Câu cầu khiến có cấu tạo cú pháp và nghĩa biểu hiện gồm vị tố là động từ nói năng chỉ sự sai khiến, chủ ngữ chỉ một thực thể có năng lực điều khiển thực thể khác, tân ngữ chỉ đích thể củ
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, với sự phát triển của khuynh hướng
ngữ pháp chức năng, lý thuyết ba bình diện đã được dùng để soi sáng các hiện tượng ngôn ngữ ở bình diện ngữ pháp, trong đó được chú ý nhiều nhất là cấp
độ câu, bởi “câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ trong đó cả ba bình diện đều được thể hiện” [37, 19] Với lý thuyết này, không chỉ mặt ngữ pháp mà cả mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu đã trở thành đối tượng nghiên cứu quan trọng và ngày càng thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà ngôn ngữ học Điều này có thể thấy rõ qua một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp theo khuynh hướng chức năng được công bố gần đây Tuy nhiên, đến nay, việc vận dụng lý thuyết về các bình diện này để nghiên cứu các kiểu câu cụ thể trong
đó câu có ý nghĩa nhân quả trong tiếng Việt vẫn chưa thực sự được chú ý
1.2 Câu có ý nghĩa nhân quả (câu nhân quả) là kiểu câu có những đặc
điểm cú pháp, ngữ nghĩa khá phức tạp và được dùng phổ biến trong các loại văn bản Nhiều khía cạnh của phạm trù câu nhân quả chưa được quan tâm đầy
đủ ( chẳng hạn, khái niệm câu nhân quả, phạm vi của kiểu câu này, các kiểu câu nhân quả, đặc điểm tổ chức ngữ nghĩa của câu nhân quả…) Điều này đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung và dạy học câu nói riêng
1.3 Nghiên cứu câu nhân quả trên bình diện cú pháp và nghĩa biểu hiện
thực chất là việc tìm hiểu sự vận động và kết quả hoạt động tư duy (sự lập luận theo quan hệ nhân quả) của con người được biểu hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ Việc nghiên cứu kiểu câu này sẽ giúp thấy được nét đặc thù trong cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong tiếng Việt, mối tương quan giữa mặt hình thức và mặt nội dung trong tiếng Việt nói riêng và trong ngôn ngữ nói chung, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt
Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề Câu có ý nghĩa nhân quả trong tiếng Việt làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
Trang 2và ngoài nước; nghiên cứu làm rõ đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa của câu nhân quả qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, nghiên cứu về câu tiếng Việt nói riêng và ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đây, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản trong lí thuyết ba bình diện của câu (kết học, nghĩa học và dụng học) để làm cơ sở lí luận cho đề tài
- Xác định, làm rõ các khái niệm cú pháp, ngữ nghĩa cơ bản liên quan đến việc nghiên cứu câu nhân quả về cú pháp và nghĩa biểu hiện
- Phân tích, miêu tả đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) của câu nhân quả trong tiếng Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là câu nhân quả trong tiếng Việt hiện đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu câu nhân quả được biểu hiện bằng quan
hệ từ và động từ gây khiến trong tiếng Việt hiện đại trên bình diện cú pháp và ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện)
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả
nhằm làm nổi bật đặc điểm về cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu nhân quả
Trang 3Chúng tôi thu được 1151 câu nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ
và 1650 câu nhân quả được biểu hiện bằng động từ gây khiến làm, khiến được
thống kê từ một số tác phẩm văn học Việt Nam Kết quả này là cơ sở giúp chúng tôi nhận diện, phân tích và miêu tả các kiểu cấu trúc của câu nhân quả
về cú pháp và ngữ nghĩa đạt hiệu quả cao
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về 2 kiểu câu có ý nghĩa nhân quả: câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ và câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng động từ gây khiến trên bình diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) qua đó bổ sung và làm sâu sắc thêm lý thuyết về câu nhân quả nói chung và câu nhân quả tiếng Việt nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án đã góp phần:
- Làm rõ một số khía cạnh lý thuyết về cú pháp và ngữ nghĩa của câu nói chung
- Bổ sung làm rõ thêm cách hiểu về khái niệm câu nhân quả và câu nhân quả trong tiếng Việt
- Miêu tả làm rõ đặc điểm cú pháp của câu nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ và động từ gây khiến
- Miêu tả làm rõ đặc điểm tổ chức ngữ nghĩa của câu nhân quả qua việc phân tích đặc điểm cấu tạo của các hằng tố, mối quan hệ tương tác và vai trò ngữ nghĩa của chúng đối với tổ chức ngữ nghĩa của câu
Trang 44
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào việc nghiên cứu các kiểu câu trong tiếng Việt cũng như sử dụng vào việc biên soạn các tài liệu phục vụ việc dạy ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt nói chung, câu tiếng Việt nói riêng
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Danh mục nguồn ngữ liệu, nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 2 Câu có ý nghĩa nhân quả trong tiếng Việt xét trên bình diện cú pháp
Chương 3 Câu có ý nghĩa nhân quả trong tiếng Việt xét trên bình diện nghĩa biểu hiện
Trang 55
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu câu (cấu trúc) nhân quả trên thế giới
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học như L.Alterberg, George Lakoff, L.Talmy, R.Jackendoff, V.P.Nedjalkov và G.G.Silniskij đã có những công trình nghiên cứu về quan hệ nhân quả và cấu trúc nhân quả trong các loại văn bản
a L.Alterberg (1984) trong công trình Causal linking in spoken and written English (Nhân quả liên kết trong văn nói và viết tiếng Anh) đã xác
định trên thực tế gần một trăm liên kết rõ ràng nhất có thể cho mã hóa một mối quan hệ nhân quả giữa hai mệnh đề, trong đó, ông đặc biệt chú ý đến việc phân loại các kết từ nguyên nhân - hệ quả L.Alterberg đã chia các kết từ thành bốn loại chính:
i Kết từ trạng ngữ như so, hence, therefore (như vậy, do đó, do đó)
ii Kết từ giới từ như because of, on account of (vì, trên sự mô tả của) iii Kết từ như because as, since (bởi vì như, kể từ)
iv Kết từ hợp nhất mệnh đề như that’s why, the result was (đó là lý do tại sao, kết quả là) [111]
b George Lakoff (1987) trong công trình Women, Fire, and Dangerous Things (Đàn bà, lửa và những điều nguy hiểm) cho rằng quan hệ nhân quả
nguyên mẫu được đặc trưng bởi nhóm 10 tính chất tác động qua lại giữa tác nhân và khách thể sau đây:
i There is an agent that does something
(Có một tác nhân thực hiện một việc gì đó.)
ii There is a patient that undergoes a change to a new state
(Có một khách thể (hay bị thể) trải qua một sự thay đổi đến trạng thái mới.)
iii Properties 1 and 2 constitute a single event; they overlap in time
and space; the agent comes in contact with the patient
(Tính chất 1 và 2 tạo nên một sự kiện đơn, chúng diễn ra trong cùng một thời gian và không gian, tác nhân tiếp xúc với khách thể.)
Trang 66
iv Part of what the agent does (either the motion or the exercise of
will) precedes the change in the patient
(Một phần của những gì mà tác nhân thực hiện (hoặc là chuyển động hoặc là ý chí) xảy ra trước sự thay đổi của khách thể.)
v The agent is the energy source; the patient is the energy goal;
there is a transfer of energy from agent to patient
(Các tác nhân là nguồn năng lượng; khách thể là mục tiêu năng lượng; có một sự chuyển giao năng lượng từ tác nhân đến khách thể.)
vi There is a single definite agent and a single definite patient
(Có một tác nhân xác định duy nhất và một khách thể xác định duy nhất.)
vii The agent is human (Tác nhân là con người.)
viii - The agent wills his action (Tác nhân quyết định hành động của
ix The agent uses his hands, body, or some instrument
(Tác nhân sử dụng đôi tay, cơ thể của mình, hoặc một số thiết bị.)
x The agent is looking at the patient, the change in the patient is
perceptible, and the agent perceives the change
(Các tác nhân đang hướng vào khách thể, sự thay đổi ở khách thể
là có thể nhận thức được, và tác nhân nhận thấy sự thay đổi.) [114]
c Masayoshi Shibatani (1976) đã đề xuất ý niệm của “because” có thể được phân tích theo cấu trúc tương tác và phủ định như sau: “nếu sự kiện X không xảy ra thì sự kiện Y cũng không xảy ra” Mối quan hệ giữa hai sự kiện X
Trang 7i Các tình huống độc lập- không gây khiến
Ví dụ: The vase broke (Cái lọ vỡ.)
ii Gây khiến kết quả - tình huống
Ví dụ: The vase broke from a ball’s rolling into it
(Cái lọ vỡ vì quả bóng lăn vào nó.) iii Gây khiến nguyên nhân - tình huống
Ví dụ: A ball’s rolling into it broke the vase
(Một quả bóng lăn động vào làm cái lọ vỡ.)
iv Gây khiến công cụ
Ví dụ: A ball broke the vase (Một quả bóng làm vỡ cái lọ.)
v Tác thể gây khiến - không chủ ý
Ví dụ: I broke the vase in rolling a ball into it
(Tôi làm vỡ chiếc lọ khi lăn quả bóng vào nó.)
vi Tác thể gây khiến có chủ ý
Ví dụ: I broke the vase by rolling a ball into it
(Tôi làm vỡ chiếc lọ bằng cách lăn một quả bóng vào nó.) vii Tình huống bị thể - không gây khiến
Ví dụ: My arm broke when I fell
(Cánh tay tôi bị gãy khi tôi ngã.) viii Gây khiến tự tác thể
Ví dụ: I walked to the store (Tôi đi đến cửa hiệu.)
ix Gây khiến tác động quy nạp
Ví dụ: I sent him to the store (Tôi bảo nó đến cửa hiệu.) [116]
Trang 88
e Cliff Goddard (1998) trong công trình Semantic analysis: A practical introduction (Phân tích ngữ nghĩa: Dẫn luận thực hành) đề cập đến vai trò của từ because (bởi vì) trong việc giải thích cấu trúc gây khiến - kết quả với những động từ make (làm), have (bảo), break (vỡ/làm vỡ/làm gãy), clean (lau), kill (giết chết)[113]
f R.Jackendoff (1995) trong công trình The English resultative as a family
of constructions (Các cấu trúc nhân quả trong tiếng Anh như một tập hợp có tính kiến tạo) đã đề cập đến các cấu trúc chỉ nguyên nhân, trong đó đề cao vai trò của
động từ trong các cấu trúc nhân quả
Trong công trình này, những động từ như giết, ném, chặt, vỡ, mở, thực hiện, gây ra hoặc có đều được coi là những động từ chỉ nguyên nhân,
cho dù thuộc động từ hay biến tố, vị ngữ chỉ nguyên nhân áp đặt hình ảnh trên thân động từ hoặc động từ nguyên thể mô tả quá trình phát động: đó là hành động nguyên nhân
Theo R.Jackendoff, chủ ngữ của V luôn luôn là tân ngữ của động từ chỉ nguyên nhân trong trường hợp V là nội động từ, nhưng khi V là ngoại động từ, thì tân ngữ của V sẽ trở thành tân ngữ của động từ chỉ nguyên nhân, chủ ngữ của
V được biểu hiện bằng một bổ ngữ gián tiếp (thường là một tân ngữ gián tiếp)
Ví dụ:
(a) I will make the witness cry (Tôi sẽ làm cho nhân chứng khóc.) (b) I will make the lawyer question the witness (Tôi sẽ làm cho luật sư
hỏi cung nhân chứng.)
