1. Trang chủ
  2. » Tất cả

chuyen de 5

7 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 49,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện nguồn lực tài nguvên phong phú và nguồn lực lao động phổ thông dồi dào các lợi thế sẵn có - lợi thế so sánh tĩnh, các nước đang phát triển tận dụng các lợi thế này để thu

Trang 1

Chuyên đề 5

PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

A MỤC TIÊU

về kiến thức: Trang bị cho học viên cơ sở khoa học về quan điểm

phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam

về kỹ năng: Giúp học viên biết vận dụng kiến thức đã học để

phân tích quá trình phát triển của đất nước, địa phương, của ngành theo cách tiếp cận phát triển nhanh và bền vững

về tư tưởng: Củng cố niềm tin cho học viên đối với con đường

phát triển mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn

B NỘI DUNG

1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG

1.1 Tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế nhanh và ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế nhanh

1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng kinh tế nhanh

- Tăng trưởng kỉnh tế là sự gia tăng về quy mô tổng sản lượng

(thu nhập) của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) và thường được đo lường bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng thu nhập trong nước (GNI)

Tốc độ tăng trưởng là chỉ tiêu đo lường mức độ tăng trưởng kinh

tế của một quốc gia Do vậy, mức độ nhanh, vừa phải hay chậm của tăng trưởng phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của GDP hoặc GNI

159

Trang 2

- Tăng trưởng kinh tế nhanh là tốc độ tăng GDP hoặc GNI cao.

Tiêu chí tăng trưởng cao khác nhau đối với các nhóm quốc gia khác nhau và cũng khác nhau ứng với mỗi giai đoạn phát triển của quốc gia đó

Đối với các nước phát triển do quy mô thu nhập lớn nên tốc độ tăng trưởng cao thường thấp hơn so với các quốc gia đang phát triển Đối với nước đang phát triển chỉ tiêu trên có thể từ 7% trở lên và trong mỗi giai đoạn nhất định chỉ tiêu trên cũng có thể thay đổi Chẳng hạn, ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa do tiềm năng các nguồn lực sẵn có đang dồi dào, quy mô của GDP (GNP) nhỏ nên tốc độ tăng trưởng cao có thể đạt trên 10%, nhưng ở giai đoạn tiếp theo

có thể chỉ là 7%/năm cũng được coi là tốc độ tăng trưởng cao

Thông thường đối với các nước đang phát triển ở giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hóa mô hình đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao

là mô hình tăng trưởng theo chiều rộng Trong điều kiện nguồn lực tài nguvên phong phú và nguồn lực lao động phổ thông dồi dào (các lợi thế sẵn có - lợi thế so sánh tĩnh), các nước đang phát triển tận dụng các lợi thế này để thu hút vốn và công nghệ từ nước ngoài, mở rộng quy

mô sản xuất và xuất khẩu thô các sản phẩm tài nguyên thiên nhiên nhằm tạo ra tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa đất nước Nhưng để duy trì tốc độ tăng trương cao trong dài hạn, không thể kéo dài mô hình tăng trưởng theo chiều rộng Bởi vì, các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, nếu khai thác

ồ ạt và xuất khẩu thô thì chỉ đạt được tăng trưởng cao trong một thời

kỳ nhất định, khi các nguồn tài nguyên cạn kiệt, nền kinh tế không chỉ không thể tiếp tục tăng trưởng mà còn có thể rơi vào khủng hoảng Thực tế này đã được các nhà kinh tế phân tích và cảnh báo là căn bệnh

Hà Lan

160

hiếm các nguồn lực sẵn có (tài nguyên thiên nhiên và lao động phổ

thông) cần nâng cao chất lượng nguồn lực lao động và trình độ công

nghệ của các ngành sản xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn

lực Tăng trưởng dựa vào nâng cao năng suất lao động và đóng góp

của khoa học công nghệ là mô hình tăng trưởng theo chiều sâu

Ngày nay, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, một số nước

đang phát triển đã kết hợp đồng thời mô hình tăng trưởng theo chiều

rộng và mô hình tăng trưởng theo chiều sâu Sự lựa chọn theo kiểu này

cho phép các nước vừa khai thác được lợi thế trong nước vừa tận dụng

được những thành tựu khoa học công nghệ của các nước phát triển để

tạo ra tốc độ tăng trưởng cao ngay cả khi trình độ công nghệ nội sinh

còn hạn chế Những nước được mệnh danh là con rồng châu Á những

năm 70-80 của thế kỷ XX và Trung Quốc trong khoảng 10 năm gần

đây có thể coi là những quốc gia đã có sự kết hợp hiệu quả giữa hai mô

hình trên

1.1.2 Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế nhanh

- Tăng trưởng kinh tế nhanh là điều kiện để tăng quy mô GDP

và GDP/đầu người của một quốc gia Nếu không có tốc độ tăng trưởng

cao thì Trung Quốc ngày nay không thể trở thành nước có GDP lớn thứ

hai trên thế giới từ một nước đang phát triển có quy mô GDP không

đáng kể vào những năm 80 của thế kỷ XX; Hàn Quốc có thu nhập bình

quân trên đầu người vào những năm 60 của thế kỷ XX chỉ 100 USD,

tương đương với nhiều nước châu Phi, nhưng nhờ tốc độ tăng trưởng

cao mà đến năm 2000 đã đạt trên 10.000 USD/người, cao gấp 10 lần so

với một số nước có thu nhập tương đương cùng thời kỳ trước đây

Nền kinh tế của một nước có thể rơi vào khủng hoảng, mất ổn

định kinh tế vĩ mô nếu tăng trưởng chỉ dựa vào xuất khẩu thô các sản

phẩm tài nguyên như Hà Lan đã vấp vào những năm cuối thập niên 70

của thế kỷ XX

161

Trang 3

- Tăng trưởng nhanh tạo điều kiện để tăng năng nội sinh của nền kỉnh tế Có tăng trưởng nhanh thì nhà nước mới có kha năng

tăng nguồn thu từ thuế, phí của các doanh nghiệp để tăng quy mô ngân sách Bởi vì, đối với các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nguồn thu ngân sách là nguồn lực chủ yếu để đầu tư cho phát triển nguồn lực khoa học - công nghệ

và phát triển nguồn nhân lực Đây là cơ sờ quan trọng để chuyển mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu ở giai đoạn tiếp theo Nguồn thu ngân sách còn là nguồn chi quan trọng cho đầu tư phát triển, đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển

Bên cạnh đó, nguồn thu ngân sách là điều kiện để nhà nước tăng chi tiêu cho giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo

và thực hiện chính sách an sinh xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày càng cao hơn

Tăng trưởng nhanh tạo điều kiện để doanh nghiệp có lợi nhuận cao, tăng khả năng tích lũy vốn và mở rộng quy mô sản xuất và đa dạng hóa ngành nghề và đổi mới công nghệ; mặt khác tăng trưởng nhanh là cơ sở tăng GDP/đầu người là điều kiện tăng tiết kiệm dân cư, tăng tích lũy vốn cho nền kinh tế

- Tăng trưởng nhanh là tiềm lực để một quốc gia có điều kiện rút

ngắn khoảng cách tụt hậu về trình độ phát triển với các nước trong khu

vực và thế giới Đối với các nước đang phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, ý nghĩa này là hết sức quan trọng

1.2 Phát triển kinh tế và phát triển bền vững

1.2.1 Phát triển kinh tế

Nhận thức về phát triển kinh tế là quá trình từ thấp lên cao

- Giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến đầu

những năm 60 của thế kỷ XX: khái niệm tăng trưởng kỉnh tế đồng nhất với khái niệm phát triển kinh tế.

