ quan hành chínhcông địa phương (chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công địaphương) Chi tiêu công và khu vực công là hai khái niệm khác nhau Cácdoanh nghiệp nhà nước (DNNN) không thuộc phạm vi khái niệm chi tiêucông, ngay cả khi toàn bộ vốn của các doanh nghiệp này thuộc về nhà nước.Chi tiêu công cũng không bao gồm các khoản chi của các tổ chức, cá nhânđược nhà nước cấp vốn hoạt động, tuy nhiên đây là các khoản chi thuộc đốitượng kiểm toán của kiểm toán nhà nước Mặt khác, trong chi tiêu công cầnphân biệt nhiều loại chi khác nhau Nếu phân loại về mặt kinh tế, chi tiêucông bao gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển (chi vốn), chi khác (hỗtrợ, viện trợ ) [1]
Trang 18Đồng thời với quá trình phát triển kinh tế, các chức năng, nhiệm vụ củanhà nước phải thực hiện ngày càng gia tăng nhanh chóng Do vậy, chi tiêu
công của nhà nước có xu hướng tăng liên tục và có hai đặc điểm chính:
+ Thứ nhất, sự tăng chi diễn ra ngày càng nhanh và mạnh;
+ Thứ hai, bắt đầu xuất hiện các hiệu ứng ngưỡng: việc tăng chi diễn
ra theo từng đợt đột biến nối tiếp nhau Tuy nhiên, tốc độ tăng chi tiêu công khác nhau giữa các quốc gia, phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế - xã hội, mức độ can thiệp của nhà nước và mức độ xã hội hóa rủi ro [1]
Dù còn tồn tại sự khác biệt về thể chế chính trị ở các quốc gia trên thếgiới, trong thực tế luôn có hai lĩnh vực mà chi tiêu công hướng đến Việt Namkhông phải là ngoại lệ Khu vực thứ nhất là chi tiêu công phục vụ trực tiếpcho phát triển kinh tế Những khoản chi chúng ta vẫn thường gọi là chi pháttriển kinh tế Chúng bao gồm nhiều khoản mục khác nhau và tất cả chúng đều
có liên quan trực tiếp đến việc thiết lập một nền tảng tốt hơn cho phát triểnkinh tế Loại chi tiêu công này được mong đợi là góp phần nâng cao sảnlượng của nền kinh tế Các khoản chi tiêu này được biết đến như là các khoảnchi cho đầu tư và phát triển Một số những khoản chi tiêu này là chi tiêu chonông lâm nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải và thông tin,thương mại và công nghiệp, năng lượng, và một số khoản chi khác [4]
Trang 19Bảng 2.1: Tổng hợp chi tiêu công của Việt Nam
Năm GDP (tỉ
đồng)
Tổng chi tiêu (%)
Đầu tư phát triển (%)
Tiêu dùng (%)
Giáo dục (%) Y tế (%)
Dịch vụ công (%)
Nguồn: Báo cáo của IMF, Niên giám thống kê tài chính quốc tế năm 1996, 1998, 2000,
2002 của IMF và tổng hợp của tác giả.
Bên cạnh các khoản chi vào đầu tư và phát triển, lĩnh vực thứ hai màchi tiêu công hướng đến là khoản chi nhằm mục đích cải thiện và nâng caođời sống của người dân trong nền kinh tế Loại chi tiêu này được xem là chitiêu dùng mặc dù nó cũng đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế thông quaviệc nâng cao năng suất của lực lượng lao động trong xã hội Vì vậy, loại chitiêu này được gọi là chi đầu tư vốn con người (hay chi tiêu dùng) Điều quantrọng cần lưu ý những khoản chi như thế này phản ảnh một trong những mụctiêu chính của phát triển kinh tế cho bất kỳ quốc gia nào trên toàn thế giới bởi
vì, dù bất kỳ lý do gì, kết quả đạt được từ việc phát triển kinh tế phải mang
Trang 20đến lợi ích cho toàn thể nhân dân Một số khoản chi tiêu biểu là chi cho giáodục, sức khỏe, những dịch vụ công như luật lệ và trật tự xã hội, trợ cấp vànhiều khoản chi khác.
Những số liệu của bảng trên cho thấy trong cả giai đoạn nghiên cứu(1992 – 2001), Việt Nam đã chi tiêu dùng cao hơn so với chi đầu tư pháttriển Điều này được hiểu là do Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển, vìvậy Chính phủ vẫn đang xem những khoản chi tiêu dùng là ưu tiên nhằm đápứng những nhu cầu cần thiết và cấp bách của người dân trong quá trình pháttriển nền kinh tế [4]
2.1.3 Vai trò đóng góp của dân cho chi tiêu công
Cùng với sự tiến bộ của nền kinh tế toàn cầu và khu vực, chi tiêu côngngày càng có vai trò quan trọng trong thực hiện điều tiết vĩ mô của nhà nước.Với các quốc gia, việc gia tăng chi ngân sách nhà nước qua các năm là điềukhông thể tránh khỏi và trên một số phương diện, điều này chấp nhận được.Trong hoàn cảnh của Việt Nam, với những kỳ vọng về sự phát triển kinh tếtrong tương lai là có cơ sở, chắc chắn sẽ có sự gia tăng trong tổng chi tiêungân sách nhà nước trong tương lai [4]
Chi tiêu công đóng vai trò quyết định hết sức quan trọng đó là đảm bảohoạt động cho bộ máy Nhà nước, cung cấp cho xã hội hàng hóa công cộng thuầntuý hành chính pháp lý, dịch vụ thực thi pháp luật, an ninh trật tự Đồng thời nhànước sử dụng chi tiêu công để quản lý xã hội và thực hiện những chiến lược ưutiên nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, xóa đói giảm nghèo, điều tiết lạm phát,giải quyết những vấn đề bất cập về sự chênh lệch cơ cấu kinh tế và phát triểngiữa các vùng, địa phương [3]
Có thể nói, sự đóng góp của người dân có vai trò quan trọng trong cácchi tiêu công; cụ thể là trong quá trình tái phân phối thu nhập, duy trì bộ máyquản lý, cung cấp các hàng hoá công cộng, huy động các nguồn lực của các tổchức trong xã hội