Trong câu (a), "nhân chứng" được hiểu như là "chủ thể theo lôgic" của nội động từ "khóc", và hiển nhiên là tân ngữ trực tiếp của cụm động từ chỉ nguyên nhân “sẽ làm” Trong câu (b) "nhân chứng" là tân ngữ trực tiếp của động từ “hỏi cung”, trong khi "luật sư" là chủ thể logic của "hỏi cung" nhưng lại là tân ngữ gián tiếp của cả câu [112]
g V.P.Nedjalkov và G.G.Silniskij (1969) trong công trình
Tunoлогuя кayзаmuвных консmpyкцuй (Loại hình học các cấu trúc nhân quả), đặc biệt chú ý xác định và miêu tả các hằng tố (константы) tham
gia tổ chức nghĩa biểu hiện câu
Trang 99
Theo các tác giả của công trình này, hiện thực có thể được xem như một
tập hợp các sự kiện hoặc sự tình Sự tình được chia thành: sự tình đơn giản và sự tình phức tạp
Sự tình đơn giản (sự tình tối thiểu) được hiểu là sự tình gồm hai hằng tố
Ví dụ: Cветит сольце (Mặt trời chiếu sáng) biểu thị một sự tình đơn
giản trong đó một hằng tố biểu thị sự vật mang thuộc tính (được kí hiệu là r) và
một hằng tố biểu thị thuộc tính (hành động, trạng thái, đặc điểm của sự vật, được
kí hiệu là s) Cụ thể, trong câu được dẫn trên đây, sự vật được biểu thị bằng danh
từ (сольце - mặt trời) còn trạng thái được biểu thị bằng светит (chiếu sáng)
Sự tình phức tạp là sự tình gồm tối thiểu hai sự tình đơn giản trở lên
Ví dụ: Oн видит, как она пьет воду (Nó thấy cô ấy uống nước.)
Мы вернулись, так как погода испортилась
(Chúng tôi quay lại vì thời tiết xấu)
Sự tình được biểu thị bởi câu trên đây được gọi là sự tình nhân quả
Trong công trình này, các tác giả đã đưa ra 15 mẫu cấu trúc về sự tình nhân quả
Bảng 1.1 Các kiểu cấu trúc nhân quả của V.P.Nedjalkov và G.G Silniskij
Hệ từ nhân quả
Chiết đoạn bậc 2
Kiểu cấu trúc nhân quả
Chiết đoạn bậc 1
Hệ từ nhân quả
Chiết đoạn bậc 2
Ghi chú: a Cấu trúc thuộc ngữ; c: Cấu trúc chủ vị
x: Danh từ (đại từ); H: Cấu trúc gián tiếp (hai thành tố không có quan hệ cú pháp trực tiếp mà chỉ có quan hệ ý nghĩa
Trang 1010
Dưới đây là sự minh họa cụ thể về từng kiểu cấu trúc nhân quả
T1: Мы вернулись из-за болезни брата (Chúng tôi quay lại vì bệnh
tình của người anh)
Ở câu này, Мы вернулись là chiết đoạn bậc 1 (là cấu trúc chủ vị); из-за
là giới từ; болезни брата là cấu trúc thuộc ngữ
Я знаю это благодаря его сообщению (Tôi biết điều đó nhờ sự
thông báo của anh ấy.)
T2: Начался дождь поэтому мы вернулись (Đã bắt đầu mưa cho nên
chúng tôi quay lại)
Мы вернулись так как начался дождь (Chúng tôi quay lại vì bắt đầu mưa.)
T3: Ты виноват в её смерти (Anh có lỗi trong cái chết của cô ấy.)
T4: Твоя ощибка - причина нашего поражения (Sai lầm của anh là
nguyên nhân thất bại của chúng ta.)
T5: Ты виновник в её смерти (Anh là thủ phạm trong cái chết của cô ấy.)
T6: Он подозвал меня (Anh ta gọi tôi đến.)
T7: Они избрали его секретарем (Họ bầu anh ấy làm thư kí.)
Они назвали сына Иваном (Họ đặt tên đứa con trai là Ivan.)
T8: Его рассказ расспешил меня (Câu chuyện của anh ấy khiến tôi bật cười.)
T9: Он приказал (ей) чтобы она ушла (Anh ấy ra lệnh cho cô ta ra đi.)
T10: Он разрешил наш отъезд (Ông ấy cho phép (ủng hộ) chuyến đi
của chúng tôi.)
T11: Я разрешил ему уйти (Tôi cho phép anh ta ra đi.)
Я попросил его о помощи (Tôi yêu cầu anh ấy giúp đỡ.)
T12: Его появление вызвало всеобщий переполох (Sự xuất hiện của
anh ta khiến mọi người sợ hãi.)
T13: Его появление впнудило нас удалиться (Sự xuất hiện của anh ta
buộc chúng tôi phải tránh đi.)
Его cлова полкнули её на преступление (Những lời nói của anh
ta đẩy cô ấy đến tội lỗi.)
Т14 Я добился его cогласия (Tôi đã đạt được sự đồng ý của ông ấy.)
T15: Он оставил меня в покое (Anh ta đã để tôi được yên.)
Trang 1111
Như các ví dụ trên cho thấy, một vài động từ nhân quả có thể dùng
để cấu tạo cấu trúc nhân quả các kiểu khác nhau (xem những ví dụ về các kiểu cấu trúc T10 và T11) [118]
Như vậy, đến nay, câu hay cấu trúc có ý nghĩa nhân quả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu kiểu câu hay cấu trúc này theo những hướng khác nhau với những ngữ liệu phong phú Dù các kết quả nghiên cứu được nhắc đến trên đây còn nhiều điều phải bàn thêm nhưng những nghiên cứu này đã có đóng góp rất quan trọng cho việc nghiên cứu câu có ý nghĩa nhân quả và là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo
1.1.2 Tình hình nghiên cứu câu nhân quả ở Việt Nam
Ở Việt Nam, câu (cấu trúc) nhân quả và mối quan hệ nguyên nhân - kết quả, điều kiện - hệ quả và động từ gây khiến đã được một số nhà nghiên cứu
quan tâm, như Hoàng Trọng Phiến (1980), Tập thể tác giả của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983), Trần Ngọc Thêm (1985, 2006), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1992), Nguyễn Thị Quy (1995), Diệp Quang Ban (1996, 2009),
Lê Biên (1996), Nguyễn Đức Dân (1998, 2004), Nguyễn Văn Lộc (2004), Nguyễn Thị Kim Quyên (2007), Nguyễn Khánh Hà (2008), Nguyễn Thị Thu
Hà (2008), Lê Thị Minh Hằng (2009), Nguyễn Văn Hiệp (2009), Nguyễn Thị Thu Hương (2010), Nguyễn Văn Thành (2013)
a Hoàng Trọng Phiến đã xếp câu nhân quả vào câu ghép qua lại hai chiều “Các vế của câu biểu thị quan hệ nguyên nhân và kết quả, quan hệ lý
do và kết luận” [71, 210] Tác giả đã tổng kết được 81 mô hình câu nhân quả với 19 tiểu nhóm, hoàn toàn theo tiêu chí hình thức [71, 245 - 248]
Khi nghiên cứu về các thành phần câu và tổ chức của câu nhân quả, Hoàng Trọng Phiến còn đề cập đến trạng ngữ chỉ nguyên nhân: “Chỉ sự duyên
cớ may rủi của sự việc được chủ ngữ và vị ngữ nêu ra” [71, 131] Về vị trí, trạng ngữ chỉ nguyên nhân ở cuối câu có thể chuyển vào giữa kết cấu chủ vị hoặc lên đầu câu Trạng ngữ chỉ nguyên nhân ở cuối câu có cách cấu tạo thêm
là trước phần chỉ nguyên nhân Trạng ngữ chỉ nguyên nhân bao giờ cũng có những giới từ vì, do, bởi, tại làm tín hiệu [71, 131]
Trang 1212
Hoàng Trọng Phiến cũng xếp những câu có chứa động từ khiến vào
nhóm câu trung gian giữa câu đơn và câu ghép, ông gọi đó là sự phức tạp hoá câu đơn, hay còn gọi là kiểu câu móc xích Kiểu câu này có mô hình tương ứng như sau: D1Đ1D2Đ2
b Các tác giả thuộc Uỷ ban khoa học xã hội trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đã phân loại, miêu tả một cách cụ thể cấu tạo của câu ghép, trong đó, câu
ghép được chia thành câu ghép song song và câu ghép qua lại
Theo các tác giả, “đặc điểm quan trọng của nòng cốt - nòng cốt đơn hay nòng cốt ghép - là khả năng độc lập về ngữ pháp, tức là khả năng làm thành câu - câu đơn hay câu ghép Khi đứng độc lập làm thành phần câu, nòng cốt đơn có vai trò biểu thị một quá trình tư duy và thông báo hoàn chỉnh” [110, 217]
c Cao Xuân Hạo áp dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng để khảo sát câu tiếng Việt trong đó có câu nhân quả
Khi đề cập đến khung đề của câu, Cao Xuân Hạo cho rằng, những loại
trạng ngữ chỉ phương thức, chỉ mức độ, chỉ tương quan so sánh, chỉ nguyên nhân, chỉ thời hạn, chỉ thời gian không xác định, chỉ mục đích, chỉ sự nhượng
bộ dù có đưa ra phía trước cũng không thể coi là khung đề được, bởi đó
không phải là những “điều kiện trong đó những điều nói sau có hiệu lực”, không phải là “phạm vi ứng dụng của phần Thuyết” [37, 164 - 165]
Như vậy, theo Cao Xuân Hạo thành tố chỉ nguyên nhân trong câu nhân quả không thể là khung đề trong tổ chức cú pháp của câu
d Hồ Lê dựa vào tính chất của mối quan hệ ngữ nghĩa để phân loại câu điều kiện - hệ quả Theo đó, bốn dạng câu cụ thể sau đây thuộc về hai lớp khác
nhau của kiểu chung là “câu điều kiện - hệ quả”
i Câu điều kiện - hệ quả có điều kiện giả định thuận với hệ quả:
nếu thì , hễ thì , giá mà , phải chi , giả sử
ii Câu điều kiện - hệ quả có điều kiện giả định nghịch với hệ quả:
dù cho , cho dù , dù , dầu
iii Câu điều kiện - hệ quả có điều kiện thực thuận với hệ quả:
vì nên , do , tại , hèn chi
iv Câu điều kiện - hệ quả có điều kiện thực nghịch với hệ quả:
mặc dù nhưng , tuy nhưng [57]
Trang 1313
Như vậy, theo Hồ Lê, câu có ý nghĩa nhân quả (kiểu iii) thuộc loại chung hơn là câu điều kiện - hệ quả và thuộc kiểu câu điều kiện - hệ quả có điều kiện thực thuận với hệ quả
e Diệp Quang Ban trong công trình Ngữ pháp Việt Nam, phần Câu, gọi câu nhân quả có vị ngữ là các động từ gây khiến ( làm cho, khiến cho) là
“câu chứa chủ ngữ nguyên nhân”
Về cấu trúc cú pháp, câu chứa chủ ngữ nguyên nhân gồm một số kiểu cụ thể với những dạng chuyển tiếp khá phức tạp và những dạng này không được dùng đều đặn như nhau Về nghĩa biểu hiện, sự thể trong kiểu câu này thuộc lĩnh vực các mối quan hệ trừu tượng Mối quan hệ giữa chủ ngữ với vị tố là mối quan hệ nguyên nhân, chủ ngữ chỉ nguyên nhân hay là sự việc - nguyên nhân và vị tố chỉ hệ quả, quan hệ đó là quan hệ cảnh huống, cụ thể là chỉ nguyên nhân và thuộc kiểu nhỏ nêu thuộc tính Hệ quả có thể là sự thể động hoặc sự thể tĩnh Về mặt logic, quan hệ nhân quả là quan hệ giữa hai sự kiện:
sự kiện 1 là nguyên nhân, sự kiện 2 là hệ quả Hai sự kiện này phải thỏa mãn ba điều kiện sau đây mới có được quan hệ nguyên nhân:
- Sự kiện 1 là nguyên nhân phải có trước sự kiện 2 là hệ quả
- Sự kiện 1 phải còn hiệu lực cho đến khi sự kiện 2 xuất hiện
- Sự kiện 1 phải là sự kiện cần và đủ để có sự kiện 2
Theo Diệp Quang Ban, câu có ý nghĩa nhân quả thuộc 3 kiểu:
+ Câu đơn:
Ví dụ: Chuột chạy vỡ đèn
+ Câu phức (chủ ngữ chỉ nguyên nhân, còn vị ngữ do làm, khiến biểu thị):
Ví dụ: Bão làm cây đổ
+ Câu ghép (gồm 2 vế có quan hệ nhân quả):
Ví dụ: Nhờ thời tiết tốt cho nên mùa màng bội thu [9, 164 - 190]
Như vậy, theo Diệp Quang Ban, câu nhân quả có 3 dạng cấu tạo là: câu đơn, câu phức và câu ghép
f Nguyễn Văn Lộc (2004) trong công trình Động từ ngữ pháp trong tiếng Việt, đã đề cập đến một số nhóm các động từ ngữ pháp trong tiếng Việt
ở cả mặt ngữ nghĩa lẫn mặt ngữ pháp
Trang 1414
Trong công trình này, Nguyễn Văn Lộc đã miêu tả các nhóm động từ
tiêu biểu như: động từ chỉ hoạt động - quan hệ đồng nhất và chức nghiệp (là, làm), động từ chỉ hoạt động - quan hệ bị động (bị, được), động từ chỉ hoạt động - quan hệ nguyên nhân (làm, khiến)
Nhóm động từ chỉ hoạt động - quan hệ nguyên nhân (làm, khiến) có các
mô hình kết trị sau đây:
Bính ứa nước mắt khiến Năm phì cười (Nguyên Hồng)
Cũng như chủ ngữ trong câu có sắc thái đánh giá, chủ ngữ là cụm C-V trong kiểu câu này cũng có thể được danh hóa Ví dụ:
Cô ấy ra đi khiến tôi buồn vô hạn
Sự ra đi của cô ấy khiến tôi buồn vô hạn
Việc cô ấy ra đi khiến tôi buồn vô hạn [48, 358-359]
Trong công trình này, Nguyễn Văn Hiệp không đề cập cụ thể đến kiểu
câu nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ (vì nên, do nên ) mà chỉ đề
cập đến kiểu câu nhân quả có chứa các vị từ chuyên biểu thị quan hệ nhân quả
(làm, khiến)
Trang 1515
j Nguyễn Thị Quy cho rằng, cần phải phân biệt câu nhân quả với câu cầu khiến Trong câu nhân quả, tác thể có thể có năng lực điều khiển hoặc không có năng lực điều khiển Động từ tham gia vào cấu trúc này không phải là động từ chỉ sự nói năng và bị thể có thể là con người và có thể là vật hoặc các hiện tượng tự nhiên
Ví dụ:
Nó đánh tôi ngã
Cơn lốc hôm qua đã làm sập nhà
Câu cầu khiến có cấu tạo cú pháp và nghĩa biểu hiện gồm vị tố là động từ nói năng chỉ sự sai khiến, chủ ngữ chỉ một thực thể có năng lực điều khiển thực thể khác, tân ngữ chỉ đích thể của sự sai khiến và là thực thể nhận lệnh đồng thời cũng là động thể/hành thể trong quan hệ với nội dung lệnh,
và một bổ ngữ chỉ nội dung lệnh Nội dung lệnh này là việc, sự thể mà động thể ở tân ngữ thực hiện [74, 68 - 71]
g Trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên coi “động từ gây khiến là
những động từ chỉ vận động có tác động gây khiến, chi phối hoạt động của đối tượng” [10 ,79] Theo ông, “động từ gây khiến đòi hỏi phải có hai bổ ngữ: một
bổ ngữ (A1) là đối tượng chịu tác động của động từ gây khiến, thường là danh
từ và có thể là đại từ xưng hô; bổ ngữ thứ hai (A2) là bổ ngữ nội dung do hành động chủ thể (động từ gây khiến) chi phối, tác động gây ra ở đối tượng, vì vậy,
bổ ngữ chỉ nội dung thường là động từ, tính từ (hoặc một ngữ động từ, ngữ tính
từ…)” Sơ đồ cấu trúc của động từ gây khiến là: A - V - A 1 - A 2
Hai bổ ngữ (A1, A2) đều bị chi phối của động từ gây khiến nhưng chúng vẫn có quan hệ với nhau Nếu tách A1 - A2 ra thì đó là một kết cấu chủ -
vị có nội dung thông báo, miêu tả hoàn chỉnh
Những động từ gây khiến theo Lê Biên gồm: sai, bảo, đề nghị, yêu cầu, cho, cho phép, khuyên, cấm, ngăn cản, khiến (cho), làm (cho), làm…
k Nguyễn Khánh Hà trong Câu điều kiện trong tiếng Việt nhìn từ góc
độ ngôn ngữ học tri nhận, khi chỉ ra các đặc điểm ngữ nghĩa của câu điều
kiện điển mẫu đã cho rằng “quan hệ giữa hai mệnh đề của câu điều kiện là
quan hệ nhân quả giả định: điều kiện A là nguyên nhân dẫn đến hệ quả B
Trang 1616
Dấu hiệu xác nhận quan hệ nhân quả giữa mệnh đề A và B là khả năng thay
thế cặp từ công cụ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả nối chúng (nếu…thì…, giá…thì…, hễ…thì…) bằng liên từ nhân quả hoặc cặp liên từ nhân quả vì…nên… Tuy nhiên, khác với loại quan hệ nhân quả được biểu thị bằng cặp liên từ vì…nên…, quan hệ nhân quả giả định là loại quan hệ nhân quả không
thực hữu, trong đó cả điều kiện A lẫn hệ quả B đều chỉ là giả định của người
nói” [33, 49]
l Trong luận văn thạc sĩ Vị từ gây khiến trong tiếng Việt, Nguyễn Thị Kim Quyên coi “vị từ gây khiến là vị từ hành động biểu thị những hành động đưa đến những biến đổi về mặt vật lí của đối tượng nhận sự tác động” Tác giả cũng đã phân biệt rõ động từ gây khiến (khiến, khiến cho, làm cho, bắt, buộc ) với động từ cầu khiến (sai, nài, gọi, đòi ), và đưa ra một danh sách
gồm 352 vị từ gây khiến, cùng các đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp, chức năng cú pháp khi hoạt động trong câu của vị từ gây khiến [75]
m Nguyễn Thị Thu Hương (2010) trong Luận án Tiến sĩ Cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và tiếng Việt, trên cơ sở kết quả khảo sát về
cấu trúc này đã đưa ra các kết luận sau đây:
(a) Về mặt ngữ pháp, tiếng Anh có 3 dạng chính là: (i) cấu trúc gây khiến - kết quả hình thái học, (ii) cấu trúc gây khiến - kết quả từ vựng tính và (iii) cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp Tiếng Việt chỉ có 2 loại cấu trúc gây khiến - kết quả: (i) cấu trúc gây khiến - kết quả từ vựng tính và (ii) cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp Ở dạng chủ động của hai ngôn ngữ, cấu trúc gây khiến - kết quả đều có các thành tố ngữ nghĩa được mã hóa tương tự nhau về mặt ngữ pháp Cấu trúc gây khiến kết quả chủ động đều có các mô hình cú pháp điển hình là SVO, S1V1S2V2 và S1VS2A Tiếng Anh có 12 dạng cấu trúc gây khiến - kết quả và tiếng Việt có 4 dạng
(b) Về mặt ý nghĩa, cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh có phạm
vi rộng hơn tiếng Việt, bao gồm cả các hoạt động cầu khiến Những biến đổi mang tính vật lý trong tiếng Anh thường được biểu hiện bằng các cấu trúc gây khiến - kết quả từ vựng tính, còn trong tiếng Việt, các tác động gây khiến - kết quả này lại được diễn tả bởi các cấu trúc gây khiến - kết quả cú pháp [51, 191-192]
Trang 1717
n Nguyễn Văn Thành (2013) trong Luận án Tiến sĩ Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt đã đưa ra các
kết luận như sau:
(a) Cấu trúc logic nhân quả từ sự kết hợp giữa hai cơ chế trong mối liên
hệ với nguyên tắc một chức năng có thể có được thể hiện thông qua nhiều hình thái, được phân chia thành 3 loại: loại dùng tác tố trong suốt, loại dùng tác tố
mờ đục, loại dùng tác tố zero
(b) Một số xu thế tương tác cơ bản có thể có như sau:
- Xu thế giản lược tác tố lập luận;
- Xu thế tương tác giữa P và Q xác lập theo hướng trần thuật khách quan;
- Xu thế tương tác giữa P và Q xác lập theo hướng đúc kết chủ quan;
- Xu thế tình thái hóa tương tác nhân quả để mở rộng cấu trúc;
- Xu thế hình tượng hóa cấu trúc thông qua ẩn dụ;
- Xu thế rút gọn cấu trúc theo hướng đặc ngữ hóa [95, 163-166]
Qua các công trình hiện có trên đây, có thể nhận thấy hầu hết các tác giả đều cho rằng câu nhân quả là câu có thể phân chia thành hai sự kiện: sự kiện nguyên nhân và sự kiện kết quả, trong đó sự kiện nguyên nhân phải là điều kiện cần và đủ để có sự kiện kết quả [8] [48]; câu hay cấu trúc nhân quả
thường xuất hiện các kết từ nguyên nhân - kết quả vì, do, bởi, tại nên, cho nên [8] [57] [71] [110] [118] và các vị từ chuyên biểu thị quan hệ nhân quả làm, làm cho, khiến, khiến cho [10] [48] [74] [75] [110]
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm chung, vẫn còn những điểm khác biệt trong cách hiểu về câu hay cấu trúc nhân quả Có tác giả xếp câu nhân quả vào kiểu câu điều kiện - hệ quả có điều kiện thực thuận với hệ quả [57], có tác giả xếp cấu trúc nhân quả vào cùng với cấu trúc cầu khiến, bình xét [118]
Những kết quả nghiên cứu đã được đề cập trên đây sẽ là những gợi ý giúp chúng tôi trong việc triển khai thực hiện đề tài
Tóm lại, trong việc nghiên cứu về câu nhân quả, bên cạnh những kết quả
đã đạt được, vẫn còn một số vấn đề về câu nhân quả vẫn chưa được giải quyết một cách thỏa đáng và cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn như: phạm vi, ranh giới của câu nhân quả; đặc điểm cú pháp của câu nhân quả được biểu hiện bằng