162

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hậu quả nặng nề của chiến tranh

để lại làm cho hầu hết các nền kinh tế khắp các châu lục, đặc biệt là

những nước trực tiếp tham gia cuộc chiến trên như Đức, Nhật Bản,

Italia bị kiệt quệ Bên cạnh đó, tốc độ gia tăng dân số thời kỳ này đạt

kỷ lục cao nhất: từ năm 1930 dân số thế giới mới đạt 2 tỷ người, đến

năm 1960 (sau 30 năm) tăng lên 3 tỷ người, nhưng chỉ trong vòng 15

năm sau (năm 1975) dân số đạt 4 tỷ người1 Dưới áp lực của hai nhân

tố trên, đại đa số các quốc gia đều tập trung vào mục tiêu tăng trưởng

kinh tế Công nghiệp hóa được thực hiện một cách rầm rộ bằng cách

tận dụng mọi cơ hội để khai thác tài nguyên thiên nhiên Mặt khác, ở

giai đoạn này, hầu hết các nước cũng tập trung phát triển nông nghiệp

để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm do lượng dân số tăng lên

đột biến Trong thời kỳ này, khái niệm tăng trưởng được đồng nhất với

phát triển Có nghĩa là cứ có tăng trưởng là nền kinh tế được coi là phát

triển và tăng trưởng nhanh (tốc độ tăng trưởng cao) đồng nghĩa với

phát triển nhanh Như vậy, trước những năm 60 của thế kỷ XX chưa có

sự phân biệt giữa tăng trưởng và phát triển

- Giai đoạn từ những năm cuối của thập niên 60 thế kỷ khái niệm

phát triển kinh tế được nhận thức ngày càng đầy đủ.

Hậu quả của chiến lược công nghiệp hóa bằng cách khai thác tài

nguyên một cách ồ ạt và tăng sản lượng lương thực bằng mọi giá ở giai

đoạn trên đã tàn phá tài nguyên với tốc độ hết sức nhanh chóng Tốc độ

tăng trưởng kinh tế cuối những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều quốc gia

giảm sút đáng kể Mặt khác, phân tầng xã hội cũng diễn ra nhanh

chóng, chênh lệch về giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội ngày càng sâu

sắc Thực trạng đó được nhiều tổ chức quốc tế và các nhà kinh tế phản

ánh trong nhiều công trình nghiên cứu Những ý tưởng về tăng trưởng

dựa vào sử dụng công

1

1 World Population Data Sheet of population Reíerence of United States, 2008, 2009.

163

nghệ để khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và nâng cao năng suất lao động đã được đề xuất Từ giai đoạn này đã có một sự phân biệt giữa tăng trưởng và phát triển Năm 1972, Câu lạc bộ Roma được thành lập, thu hút nhiều cá nhân, tổ chức và chính khách của các nước

tham gia vào phong trào bảo vệ môi trường Tác phẩm Giới hạn của sự

tăng trưởng do Câu lạc bộ Roma xuất bản cũng ở thời điểm trên Trong

cuốn sách này, nhà kinh tế học người Mỹ gốc Nga Kuznet (là cha đẻ của hệ thống hạch toán quốc dân SNA) cho rằng, kinh tế thế giới trong vòng 10-15 năm tới sẽ không thể tăng trưởng và có thể còn sụt giảm (-)

do tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt (năm 1972 cuộc khủng hoảng năng lượng lần thứ nhất đã xảy ra); kinh tế của nhiều nước có thể rơi vào tình trạng suy thoái

Từ những phần tích và nhận thức trên khái niệm phát triển kinh tế được đưa ra từ những năm đầu 70 của thế kỷ XX: Bao gồm tăng trưởng kinh tế cao dựa trên phát triển công nghệ mới để khai thác có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, lao động, đồng thời cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo

Khái niệm phát triển kinh tế ngày càng được bổ sung và hiện nay được nhiều giáo trình và sách kinh tế học phát triển cho rằng: Phát triển kinh tế là sự tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế; Là quá trình biến đổi

về số lượng và chất lượng của nền kinh tế; là tăng trưởng kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ và nâng cao chất lượng cuộc sống

Như vậy, tăng trưởng kinh tế chỉ là một nội dung của phát triển kỉnh tế Tốc độ tăng trưởng kỉnh tế cao giai đoạn trước đây được coi là phát triển nhanh chỉ là một cách ngầm chỉ tăng trưởng cao theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào khai thác các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên và lao động phổ thông mà thôi.

1.2.2 Phát triển bền vững

- Quá trình nhận thức phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một mô hình phát triển toàn diện, là mục

tiêu hướng tới của mỗi quốc gia Quá trình nhận thức và thực hiện mô

hình trên trải qua những thang bậc từ thấp lên cao Có thể chia quá

trình trên thành hai giai đoạn cơ bản sau đây:

+ Trước những năm 80 của thế kỷ XX, phát triển bền vững chỉ

mới đề cập đến những vấn đề bền vững về mặt sinh thái

Tốc độ khai thác nguồn lực tài nguyên thiên nhiên một cách 0 ạt

để tạo nên tăng trưởng kinh tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã

hủy diệt nhiều hệ sinh thái và gây ra nhiều hệ lụy đối với môi trường

Do đó, tháng 6-1972 Hội nghị Liên họp quốc về con người và môi

trường đã diễn ra tại Stockhom, Thụy Điển Tại Hội nghị này, Chương

trình Môi trường của Liên họp quốc (UNEP) được thành lập và lấy

ngày 5-6 hàng năm làm Ngày môi trường Thế giới.

Hội nghị đã thu hút 113 quốc gia tham gia và kết thúc bằng tuyên

bố với hai nội dung cơ bản sau đây:

1) Con người gây ra ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí, do

đó gây mất cân bằng sinh thái, phá hủy và làm cạn kiệt tài nguyên

không tái tạo

2) Bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường là vấn đề lớn để bảo

đảm cho cuộc sống tốt đẹp hơn và phát triển kinh tế trên toàn thế giới

Năm 1980, Hiệp hội Bảo vệ thiên nhiên Liên họp quốc (IUCN),

UNEP và Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới (WWF) đưa ra Chiến lược

bảo tồn thế giới nhằm vào ba mục tiêu chủ yếu: Một duy trì hệ sinh thái

cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống Hai là, bảo toàn tính đa dạng và di

truyền Ba là, bảo đảm sử dụng một cách bền vững các loài và các hệ

sinh thái

Như vậy, cho đến năm 1984 khái niệm phát triển bền vững chỉ

mới dừng ở nội dung “phát triển sinh thái - eco development”

165

+ Giai đoạn từ năm 1984 đến nay

Năm 1984, UNEP đưa ra khái niệm phát triển bền vững gồm 5

điểm: Một là, giúp đỡ người nghèo vì người nghèo không có kế sinh

nhai nào khác ngoài khai thác tài nguyên một cách tự nhiên để bảo

đảm cuộc sống Hai là, phát triển trong giới hạn của tài nguyên có

nghĩa tăng trưởng kinh tế nằm trong giới hạn để bảo đảm không tàn

phá tài nguyên một cách cạn kiệt Ba là, sử dụng hiệu quả tài nguyên

Bốn là, nâng cao chất lượng cuộc sống bao hàm cả bảo đảm môi

trường trong sạch Năm là, thu hút sự tham gia của cộng đồng vào tiết

kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường

Năm 1987, Hội đồng Thế giới về môi trường và phát triển đã đưa

ra khái niệm phát triển bền vững như sau: Phát triển bền vững là sự

phát trỉến nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ sau Cùng với

khái niệm này, Hội đồng Thế giới về môi trường và phát triển đã đề

cập đến 7 nội dung chủ yếu: Một là, khơi dậy sự tăng trưởng vì nếu không có tăng trưởng thì không thể phát triển Hai là, thay đổi chất

lượng tăng trưởng bởi vì nếu tiếp tục tăng trưởng theo cách như cũ sẽ

không còn có đủ các nguồn lực để tạo nên tăng trưởng Ba là, đáp ứng

nhu cầu cốt lõi về việc làm, lương thực, nước sạch và vệ sinh môi

trường Bốn là, bảo vệ và tăng cường cơ sở tài nguyên Năm là, định hướng lại công nghệ và quản lý rủi ro Sáu là, kết hợp môi trường và kinh tế trong việc ra quyết định Bảy là, định hướng lại các quan hệ

quốc tế

Có thể nói rằng, đến năm 1987 nhận thức về phát triển bền vững

đã được xem xét đầy đủ trên cả 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường Đồng thời cũng chỉ ra được những phương thức chủ yếu để thực hiện phát triển bền vững Đó là phải tiếp tục tạo nên tăng trưởng (xem ý nghĩa của phát triển nhanh), nhưng tăng trưởng phải có chất lượng dựa trên nâng cao trình độ công nghệ và định hướng lại quan hệ quốc tế Trong mối quan hệ đó cần coi trọng vai trò của các nước đang 166

phát triển và các nước phát triển có nghĩa vụ phải hỗ trợ các nguồn lực

tài chính, công nghệ cho các nước đang phát triển trong thực hiện phát

triển bền vững Như vậy, phát triển bền không có tăng trưởng kinh tế

cao mà đòi hỏi tăng trưởng phải có chất lượng dựa trên đổi mới công

nghệ Đồng thời cũng xác định sự bình đẳng trong phát triển và những

hỗ trợ cần thiết cho các nước nghèo và các nước đang phát triển để họ

có thể thực hiện phát triển bền vững

Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát

triển tại Rio de Janeiro khẳng định lại khái niệm phát triển bền vững đã

nêu trên và đã đưa vào Chương trình Nghị sự 21 toàn cầu (Global

Agenda 21)

Chương trình Nghị sự 21 toàn cầu là một khung kế hoạch chung

để thực hiện phát triển bền vững thông qua các chương trình hành

động, gồm 4 phần 40 chương

Phần 1: Những khía cạnh kinh tế - xã hội gồm 8 chương, trong đó

khẳng định sự cần thiết phải phát triển bền vững, cần có sự họp tác

quốc tế, nghèo đói phải giải quyết trên phạm vi toàn cầu, thay đổi mô

hình tiêu dùng cần có sự kết họp chặt chẽ, họp lý, hài hòa giữa ba

mặt kinh tế,xã hội và môi trường trong việc ra quyết định.