Trang 21Các khoản đóng góp của nông dân trong mọi thời đại nó đều mang ýnghĩa, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc đặc biệt là trong phát triểnkinh tế tại địa phương Sự đóng góp của nông dân đã hỗ trợ đáng kể cho đầu
tư sản xuất nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện ngân sách nhà nước cònthấp, nhu cầu đầu tư lớn Ngân sách các cấp chỉ hỗ trợ một phần nhỏ đểkhuyến khích nhân dân đóng góp đầu tư cho phát triển sản xuất và xây dựng
hạ tầng nông thôn giàu đẹp Góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cơ bảnđáp ứng được các nhu cầu thiết yếu về sản xuất và đời sống của người dântrên địa bàn; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được cải thiện đáng kể,các lĩnh vực y tế giáo dục đã thay đổi cả về lượng và chất Cụ thể:
- Thuế: có vai trò vô cùng to lớn trong việc quản lý nền kinh tế cũngnhư tạo nguồn thu cho nhà nước
+ Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Nhà nước ngày càng phải đảmnhận nhiều nhiệm vụ hơn trước Khi nhiệm vụ, vai trò của Nhà nước gia tăngthì tất yếu nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cũng gia tăng Phương thức cơ bản
để huy động nguồn tài chính cho Ngân sách Nhà nước là thuế Tuy nhiên, đểtăng nguồn thu từ thuế đòi hỏi nền kinh tế phải phát triển và hoạt động cóhiệu quả cao Nếu nền kinh tế hoạt động không hiệu quả thì việc tăng thu từthuế chính là một gánh nặng đối với nền kinh tế
+ Thuế là công cụ để thu hút vốn đầu tư, cơ cấu đầu tư, góp phần hìnhthành cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn Để kích thích tăng trưởng kinh tế, biệnpháp thường được quan tâm là thực hiện các ưu đãi về thuế thông qua các quyđịnh về thuế suất, miễn giảm thuế Điều đó tác động trực tiếp đến lợi ích kinh
tế, điều chỉnh việc bỏ vốn kinh doanh của các nhà đầu tư, từ đó góp phần hìnhthành cơ cấu kinh tế hiện đại, hiệu quả hơn cho nền kinh tế
+ Thuế có vai trò trong việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý, hướng dẫn vàphát triển sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá đối với tất cả các thành phầnkinh tế theo định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước, góp phần tích
Trang 22cực vào việc điều chỉnh các cân đối lớn trong nền kinh tế như cung và cầu,tiền và hàng, tích luỹ và tiêu dùng
+ Thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thu nhập, đảm bảocông bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành phần kinh tế,giữa các tầng lớp dân cư
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế vàgiữa các tầng lớp dân cư Sự bình đẳng, công bằng được thể hiện thông quachính sách động viên như nhau (thuế suất) giữa các tổ chức và các cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế cùng hoạt động trong một lĩnh vực Sự côngbằng trong thuế có nghĩa là người có thu nhập cao phải đóng thuế nhiều hơnngười có thu nhập thấp Thông qua thuế chuyển bớt một phần thu nhập củacác tầng lớp giàu có sang tầng lớp những người nghèo thông qua các chínhsách xã hội, áp dụng mức thuế suất khác nhau đối với những khoản thuế đànhvào người tiêu dùng Đối với những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu hoăchnhững mặt hàng mà cả người giàu và người nghèo đều cần đến thì thuế suấtthấp có lợi cho người nghèo cao hơn người giàu Ngược lại, đối với nhữngmặt hàng xa xỉ và các loại dịch vụ đặc biệt, thuế suất cao sẽ góp phần phânphối lại thu nhập của một bộ phận người giàu
- Phí: có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của tổ chức, nóphát huy nội lực tạo điều kiện cho các tổ chức đó thực hiện được mục đíchcủa mình và thực hiện mục tiêu của xã hội
- Lệ phí: cũng có vai trò bù đắp chi phí hoạt động mà người nộp làngười được hưởng lợi trực tiếp
- Các Khoản đóng góp khác: có vai trò hình thành và củng cố hoạt độngcủa các tổ chức, các đơn vị
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Tình hình đóng góp của hộ nông dân ở một số địa phương
Trang 23Đóng góp của các hộ nông dân ở khu vực nông nghiệp – nông thôndiễn ra ở hầu hết các địa phương trong cả nước và cụ thể các khoản đóng góp
và giá đóng góp của mỗi hộ ở mỗi nơi mỗi khác Trong thực tế hiện nay, sốlượng các khoản phí và lệ phí mà nông dân phải nộp còn nhiều so với thunhập thực tế của họ
2.2.1.1 Tình hình đóng góp của nông dân Miền Bắc
Đồng Bằng Sông Hồng: Có 26 khoản đóng góp chính thức, với mức thu từ: 350.000 – 500.000 đồng/ hộ/ năm Trong đó có 15 khoản do xã và tổ chức đoàn thể thu, 11 khoản phí dịch vụ do HTX thu [17]
Trung du miền núi phía Bắc: Có khoảng 28 khoản đóng góp chính thứcvới mức thu từ: 250.000 – 450.000 đồng/ hộ/ năm Trong đó, có 18 khoản do
xã và các tổ chức đoàn thể thu, 10 khoản phí dịch vụ do HTX thu [17]
Nhìn chung ở các vùng khác nhau thì người nông dân phải nộp sốkhoản đóng góp không giống nhau nên mức đóng góp cũng khác nhau Ví dụtại Hải Dương, tổng số khoản đóng góp của nông dân từ 12 - 19 khoản/hộ.Một số đại diện tỉnh Hải Dương nhận xét: "Thu nhập chủ yếu của người nôngdân chủ yếu trông chờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu nhập quá thấp