Trang 1818
động từ gây khiến làm, khiến; tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa thành tố
nguyên nhân và thành tố kết quả trong câu nhân quả được biểu hiện bằng quan
hệ từ; đặc điểm tổ chức ngữ nghĩa của câu nhân quả Những vấn đề này sẽ được chúng tôi làm rõ trong quá trình triển khai đề tài của luận án
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.2.1 LÝ THUYẾT VỀ CÁC BÌNH DIỆN CỦA CÂU
1.2.1.1 Khái quát về tình hình nghiên cứu các bình diện của câu
Người đặt nền móng cho việc nghiên cứu về các bình diện của tín hiệu
là nhà nghiên cứu người Mỹ Ch.W.Morris (1938) Theo ông, đối với một hệ thống tín hiệu, cần phân biệt ba lĩnh vực sau đây:
Kết học (Syntactics): nghiên cứu các tín hiệu trong những mối quan hệ kết hợp với các tín hiệu khác
Nghĩa học (Semantics): nghiên cứu các tín hiệu trong những mối quan
hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống tín hiệu
Dụng học (Pragmatics): nghiên cứu các tín hiệu trong những mối quan
hệ với những người sử dụng nó (Dẫn theo [37, 20-21])
Vận dụng lí thuyết tín hiệu học của Ch.Morris vào nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học hiện đại đã phân biệt ba bình diện khác nhau của ngôn ngữ: bình diện kết học, bình diện nghĩa học và bình diện dụng học Tuy nhiên, đến nay, vẫn còn nhiều vấn đề tranh luận về các bình diện này, cụ thể
là về bản chất, phạm vi và ranh giới giữa chúng
S.Dik trong Ngữ pháp chức năng đã chỉ định quan hệ chức năng ở ba bình diện khác nhau: chức năng ngữ nghĩa (tác thể, đích, tiếp thể ), chức năng cú pháp (chủ ngữ, bổ ngữ) và chức năng ngữ dụng (chủ đề, hậu đề, tiêu điểm)[25, 26-27]
Bàn về chức năng ngữ nghĩa, S.Dik cho rằng “kết cấu vị ngữ hạt nhân,
về mặt nghĩa học, có thể được giải thích như là sự chỉ định sự tình” [25, 31] Thuật ngữ “sự tình” được dùng theo nghĩa rộng của “cái có thể là tình huống trong một thế giới nào đó” Sự tình có thể chia thành nhiều kiểu khác nhau, tùy vào những thông số phân biệt mà nó có” [25, 48-50 ] Hai thông số cơ bản của
Trang 1919
sự tình là Động (Dynamism) và Chủ ý (Control), S.Dik đã đưa ra mô hình các
kiểu loại sự tình cơ bản như sau:
Bảng 1.2 Phân loại sự tình của S.Dik
SỰ TÌNH + Động
SỰ KIỆN
- Động TÌNH HUỐNG + Chủ ý Hành động Tư thế
- Chủ ý Quá trình Trạng thái
Về chức năng cú pháp, S.Dik cho rằng “một kết cấu vị ngữ hạt nhân bao gồm một vị từ gắn kết với một số thích hợp các ngữ định danh để lấp đầy các vị trí tham tố của vị từ đó” [25, 39] Hai chức năng cú pháp chính được tác giả xác định là chủ ngữ và bổ ngữ
M.A.K.Halliday trong Dẫn luận ngữ pháp chức năng coi cú là một thực thể hỗn hợp được hình thành bởi ba bình diện cấu trúc: “Cú như là một thông điệp, cú như là sự trao đổi và cú như là sự thể hiện” [34, 102] Cấu trúc tạo cho cú như là một thông điệp ông gọi là cấu trúc đề ngữ [34,
107] Cấu trúc tạo cho cú như là sự trao đổi về cơ bản tương ứng với cấu
trúc cú pháp và bao gồm phần thức (gồm chủ ngữ và thành phần hữu định)
và phần dư (gồm vị ngữ, bổ ngữ, phụ ngữ)[34, 155-166] Cấu trúc tạo cho
cú như là sự thể hiện tương ứng với cấu trúc ngữ nghĩa bao gồm các khái niệm: quá trình tham thể, chu cảnh [34, 207-208]
Diệp Quang Ban cho rằng, về phương diện tổ chức ngữ pháp, trong câu
có bốn kiểu cấu trúc: cấu trúc nghĩa biểu hiện (với các thành tố như động thể, tiếp thể, đích ), cấu trúc thức (gồm phần thức và phần dư), cấu trúc cú pháp (với các thành tố như chủ ngữ, vị tố, tân ngữ ), cấu trúc đề (với các thành tố
Trang 2020
của câu [37, 28-30], còn cấu trúc đề - thuyết, ngược lại, không thuộc bình diện dụng pháp [37, 11-60] mà thuộc bình diện cú pháp và có cương vị ngữ pháp trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu [37, 30-32]
Nguyễn Văn Hiệp cũng tán thành việc phân biệt ba bình diện trong
nghiên cứu câu: bình diện kết học (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ ), bình diện nghĩa học (nghĩa sự tình, nghĩa tình thái và nghĩa chủ đề), bình diện dụng học
(cấu trúc phân đoạn thực tại câu, nhấn mạnh và tiêu điểm thông báo, lực ngôn trung của câu) Riêng cấu trúc đề - thuyết, Nguyễn Văn Hiệp cũng tán thành ý kiến của Cao Xuân Hạo, không xếp vào bình diện dụng học như một số tác giả khác, mặc dù cấu trúc này cũng không được tác giả xem xét khi phân tích bình diện cú pháp của câu [47, 47-48]
Trần Ngọc Thêm cho rằng, khi khái quát hóa sự phân đoạn thông báo
thì mọi cấu trúc đều chia hai phần: một là phần trung tâm ngữ pháp của câu gọi là phần đề, còn phần kia là trung tâm ngữ nghĩa của câu gọi là phần thuyết Đây là sự phân đoạn cấu trúc, gọi là cấu trúc đề - thuyết, là chỗ giao
nhau của ngữ pháp và ngữ nghĩa Và cấu trúc đề - thuyết không đồng nhất với cấu trúc chủ - vị, cũng không đồng nhất với cặp nêu/báo (sự phân chia cũ/ mới) [100, 59-60]
Trong một bài viết gần đây, Nguyễn Văn Lộc cũng đã đưa ra quan niệm của mình về các bình diện cú pháp, bình diện giao tiếp và bình diện nghĩa biểu hiện Theo đó, tác giả đã đề cập đến nghĩa của câu (theo nghĩa rộng gồm nghĩa thuộc bình diện cú pháp, nghĩa thuộc bình diện nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu, nghĩa thuộc bình diện ngữ dụng) lập thành bình diện nội dung hay bình diện
ngữ nghĩa của câu Theo tác giả, “bình diện ngữ nghĩa của câu theo cách hiểu trên đây không phải là một trong ba bình diện thường được nói đến trong lí thuyết tam phân mà là bình diện được xác định trong sự tương ứng với bình diện biểu hiện hay bình diện hình thức của câu” [64, 17] Theo cách hiểu này, bình
diện ngữ nghĩa của câu (theo nghĩa rộng) không trùng với bình diện nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu của câu
Như vậy, có thể thấy mặc dù có những cách phân chia và gọi tên khác nhau về các bình diện của câu nhưng nhìn chung, các tác giả đều cho rằng cần
Trang 211.2.1.2 Bình diện cú pháp
a) Bản chất của bình diện cú pháp
Về bản chất của bình diện cú pháp hiện nay, ý kiến của các nhà nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất Một trong những quan điểm được thừa nhận rộng rãi hiện nay là coi ngữ pháp (cú pháp) là bình diện hình thức thuần túy
Chẳng hạn, trong “Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng”, Cao Xuân Hạo cho rằng: “Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy Các chức năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp, định ngữ được xác định không phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thị cái gì, mà vào mối quan hệ ngữ pháp với các ngữ đoạn khác được biểu thị bằng các phương tiện hình thức gọi là tác tử cú pháp (syntactic operators) như các hình thái cách hoặc các chuyển tố (translatits hay relatenrs), các giới từ, bằng sự phù ứng về số, về ngôi với một danh ngữ nhất định” [37, 8]
Theo quan điểm này, việc xác định các thành phần cú pháp của câu như chủ ngữ, bổ ngữ dựa vào nghĩa là điều không thể Chính vì không thể xác định các thành phần câu dựa vào nghĩa nên theo Cao Xuân Hạo chỉ còn cách
“đứng trên bình diện ngữ pháp mà định nghĩa nó bằng những thuộc tính ngữ pháp”[37, 23] Quan niệm này dẫn đến sự phủ nhận chủ ngữ trong tiếng Việt
Theo ông, “cái được gọi là chủ ngữ chỉ có thể có được trong những điều kiện nhất định, không bình thường, của một kiểu cú pháp đặc biệt trong đó cấu trúc của câu có thể không phản ánh cấu trúc của mệnh đề” [37, 26]
Trang 2222
Trước khó khăn của việc định nghĩa các thành phần câu dựa vào nghĩa, một số tác giả tuy không phủ nhận sự tồn tại của các thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ trong tiếng Việt nhưng vì không thể chỉ dựa vào những tiêu chuẩn hình thức thuần túy nên đã dựa vào chức năng thông báo (giao tiếp) để định
nghĩa chủ ngữ và vị ngữ Chẳng hạn Nguyễn Kim Thản viết: “Đúng ra, nên gọi chủ ngữ là phần nêu, vị ngữ là phần báo” [94, 7] Lê Xuân Thại cũng từng cho rằng: “Quan hệ giữa thành phần được thuyết định và thành phần thuyết định là quan hệ chủ - vị Chủ ngữ là thành phần được thuyết định và vị ngữ là thành phần thuyết định Như vậy, một diễn đạt theo quan hệ chủ - vị bao giờ cũng gắn liền với một phán đoán Nói một cách khác, điều kiện cần
và đủ của mối quan hệ chủ - vị là thuyết định” [90, 26 - 27]
Có thể thấy, cách hiểu trên đây về bản chất của bình diện cú pháp (coi cú pháp là bình diện hình thức thuần túy) không chỉ mâu thuẫn với lí thuyết ngữ pháp đại cương mà còn dẫn đến những khó khăn trong việc xác định các thành phần cú pháp của câu dựa vào mặt nội dung (ý nghĩa)