Phần 2: Bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên, gồm 14

chương Việc quản lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên quan trọng như

quản lý rừng, đa dạng sinh học, đại dương nước ngọt được đề cập

trong phần này và đồng thời coi việc quản lý, việc sử dụng các chất

gây tác hại cho môi trường như hóa chất, chất phóng xạ là phải được

đưa vào trong việc xây dựng chương trình nghị sự của mồi quốc gia

Phần 3: Tăng cường vai trò của các nhóm xã hội chính đối với

phát triển bền vững Ở nội dung này đã phân tích vai trò quan trọng

của phụ nữ, trẻ em, thanh niên và vai trò của người dân địa phương,

đồng thời làm rõ quan hệ đối tác của các tổ chức phi chính phủ, vai trò

then chốt của chính quyền địa phương, vai trò định hướng,

167

hướng dẫn của các nhà khoa học đối với công nghiệp, doanh nghiệp, nông dân với tư cách là những người chủ yếu sử dụng tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế

Phần 4: Phương tiện để thực hiện Chương trình Nghị sự 21 toàn

cầu, đề cập đến các nguồn lực: Một là, tài chính để thực hiện phát triển

bền vững chủ yếu từ trích phần trăm GDP của các nước phát triển, quỹ môi trường toàn cầu để hỗ trợ cho các nước đang phát triển chuyển đổi

mô hình tăng trưởng Hai là, chuyển giao công nghệ gồm công nghệ sạch và trợ giúp công nghệ cho các nước đang phát triển Ba là, phân

tích vai trò và chức năng của khoa học về phát triển bền vững trong đó nhẩn mạnh đến nghiên cứu về biến đổi khí hậu và nghiên cứu về các

hệ sinh thái Năm 2002, sau 10 năm thực hiện Chương trình Nghị sự

21 toàn cầu, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được

tổ chức tại Johanesburg (Nam Phi) đã bổ sung, hoàn thiện khái niệm

phát triển bền vững như sau: Là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt

hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, phát triển

xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu con người trong hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.

- Nội dung và tiêu chí của phát triển bền vững.

Từ khái niệm về phát triển bền vững đã nêu trên cho thấy, phát triển bền vững bao gồm ba nội dung chủ yếu:

+ Phát triển bền vững về kinh tế: là sự tiến bộ mọi mặt của nền

kinh tế bao gồm tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- xã hội theo xu hướng tiến bộ

Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định thể hiện ở các thước đo (tiêu chí) đạt được bao nhiêu %/năm một cách họp lý phù họp với tiềm năng các nguồn lực và tốc độ đó phải đạt được trong dài hạn (thường là 10 năm trở lên)

168

Cơ cấu kinh tế xã hội chuyển dịch theo xu hướng tiến bộ nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng một cách ổn định, tạo năng lực cho nền kinh tế chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng Do vậy, tiêu chí thể hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế để bảo đảm phát triển bền vững

là sự thay đổi trình độ công nghệ của các ngành sản xuất phải ngày càng cao hơn trong điều kiện tận dụng các lợi thế của một nước đi sau (biểu hiện cụ thể là tốc độ đổi mới công nghệ %/năm của các ngành sản xuất của các doanh nghiệp trong nền kinh tế phải ngày càng cao hơn) Với những tiến bộ về trình độ công nghệ đạt được, hiệu quả sử dụng các nguồn lực được nâng lên, chất lượng tăng trưởng kinh tế đạt được ngày càng cao Các tiêu chí thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực là hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp biểu hiện đóng góp của nguồn lực khoa học công nghệ vào tăng trưởng kinh tế TFP (năng suất các nhân tố tổng hợp) và VA (hệ gia tăng tài nguyên) của các ngành sản xuất; hệ gia tăng tư bản đầu ra ICOR của nguồn lực vốn; năng suất lao động

Tăng trưởng cao và ổn định là điều kiện để tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế là tiền đề tạo ra khả năng tăng trưởng cao và ổn định trong giai đoạn tiếp theo

Năng lực nội sinh của nền kinh tế tăng thể hiện ở tích lũy vốn, chất lượng nguồn lao động, trình độ công nghệ và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế được nâng cao Bên cạnh đó, năng lực nội sinh của nền kinh tế được nâng cao còn đòi hỏi tỷ lệ nợ nước ngoài của quốc gia và của chính phủ so với GDP ở giới hạn cho phép (an toàn) và có xu hướng giảm Tiêu chí này bảo đảm cho sự ổn định kinh tế vĩ mô và tránh để lại gánh nợ nước ngoài cho thế hệ mai sau

+ Phát triển bền vững về xã hội: phát triển bền vững về xã hội là

sự phát triển bảo đảm tiến bộ và công bằng về xã hội đạt được ở mức

độ cao hơn Phát triển bền vững về xã hội tạo điều

kiện cho người lao động có cơ hội tham gia làm việc đầy đủ, tỷ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập ngày càng tăng; xóa đói giảm nghèo được chú trọng và tỷ lệ hộ nghèo giảm, xóa đói giảm nghèo bền vững (tái nghèo được khổng chế); khả năng tiếp cận các nguồn lực (bao gồm các nguồn lực đầu vào sản xuất), tiếp cận các dịch vụ công (dịch vụ y tế, giáo dục, các công trình phục vụ cộng đồng) của các thành phần kinh tế và của mọi người đều bình đẳng

Thể hiện tập trung nhất của nó là chỉ số phát triển con người (HDI) ngày càng cao Phát triển bền vững về xã hội bảo đảm ổn định chính trị - xã hội cùng với ổn định kinh tế vĩ mô tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm đầu tư lâu dài vào nền kinh tế

+ Phát triển bền vững về môi trường: Phát triển bền vững về môi trường là sự phát triển trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn lực tài nguyên thiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát

có hiệu quả ô nhiễm môi trường và đồng thời phát triển các tài nguyên

có khả năng tái sinh

Phát triển bền vững về môi trường bảo đảm điều kiện để bảo vệ tốt môi trường sống, bảo vệ các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn đa dạng sinh học, khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường Các tiêu chí của phát

triển bền vững về môi trường được đặc trưng bởi: Thứ nhất, là mức

tiêu hao nguyên, nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm (đơn vị GDP)

Thứ hai, mức gia tăng (VA) của tài nguyên; tỷ lệ các chất độc hại đối

với môi trường nước, đất, không khí phải nằm trong giới hạn cho phép;

tỷ lệ (%) các vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển được bảo tồn Thứ

ba, tỷ lệ che phủ rừng (%) ngày càng cao Đối với các ngành, lĩnh Vực

sản xuất trong nền kinh tế các tiêu chí phát triển bền vững về môi trường được quy định dựa vào tính chất kinh tế - kỹ thuật của mỗi ngành, chẳng hạn, như đối với công