so với mặt bằng chung của xã hội, khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị vànông thôn ngày càng xa Trong khi đó, đóng góp của người nông dân lạinhiều, bình quân mỗi hộ đóng góp từ 450.000 – 850.000 đồng là không phùhợp" (PV Báo mới.com)
2.2.1.2 Tình hình đóng góp của nông dân miền Trung
Duyên Hải Nam Trung Bộ: Có 28 khoản đóng góp chính thức với mức thu từ 400.000 – 700.000 đồng/ hộ/ năm Trong đó có 19 khoản do xã và các
tổ chức đoàn thể thu, 9 khoản phí dịch vụ do HTX thu [17]
Bắc Trung Bộ: Có 24 khoản đóng góp chính thức với mức thu từ:500.000 – 800.000 đồng/ hộ/ năm Trong đó có 14 khoản do xã và các tổ chứcđoàn thể thu, 10 khoản phí dịch vụ do HTX thu [17]
Trang 24Ở tỉnh Thanh Hoá: Qua khảo sát, các xã trong tỉnh đang thực hiện 29
khoản thu Riêng năm 2008, tổng số tiền cấp xã thu được 104 tỷ 583 triệuđồng, gồm: Thu đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng 90 tỷ 120 triệu đồng chiếm86%; thu đóng góp quỹ xã hội, từ thiện 3 tỷ 530 triệu đồng, chiếm 3% tổngthu đóng góp tại xã Nguyên tắc thu đóng góp của dân phải trên tinh thần dânchủ, tự nguyện nhưng nhiều khoản thu thực chất là bắt buộc thực hiện Nhiềuđịa phương huy động đóng góp xây dựng hạ tầng không theo dự án mà ấnđịnh mức thu hằng năm, tạo quỹ chung để UBND xã điều hành Một số địaphương giao chỉ tiêu các quỹ xã hội, từ thiện tới từng hộ, quản lý qua ngânsách là không đúng chức năng quy định về quản lý ngân sách xã Nhiều loạiquỹ, phí đặt ra từ nhiều năm trước không còn phù hợp cơ chế hiện hành,không có trong danh mục được cấp có thẩm quyền ban hành, nhưng các địaphương vẫn thu của dân Quá trình tổ chức thực hiện còn mất dân chủ, áp đặt,không ít địa phương thực hiện cưỡng chế thu qua việc khấu trừ vào tiền chínhsách bảo trợ xã hội hoặc bắt buộc phải đóng góp các khoản còn nợ chínhquyền mới xác nhận các thủ tục hành chính gây bức xúc, phản ứng gay gắttrong dân sinh Kết quả kiểm tra cho thấy, có tới 17 khoản thu do cấp xã banhành không đúng thẩm quyền, hoặc thu cả những khoản cấp có thẩm quyền
đã bãi bỏ Ngoài ra, các thôn hiện tại đang thực thu 11 khoản đóng góp vớitổng số thu 19 tỷ 034 triệu đồng Tỉnh chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấnbãi bỏ ngay các khoản đóng góp của nhân dân không đúng quy định, dừngngay việc huy động đóng góp các loại quỹ đã được bãi bỏ, miễn giảm nhưquỹ lao động công ích, quỹ phòng, chống bão lụt, quỹ dân nuôi, quỹ kiến thiết
xã hội, quỹ tu bổ trường lớp, quỹ an ninh tự quản, quỹ đắp đất dự trữ, quỹ vănhóa xã hội, quỹ quản trang, quỹ chỉ đạo sản xuất, quỹ phòng bệnh gia súc,tiêm phòng thú y, quỹ dịch vụ bảo nông, quỹ bảo vệ đồng điền, hỗ trợ lươnggiáo viên mầm non Chỉ có ngành tài chính là đơn vị tham mưu cho cấp cóthẩm quyền ban hành các khoản thu, quản lý nguồn thu Yêu cầu các địa
Trang 25phương thực hiện nghiêm nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểmtra" trong quản lý, sử dụng các khoản thu đóng góp của nhân dân (PV Báomới.com).
2.2.1.3 Tình hình đóng góp của nông dân miền Nam
Đồng Bằng Sông Cửu Long: Có 25 khoản đóng góp chính thức vớimức thu từ: 300.000 – 700.000 đồng/ hộ/ năm Trong đó có 13 khoản do xã
và tổ chức đoàn thể [17]
Tây Nguyên: Có 17 khoản đóng góp chính thức với mức thu từ: 400.000 – 600.000 đồng/ hộ/ năm Trong đó có 10 khoản do xã và các tổ chức đoàn thể thu, 7 khoản phí dịch vụ do HTX thu [17]
Đông Nam Bộ: Có 22 khoản đóng góp chính thức với mức thu từ: 350.000 – 550.000 đồng/ hộ/ năm Trong đó có 13 khoản do xã và các tổ chức đoàn thể thu, 9 khoản phí dịch vụ do HTX thu [17]
Tại tỉnh Hà Tĩnh: Theo ông Nguyễn Văn Cầm, chủ tịch UBND xã Gia Phố, huyện Hương Khê, Tỉnh Hà Tĩnh Hiện nay, bà con nông dân trên địa bàn xã Gia Phố phải đóng góp cả thảy 26 khoản: Trong đó, có 7 khoản dịch
vụ do HTX thu, 8 khoản do các tổ chức đoàn thể thu như: Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, hội Khuyến học 8 khoản do xã thu và 3 khoản do thôn thu Nhưvậy, bình quân mỗi hộ đóng góp 800.000 đồng/ năm Mặc dù, Hương Khê có
tỷ lệ hộ nghèo 19%, thấp hơn mức trung bình toàn quốc (25%) nhưng mức thu này trở thành gánh nặng thực sự đối với bàn con
Cũng thuộc khu vực miền trung, Xã Hưng Lam, Huyện Hưng Nguyên,Tỉnh Nghệ An đạt mức thu "kỷ lục" trong cả nước với mức đóng góp tới 2triệu đồng/ hộ/ năm [18]
Qua các số liệu trên cho thấy mức thu không đồng nhất giữa các vùng miền trong cả nước và tỷ lệ nghịch với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của các vùng Những vùng kinh tế khó khăn, thu nhập của người dân thấp (Bắc
Trang 26Trung Bộ và Tây Nguyên) thì mức đóng góp lại cao hơn các vùng thuận lợi (đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc)
2.2.1.4 Đánh giá chung về tình hình đóng góp của người dân cho chi tiêu công
Qua trên cho thấy mức thu không đồng nhất giữa các vùng miền trong cảnước và tỷ lệ nghịch với điều kiện phát triển kinh tế xã hội Trong báo cáo của
Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và PTNT Cao Đức Phát ngày 9/7/2007 về cáckhoản đóng góp của nông dân và một số chính sách giảm bớt các khoản đónggóp của nông dân, những vùng kinh tế khó khăn, thu nhập của người nông dânthấp như vùng Tây Bắc, Đông Bắc, phía tây các tỉnh Duyên Hải miền Trung thìmức đóng góp có xu hướng cao hơn các vùng thuận lợi như vùng đồng bằngsông Hồng Trong các tỉnh đồng bằng sông Hồng thì Hà Nội, Hải Dương, HưngYên lại có mức đóng góp thấp hơn các tỉnh khác [18]
Theo đánh giá của Uỷ ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội, Chính phủvẫn chưa bao quát hết những khoản phát sinh từ phí và lệ phí không còn phù hợpvới cơ chế thị trường Bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hộicủa Quốc hội nhận xét: “Do ngân sách hạn hẹp, Nhà nước không thể hoàn toàn
lo nổi tất cả các vấn đề, vì vậy người dân phải tham gia đóng góp cùng với Nhànước Tuy nhiên, người dân tham gia mức độ nào, Nhà nước tham gia mức độnào, thì phải công khai, minh bạch Trong thực tế điều này còn nhập nhằng.Hàng năm kinh phí dành cho giáo dục vẫn tăng, song hiệu quả ra sao, người dânđóng góp như thế nào thì chưa được làm rõ Trong hoạch định các chính sáchsắp tới, cần thiết phải làm rõ phần nào của Nhà nước lo, phần nào của người dântham gia Chính sách cũng phải phân chia theo các vùng, miền khác nhau Làm
rõ những vấn đề đó thì người dân mới thấy được sự đóng góp của mình cùng vớiNhà nước là hữu ích” [20]
Bà Nguyễn Thị Siêm, phó Ban kinh tế (Trung ương Hội Nông dân ViệtNam) nêu một nghịch lý, đó là các tỉnh nằm trong vùng nghèo thì nông dân càng
Trang 27có mức đóng góp càng cao Nghĩa là mức đóng góp tỷ lệ thuận với tỉ lệ hộnghèo [18]
Chẳng hạn, Lai Châu là tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo lớn nhất nước( hơn 48%),nhưng đóng góp lên tới 995.000 đ/hộ (cao nhất vùng Tây Bắc và cao hơn 24%mức đóng góp bình quân cả nước)
Hay tỉnh Nghệ An nằm trong vùng Bắc Trung Bộ có tỷ lệ nghèo đứng thứhai toàn quốc (27,5%), nhưng mức đóng góp mỗi hộ cũng cao nhất vùng (1,14triệu đồng, cao hơn bình quân cả nước 42%) [19]
Giành vị trí số một, mức đóng góp cao hơn bình quân cả nước hơn 60%
là Ninh thuận và Phú Yên, dù nằm trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ có tỉ
lệ nghèo nhất vùng, với mức đóng góp từ 1 triệu - 1,4 triệu đồng/hộ/năm [19]
Nhiều ý kiến cho rằng, thực tế này tạo sự không công bằng trong xãhội, giữa nông thôn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo Ngay tạikhu vực nông thôn, với mức đóng góp tương tự nhau, người giàu được sửdụng nhiều hơn người nghèo Ví như, đóng góp xây dựng đường điện nôngthôn thì người nghèo chủ yếu dùng cho thắp sáng, không có các phương tiên
ti vi, tủ lạnh như người giàu [19]
2.2.2 Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về các khoản đóng góp của hộ nông dân
Từ trước đến nay nông nghiệp, nông thôn, nông dân luôn là một vấn đềđược Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đã được nêu trong nghị quyết Đại hộiĐảng lần thứ 10 Vấn đề về các khoản đóng góp của người nông dân cũng rấtđược quan tâm Trong các loại phí, khoản thu, cần phải phân biệt rõ khoảnnào nên duy trì, khoản nào cần phải bỏ Cán bộ ngành chức năng đã hoànthiện phương án miễn giảm các khoản đóng góp bất hợp lý trình chính phủthông qua vào cuối năm 2007
Trang 28Sau nghị quyết hội nghị TW 5 (khoá IX) về đẩy nhanh công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 – 2010, chính sáchđộng viên từ khu vực này đã có sự thay đổi quan trọng, cụ thể như sau:
Quốc hội ban hành nghị quyết số 15/2003/QH11 ngày 17/6/2003 miễnthuế cho toàn bộ đất nông nghiệp trong hạn điền, giảm thuế cho các loại đấtkhác đến hết năm 2010 Nếu như ngân sách Nhà nước thu được trên 1.900 tỷđồng năm 1999 thì đến năm 2006 đã giảm xuống chỉ còn 62 tỷ đồng
Luật thuế GTGT, luật thuế TNDN do Quốc hội ban hành (1997 và2003) đã quy định miễn thuế cho sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sảnchưa qua chế biến do nông dân trực tiếp bán ra và các dịch vụ trực tiếp phục
vụ nông nghiệp
Chủ tịch nước đã công bố nghị quyết về việc chấm dứt hiệu lực của pháplệnh nghĩa vụ lao động công ích ban hành năm 1999 Theo đó, từ ngày01/01/2007 toàn dân không phải đóng góp ngày công hoặc tiền bạc thay chonghĩa vụ lao động công ích
Thủ tướng chính phủ vừa có chỉ đạo chấn chỉnh việc thực hiện các quyđịnh về phí, lệ phí, chính sách huy động và sử dụng các khoản đóng góp củanhân dân Đây là một chủ trương hợp lòng dân, nhằm tăng sức dân, được nhândân hoan nghênh
Ngày 1/11/2007, Thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị số 24/2007/CT – TTg
về việc tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệphí, chính sách huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân Chỉ thịnêu rõ:
Trong thời gian qua, việc thực hiện Pháp lệnh phí và lệ phí, chính sáchhuy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân đã đạt được nhiều kếtquả tích cực, bước đầu lập lại trật tự, kỷ cương trong việc tổ chức thu, nộp,quản lý và sử dụng phí, lệ phí; góp phần huy động các nguồn lực tài chính chođầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên, trong việc
Trang 29thực hiện các quy định về phí, lệ phí và huy động các khoản đóng góp củanhân dân vẫn còn những tồn tại, cụ thể như: một số địa phương chậm bãi bỏcác khoản phí, lệ phí không đúng quy định của pháp luật; có một số khoảnphí, lệ phí được ban hành không đúng thẩm quyền, không phù hợp với quyđịnh của pháp luật; một số nơi vẫn còn những khoản đóng góp (nhất là đónggóp xây dựng cơ sở hạ tầng) khá cao, không phù hợp với thu nhập của ngườidân; một số khoản huy động đóng góp chưa được lấy ý kiến rộng rãi trongcộng đồng người dân trước khi ban hành; một số khoản huy động mang tínhchất xã hội từ thiện, phải vận động đóng góp tự nguyện, nhưng lại quy địnhmang tính bắt buộc
Để khắc phục tình hình trên và thực hiện nghiêm các quy định của phápluật về phí, lệ phí, chính sách huy động các khoản đóng góp của nhân dân, Thủtướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ra chỉ thị 24/2007/CT-TTg ngày 1.11.2007
về tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các qui định của pháp luât về phí, lệ phí,chính sách huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân:
Một là, chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trungương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện các công việc sau:
* Bãi bỏ ngay những khoản thu phí, lệ phí không có tên trong Danhmục chi tiết phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày
06 tháng 03 năm 2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 06 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiếtthi hành Pháp lệnh Phí, lệ phí
Đến ngày 30 tháng 11 năm 2007 nếu tỉnh, thành phố nào còn các khoảnphí, lệ phí trái với quy định của pháp luật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ
Đối với các khoản phí, lệ phí có tên trong Danh mục chi tiết phí và
lệ phí, nhưng chưa có văn bản của cấp có thẩm quyền hướng dẫn thì chưađược phép thu, không được vận dụng mức thu của các khoản phí, lệ phí
Trang 30khác có tính chất tương tự để thu Trường hợp địa phương đã tổ chức thuthì phải dừng ngay.
Đề xuất, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bãi bỏ cáckhoản phí, lệ phí chưa hợp lý, chưa phù hợp với tình hình thực tế địa phương
* Đối với các khoản huy động đóng góp tự nguyện để xây dựng cơ sở
hạ tầng, huy động đóng góp mang tính chất xã hội, từ thiện, phải thực hiệntheo đúng nguyên tắc tự nguyện Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cáccấp không được ra văn bản bắt buộc đóng góp, không được giao chỉ tiêu huyđộng cho cấp dưới, không gắn việc huy động đóng góp với việc cung cấp cácDịch vụ công mà người dân được hưởng
Chỉ đạo các Sở, Ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp dưới rà soát, bãi
bỏ ngay các văn bản huy động đóng góp của nhân dân không đúng quy địnhtrước đây
* Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu từ nguồn thu dịch vụcủa các Hợp tác xã, chỉ đạo thực hiện công khai các nguồn thu và nội dungchi tiêu để người dân được biết và tham gia Giám sát
* Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến để người dân hiểu rõ chínhsách và quy định của pháp luật đối với từng khoản thu phí, lệ phí; các khoảnđóng góp và giá một số dịch vụ phải trả Thực hiện công khai, minh bạchtrong việc huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân.Tăng cường trách nhiệm của các Sở và cơ quan Nhà nước cấp tỉnh trong kiểmtra, giám sát việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân
* Chỉ đạo việc kiểm tra và xử lý tổ chức, cá nhân không thực hiện nghiêmtúc các quy định trên đây; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 11năm 2007 về kết quả thực hiện rà soát, bãi bỏ, miễn, giảm các khoản phí, lệ phí vàcác khoản huy động đóng góp của nhân dân ở địa phương; đồng thời báo cáo BộTài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 31Hai là, trong quý IV năm 2007, Bộ giáo dục và đào tạo có trách nhiệmhoàn thành việc xây dựng đề án về học phí, Bộ y tế hoàn thành việc xây dựng
đề án về viện phí trình chính phủ
Ba là, Bộ tài chính có trách nhiệm:
* Chủ trì, phối hợp với các Bộ, địa phương hướng dẫn việc miễn cáckhoản phí, lệ phí theo danh mục các khoản phí, lệ phí được miễn ban hành theochỉ thị này
* Chủ trì, phối hợp với Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn tổnghợp kết quả rà soát, bãi bỏ, miễn, giảm các khoản phí, lệ phí các khoản đónggóp của nhân dân báo cáo Thủ tướng chính phủ trước ngày 31/12/2007
* Chủ trì, phối hợp với các Bộ, địa phương tiến hành tổng kết 5 nămthực hiện pháp lệnh phí, lệ phí báo cáo chính phủ trình uỷ ban thường vụQuốc hội sửa đổi, bổ sung những nội dung cần thiết