Khác với ý kiến trên đây, Nguyễn Văn Lộc khẳng định bình diện cú pháp là bình diện có tính hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt hình thức và đã chứng minh sự tồn tại của nghĩa cú pháp trong sự phân biệt với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu Theo Nguyễn Văn Lộc, nghĩa cú pháp đặc trưng cho các thành phần cú pháp của câu khác với nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu ở chỗ:
1) Về tính chất: Nghĩa cú pháp có tính trừu tượng cao hơn nghĩa sâu Nếu
nghĩa sâu cũng như nghĩa từ vựng, có “tính vật thể”, tức là gắn với và phản ánh trực tiếp các sự vật, hiện tượng, quan hệ trong thực tế thì nghĩa cú pháp, cũng như nghĩa ngữ pháp nói chung, là “nghĩa siêu vật thể hay phi vật thể” [31, 215], tức là chúng chủ yếu phản ánh mối quan hệ giữa các từ, các cụm từ Chính vì nghĩa cú pháp có tính trừu tượng cao như vậy nên khi xác định nghĩa cú pháp, nhìn chung, không thể dựa vào mối quan hệ giữa nó với sự vật, hiện tượng, quan
hệ trong thực tế như khi xác định nghĩa từ vựng và nghĩa sâu
2) Về chức năng: Nghĩa cú pháp gắn với chức năng hay chức vụ cú pháp
của từ Mỗi kiểu nghĩa cú pháp đặc trưng cho một loại, kiểu thành phần câu nhất định Nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu, trái lại, không gắn với chức vụ cú
Trang 2323
pháp của từ mà gắn với sự miêu tả (phản ánh) trực tiếp các sự vật, hiện tượng, quan hệ trong thực tế và đặc trưng cho các thành tố nghĩa (vai nghĩa) trong cấu trúc nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sâu) của câu
3) Về phương tiện biểu thị: Nghĩa cú pháp, về nguyên tắc, luôn được biểu
thị bằng phương tiện ngữ pháp (ở tiếng Việt, chủ yếu bằng trật tự từ và hư từ cú pháp) Nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu, ngoài việc có chung phương tiện biểu thị với nghĩa cú pháp (khi hai kiểu nghĩa này trùng nhau), còn có thể được biểu thị bằng các phương tiện từ vựng - ngữ pháp; đó là các yếu tố có tính chất bán thực
từ ở các mức độ khác nhau mà điển hình là các động từ ngữ pháp (trong đó có động từ gây khiến)
4) Về tính chất của mối quan hệ giữa các thành tố mang ý nghĩa:
Thành tố mang ý nghĩa cú pháp, về nguyên tắc, phải nằm trong mối quan hệ
cú pháp trực tiếp với các từ khác Nói cách khác, nghĩa cú pháp chỉ được xác định ở từ trong mối quan hệ với nghĩa ngữ pháp của từ khác có quan hệ cú pháp trực tiếp với nó Nghĩa sâu, trái lại, chỉ được xác định trong mối quan hệ giữa các nghĩa từ vựng của từ Vì mối quan hệ về nghĩa sâu thường trực tiếp phản ánh mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quan hệ trong thực tế nên thành tố tham gia vào mối quan hệ nghĩa sâu (các thành tố mang nghĩa sâu),
về nguyên tắc, phải là thực từ (các đơn vị mang nghĩa từ vựng) Mặt khác, vì mối quan hệ nghĩa sâu có thể được biểu thị bằng các phương tiện từ vựng - ngữ pháp (các yếu tố có tính chất bán thực từ) vốn có khả năng giữ các chức
vụ cú pháp như thực từ nên giữa các yếu tố mang nghĩa sâu có thể không có
mối quan hệ cú pháp trực tiếp với nhau (Chẳng hạn, trong câu: Tiếng nổ khiến mọi người giật mình, tiếng nổ và mọi người giật mình chỉ có quan hệ về
mặt nghĩa biểu hiện hay nghĩa sâu (quan hệ nhân quả) chứ không có quan hệ
cú pháp với nhau) [64,11-13]
Trên cơ sở sự phân tích trên đây, trong luận án này, chúng tôi tán thành quan niệm coi bình diện cú pháp là bình diện có nghĩa như tác giả Nguyễn Văn Lộc đã chỉ ra bởi quan niệm đó không chỉ phù hợp với lí thuyết ngữ pháp đại cương mà còn phù hợp với thực tiễn phân tích cú pháp Quan niệm đó cho
Trang 2424
phép xác định, phân biệt các thành phần câu dựa vào nghĩa cú pháp là thuộc tính nội dung quan trọng của các thành phần câu
b) Nội dung của việc nghiên cứu câu theo bình diện cú pháp
Việc phân tích câu về cú pháp gồm ba vấn đề chính:
1) Xác định các kiểu quan hệ cú pháp giữa các từ trong câu
2) Xác định, phân loại các thành phần câu dựa vào các tiêu chí nhất định và miêu tả các thành phần câu theo những đặc điểm nội dung và hình thức đặc trưng cho chúng
3) Xác định, phân loại, miêu tả các kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp Dưới đây, chỉ xin đề cập khái quát về những vấn đề trên đây
+) Vấn đề xác định các kiểu quan hệ cú pháp giữa các từ trong câu
Chúng tôi tán thành quan niệm cho rằng quan hệ cú pháp là “quan hệ hình tuyến giữa các từ tạo ra những tổ hợp từ có khả năng vận dụng độc lập, được xem như là dạng rút gọn của một kết cấu phức tạp hơn, và có ít nhất một thành tố có khả năng được thay thế bằng từ nghi vấn” [31, 254]
Về cách xác định sự có mặt của mối quan hệ ngữ pháp giữa hai từ, chúng tôi tán thành quan niệm cho rằng cần phải dựa đồng thời cả vào tiêu chí
về nội dung (mối quan hệ ý nghĩa giữa các từ) lẫn tiêu chí về hình thức (khả năng sử dụng độc lập của ngữ đoạn do chúng tạo thành hoặc khả năng sử dụng ngữ đoạn đó với tư cách là biến thể tỉnh lược của câu [81, 53]
Khi xem xét quan hệ cú pháp giữa các từ trong cấu trúc nhất định, cần dựa vào hai mặt: vai trò bên trong (mối quan hệ nội bộ) và vai trò bên ngoài (mối quan hệ với yếu tố ngoài cấu trúc) [81, 60] Theo tiêu chí đó, có thể xác định hai kiểu quan hệ cú pháp chính: quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng lập
Quan hệ chính phụ là kiểu điển hình của quan hệ cú pháp giữa các từ, vì thế mà tất cả các công trình nghiên cứu về cú pháp đều đề cập đến kiểu quan hệ này Các dạng điển hình của quan hệ chính phụ là quan hệ vị từ - bổ ngữ (trong
ăn cơm), quan hệ vị từ - trạng ngữ (trong ăn ở hiệu), quan hệ chủ ngữ - vị từ (nó ăn), quan hệ hạn định giữa danh từ và định ngữ (trong bàn gỗ) [81, 57]
Quan hệ đẳng lập là kiểu quan hệ lỏng lẻo giữa các từ và không được tất cả các tác giả thừa nhận Ở quan hệ đẳng lập, xét theo cả mối quan hệ bên
Trang 2525
trong lẫn bên ngoài, không thể xác định thành tố nào là thành tố phụ Các thành tố trong mối quan hệ này có vai trò bình đẳng, ngang hàng nhau, nghĩa
là không thành tố nào có chức năng đối với thành tố nào[81, 58]
+) Vấn đề xác định, phân loại các thành phần câu
Tán thành và tiếp thu quan điểm của Nguyễn Văn Lộc [65, 45-63], chúng tôi cho rằng thành phần câu là phạm trù cú pháp nên nó phải được xem xét xuất phát hoàn toàn từ bình diện cú pháp Cụ thể:
1) Đối với vấn đề bản chất của Thành phần câu, chúng tôi tán thành
- Thành phần câu là thành phần của các kiểu câu nói chung
2) Về vấn đề tiêu chí xác định thành phần câu và danh sách thành phần câu, chúng tôi cũng tán thành quan niệm trên đây, cụ thể: cần phải dựa cả vào tiêu chí nội dung (vai trò, chức năng, ý nghĩa cú pháp) lẫn tiêu chí về hình thức
cú pháp (đặc tính của từ loại, trật tự từ, các hư từ cú pháp, ngữ điệu)
Theo nguyên tắc xác định thành phần câu trên đây, có thể xác định hệ thống thành phần câu trong tiếng Việt với các thành phần cụ thể như sau:
(1) Thành phần chính (đỉnh cú pháp) của câu: vị ngữ
Vị ngữ chính là hạt nhân của cụm vị từ nòng cốt Đó là từ mang kết trị chủ động tuyệt đối trong câu [65, 59])
(2) Các thành phần phụ của câu:
Chủ ngữ: Là thành phần có tính bắt buộc, tính phụ thuộc và nghĩa cú
pháp chủ thể, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng danh từ không có giới từ, chiếm vị trí trước vị ngữ hay vị từ và tạo thành với chúng một khối thống nhất về ngữ điệu [64, 61]
Bổ ngữ: Là thành phần có tính phụ thuộc, tính bắt buộc và có ý nghĩa
cú pháp khách thể hay đối thể, ở dạng cơ bản, được biểu thị bằng danh từ hay các yếu tố tương đương, chiếm vị trí liền sau vị từ [65, 61]
Trang 2626
Trạng ngữ: Là thành phần phụ, không bắt buộc của câu và có ý nghĩa
cú pháp tình trạng, hoàn cảnh, ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng danh từ (thể từ) hoặc vị từ được dẫn nối bởi quan hệ từ phụ thuộc [65, 61]
Định ngữ: Là thành phụ bổ sung cho danh từ và có ý nghĩa cú pháp
đặc điểm, ở dạng cơ bản, được biểu thị bằng danh từ hay vị từ (cụm vị từ), chiếm vị trí liền sau danh từ (trừ định ngữ chỉ số lượng) [65, 61]
Chú giải ngữ: Là thành phần phụ không bắt buộc của câu, có ý nghĩa cú
pháp chú giải, ở dạng cơ bản, được biểu thị bằng danh từ hay vị từ (cụm vị từ), có tính chất biệt lập [65, 61]
+) Vấn đề xác định, phân loại, miêu tả các kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp
Vấn đề xác định, phân loại, miêu tả các kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp là vấn đề loại hình học cấu trúc câu Về mặt này, cách phân loại câu phổ biến trong các công trình nghiên cứu về cú pháp là sự phân chia câu thành câu
đơn và câu phức Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ vị (ví dụ: Tôi đi học) Câu phức là câu có từ hai cụm chủ vị trở lên (ví dụ: Ngôi nhà Hoàng ở khá rộng Giặc lùng, giặc quét, giặc vây.) Câu đơn có thể được tiếp tục phân chia thành