170

nghiệp là tỷ lệ (%) các khu công nghiệp xử lý nước thải tập trung bảo

đảm chất lượng trước khi thải ra môi trường; đối với nông nghiệp là tỷ

lệ (%) diện tích đất sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu theo quy định cho

phép

Tóm lại: phát triển bền vững là sự phát triển có sự kết họp chặt

chẽ họp lý, hài hòa cả ba khía cạnh chủ yếu liên quan đến đời sống của

nhân loại là kinh tế, xã hội và môi trường

1.3 Cơ sở khoa học của việc lựa chọn quan điểm phát triển nhanh

và bền vững ở các nước đang phát triển

Cơ sở của việc lựa chọn quan điểm phát triển nhanh và bền vững

ở các nước phát triển dựa trên những khía cạnh cơ bản sau đây:

quan hệ biện chứng giữa phát triển nhanh (tăng

trưởng cao) và phát triển bền vững

Giữa chúng vừa có tính thống nhất vừa tồn tại mâu thuẫn và có vai trò thúc đẩy sự phát triển

Tỉnh thống nhất thể hiện: thứ nhất, phát triển nhanh (tốc độ

tăng trưởng cao) là tiền đề để phát triển bền vững (xem ý nghĩa của

phát triển nhanh); thứ hai, phát triển bền vững là nền tảng để phát triển

nhanh trong giai đoạn tiếp theo; thứ ba, phát triển bền vững, bảo đảm

công bằng xã hội và tiến bộ xã hội tạo ra đồng thuận xã hội cao là động

lực để phát triển nhanh và thứ tư, phát triển bền

vững bảo đảm môi trường và tài nguyên bền vững là điều kiện nền tảng

cho phát triển nhanh

Tuy nhiên, giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững có thể nảy sinh mâu thuẫn nếu không có chính sách phát triển hợp lý

Phát triển nhanh, coi trọng mục tiêu tăng trưởng cao dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách ồ ạt, thiếu cân nhắc đến mục tiêu

bảo vệ môi trường và xã hội là nguyên nhân cơ bản dẫn đến phát triển

không bền vững, đây cũng chính là nguyên nhân không thể tiếp tục

phát triển nhanh trong dài hạn Bởi vì: thứ

171

nhất, phát triển nhanh bằng mọi giá dẫn đến cạn kiệt tài nguyên thiên

nhiên, ảnh hưởng đến chu kỳ phát triển tiếp theo và thế hệ mai sau; thứ

hai, nó là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường trầm trọng, suy

giảm đa dạng sinh học và các nguồn gen quý hiếm; thứ ba, do quá coi

trọng mục tiêu tăng trưởng, không quan tâm thỏa đáng đến tầng lớp nghèo dẫn đến phân hóa giàu nghèo và mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc gây mất ổn định chính trị - xã hội và đây là một trong những nguyên nhân cơ bản kìm hãm sự phát triển

Thực tế nhiều quốc gia đang phát triển có nguồn lực tài nguyên thiên nhiên dồi dào, tốc độ tăng trưởng cao chỉ đạt được trong một thời gian nhất định và cho đến nay vẫn là những nước chậm phát triển, chính trị - xã hội không ổn định và môi trường sinh thái bị ô nhiễm nặng nề

Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển nếu chỉ tập trung vào mục tiêu bảo vệ môi trường không cho phép khai thác các nguồn lực tài nguyên để tạo ra tăng trưởng trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nền kinh tế không có khả năng tích lũy các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội

1.3.2 Đối với các nước đang phát triển có các điều kiện cần thiết để thực hiện phát triển nhanh bền vững

Thứ nhất,các nước có lợi thế về nguồn lực tài nguyên, lao động

phổ thông dồi dào trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, việc khai thác các nguồn lực trên trong giới hạn cho phép một cách hợp lý có thể đạt tăng trưởng kinh tế cao và tạo công ăn việc làm, thu nhập cho người dân trong giới hạn chịu tải của môi trường sinh thái

Thứ hai,ngày nay với sự phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau,

các nước đang phát triển hoàn toàn có thể thực hiện được mô hình này nếu biết tận dụng những cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế Cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo ra những lợi thế

172

để các nước đi sau nhanh chóng đi ngay vào hiện đại, tiếp cận những

văn minh, tiến bộ của nhân loại, lựa chọn những thành tựu khoa học,

công nghệ tiên tiến, phù hợp với tiềm năng của mỗi quốc gia để thúc

đẩy tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền

kinh tế, lựa chọn những công nghệ thân thiện với môi trường

Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức

không chỉ gắn kết mỗi quốc gia tham gia vào quá trình phân công lao

động quốc tế, mà còn làm cho nền kinh tế mỗi nước trở thành những

mắt khâu bổ trợ cho nhau, tạo thành nền kinh tế thế giới thống nhất

Tuy nhiên, không phải nước nào cũng tận dụng được cơ hội của quá

trình hội nhập một cách hiệu quả Nếu không có mô hình đúng và

chỉnh sách phát triển phù hợp với các lợi thế của các nước đang phát

triển, nếu chỉ tập trung vào mục tiêu tăng trưởng cao trong ngắn hạn,

các nguồn vốn nước ngoài có thể chỉ tập trung vào khai thác tài nguyên

để xuất khẩu thô, mở rộng các ngành gia công với trình độ công nghệ

thấp để tận dụng lao động phổ thông có chi phí thấp trong thời gian

dài Tình trạng đó sẽ dẫn đến các nguồn lực tài nguyên bị khai thác một

cách cạn kiệt, lao động phổ thông bị bóc lột nặng nề khi đó, quốc gia

đang phát triển, trở thành bãi rác công nghệ của thế giới, khoảng cách

tụt hậu càng sâu sắc hơn, tăng trưởng trong dài hạn không thể đạt được,

nảy sinh nhiều vấn đề xã hội và môi trường bức xúc Thực tế này đã

từng xảy ra ở một số nước đang phát triển ở châu Phi

Tóm lại: Phát triển nhanh và bền vững là mô hình phát triển hợp

lý đối với các nước đang phát triển Bởi lẽ, nó là sự kết họp cả phát

triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, vừa có thể kết họp

khai thác cái lợi của nguồn lực trong nước và ngoài nước để tạo ra tăng

trưởng cao và nâng cao chất lượng tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ và bảo vệ môi trường sinh

thái

173

2 PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM - TỪ NHẬN THỨC ĐẾN THỰC TIỄN

2.1 Nhận thức về phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam

Tuy quan điểm phát triển nhanh và bền vững mới đuợc chính thức công bố gần đây nhung tư tưởng của nó được thể hiện xuyên suốt trong đường lối phát triển của Việt Nam

Đại hội Đảng lần thứ II (1960) và lần thứ IV (1976) đã đặt ra mục tiêu “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Đại hội VII của Đảng thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 1991-2000, nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ

và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường” Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 187-CP về triển khai thực hiện “Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000” Năm 1998,

Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 36- CT/TW về “Tăng cường công tác bảo

vệ môi trường trong thòi kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định “tăng trưởng gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái” Trong văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chỉ rõ: “Phát triển mạnh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng đi đôi với thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Ngày 17-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

số 153/2004/QĐ-TTg về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (VA21 - Vietnam Agenda 21) Đây là văn kiện khung, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam trong thế kỷ XXI Văn kiện bao gồm những nội dung chính sau đây:

Phần 1, khẳng định phát triển bền vững - con đường tất yếu của

Việt Nam Trong đó, đã tập trung phân tích và đánh giá những

174

thành tựu và hạn chế của Việt Nam trong những năm đổi mới trên các

mặt phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Trên cơ sở đó,

khẳng định mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc và hoạt động ưu tiên để

phát triển bền vững ở Việt Nam Mục tiêu tổng quát của phát triển bền

vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn

hóa, sự bình đẳng của công dân và sự đồng thuận về xã hội, sự hài hòa

giữa con người và tự nhiên, phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài

hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi

trường

Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế họp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng

cao đời sống của nhân dân, tránh được suy thoái và đình trệ trong

tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau

Mục tiêu phát triển bền vững xã hội là đạt được kết quả cao trong thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và

chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng cao hơn, giảm tình

trạng đói nghèo, hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lóp xã

hội

Mục tiêu bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử

lý và kiếm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường khắc phục suy thoái và

cải thiện chất lượng môi trường

Những nguyên tắc trong định hướng chiến lược phát triển bền vững ờ Việt Nam được khẳng định:

Thứ nhất,coi con người là trung tâm của phát triển bền vững;

Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm;

Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi

là một yếu tố không thế tách rời của quá trình phát triển;

Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công

bằng nhu cầu của các thế hệ;

175

Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh mẽ và bền vững đất nước;

Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp

chính quyền, các đoàn thể và mọi người dân;

Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ vói

chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước

Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội

và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

Phần 2, chỉ ra những lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên nhằm phát triển

bền vững trong VA21 bao gồm: Một là, duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; Hai là, thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường; Ba là, thực hiện quá trình “công nghiệp hóa sạch”; Bổn là, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững; Năm là, phát triển bền vững các vùng và địa phương.