Bên cạnh đó, để hỗ trợ nông dân giảm bớt chi phí sản xuất, tăng sứccạnh tranh của nông sản, từng bước cải thiện đời sống, Chính phủ đã ra quyếtđịnh về việc miễn thuỷ lợi phí (TLP) đối với sản xuất nông nghiệp Nghị định154/2007/NĐ-CP quy định: miễn thủy lợi phí đối với hộ gia đình, cá nhân cóđất, mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủysản và làm muối trong hạn mức giao đất nông nghiệp, bao gồm: đất do nhànước giao, được thừa kế, cho, tặng, nhận chuyển nhượng hợp pháp, kể cảphần diện tích đất 5% công ích do địa phương quản lý mà các hộ gia đình, cánhân được giao hoặc đấu thầu chuyển quyền sử dụng Chỉ không miễn thủylợi phí đối với diện tích đất vượt hạn mức giao cho hộ gia đình, cá nhân.Riêng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn và địabàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo quy định của Luật Đầu tưđược miễn thủy lợi phí đối với toàn bộ diện tích đất, mặt nước dùng vào nôngnghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; không phân biệt trong hayngoài hạn mức giao đất
Trang 32Việc miễn thuỷ lợi phí trước hết là hỗ trợ cho bà con nông dân nghèo,đời sống còn khó khăn ở những vùng đã có công trình thuỷ lợi Hơn nữa, Nhànước tiếp tục đầu tư, xây dựng và đưa vào sử dụng các công trình thuỷ lợimới ở những vùng chưa có nguồn nước Chính sách miễn TLP được đưa vào
áp dụng từ năm 2008, nhờ có sự chỉ đạo quyết liệt, sự quan tâm và tạo điềukiện mọi mặt về thời gian, kinh phí của Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan
để kịp ban hành những cơ chế, chính sách mới phù hợp với quy định về côngtác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi
2.2.3 Một số văn bản có liên quan đến các khoản đóng góp của hộ nông dân cho chi tiêu công
2.2.3.1 Các văn bản có liên quan đến các khoản thuế, phí, lệ phí
* Pháp lệnh số 38/2001/PL – UBTVQH 10 ngày 28/8/2001 về phí và lệ phí.Pháp lệnh này quy định thẩm quyển ban hành và việc thu, nộp, quản lý
và sử dụng phí, lệ phí do các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị vũtrang nhân dân, tổ chức khác và cá nhân (gọi chung là tổ chức, cá nhân) thựchiện theo quy định của pháp luật
Việc xác định mức thu phí căn cứ vào các nguyên tắc: Mức thu phí đối vớicác dịch vụ do Nhà nước đầu tư phải bảo đảm thu hồi vốn trong thời gian hợp lý, cótính đến những chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ; Mức thu phí đối với cácdịch vụ do tổ chức, cá nhân đầu tư vốn phải bảo đảm thu hồi vốn trong thời gian hợp
lý, phù hơp với khả năng đóng góp của người nộp
Mức thu lệ phí được ấn định trước đối với từng công việc, không nhằmmục đích bù đắp chi phí, phù hợp với thông lệ quốc tế; riêng mức thu lệ phítrước bạ được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản trước bạ
* Chỉ thị số 24/2007/CT- TTg ngày 01/11/2007 Tăng cường chấnchỉnh việc thực hiện các quy định của pháp lệnh về phí, lệ phí, chính sách huyđộng và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân
Trang 33* Nghị định số 24/2006/NĐ - CP ngày 6/3/2006 sữa đổi, bổ sung một
số điều của nghị định số 57/2002/NĐ - CP ngày 3/6/2002 của chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành pháp lệnh phí, lệ phí
Thẩm quyền quy định đối với phí: Chính phủ quy định đối với một sốphí quan trọng, có số thu lớn, liên quan đến nhiều chính sách kinh tế - xã hộicủa Nhà nước Trong từng loại phí do Chính phủ quy định, Chính phủ có thể
uỷ quyền cho Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định mức thu đối với từng trườnghợp cụ thể cho phù hợp với tình hình thực tế
Nguyên tắc xác định mức thu lệ phí: Mức thu lệ phí được ấn định bằngmột số tiền nhất định đối với từng công việc quản lý nhà nước được thu lệphí, không nhằm mục đích bù đắp chi phí để thực hiện công việc thu lệ phí.Riêng đối với lệ phí trước bạ, mức thu được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giátrị tài sản trước bạ theo quy định của chính phủ
Bộ tài chính hướng dẫn việc xác định mức thu đối với những lệ phíthuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định, để bảo đảm việcthi hành thống nhất trong cả nước
* Thông tư số 53/2001/TT- BTC ngày 3/7/2001 của Bộ tài chính hướngdẫn chế độ thu- nộp và quản lý, sử dụng phí, lệ phí trong công tác thú y
Đối tượng thu phí, lệ phí quản lý nhà nước về thú y (gọi chung là phí,
lệ phí thú y) theo quy định tại thông tư này là động vật, sản phẩm động vật,sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, thuốc và giống vi sinh vật dùng trong thú
y quy định phải được quản lý nhà nước về thú y thực hiện phòng chống dịchbệnh, kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh và kiểm soát hoạt động
Đối tượng nộp phí, lệ phí thú y là các tổ chức, cá nhân (trong và ngoàinước) có động vật, sản phẩm động vật, sản phẩm có nguồn gốc từ động vật,thuốc và giống vi sinh vật dùng trong thú y thuộc đối tượng thu phí, lệ phíquy định ở trên
Trang 34Không thu phí, lệ phí thú y đối với các trường hợp: Sản phẩm động vậtxách tay nhập khẩu để sử dụng trong thời gian đi đường; Kiểm dịch động vậttheo nghi thức ngoại giao khi xuất cảnh, nhập cảnh.