các kiểu nhỏ hơn dựa vào đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa và thuộc tính chi phối (kết trị) của vị từ - vị ngữ Câu phức có thể được phân loại thành các kiểu nhỏ hơn căn cứ vào quan hệ cú pháp giữa cụm chủ vị (các vế câu) thành câu phức liên hợp và câu phức chính phụ Có thể thấy rằng cách phân loại trên đây có ưu điểm
là đơn giản, tiện lợi Vì vậy, về cơ bản, chúng tôi tán thành cách phân loại này
1.2.1.3 Bình diện ngữ nghĩa
1) Dẫn nhập
Trong các công trình nghiên cứu về câu thường không có cách hiểu thống nhất về bình diện ngữ nghĩa Khi đề cập đến bình diện ngữ nghĩa như một trong ba bình diện của câu, có tác giả chỉ xem xét nghĩa biểu hiện (nghĩa sâu, nghĩa miêu tả, nghĩa sự tình) [26], [64], có tác giả cho rằng các
kiểu nghĩa thuộc bình diện nghĩa học gồm: nghĩa sự tình, nghĩa tình thái và nghĩa chủ đề [48, 64] Như vậy, bình diện ngữ nghĩa của câu có thể được
hiểu theo nghĩa hẹp (cách hiểu thứ nhất) hoặc theo nghĩa rộng (cách hiểu thứ hai)
Trang 2727
Tán thành cách hiểu thứ nhất, chúng tôi cho rằng phân tích câu theo bình diện ngữ nghĩa (với tư cách là một trong ba bình diện của câu) là việc xác định, miêu tả các thành tố nghĩa hay các vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện (nghĩa sâu) của câu Chính vì thế, trong mục này, chúng tôi chỉ đề cập đến nghĩa biểu hiện (nghĩa sâu), còn nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề, theo chúng tôi, thuộc bình diện ngữ dụng hay bình diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp) và sẽ không được xem xét ở mục này
2) Các quan niệm khác nhau về nghĩa biểu hiện, cấu trúc nghĩa biểu hiện, hạt nhân ngữ nghĩa và các vai nghĩa của câu
Mặc dù việc nghiên cứu bình diện nghĩa biểu hiện của câu đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng đến nay, một số vấn đề cụ thể thuộc bình diện này vẫn chưa được nhìn nhận thống nhất và giải quyết triệt để, thỏa đáng Đó là các vấn đề: xác định khái niệm nghĩa biểu hiện, cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, ranh giới giữa nghĩa biểu hiện và nghĩa cú pháp của câu, ranh giới giữa cấu trúc nghĩa biểu hiện và cấu trúc nghĩa cú pháp, vấn đề xác
định hạt nhân ngữ nghĩa hay yếu tố biểu thị lõi sự tình (còn được gọi là phần chỉ sự thể [5,24], hoặc vị tố [48,38-39]) trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
và phân biệt nó với hạt nhân ngữ pháp của câu
Trong ngôn ngữ học nước ngoài, một trong những tác giả đề cập một cách
tương đối cụ thể, rõ ràng đến khái niệm hạt nhân (nucléus) với tư cách là trung tâm cú pháp và ngữ nghĩa của câu là L.Tesnière Theo L.Tesnière “hạt nhân là hợp thể mà tham gia vào đó, bên cạnh yếu tố là trung tâm thuần cú pháp, còn có các yếu tố giữ vai trò trung tâm về ngữ nghĩa mà nhờ chúng, hạt nhân được nối kết bởi mối quan hệ ngữ nghĩa với các yếu tố khác trong câu” [121, 56] Nói
cách khác, hạt nhân, theo L.Tesnière, là yếu tố vừa giữ vai trò trung tâm về cú pháp (cấu trúc), vừa giữ vai trò trung tâm về ngữ nghĩa của câu
Hạt nhân có hai vai trò chính: vai trò cấu tạo nút (vai trò cấu trúc) và vai trò ngữ nghĩa (là trung tâm ngữ nghĩa của câu [121, 56]) Hạt nhân được
phân biệt với trung tâm thuần cú pháp (thành tố chính về cú pháp) của nút (noeut) vì trung tâm thuần cú pháp của nút có thể chỉ là một phần của hạt
nhân [121, 56] Hai vai trò chính (cấu trúc và ngữ nghĩa) của hạt nhân có thể
Trang 2828
được thực hiện bởi một từ (parle (nói) trong câu: Alfred parle (Alfred nói)
nhưng cũng có thể được thực hiện bởi các từ khác nhau Trong trường hợp
thứ hai, theo L.Tesnière, ta sẽ có hạt nhân tách biệt (nucléus dissocié) [121,
58] Mỗi hạt nhân tách biệt bao gồm tối thiểu hai từ mà một trong chúng thực hiện vai trò cấu trúc (cú pháp), còn một thực hiện vai trò ngữ nghĩa [121, 58]
Ví dụ điển hình về hạt nhân tách biệt, theo L.Tesnière, là tổ hợp gồm hai động
từ mà một trong chúng được gọi là trợ động từ (auxiliaire) thực hiện vai trò cấu trúc, còn động từ thứ hai được gọi là động từ thực (auxilié) thực hiện vai trò ngữ nghĩa [121, 58] Chẳng hạn, trong câu: Alfred est arrivé (Alfred đã đến), hạt nhân gồm hai từ: est và arrivé trong đó est thực hiện vai trò cấu trúc (cú pháp), còn arrivé thực hiện vai trò ngữ nghĩa [121, 58]
Một dạng khác của hạt nhân tách biệt là tổ hợp gồm trợ động từ và tính
từ trong những câu kiểu như: Alfred est grand (Alfred to lớn) Ở câu này, est thực hiện vai trò cú pháp còn grand thực hiện vai trò ngữ nghĩa
Trong ngữ pháp chức năng, vấn đề cấu trúc ngữ nghĩa (cấu trúc nghĩa biểu hiện) của câu đã được đề cập trong nhiều công trình của các tác giả khác
nhau trong đó, đáng chú ý là các cuốn Dẫn luận ngữ pháp chức năng của M
A K Haliday và cuốn Ngữ pháp chức năng của Simon C Dik
Xem xét cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu (trong mục 5 Cú như là sự thể hiện), M Halliday xác định ba kiểu quá trình (sự tình) chính là: quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ [34, 206] Hệ thống quá trình quan
hệ trong tiếng Anh, theo M Halliday, gồm ba kiểu chính: 1) quan hệ sâu (intensive),: x là a: 2) quan hệ chu cảnh (circumstantial): x ở a; 3) quan hệ sở hữu: x có a Mỗi kiểu quá trình này đều xuất hiện dưới hai phương thức tách biệt: a) định tính (atributive) và b) đồng nhất (identifying) [34, 223] Chẳng hạn, các cú biểu thị quá trình quan hệ sâu gồm: cú định tính: Sara is wise (Sara thông thái ) Paula is a poet (Paula là nhà thơ) và cú đồng nhất: Tom is the leader (Tom là thủ lĩnh) Alice is the clever est one (Alice là người thông minh nhất)
Trong các cú biểu thị quá trình sâu định tính trên đây, động từ hiện thực hóa quá trình (biểu thị lõi sự tình) là be (được xếp vào lớp động từ quy gán); còn các tham thể hay vai nghĩa lần lượt là Sara, Paula (được gọi là
Trang 2929
đương thể- Carrier) và wise, a poet (được gọi là thuộc tính -Attribute) [34, 224] Trong các cú biểu thị quá trình sâu đồng nhất trên đây, động từ hiện thực hóa quá trình cũng là be (được xếp vào lớp động từ đẳng thức); còn các tham thể lần lượt là Tom, Alice (được gọi là bị đồng nhất thể) và the leader, the clever est one (được gọi là đồng nhất thể)
Ở Simon C Dik, các sự tình của câu được chia thành bốn loại chính:
hành động, quá trình (thuộc sự tình động hay sự kiện), tư thế, trạng thái (thuộc sự tình tĩnh hay tình huống) Đáng chú ý là những câu có chứa động từ chỉ quan hệ (be) kiểu như: Roses are red (Hoa hồng đỏ) That man is the killer (Người đàn ông ấy là kẻ sát nhân) mà M Halliday xếp vào cú quan hệ được Simon C Dik xếp vào câu chỉ sự tình trạng thái (Stater) với một hoặc hai tham tố (vai nghĩa) “có chức năng ngữ nghĩa zero” [25, 50 -56]
Như vậy, có thể thấy cùng một kiểu câu biểu thị cùng một loại sự tình (quá trình) nhưng ở các tác giả khác nhau, nó được xếp vào những kiểu khác nhau
Mặt khác, trong việc xác định hạt nhân ngữ nghĩa và các tham thể ngữ nghĩa ý kiến của các tác giả cũng không có sự thống nhất
Trong Việt ngữ học, vấn đề cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu và việc xác định các thành tố trong nó đã được đề cập đến khá nhiều Đáng chú ý là ý kiến của Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban và Nguyễn Văn Hiệp
Khi phân loại câu theo nghĩa biểu hiện, Cao Xuân Hạo chia câu tiếng
Việt thành ba loại chính: câu tồn tại, câu chỉ sự tình động hay sự việc, biến cố (gồm câu chỉ hành động và câu chỉ quá trình), câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình (gồm câu chỉ trạng thái và câu chỉ quan hệ) [37, 232]
Phân tích các kiểu câu chỉ hành động, quá trình và trạng thái, tác giả xác định rõ các thành tố nghĩa trong chúng gồm hạt nhân ngữ nghĩa (chỉ các
loại sự tình như: hành động, quá trình, trạng thái) và các tham thể ngữ nghĩa (hành thể, tác thể, động thể, đích, lực, nghiệm thể…) [37, 234-240] Tuy nhiên, riêng ở câu chỉ quan hệ (ví dụ: Napoléon đệ Nhất là chú của Napoléon
đệ Tam), không thấy tác giả chỉ ra cụ thể hạt nhân ngữ nghĩa hay yếu tố biểu thị lõi sự tình và các tham thể ngữ nghĩa
Trang 3030
Diệp Quang Ban quan niệm: “cấu trúc nghĩa biểu hiện gồm có phần nêu đặc trưng hay quan hệ, gọi gọn là sự thể, và các vai nghĩa, chúng hợp lại tạo nên sự thể của câu (sự việc được phản ánh) Về cú pháp, sự thể do vị tố diễn đạt, các vai nghĩa do các bổ ngữ (hiểu rộng) đảm nhiệm” [5, 23]