Phần 3, những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm phát triển bền

vững bao gồm các hoạt động sau đây: Một là, tập trung nỗ lực để xóa đói giảm nghèo, đẩy mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng; Hai là, tiếp tục giảm mức tăng dân số và tạo thêm việc làm cho người lao động; Ba

là, định hướng quá trình đô thị hóa và di dân nhằm phát triển bền vững

các đô thị, phân bố họp lý dân cư và lao động theo vùng; Bốn là,nâng

cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp

phù họp với yêu cầu của sự phát triển đất nước; Năm là, phát triển về

số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cải thiện điều kiện lao động và vệ sinh môi trường

Phần 4, chỉ ra những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo

vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm cần ưu tiên nhằm phát triển bền

vững, bao gồm: Một là, chống tình trạng thoái hóa đất, sử

176

dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; Hai bảo vệ môi trường nước

và sử dụng bền vững tài nguyên nước; Ba là, khai thác hợp lý và sử

dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; Bốn là, bảo vệ môi

trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; Năm là,

bảo vệ và phát triển rừng; Sáu là, giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị

và khu công nghiệp; Bảy là, quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại.

Phần 5, hướng dẫn tổ chức thực hiện phát triển bền vững, khẳng

định vai trò, chức năng của Đảng và Nhà nước của toàn dân và họp tác

quốc tế trong phát triển bền vững

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm

từ thực tiễn phát triển đất nước qua 20 năm đổi mới, trong đó bài học

đầu tiên là “bài học về phát triển nhanh và bền vững”

Báo cáo chính trị tại Đại hội XI đã khẳng định: Phát triển nhanh

gắn với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt

trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 “Phát triển

bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn

lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn

gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển

kinh tế - xã hội”1 Như vậy, có thể thấy rằng, so với Đại hội IX và X

quan điểm phát triển bền vững đã được nhận thức một cách đầy đủ,

toàn diện và nhất quán hơn

Đảng ta đã khẳng định để thực hiện phát triển bền vững cần phải:

“Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng

trưởng tự chủ theo chiều rộng sang mô hình kết họp giữa tăng trưởng

theo chiều rộng với chiều sâu một cách hợp lý, coi trọng chất lượng,

năng suất, hiệu quả sức cạnh tranh là yêu cầu hàng đầu, phát triển kinh

tế tri thức, tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn

hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,

1 Đàng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ XI,

Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, Ừ.99.

177

Trang 4

kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ môi trường và cải thiện môi trường, chủ động đối phó với biến đổi khí hậu

Tóm lại, phát triển nhanh và bền vững là quan điểm phát triển xuyên

suốt ở Việt Nam từ trước những năm đổi mới cho đến nay Nhận thức về quan điểm trên ngày càng hoàn thiện ở những nấc

thang cao hơn và đến Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI

đã trở thành quan điểm chỉ đạo trong phát triển kinh tế - xã hội ở

Việt Nam Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát

triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững

2.2 Thực trạng phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam

_

Trong gần 30 năm tiên hành công cuộc đổi mới để xây dựng đất nước, bên cạnh những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường Việt Nam cũng đã được chú trọng

Tuy nhiên, do xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp có trình độ thấp nên việc thực hiện phát triển nhanh và bền vững còn rất

nhiều hạn chế

2.2.1 Những thành tựu đã đạt được

- Phát trỉển bền vững về kinh tế

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng cao (phát triển nhanh) đã đạt

được trong một thời gian tương đối dài

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt được tương đối cao và quy mô GDP tăng liên tục từ những năm đầu đổi mới cho đến năm 2008: giai đoạn 1986-1990 đạt bình quân 4,5% năm và các giai đoạn tiếp theo là: 1991-1995: 8,2%; 1996-2000: 7%;

2001-2005: 7,5%; 2006-2008: 7,32%; 2009: 5,32%; 2010: 6,78%; 2011: 5,89% và năm 2012: 5,03% và năm 2014 đạt 5,4% Nhờ tốc độ tăng trưởng cao và liên tục của GDP từ năm 1992-2008 nên quy mô GDP năm 2000 tăng hơn 4 lần so với năm 1990 (31,208 triệu USD năm 2000 so với 7,790 triệu USD năm 1990) Năm 2010, tăng hơn 178

Trang 5

3 lần so với 2000 (101 triệu USD năm 2010 so với 31,21 triệu USD năm 2000), năm 2011: 120,855 triệu và năm 2012 ước đạt 140,328 triệu USD

Thứ hai, năng lực nội sinh của nền kinh tế có được cải thiện trên

một số mặt

Vốn đầu tư tích lũy của nền kinh tế ngày càng tăng: Trung bình giai đoạn 1996-2000 vốn đầu tư là 117,9 tỷ đồng, giai đoạn 2001-2005: 248,8 tỷ; 2006-2010: 618,5 tỷ; năm 2011: 924,5 tỷ và năm 2012 ước đạt 989,3 tỷ đồng Trong đó, vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước tăng liên tục: theo các mốc thời gian nói trên lần lượt chiếm: 24,1%; 32,5%; 36%; 36,1%; 38,5% và 38,9%‘ Đây là một sự chuyển dịch tiến bộ bởi hiệu quả kinh tế của khu vực này cao hon nhiều so với khu vực kinh tế nhà nước

Bên cạnh đó, thu ngân sách nhà nước tăng liên tục: năm 2000 thu ngân sách đạt 151,181 tỷ đồng, năm 2005: 228,287 tỷ và năm 2010 đạt 557,158 tỷ đồng tăng 3,2 lần so với năm 2000 Nhờ ngân sách tích lũy vốn đầu tư tăng nên đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhất là hệ thống giao thông ở Việt Nam tăng rất cao và chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nước trong khu vực (chiếm 10% GDP trong khi trung bình của các nước trong khu vực chỉ là 7%)

Hệ thống cơ sở hạ tầng ở Việt Nam không ngừng được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tốt hơn

- Phát triển bền vững về xã hội

Việt Nam đã đạt được những kết quả rất đáng kể mặt xã hội trong những năm đổi mới: Việc làm tăng liên tục, hàng năm số việc làm tăng thêm từ 1,3-1,5 triệu/1 năm, tỷ lệ thất nghiệp cả thành thị và nông thôn đều giảm (năm 2000 tỷ lệ thất nghiệp thành thị 6,7%, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn 72,28% thì

1 Thời báo Kinh tế Việt Nam: Kinh tể 2012-2013 Việt Nam và thế giới, tr.81.

179

Trang 6

năm 2005 các chỉ tiêu trên là 5,6% và 75,30%; năm 2008: 4,64% và 81,0%; năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp thành thị 4,29%, nông thôn 2,30%; năm 2011 lần lượt là 3,60% ; 1,60% và năm 2012 ước tính 3,25% và 1,6%);

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng lên khá nhanh: năm 1990 chỉ mới đạt 118USD/người; năm 2000 đạt 402 USD; năm

2005 đạt 642 USD; năm 2010 đạt 1.169 USD; năm 2011 đạt 1.367 USD; năm 2012 ước đạt 1.580 USD/người Mức tăng GDP/người đạt

được với tốc độ cao và cao hơn tốc độ tăng GDP nhờ cả hai phía: một

là, GDP tăng liên tục; hai là, thành tích đạt được trong công tác giảm

tốc độ tăng dân số ở nước ta

Hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam rất được chú trọng và đạt được thành tích vượt bậc so với nhiều nước đang phát triển trên thế giới Tỷ lệ hộ nghèo tính theo chuẩn quốc tế năm 1993 là 58,1%; năm 2005: 22% thì năm 2010 chỉ còn 10,6% Chỉ số phát triển con người liên tục được cải thiện và so với các nước đang phát triển là một tiến bộ vượt bậc: năm 1985: 0,590; năm 2000: 0,688; năm 2005: 0,733; năm 2007: 0,750 xếp thứ 105/177 nước; năm 2008: 0,572 và năm 2010: 0,572

Chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn nhìn chung ngày càng giảm, đây là một kết quả rất tích cực đối với một’quốc gia đang phát triển trong giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hóa đất nước Năm 1995 thu nhập của thành thị/nông thôn là 2,62 lần, năm 1999: 2,3 lần; năm 2006: 2,09 lần và năm 2010 là 1,99 lần1

An sinh xã hội ở Việt Nam ngày càng được chú trọng, nhất là những năm gần đây Nhiều chính sách mới như bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiếm y tế tự nguyện đang phát triển

- Đổi với bảo vệ môi trường

Việt Nam bước đầu đã có nhiều chuyển biến tích cực trong 1

Thời báo Kinh tế Việt Nam: Kinh tế 2012-2013 Nam và

tr.80.