Cơ quan thu phí, lệ phí thú y phải mở đầy đủ sổ sách kế toán theo quyđịnh hiện hành để theo dõi, quản lý thu - chi phí, lệ phí theo đúng quy định.Cuối quý, cuối năm phải lập báo cáo quyết toán tình hình thu - chi phí, lệ phíthú y theo đúng quy định hiện hành
* Quốc hội ban hành nghị quyết số 15/2003/QH11 ngày 17/6/2003miễn thuế cho toàn bộ đất nông nghiệp trong hạn điền, giảm thuế cho các loạiđất khác đến hết năm 2010
Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mức theo quy định củapháp luật cho từng vùng đối với hộ nông dân, hộ nông trường viên, xã viênhợp tác xã sản xuất nông nghiệp nhận đất giao khoán của doanh nghiệp, hợptác xã để sản xuất nông nghiệp Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạnmức đối với hộ xã viên góp ruộng đất để thành lập hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp theo quy định của Luật hợp tác xã Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệpđối với toàn bộ diện tích đất của hộ nghèo, hộ sản xuất nông nghiệp ở xã đặcbiệt khó khăn theo quy định của Chính phủ
Giảm 50% số thuế sử dụng đất nông nghiệp ghi thu hàng năm đối vớidiện tích sản xuất nông nghiệp của đối tượng không thuộc diện được miễnthuế theo quy định trên và diện tích đất sản xuất nông nghiệp vượt quá hạnmức theo quy định của pháp luật đối với hộ nông dân, hộ nông trường viên và
hộ sản xuất nông nghiệp khác
Việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại nghị quyếtnày được thực hiện từ năm thuế 2003 đến năm thuế 2010
* Căn cứ thông tư số 71/2003/TT-BTC ngày 30/7/2003 của Bộ tàichính hướng dẫn về phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 35Những loại phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dâncấp tỉnh: Phí xây dựng; phí qua cầu, qua đò, qua phà; phí khai thác và sử dụngtài nguyên đất đai; phí an ninh trật tự; phí vệ sinh; phí phòng chống thiên tai
Đối với các loại phí có ý nghĩa quan trọng của tỉnh, có số thu lớn, cóthể quy định mức thu cụ thể được thì việc quyết định mức thu đối với từngloại phí được phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải đảm bảo đúngtrình tự quy định tại điều 11 Pháp lệnh phí và lệ phí là UBND cấp tỉnh trìnhHội đồng nhân dân quyết định
* Quyết định số 100/1999/QĐ-UB ngày 12/08/1999 của UBND tỉnhBắc Ninh về việc bãi bỏ lệ phí đi trên đê; lệ phí tham gia đấu giá tài sản bịtịch thu sung công quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhànước và các loại phí, lệ phí thu không đúng quy định của pháp luật
Bãi bỏ các loại lệ phí do chủ tịch UBND tỉnh Hà Bắc (cũ) và chủ tịchchủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh quy định áp dụng trên địa bàn tỉnh: Lệ phí xebốn bánh đi trên đê, lệ phí tham gia đấu giá tài sản bị tịch thu sung công quỹNhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước
Việc thu, quản lý, sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân
để xây dựng cơ sở hạ tầng của xã, phường, thị trấn phải thực hiện đúng quychế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện củanhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của xã, thị trấn kèm theo Nghị định24/1999NĐ-CP ngày 16/04/1999 của Chính phủ và Thông tư số 85/1999/TT-BTC hướng dẫn việc thực hiện Nghị định trên
* Nghị định số 24/1999/NĐ-CP ngày 16/4/1999 của Chính phủ về việcban hành Quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp
tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, thị trấn
Việc huy động các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, thị trấn phải do nhân dân bàn bạc và quyếtđịnh trên cơ sở dân chủ, công khai, quyết định theo đa số UBND cấp xã, thị
Trang 36trấn (gọi chung là xã) có trách nhiệm tổ chức huy động, quản lý và sử dụngcác khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân theo quy định của quy chế này.
Các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng của các xã phải được sử dụng đúng mục đích huy động, các khoảnđóng góp cho công trình nào phải đầu tư cho công trình đó
Nguồn huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân được sử dụng để bổsung vào vốn đầu tư cho các mục đích xây dựng mới, nâng cấp sửa chữa cáccông trình cơ sở hạ tầng liên thôn trong xã ( gọi chung là công trình cơ sở hạtầng của xã) gồm: công trình điện, giao thông, trường học, trạm xá xã, cáccông trình văn hoá, thể thao, hệ thống nước sạch, kênh, mương nội đồng vàcác công trình công ích khác
Các xã thành lập Ban giám sát công trình để giám sát quá trình huyđộng, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân Ban Tài chính xã
có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý các khoản đóng góp của nhân dân Trongtrường hợp có sự uỷ quyền của UBND xã, các Trưởng thôn, Trưởng bản thucác khoản đóng góp của nhân dân trên địa bàn và phải nộp đầy đủ, kịp thờicho Ban Tài chính xã
2.2.3.2 Các văn bản quy định thu các loại quỹ
* Quỹ đền ơn đáp nghĩa: Nghị định số 91/1998/NĐ - CP ngày 09/11/1998
của CP ban hành điều lệ xây dựng và quản lý quỹ " Đền ơn đáp nghĩa".
Quỹ đền ơn đáp nghĩa được thành lập trên cơ sở vận động sự tự nguyệnủng hộ của các tổ chức và cá nhân để cùng với Nhà nước chăm sóc người cócông với cách mạng Quỹ đền ơn đáp nghĩa được thành lập ở các cấp tỉnh,huyện và xã; được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để theo dõi toàn bộcác khoản thu, chi Quỹ không cho vay để sinh lời, kết dư được luân chuyểnsang năm tiếp theo
Ban chỉ đạo quỹ đền ơn đáp nghĩa các cấp chịu trách nhiệm trướcUBND cùng cấp, trước pháp luật về tổ chức, quản lý và hoạt động của quỹ
Trang 37Đối tượng được vận động ủng hộ quỹ bao gồm: Công dân Việt Namđang làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước; các cơquan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội; các doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế ; người Việt Nam làm việc, học tập ở nước ngoài, những người làmnghề tự do khác.
Quỹ đền ơn đáp nghĩa cấp xã vận động đối với những người trên địabàn do cấp xã trực tiếp quản lý
* Quỹ vì người nghèo: Quyết định số 924/ QĐ - MTTQ ngày 24/5/2006 của UBTW MTTQ Việt Nam về ban hành quy chế xây dựng, quản
lý và sử dụng " Quỹ vì người nghèo" ( thay thế QĐ số 235/QĐ - MTTW ngày15/12/2000)
Quỹ vì người nghèo được hình thành trên cơ sở vận động sự tự nguyệnủng hộ của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Quỹ hoạt động không vìmục đích lợi nhuận mà áp dụng hình thức trợ giúp người nghèo theo chuẩnmực của Nhà nước công bố từng thời kỳ
Quỹ được thành lập ở 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố), huyện(quận), xã (phường) ở mỗi cấp đều có Ban vận động quỹ chịu trách nhiệmtrước pháp luật về tổ chức, quản lý và điều hành quỹ Tồn quỹ năm trướcđược chuyển sang năm sau sử dụng Đối tượng vận động xây dựng quỹ baogồm: cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước
Nguyên tắc quản lý quỹ: Hoạt động của quỹ theo nguyên tắc tự tạo vốn, tựtrang trải các chi phí cho hoạt động vì người nghèo, hộ nghèo Ban vận động quỹ vìngười nghèo các cấp được sử dụng con dấu riêng để giao dịch; có tư cách phápnhân, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để theo dõi thu, chi quỹ Tổ chức,
cá nhân xây dựng và quản lý quỹ vì người nghèo có thành tích được khen thưởng,nếu vi phạm các quy định của quy chế này, tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm
mà xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trường hợp gây thiệt hại vậtchất phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Trang 38* Quỹ xã hội, Quỹ từ thiện: Quyết định số 56/2000/QĐ-BTC ngày19/04/2000 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính Quỹ xãhội, Quỹ từ thiện.