Khi xác định các thành tố ngữ nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu chỉ quan hệ với từ là (Anh này là thợ mộc giỏi nhất vùng này), tác giả cho rằng ở kiểu câu này, từ là là “phần chỉ sự thể” hay vị tố (tức là “yếu tố chính của câu về cả phương diện nghĩa biểu hiện (chỉ sự việc) và phương diện cú pháp…”[5, 55]); còn các ngữ danh từ ở trước và sau là là các tham thể ngữ nghĩa (Bị đồng nhất thể và Đồng nhất thể) [5, 26] Cách phân tích này tương
tự như cách phân tích của M.Halliday như đã chỉ ra trên đây nhưng khác với cách phân tích của một số tác giả khác
Xem xét cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, Nguyễn Văn Hiệp cho rằng
“Mỗi câu có một vị từ làm cốt lõi và quây quần xung quanh là những tham thể biểu thị những vai nghĩa nào đó” [47, 36] Khái niệm vị từ được hiểu không phải theo cách truyền thống mà vị từ được xác định thông qua khái niệm vị tố (predicator), theo đó, “vị từ là những từ có thể làm vị tố” [47, 39] Chẳng hạn, câu:
Nó là sinh viên sẽ có vị tố là sinh viên, là trung tâm tổ chức của câu; còn câu: Ông
ấy là bố nó sẽ có vị từ trung tâm là bố, hai diễn tố là ông ấy và nó [47, 59]
Qua ý kiến của một số tác giả được giới thiệu khái quát trên đây, có thể thấy vấn đề xác định hạt nhân ngữ nghĩa (phần chỉ sự thể, vị tố) trong một số kiểu câu chưa được chú ý xem xét thấu đáo hoặc không được nhìn nhận, giải quyết một cách thống nhất (và kéo theo điều đó là sự không thống nhất trong cách hiểu về các tham thể có quan hệ với nó)
Chẳng hạn, ở Cao Xuân Hạo, như đã chỉ ra trên đây, câu chỉ quan hệ không được phân tích cụ thể thành hạt nhân ngữ nghĩa (biểu thị lõi sự tình) và
các tham thể ngữ nghĩa
Ở Diệp Quang Ban, câu chỉ quan hệ có “phần chỉ sự thể” hay vị tố là từ
là còn các ngữ danh từ ở trước và sau là đều là tham thể
Ở Nguyễn Văn Hiệp, câu chỉ quan hệ lại có vị tố (hạt nhân ngữ nghĩa hay “trung tâm tổ chức của câu”) là danh từ ở sau là
Trang 3131
Như vậy, có thể thấy trong việc phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, bên cạnh những điểm chung, vẫn còn những điểm chưa thống nhất, cụ
thể là: 1) cách xác định các kiểu quá trình (sự tình, sự thể), (chẳng hạn, một
số tác giả xác định sự tình quan hệ ứng với vị tố là (trong tiếng Anh là be),
trong khi ở Simon C Dik, trong bốn loại sự tình được xác định không có loại
sự tình này); 2) việc xác định số lượng và danh sách các tham thể và vai nghĩa cụ thể Có liên quan đến hai vấn đề chính chưa thống nhất trên đây là
Dưới đây, chúng tôi sẽ đưa ra cách hiểu về các khái niệm nghĩa biểu hiện, cấu trúc nghĩa biểu hiện; trên cơ sở đó, sẽ xác định các thành tố ngữ nghĩa thuộc cấu trúc nghĩa biểu hiện (hạt nhân ngữ nghĩa và các vai nghĩa)
3) Quan niệm của luận án về nghĩa biểu hiện, cấu trúc nghĩa biểu hiện, hạt nhân ngữ nghĩa và các vai nghĩa
a) Khái niệm nghĩa biểu hiện của câu
Chúng tôi tán thành cách hiểu nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sâu) là loại nghĩa phản ánh sự tri nhận, kinh nghiệm của con người về hiện thực khách quan [64, 9], [47, 36] Đây chính là loại nghĩa mà M.A.K Haliday
đề cập trong cấu trúc của cú như là sự thể hiện và bao gồm các khái niệm chính như: quá trình, tham thể, chu cảnh là “những phạm trù ngữ nghĩa giải thích một cách khái quát nhất các hiện tượng của thế giới hiện thực” [34,
207-208]
Nghĩa biểu hiện, theo cách hiểu trên đây, một mặt, được phân biệt với
nghĩa chủ đề [34, 108-111], [5, 63-67] mặt khác, được phân biệt với nghĩa cú pháp hay nghĩa ngữ pháp quan hệ vốn đặc trưng cho các thành phần cú pháp
của câu như Nguyễn Văn Lộc đã chỉ ra [64, 11-13]
Trang 3232
b) Khái niệm cấu trúc nghĩa biểu hiện
Khái niệm cấu trúc nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả) của câu được hiểu tương đương với khái niệm cấu trúc ngữ nghĩa (семантическая структура)
thường được đề cập trong nhiều công trình ngôn ngữ nước ngoài Theo
I.P.Raspopov, “trong phần lớn các công trình nghiên cứu theo chủ đề ngữ nghĩa của câu, cấu trúc ngữ nghĩa thường được hiểu là cấu trúc cơ sở có tính khái quát thống nhất một loạt cấu trúc cú pháp cụ thể khác nhau nhưng phản ánh cùng một sự tình (sự kiện, sự việc)” [77, 24] Đó là những lược đồ (công thức) logic trừu tượng được khái quát từ những cấu trúc khác nhau có cùng nội dung ngữ nghĩa [77, 25-26] Cấu trúc ngữ nghĩa của câu theo cách hiểu này thường được đồng nhất với cấu trúc sâu (глубинная структура) [77, 26]
Trên cơ sở cách hiểu khái niệm nghĩa biểu hiện như trên đây và tiếp thu
(có bổ sung) ý kiến của I.P.Raspopov, chúng tôi hiểu cấu trúc nghĩa biểu hiện (cấu trúc ngữ nghĩa) của câu là một hệ thống (chỉnh thể) bao gồm các thành tố ngữ nghĩa và mối quan hệ nối kết giữa chúng Các thành tố ngữ nghĩa (các thành
tố mang nghĩa biểu hiện) trong cấu trúc nghĩa biểu hiện về nguyên tắc, phải là thực từ và bao gồm hạt nhân ngữ nghĩa (thường được biểu hiện bằng vị từ - thực từ) và các vai nghĩa hay các tham thể ngữ nghĩa (gồm tham thể cơ sở và tham thể mở rộng) Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố mang nghĩa có thể được
biểu hiện bằng các phương tiện ngữ pháp thuần tuý như trật tự từ (so sánh: mua cam- cam mua), hư từ (so sánh: ăn ở hiệu, ăn bằng đũa, chết vì bệnh, hy sinh vì (cho) Tổ quốc) hoặc bằng phương tiện từ vựng -ngữ pháp, cụ thể bằng các bán thực từ (là, trở nên, bị, được, dùng, làm, khiến…)
Mối quan hệ giữa các thành tố ngữ nghĩa (thành tố mang nghĩa biểu hiện) trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu thực chất là mối quan hệ giữa các
ý nghĩa từ vựng của từ, tức là mối quan hệ giữa các từ với tư cách là đơn vị từ vựng hay đại diện cho nhóm chủ đề chứ không phải với tư cách là đơn vị ngữ pháp (với tư cách là đại diện của từ loại, tiểu loại)
Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ hay thành tố ngữ nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có thể là đơn giản, trực tiếp (quan hệ ngữ nghĩa giữa hai từ) hoặc phức tạp, gián tiếp (quan hệ ngữ nghĩa giữa từ và cụm từ
Trang 33diện ngữ nghĩa chính là xác định, miêu tả hạt nhân ngữ nghĩa (biểu thị lõi sự tình) và các tham thể tham gia vào sự tình
c) Hạt nhân ngữ nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Chúng tôi hiểu hạt nhân ngữ nghĩa là thành tố có vai trò quan trọng nhất về ngữ nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu Vai trò chính hay vai trò quan trọng nhất về ngữ nghĩa của hạt nhân ngữ nghĩa thể hiện ở những đặc điểm sau:
- Hạt nhân ngữ nghĩa là thành tố có tính thường trực cao nhất trong câu Trừ trường hợp đối thoại hoặc một vài trường hợp đặc biệt, hạt nhân ngữ nghĩa thường không thể vắng mặt Vì việc lược bỏ nó không chỉ ảnh hưởng đến tính rõ ràng, xác định, tính trọn vẹn về nghĩa của câu mà còn dẫn đến sự phá vỡ tổ chức ngữ nghĩa của câu
Chẳng hạn, ở câu: Giáp tặng Tị cuốn sách, việc lược bỏ một trong các tham
thể nào đó vẫn không phá vỡ cấu trúc ngữ nghĩa của câu (mối quan hệ giữa hạt
nhân ngữ nghĩa (tặng) và các tham thể còn lại vẫn được duy trì); còn việc lược bỏ hạt nhân ngữ nghĩa (tặng) sẽ phá vỡ hoàn toàn cấu trúc ngữ nghĩa của câu
- Hạt nhân ngữ nghĩa là thành tố quy định bản chất nghĩa biểu hiện của câu Chính do đặc điểm này mà có thể dựa vào nghĩa biểu hiện của từ giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa để phân loại câu theo nghĩa biểu hiện thành những kiểu cụ thể (câu chỉ hành động, câu chỉ trạng thái, câu chỉ đặc điểm)
- Hạt nhân ngữ nghĩa là đầu mối của các quan hệ ngữ nghĩa chính trong câu Các kiểu quan hệ ngữ nghĩa quan trọng nhất thường được nói đến trong
câu (kiểu như: hành thể-hành động, tác thể-hành động, nghiệm thể-trạng thái, hành động-đối thể, hành động-tiếp thể…) đều là mối quan hệ giữa hạt nhân
Trang 3434
ngữ nghĩa và các kiểu tham thể khác nhau Hạt nhân cũng chính là thành tố tham gia quan hệ ngữ nghĩa với các thành tố nghĩa chỉ cảnh huống (do các chu tố biểu thị)
- Hạt nhân ngữ nghĩa là thành tố chi phối tổ chức ngữ nghĩa của câu; cụ thể nó quy định số lượng và đặc điểm ngữ nghĩa của các tham thể ngữ nghĩa có
thể có trong câu Chẳng hạn, động từ tặng với tư cách là hạt nhân ngữ nghĩa
luôn đòi hỏi xung quanh nó phải có ba tham thể với các nghĩa cụ thể do nó quy
định: a) Chủ thể hành động (hành thể) được biểu thị bởi danh từ chỉ người hay
tổ chức b) Đối thể (đích thể) của hành động thường được biểu thị bởi danh từ chỉ vật c) Kẻ nhận (tiếp thể) thường được biểu thị bởi danh từ chỉ người
Với vai trò, đặc điểm quan trọng về ngữ nghĩa như chỉ ra trên đây, hạt nhân ngữ nghĩa, nói chung, phải do thực từ, tức là những từ có ý nghĩa cụ thể, chân thực đảm nhiệm Hạt nhân ngữ nghĩa có thể trùng hoặc không trùng với hạt nhân cú pháp của câu (Xem sự phân tích cụ thể ở dưới đây.)