180

tục được bổ sung và sửa đổi; hoạt động trồng rừng được quan tâm phát

triển nên tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 28% năm 1995 đến năm 2010 đạt

39,5% và tăng lên 40,5% năm 20111 Các tài nguyên quan trọng đang

được tăng cường quản lý và bảo vệ, đặc biệt là đối với bảo tồn đa dạng

sinh học và các khu bảo tồn thiên nhiên trên đất liền, hải đảo Chương

trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu đã được ban hành

và đang được tích cực triển khai ở tất cả các địa phương, bước đầu đã

có những kết quả tích cực

Công tác quản lý chất thải có những tiến bộ nhất định, đã triển

khai thực hiện chiến lược quốc gia về quản lý và tổng họp chất thải rắn

đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 theo hướng tổng họp, liên

ngành Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên toàn quốc đạt

80% ở đô thị nông thôn 40-55%2

2.2.2 Những hạn chế

- Về kinh tế

Phát triển bền vững kinh tế ở Việt Nam còn hết sức hạn chế Tuy

đạt được tốc độ tăng trưởng cao (phát triển nhanh) trong một giai đoạn

tương dối dài nhưng chất lượng tăng trưởng thấp Thực trạng đó được

thể hiện trên nhiều mặt sau đây:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng tuy tăng liên tục nhưng không ổn

định và xu hướng ngày càng giảm, nhất là những năm gần đây Năm

2009, 2011 và năm 2012 đã giảm xuống dưới 6% Thứ hai, cơ

cấu kinh tế chậm chuyển dịch theo hướng hiệu quả và hiện đại hóa

Tuy tỷ trọng công nghiệp tăng liên tục từ 23,67% năm 1990 lên

36,73% năm 2000 và từ năm 2005 đến 2012 chiếm 40-41% GDP (trừ

năm 2009 39,73%) nhưng nếu tính theo tiêu chí của Tổ chức công

nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) (chỉ tính tỷ trọng của công

Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

2 Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư phục vụ cho họp Chính phủ tháng 12-2010.

181

nghiệp chế biến) thì tỷ lệ công nghiệp của Việt Nam chỉ mới đạt 21-22% GDP Tỷ trọng dịch vụ trong GDP hầu như không thay đổi chỉ đạt từ 37-38% GDP trong khi khu vực này luôn chiếm trên 50% vốn đầu tư của nền kinh tế1 2 Cơ cấu trình độ công nghệ của ngành sản xuất thấp và chậm thay đổi dẫn đến các mặt hàng có hàm lượng chất xám trong sản phẩm xuất khẩu và tiêu dùng rất thấp Cơ cấu các ngành sản xuất xét theo chuỗi giá trị toàn cầu chỉ thâm nhập vào các công đoạn có giá trị gia tăng thấp (nông nghiệp chỉ chú trọng tạo ra sản phẩm thô ban đầu công nghiệp lắp ráp - gia công cho thế giới) và

chậm thay đổi Thứ ba, hiệu quả sử dụng các nguồn lực rất thấp và có

xu hướng ngày càng giảm Năng suất lao động Việt Nam thấp và tăng chậm: năm 2007 đạt 1.618 USD, năm 2010: 2.067 USD và năm 2011

là 2.374 USD (đạt 67,4% của Ấn Độ; 44,7% của Philippin; 30,2% của Trung Quốc; 3,1% của Xingapo Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện qua

hệ số gia tăng tư bản đầu ra ICOR ngày càng cao, đặc biệt là ICOR của các doanh nghiệp nhà nước Giai đoạn 1991-1995 hệ số này là 3,5 lần; 1996-2000: 4,8 lần; 2006-2010: 6,2 lần (khu vực nhà nước 9,2 lần) Đóng góp của nguồn lực khoa học và công nghệ vào tăng trưởng GDP qua hệ số năng suất tổng họp hiệu quả các nhân tố TFP chỉ từ 22,5-28%2 Trong khi các nước trong khu vực thấp nhất là đạt 34%; hiệu quả khai thác tài nguyên thấp, do sản phẩm của ngành nông nghiệp và ngành khai khoáng có trình độ chế biến thấp, chủ yếu là xuất khẩu thô Bên cạnh đó, tỷ lệ thất thoát của hầu hết các ngành công nghiệp khai khoáng và thu gom, bảo quản các sản phẩm nông

nghiệp rất cao Thứ tư, năng lực nội sinh của nền kinh tế còn thấp, tuy

đã được cải thiện nhưng với tốc độ rất chậm so với yêu cầu của phát triển bền vững Năng lực cạnh tranh tổng hợp của nền kinh tế (GCI) được đo lường bằng các yếu tố cơ bản: thể chế, hạ tầng cơ

1 Số liệu thống kê các năm - Tổng cục Thống kê.

2 Thời báo Kinh tế Việt Nam: Kinh tế 2012-2013 Nam

và thế giới, tr.83.

182

sở, kinh tế vĩ mô, giáo dục đào tạo, mức độ hấp thụ công nghệ và đổi

mới, thị trường, số liệu trong Diễn đàn kinh tế (WEF) cho thấy, chỉ sổ

này của Việt Nam rất thấp, không ổn định và có xu hướng ngày càng

tụt hậu trong bảng xếp hạng của các nền kinh tế trên thế giới Năm

2000, Việt Nam xếp thứ 53/59 quốc gia trong bảng xếp hạng; năm

2005 xếp thứ 81/111; năm 2010 có được cải thiện, xếp thứ 59/131;

năm 2011 tụt xuống 65/142 và năm 2012 tụt 10 bậc so với năm 2011,

xếp 75/144

- Về xã hội

Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế

là nguyên nhân gây ra những vấn đề xã hội bức xúc hiện nay Trước

hết, tiếp cận các nguồn phát triển như đất đai, vốn giữa các thành phần

kinh tế chưa thực sự công bằng, khu vực ngoài nhà nước khó khăn

hơn nhiều so với các doanh nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài Trong khi đó, xét về hiệu quả xã hội thì khu vực ngoài

nhà nước có khả năng tạo nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho lao

động và người dân trong nước Tiếp đến là sự hạn chế trong tác động

lan tỏa của các trung tâm, vùng kinh tế trọng điểm đối với các khu

vực lân cận Các vùng kinh tế trọng điểm được tập trung nguồn lực

của cả nước (khu vực Đông Nam Bộ chiếm đến trên 55% giá sản xuất

công nghiệp của cả nước) nhưng mức độ thúc đẩy đối với các địa

phương xung quang hầu như chưa đáng kể Bên cạnh đó, chính sách

đền bù đất đai không bảo đảm lợi ích cho người nông dân trong các

dự án phát triển công nghiệp và đô thị là nguyên nhân gây ra 70% số

các vụ kiện kéo dài ở Việt Nam trong những năm qua

Bất bình đẳng về thu nhập giữa nhóm có thu nhập cao nhất và

thấp nhất có xu hướng ngày càng tăng Năm 1995, nhóm người có thu

nhập cao nhất/nhóm thấp nhất là 6,99 lần; năm 1999 là 7,65 lần; năm

2010 là 9,20 lần

Tạo việc làm ở hầu hết các địa phương trong nước chưa bền

183

Trang 7

vững do rất nhiều nguyên nhân như đào tạo nghề không phù họp với nhu cầu của thị trường lao động, ràng buộc của doanh nghiệp về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn khi bị lấy đất cho dự án công nghiệp không chặt chẽ, quá trình đô thị hóa chưa gắn kết với công nghiệp hóa nên điều kiện sống cho lao động chưa được bảo đảm

Tình trạng thiếu việc làm, thu nhập giảm ở khu vực nông thôn còn trầm trọng, tiềm ẩn nguy cơ thất nghiệp cao ở các khu đô thị hóa, công nghiệp hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất Nông dân chưa thực sự được thụ hưởng những thành quả của công nghiệp hóa Đời sống văn hóa ở vùng nông thôn, nhất là miền núi vùng sâu, vùng xa còn hét sức nghèo nàn Ở một số nơi vẫn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia

- về bảo vệ môi trường

So các mặt kỉnh tế và xã hội thì bảo vệ môi trường ở Việt Nam tồn tại rất nhiều hạn chế.