Nguyên tắc hoạt động: Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận,theo nguyên tắc tự tạo vốn, trên cơ sở vận động tài trợ và đóng góp hoàn toàn
tự nguyện của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước nhằm mục đích hỗtrợ cho các hoạt động nhân đạo, từ thiện, khuyễn khích phát triển văn hoá, thểthao, khoa học, xã hội Quỹ tự trang trải chi phí cho hoạt động xã hội, từ thiện
và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, không có nguồn vốn ngân sáchnhà nước
Quỹ phải được tổ chức công tác kế toán thống kê theo đúng các quyđịnh của pháp lệnh kế toán, thống kê; Chấp hành các chế độ, quy định về hoáđơn, chứng từ kế toán Chịu sự thanh tra, kiểm tra về việc thu, quản lý và sửdụng quỹ của cơ quan tài chính có trách nhiệm quản lý quỹ
* Quỹ an ninh quốc phòng: Pháp lệnh số 19/2004/PL – UBTVQH ngày29/4/2004 về Dân quân tự vệ Quyết định số 1539/2002/ QĐ - UB ngày21/11/2004 Nghị định 40/1999/NĐ - CP ngày 23/6/1999 của chính phủ vềcông an xã
Quỹ an ninh quốc phòng nhằm mục đích tạo thêm nguồn thu cho xã để
hỗ trợ cho các nhu cầu chi ngoài nguồn chi từ ngân sách xã phục vụ nhiệm vụbảo vệ an ninh quốc phòng và giữ gìn trật tự an toàn xã hội UBND xã được
mở tài khoản tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước để tập trung quản lý và theo dõikhoản thu quỹ an ninh quốc phòng
Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế có trách nhiệm
tổ chức thu quỹ an ninh quốc phòng của cá nhân trong phạm vi đơn vị mình.Ban tài chính xã có nhiệm vụ giúp UBND xã trực tiếp quản lý quỹ, hàngtháng lập dự toán thu chi quỹ Tiền của quỹ chưa sử dụng hết trong năm đượcchuyển sang năm sau tiếp tục theo dõi và sử dụng
Trang 39* Quỹ bảo trợ trẻ em: Nghị định số 118/CP ngày 7/9/1994 của Chínhphủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban bảo vệ
và chăm sóc trẻ em Việt Nam
Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam được thành lập theo quy định của Điều
22, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành ngày 12/8/1991, cóchức năng vận động, thu nhận, quản lý và sử dụng các nguồn lực về tài chính,vật chất nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu của chương trình hành độngquốc gia vì trẻ em
Nguyên tắc hoạt động của Quỹ Việt Nam Việt Nam: khai thác mọinguồn lực bằng hình thức huy động sự đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cánhân trong và ngoài nước Quỹ đặc biệt ưu tiên những trẻ em có hoàn cảnhkhó khăn, trẻ em khuyết tật, trẻ em miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứcách mạng và vùng bị thiên tai dịch bệnh
Nguồn thu của quỹ bao gồm: đóng góp tự nguyện của các cơ quan nhànước, các tổ chức kinh tế - xã hôi , các cá nhân trong và ngoài nước; lợinhuận từ khai thác nguồn vốn của quỹ Việt Nam được pháp luật cho phép; hỗtrợ ngân sách Nhà nước, tiếp nhận tài trợ và các khoản thu hợp pháp khác.Thực hiện chế độ công khai tài chính theo quy định của pháp luật
* Quỹ phòng chống lụt bão: Pháp lệnh số 09/PL – CTN ngày 23/3/1993
về phòng chống lụt bão Nghị định số 50/CP ngày 10 tháng 5 năm 1997 củaChính phủ về việc ban hành quy chế thành lập và hoạt động của quỹ phòngchống lụt bão của địa phương
Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương do các tổ chức và cá nhân
cư trú tại địa phương đóng góp hàng năm theo quy định của pháp luật Quỹchỉ được sử dụng để hỗ trợ việc tu bổ đê điều; phòng, chống và khắc phục hậuquả lụt, bão; không vì mục đích lợi nhuận
Việc thu quỹ phòng chống lụt bão phải thực hiện quy chế công khai tàichính kèm theo quyết định số 192/2004/QĐ- TTg ngày 16/11/2004 của Thủ
Trang 40tướng Chính phủ, Thông tư số 03/2005/TT- BTC ngày 06/01/2005 của Bộ Tàichính và thông báo công khai cho nhân dân biết Tổ chức, cá nhân thu quỹphòng chống lụt bão phải thực hiện chế độ kế toán, định kỳ báo cáo quyếttoán thu, nộp và sử dụng quỹ Quỹ được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước,tồn quỹ cuối năm được luân chuyển sang năm sau.
Đối tượng nộp quỹ phòng chống lụt bão: Công dân Việt Nam (nam từ
đủ 18 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 55 tuổi), mọi tổ chức kinh
tế trong nước và nước ngoài taị địa phương
Chủ tịch Uỷ ban tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức
hỗ trợ để khắc phục hậu quả Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp ở địaphương phải báo cáo kết quả thu và lập dự toán chi trong năm trình UBNDcùng cấp xét duyệt vào cuối quý I hàng năm
Tóm lại, nội dung chung của các văn bản đều hướng vào các khoản thunhằm phục vụ lợi ích của nhân dân như các loại quỹ xã hội, quỹ từ thiện, quỹbảo trợ góp phần đưa xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân ngàymột nâng cao