Thứ nhất, hầu hết các tài nguyên đều bị suy giảm rất đáng kể gây

ảnh hưởng lớn đến chất lượng của môi trường Đa số các tài nguyên quan trọng đều bị khai thác ồ ạt và hết sức lãng phí Tỷ lệ che phủ rừng tuy có tăng nhưng chất lượng giảm sút trầm trọng do rừng nguyên sinh và rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề; tình trạng suy kiệt nguồn nước xảy ra phổ biến ở khắp các vùng miền, nguồn nước mặt

bị ô nhiễm, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, thất thoát nước trên hệ thống cấp nước đô thị và khu công nghiệp cao trung bình hiện nay là 30%1; nhiều loại khoáng sản đang dần bị cạn kiệt; đa dạng sinh học đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về sổ lượng và chất lượng, mức

độ đe dọa và tốc độ suy thoái về hệ sinh thái ngày càng tăng 1

1 Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2011.

184

Thứ hai, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường

còn nhiều hạn chế: Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường tính thực

thi chưa cao Tình trạng vi phạm các quy định về môi trường xảy ra

phổ biến mọi lúc, mọi nơi; năm 2008 có trên 70% khu công nghiệp và

trên 90% cơ sở sản xuất công nghiệp không xử lý nước thải trước khi

thải ra môi trường (mà tiêu biểu là Công ty Vedan)1; Quản lý về quy

hoạch phát triển các loại rừng và khai thác rừng bị buông lỏng ở khắp

các địa phương; Quản lý và bảo vệ môi trường biển và hải đảo còn

nhiều bất cập cả về cơ sở pháp lý, cả về năng lực quản lý;

Thứ ba, ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn nạn đe dọa phát

triển nhanh và bền vững ở nước ta Hiện nay, môi trường có ảnh

hưởng quan trọng và trực tiếp đến cuộc sống của con người và hệ sinh

thái như môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất đã bị

ô nhiễm trầm trọng, các chất độc hại đã vượt nhiều so với tiêu chuẩn

cho phép Thảm họa do thiên tai và biến đổi khí hậu toàn cầu đang gia

tăng nhanh, gây những áp lực ngày càng cao đối với phát triển bền

vững ở nhiều vùng và địa phương trong khi các nguồn lực ứng phó

với những nguy cơ trên còn rất hạn chế

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

- Nhận thức về tầm quan trọng cũng như hiểu biết về nội dung phát

triển nhanh và bền vững của nhiều cơ quan quản lý nhà nước ở Trung

ương và địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề

nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp cũng như của đại bộ phận nhân dân

chưa đầy đủ

- Hệ thống pháp luật, chính sách phát triển tuy đã được bổ sung, hoàn

thiện, song vẫn chưa đồng bộ, chưa kịp thời, có trường hợp còn chồng

chéo, chưa phù hợp giữa các luật, nhất là Luật Đầu tư và Luật Bảo vệ

môi trường Việc ban hành các hướng dẫn triển 1

1 Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2008.

185

khai thực hiện chính sách để thực hiện quan điểm phát triển nhanh và bền vững tại các cấp thực hiện chưa kịp thời, thiếu đồng bộ và thiếu

cụ thể Việc sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường chưa được quan tâm đúng mức Hệ thống thuế, phí, lệ phí và các hình thức xử phạt vi phạm về môi trường chưa đủ mạnh

- Năng lực triển khai các chính sách của Nhà nước ở các bộ, ngành, địa phương còn hạn chế Ý thức thực hiện pháp luật còn thấp trong khi chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe để hạn chể các hành vi tiêu cực Nạn tham nhũng, lãng phí, chạy theo lợi ích cá nhân, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt đang có nguy cơ ngày càng gia tăng dẫn đến hành vi hủy hoại tài nguyên, môi trường

- Trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp, yêu cầu tăng trưởng nhanh để tránh nguy cơ tụt hậu đã dẫn tới việc sử dụng tài nguyên lãng phí

Việc khai thác, sử dụng, xuất khẩu tài nguyên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên không tái tạo trong thời gian qua đang gây ra sự thiếu hụt

về các nguồn tài nguyên cho phát triển kinh tế trong tương lai

- Trong chỉ đạo thực hiện vẫn còn đề cao đạt mục tiêu tăng trưởng kinh

tế cao bằng mọi giá trong khi năng lực nền kinh tế yếu kém đã dẫn đến mất cân đổi vĩ mô Tình trạng chia cắt do phân cấp tràn lan cũng làm cho các bất cập thêm trầm trọng

- Tổ chức thực hiện phát triển bền vững vừa thiếu kiên quyết, vừa chưa

đủ mức (nhất là về tuyên truyền và đầu tư cho phát triển bền vững)

Các quy hoạch, kế hoạch phát triển còn chưa quan tâm nhiều đến phát triển bền vững và biến đổi khí hậu

- Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và các bên liên quan trong việc triển khai thực hiện phát triển bền vững còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ và không chặt chẽ Còn thiếu cơ chế kiểm tra, đánh giá

và giám sát thực hiện phát triển bền vững trong quá trình lập và thực hiện kế hoạch hàng năm, 5 năm cũng như các quy hoạch phát triển

186

- Chưa quan tâm đúng mức vai trò quan trọng của công tác giáo dục

nhân cách, phẩm chất đạo đức con người Việt Nam

2.3 Giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện phát triển nhanh và bền

vững ở Việt Nam

Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đã xác định

“Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền

vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”, với các nội dung chủ

yếu là “phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế

vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu

quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo

chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp

hài hòa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không

ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội

phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trường

Để thực hiện quan điểm phát triển nhanh và bền vững và những

nội dung trên cần tập trung vào những giải pháp cơ bản sau đây:

2.3.1 P h á t triển nguồn nhân lực đủ về số lượng và nâng cao chất

lượng để đáp ứng yêu cầu của đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế

trong giai đoạn mới

Một là, xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển nguồn nhân

lực phù hợp chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chú trọng nguồn nhân

lực đối với các ngành kinh tế mũi nhọn

Hai là, đổi mới toàn diện lĩnh vực giáo dục - đào tạo, nâng cao

chất lượng giáo dục

- Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục - đào tạo

theo hướng tăng cường đào tạo các kỹ năng chuyên sâu, giảm tải thời

gian học lý thuyết, tăng cường thời gian thực hành cho học sinh, sinh

viên

- Xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên đáp ứng sự đổi mới của chưong trình giáo dục - đào tạo Đây có thể coi là một khâu đột

phá để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở Việt Nam hiện nay

- Chú trọng giáo dục đạo đức, tác phong cho người lao động

- Tăng cường nâng cấp chất lượng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở đào tạo, chú trọng xây dựng mới và củng cố các phòng

thí nghiệm, xưởng thực nghiệm của các cơ sở đào tạo, đặc biệt là

đối với cơ sở gắn với đào tạo các chuyên ngành mũi nhọn, các

ngành nghề mới

- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo

Ba là, đổi mới chính sách sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực theo hướng dựa trên

năng lực chuyên môn và hiệu quả thực

hiện công việc

Việc nâng lương, chế độ tiền thưởng phải xét theo mức độ cống hiến là chủ yếu, không nên chỉ dựa vào năm công tác Đối với tuyến

dụng vào các vị trí công việc có tầm ảnh hưởng đến các quyết sách, có

tác động lan tỏa đến nhiều đối tượng cần tiêu chí rõ ràng và coi trọng

Xây dựng chính sách đãi ngộ người tài để thu hút kiều bào và những người có trình độ cao hiện đang làm việc ở nước ngoài

2.3.2 Đ ẩ y mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công

nghệ để nâng cao chất lượng và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế

trong dài hạn

- Phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Phát triển dịch vụ tư vấn để đánh giá công nghệ và làm môi giới công nghệ

Đẩy mạnh cung cấp thông tin thị trường công nghệ thông qua các trang web, trang thông tin chuyên biệt và có thể cung cấp miễn phí cho

các doanh nghiệp

Cần có các giải pháp quyết liệt để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, 188

nâng các mức hình phạt đối với các hành vi vi phạm và nâng cao vai

trò của tòa án đối với những việc xét xử các vụ vi phạm trên

Sửa đổi và bổ sung một số chính sách có đủ sức hấp dẫn nhằm khuyến khích doanh nghiệp tăng tốc độ đổi mới công nghệ

Thực hiện đầy đủ các quy định trong Luật Đầu tư mới để các doanh nghiệp ngoài nhà nước có điều kiện tiếp cận được các nguồn

vốn, chỉ khi đó cầu về sản phẩm khoa học công nghệ mới tăng lên

Cần bổ sung thêm các ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

về đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp thông tin miễn phí và giải quyết

đầu ra cho sản phẩm từ các công nghệ mới áp dụng

Triển khai đầy đủ các quy định trong Nghị định số

80/2006/ND-CP và Luật Khoa học, công nghệ sửa đổi năm 2013 về phát triển

doanh nghiệp khoa học công nghệ để tăng nguồn cung sản phẩm công

nghệ mới cho thị trường Đẩy mạnh khai thác các khu công nghệ cao

và phát triển một số khu công nghệ cao khác tại các trung tâm phát

triển công nghiệp

- Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ Phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ: tạo môi trường làm việc thực sự dân

chủ; chọn các nhà khoa học đầu đàn làm chủ các công trình nghiên

cứu khoa học; quy định mức thù lao, mức thưởng xác định đối với

những người có năng lực sáng tạo, có công trình khoa học được áp

dụng vào thực tiễn; xây dựng quy chế đánh giá cán bộ khoa học

- Thu hút vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn, trong đó chú trọng thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp cho khoa học

và công nghệ

- Hoàn thiện và xây dựng mới cơ sở hạ tầng - kỹ thuật nhằm triển khai các kết quả nghiên cứu, đưa các kết quả nghiên cứu ra thị

trường

- Tăng cường chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại trong các

dự án FDI

Có chính sách khuyến khích thỏa đáng để thu hút đầu tư trực

tiếp của các công ty đa quốc gia (MNCs) Theo kinh nghiệm của hầu

hết các nước đang phát triển trong khu vực thì một trong những mục

tiêu quan trọng của thu hút FDI là thực hiện chuyển giao công nghệ từ

các MNCs cần tranh thủ mọi thời cơ và có những quy định mạnh dạn

hơn nữa để tạo hấp dẫn cho các nhà đầu tư, các công ty từ các nước

phát triển đầu tư và chuyển giao công nghệ nguồn vào Việt Nam

- Tham gia tích cực vào họp tác quốc tế về khoa học và công nghệ

2.3.3 P h á t triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ và hiện đại,

đáp ứng nhu cầu chuyển đỗi mô hình tăng trưởng kỉnh tế

- Rà soát các dự án đầu tư vào kết cấu hạ tầng, để bổ sung các dự án

mới theo quy hoạch đã được hoàn thiện và cương quyết loại bỏ những

dự án đầu tư không phù hợp, gây lãng phí cho nguồn lực xã hội Tiếp

tục hoàn thiện khung khổ pháp luật để tăng cường thu hút các nguồn

lực xã hội cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, khuyến khích đầu tư

theo mô hình công - tư kết họp (PPP), đầu tư tư nhân và đầu tư nước

ngoài vào lĩnh vực này

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công vào xây dựng kết cấu hạ

tầng kinh tế, xã hội Tập trung đầu tư công cho các công trình trọng

điểm Rà soát sắp xếp các danh mục, dự án của Nhà nước theo mục

tiêu ưu tiên đầu tư

- Rà soát, sửa đổi bổ sung quy định về lãi suất đầu tư đối với công

trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng từ nguồn vốn ngân sách

- Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát đầu tư vào kết cấu hạ tầng,

thực hiện triệt để các biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham

nhũng đối với lĩnh vực này

2.3.4 Tăng cường bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường

sinh thái

- Hoàn chỉnh hệ thống chính sách và văn bản quy phạm pháp

luật về phát triển bền vững thông qua việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ

sung các văn bản hiện hành phục vụ việc hoàn thiện thể chế phát triển

bền vững, phù họp với luật pháp quốc tế

- Tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi

trường ở tất cả các cấp quản lý là một trong những công tác trọng

điểm nhằm thực hiện thắng lợi Định hướng chiến lược phát triển bền

vững ở Việt Nam

Đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ cho các tổ chức và đội ngũ cán bộ có liên quan đến công tác quản lý môi trường

ở các cấp

Thành lập tổ chức quản lý môi trường tại các bộ, ngành để thực hiện chức năng quản lý môi trường của ngành

Tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu và quan trắc môi trường

Tăng cường hệ thống thông tin môi trường quốc gia, ngành và địa phương

Xây dựng hệ thống hạch toán kinh tế môi trường; sử dụng các công cụ kinh tế để thúc đẩy công tác bảo vệ môi trường

Đẩy mạnh việc sử dụng các công cụ tài chính phục vụ cho phát triển bền vững

- Huy động toàn cộng đồng tham gia tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi

trường: Tuyên truyền những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc cùng

với những tinh hoa văn hóa nhân loại trong việc ứng xử với thiên

nhiên và môi trường; phát huy vai trò xung kích của thanh niên, vai

trò giáo dục của nhà trường và gia đìrỉh của phụ nữ trong các phong

trào bảo vệ môi trường

công tác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm bền vững; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và các

chính sách an sinh xã hội

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo theo hướng

bền vững; giảm bớt sự gia tăng chênh lệch về mức sống của các vùng, các nhóm xã hội; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

- Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, hiệu quả Đẩy mạnh thực hiện các chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ người nghèo, đối tượng dễ

bị tổn thương

- Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao tính minh bạch quản trị quốc gia và phòng, chống tham nhũng Tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan trong tổ chức thực hiện Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy các cấp để đảm nhiệm công tác quản lý phát triển bền vững;

- Lồng ghép các quan điểm, nguyên tắc phát triển bền vững trong các chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển; đảm bảo việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia phải gắn với Định hướng phát triển bền vững đã được Chính phủ thông qua và phải được kiểm tra, đánh giá theo các tiêu chí, chỉ tiêu phát triển bền vững một cách thường xuyên, chặt chẽ;

- Xây dựng các chương trình/kế hoạch hành động các cấp để thực hiện định hướng phát triển bền vững;

- Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, cập nhật để hoàn thiện bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững cho phù họp với từng giai đoạn phát triển;

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong thực hiện định hướng phát triển bền vững, thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các chính sách, các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển bền vững;

- Tăng cường, áp dụng nghiêm minh các chế tài hình sự, hành chính có nội dung bảo đảm phát triển bền vững; có chính sách khen thưởng rõ ràng, những tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo đảm phát triển bền vững

192

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tham khảo bắt buộc

1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Định hướng chiến lược phát triển

bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam), Hà

Nội, tháng 8-2004, tr.3-27 vàtr.79-134.

2 Báo cảo Tổng kết thực hiện Định hướng chiến lược phát triển

bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 và Định hướng 2011-2015.

3 Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chiến lược bảo vệ môi trường

quốc gia đến năm 2020, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2004.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứXI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011.

5 Hoàng Ngọc Hòa (Chủ biên): Tập bài giảng phát bền vững,

Nxb.Đại học Kinh tế quốc dân, H.2006, tr.10-35

6 Ngô Doãn Vịnh (Chủ biên): Nguồn lực và động cho phát triển

nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020,

Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr 147-176.

Tài liệu tham khảo không bắt buộc

1 Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Friedrich Ebert

Stiftung: Chính trị và phát triển bền vững trong bổi cảnh toàn cầu

và hội nhập, những vấn đề lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu Hội thảo

khoa học quốc tế),H.2009, tr.142-147, 148-176 và 599-605.

2 Đinh Văn Ân, Hoàng Thị Hòa (Chủ biên): Vượt qua thách

thức, mở thời cơ phát triển bền vững, Nxb.Tài chính, H.2009, tr.l

15-145

http://vatvietnam.com/blog/2012/02/02

193

4 Nguyên Văn Huyên: Phát triển bền vững Một thuyết phát triển trong

thế giới đương đại, http://www.hanhchinhcom.vn /forum/

showhread/php?t=71807&page- 1

5 Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến

lược phát triển kỉnh tế - xã hội ở nước ta Bài phát biểu của Thủ tướng

Nguyễn Tấn Dũng, vncp.vn/cp4bp/index.php option =

com_conten&viewarticle&catid=99phat-tr-nhanh-va-bn-vng

194

Ngày đăng: 29/07/2016, 12:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w