Những đặc điểm đã chỉ ra trên đây của hạt nhân ngữ nghĩa có thể coi là tiêu chí được dùng để xác định thành tố này, phân biệt nó với hạt nhân cú pháp và các tham thể ngữ nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Dựa vào quan niệm của L.Tesnière về hạt nhân, tiếp thu (có điều chỉnh,
bổ sung) ý kiến của một số tác giả khác, dưới đây, chúng tôi sẽ nêu một số đề
xuất nhằm góp phần làm rõ cách xác định hạt nhân ngữ nghĩa của một số kiểu câu với vị ngữ là các động từ trống nghĩa qua việc xem xét cụ thể ba kiểu câu thường gặp thuộc loại này: câu chỉ quan hệ với vị ngữ là động từ là; câu bị động với vị ngữ là các động từ được, bị; câu nhân quả với vị ngữ là các động từ làm, khiến Chúng tôi cho rằng việc làm rõ vấn đề hiện còn có ý kiến tranh luận
này có ý nghĩa lí thuyết quan trọng và cũng tạo tiền đề cần thiết cho việc phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của câu nói chung và câu nhân quả nói riêng
- Đối với câu với vị ngữ là động từ “là”:
Câu chỉ quan hệ với động từ là thường được phân tích theo hai cách: a) Coi là là phần chỉ sự thể (sự tình, quá trình) hay vị tố (được hiểu là yếu tố chính cả về nghĩa biểu hiện lẫn về cú pháp); b) Coi thực từ ở sau là là vị tố
(yếu tố biểu thị lõi sự tình)
Trang 3535
Đối với kiểu câu này, chúng tôi nghiêng về cách phân tích thứ hai Cơ sở là:
+) Về nghĩa: Theo sự thừa nhận chung, là (trong: Nó là sinh viên) tương đối trống nghĩa từ vựng, thậm chí có tác giả coi là là từ “không có ý nghĩa từ vựng”[104, 148] Nó không phải là “yếu tố mang gánh nặng từ vựng” như Nguyễn Văn Hiệp đã chỉ ra [48, 38-39] Do sự trống nghĩa của là mà một số tác giả coi nó là hư từ [104, 148], [91, 91] Chúng tôi vẫn coi là là động từ [61, 23-24] nhưng gọi nó là động từ ngữ pháp để phân biệt nó với động từ - thực từ đích thực
Do trống nghĩa từ vựng, là không giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa (vị tố) của câu
+) Về đặc điểm hoạt động ngữ pháp:
Là hầu như không có khả năng độc lập làm thành tố cú pháp Bổ ngữ sau là rất khó lược bỏ (Chẳng hạn, chỉ nói: “Nó ngủ Nó ăn Nó đọc.” chứ hầu như không nói: “Nó là.”) Việc hầu như không thể lược bỏ bổ ngữ là thực
từ ở sau là (thậm chí, ngay cả trong trường hợp đối thoại) chứng tỏ vai trò
quan trọng về ngữ nghĩa của bổ ngữ đó
Vì là không giữ vai trò quan trọng về nghĩa nên trong một số
trường hợp, có thể dễ dàng lược bỏ nó mà không làm ảnh hưởng cơ bản đến nghĩa biểu hiện của câu Ví dụ:
Cậu Vàng Ø người xóm Đông (Dẫn theo [101, 51-52])
Nó vẫn Ø lớp trưởng (Dẫn theo [106, 148])
Anh Sản cũng Ø người Quảng Yên phải không? (Nguyễn Đình Thi) Nhà nó cũng Ø nhà gạch hẳn hoi (Nam Cao)
Câu quan hệ với từ là gồm nhiều biến thể cụ thể đòi hỏi khi phân tích
cấu trúc nghĩa biểu hiện của nó, cần xem xét từng trường hợp cụ thể
Tóm lại, trong câu quan hệ với động từ là, là chỉ là hạt nhân cú pháp
(vị ngữ), còn hạt nhân ngữ nghĩa là thực từ chỉ đặc điểm (thuộc tính) giữ vai
trò bổ ngữ ở sau là
- Đối với câu bị động: Tán thành ý kiến của một số tác giả, chúng tôi coi câu bị động (Nó được mẹ khen) là câu khác về cú pháp nhưng có cùng nghĩa biểu hiện với câu chủ động tương ứng (Mẹ khen nó) Nói cách khác, ở câu bị động cũng như ở câu chủ động tương ứng trên dây chỉ có một sự tình
Trang 3636
(hành động) với lõi sự tình được biểu thị bởi từ giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa là khen và hai tham thể ngữ nghĩa là mẹ (tác thể) và nó (đối thể) Sự thừa nhận điều này có nghĩa là thừa nhận được (bị) trong câu bị động là
những từ trống nghĩa (đã ngữ pháp hóa ở mức độ nhất định) [5, 158-159], [27,
139] Diệp Quang Ban coi được (bị) trong câu bị động là những yếu tố “có tư cách của trợ động từ (auxiliary), với tính chất hư cao nhất” [5,159] Đinh Văn Đức coi được, bị trong câu bị động là các động từ trống nghĩa và xếp chúng vào nhóm động từ tình thái - ngữ pháp [27, 139] V.S.Panfilov coi được (bị) trong câu bị động là các “tác tử của phép cải biến bị động” [70, 247] và luận giải chúng như là các “chỉ tố của hình thái phân tích tính của động từ” [70, 247]
Chúng tôi coi được, bị trong câu bị động là động từ gây khiến (có tính chất bán thực từ) Với đặc điểm trống nghĩa từ vựng, được, bị trong câu bị
động được dùng với tư cách là phương tiện cải biến và sự có mặt của chúng không làm thay đổi về cơ bản nghĩa biểu hiện của câu (so với nghĩa của câu chủ động tương ứng) Do đó, câu bị động được coi là dạng cải biến của câu chủ động tương ứng
Là động từ, được, bị trong câu bị động vẫn chỉ hoạt động khái quát
(hoạt động hiểu theo nghĩa ngữ pháp), vẫn bảo lưu khả năng kết hợp với các phó từ thời thể và khả năng giữ vai trò hạt nhân ngữ pháp (vị ngữ) của câu Tuy nhiên, vì trống nghĩa từ vựng nên chúng không thể giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa hay yếu tố biểu thị lõi sự tình của câu Hạt nhân ngữ nghĩa hay yếu
tố biểu thị lõi sự tình trong câu bị động, theo chúng tôi, là các động từ đứng
sau được, bị (ở câu trên đây là khen)
Cách xác định hạt nhân ngữ nghĩa của câu với vị ngữ là các động từ
ngữ pháp là, được, bị tạo cơ sở để xem xét cách xác định hạt nhân ngữ nghĩa của câu nhân quả với vị ngữ là các động từ gây khiến làm, khiến
- Đối với câu nhân quả có vị ngữ là các động từ “làm”, “khiến”, chúng tôi quan niệm trong câu nhân quả với vị ngữ là các động từ làm, khiến (Tiếng
nổ làm (khiến) mọi người giật mình Sự vắng mặt của anh làm (khiến) mẹ lo lắng), làm, khiến cũng như được, bị, đã ngữ pháp hóa ở mức độ nhất định và
Trang 3737
về cơ bản, có tính chất của động từ gây khiến (động từ bán thực từ) [70,
12-15] Làm, khiến trong câu nhân quả kiểu trên đây cần được phân biệt với làm, khiến là động từ - thực từ đích thực (trong: Ăn có mời, làm có khiến Chim làm tổ Ông ấy làm nhà Ai khiến mày?)
Theo cách hiểu trên đây, chúng tôi cho rằng có thể xác định cấu trúc
cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu nhân quả với các động từ làm, khiến như sau:
- Hạt nhân ngữ pháp (vị ngữ) của câu là các động từ làm, khiến
- Hạt nhân ngữ nghĩa (biểu thị lõi sự tình) là các động từ chỉ trạng thái
(kết quả) ở sau làm, khiến (giật mình, lo lắng)
- Các danh từ (ngữ danh từ) giữ vai trò chủ ngữ của cụm chủ vị làm bổ
ngữ (mọi người, mẹ) thuộc vai nghĩa (nghĩa biểu hiện, nghĩa sâu) nghiệm thể (kẻ mạng trạng thái); còn các ngữ danh từ là chủ ngữ của câu (tiếng nổ, sự vắng mặt của anh) thuộc vai nghĩa (nghĩa biểu hiện, nghĩa sâu) nguyên nhân
Cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) của câu nhân
quả với vị ngữ là các động từ gây khiến làm, khiến sẽ được luận án xem xét
cụ thể và làm rõ ở các Chương 2 và Chương 3
Như vậy, trong những câu với vị ngữ (hạt nhân ngữ pháp) là các động từ trống nghĩa (trong đó có động từ gây khiến), hạt nhân ngữ pháp và hạt nhân ngữ nghĩa không trùng nhau Chẳng hạn, ở ba kiểu câu được khảo sát trên đây,
hạt nhân ngữ pháp là các động từ trống nghĩa (là, được, bị, làm, khiến); còn hạt nhân ngữ nghĩa là các thực từ đứng sau chúng (sinh viên, khen, giật mình, lo lắng) Ở đây, cần nói thêm rằng trong trường hợp vừa chỉ ra, từ giữ vai trò hạt
nhân ngữ nghĩa chỉ có mối quan hệ thuần ngữ nghĩa (không có quan hệ cú pháp) với từ ngữ đảm nhiệm vai trò tham thể ngữ nghĩa hay vai nghĩa nào đó
Chẳng hạn, ở câu chỉ quan hệ với động từ là, từ giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa (sinh viên) chỉ có quan hệ thuần ngữ nghĩa với từ giữ vai trò tham thể kẻ mang đặc điểm (nó) nêu ở chủ ngữ Ở câu bị động, từ giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa (khen), chỉ có quan hệ thuần ngữ nghĩa (quan hệ hoạt động- đối thể hay đích thể) với từ giữ vai trò tham thể đối thể hay đích thể (nó) nêu ở chủ ngữ Ở câu nhân quả, từ giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa (giật mình, lo lắng), chỉ có quan hệ
Trang 3838
thuần ngữ nghĩa (quan hệ nhân quả) với từ đảm nhiệm vai nghĩa nguyên nhân
và giữ chức năng cú pháp chủ ngữ (tiếng nổ, sự vắng mặt của anh)
d) Các tham thể ngữ nghĩa (các vai nghĩa)
- Các loại tham thể ngữ nghĩa
Trong công trình Ngữ pháp chức năng (Functional Grammar), S.Dik đã
trình bày khái niệm vị ngữ hạt nhân (nuclear predication) và vị ngữ mở rộng
(extended predication): “Căn cứ vào kết cấu vị ngữ hạt nhân xác định một tập hợp các sự tình, chúng ta có thể tạo thành một kết cấu vị ngữ mở rộng bằng cách thêm vào một hay nhiều chu tố cho kết cấu vị ngữ hạt nhân đó.” [25, 39]
Trong khung vị ngữ, các tham thể nêu đặc trưng bằng các chức năng nghĩa trong mối quan hệ với vị từ Do đó, các tham thể còn được gọi là các vai nghĩa Trên cơ sở xác định các chức năng nghĩa của các tham thể đối với các
loại vị từ mà các tác giả đã đưa ra một danh sách gồm các tham thể: thể hành động, thể (chịu) quá trình, thể (trong) tư thế, thể (trong) trạng thái, lực, thể vị trí, thể đích, thể được lợi, thể bị hại, thể liên đới, tham thể không gian, thời gian, công cụ, phương tiện, nguyên nhân, điều kiện, nghịch đối, mục đích, kết quả…[25] Các tham thể trên được các nhà nghiên cứu khái quát thành hai loại: tham thể cơ sở và tham thể mở rộng (thuật ngữ của Diệp Quang Ban)
Trong luận án này, tán thành ý kiến của S.Dik, chúng tôi hiểu tham thể ngữ nghĩa là các chức năng ngữ nghĩa (các vai nghĩa), tức là các yếu tố
có chức năng bổ sung làm rõ nghĩa cho hạt nhân ngữ nghĩa Như vậy, về nguyên tắc, các tham thể ngữ nghĩa cần được xác định trong mối quan hệ với hạt nhân ngữ nghĩa Chẳng hạn, ở câu Nó được mẹ khen, tham thể nó cần được xác định trong mối quan hệ với khen là hạt nhân ngữ nghĩa (chứ
không phải hạt nhân cú pháp) Tham thể ngữ nghĩa (vai nghĩa) bao gồm
tham thể cơ sở và tham thể mở rộng
Tham thể cơ sở là những vai nghĩa xuất hiện xung quanh hạt nhân ngữ
nghĩa (thường là vị từ) mà sự có mặt của chúng là do hạt nhân ngữ nghĩa (vị từ) đòi hỏi, hay nói cách khác, tham thể cơ sở là “các thành phần cố hữu trong quá trình” (Dẫn theo [1, 34]) Xét về mặt nghĩa, tham thể cơ sở là những vai nghĩa tất yếu do bản thân vị từ giữ vai trò hạt nhân ngữ nghĩa quy định Nó
Trang 3939
luôn luôn được giả định trong ý nghĩa của các từ chỉ đặc trưng, thuộc tính, mặc dù trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, tùy thuộc vào tình huống giao tiếp và ngữ cảnh giao tiếp, chúng có thể hiện diện hay không hiện diện Việc thay đổi
số lượng các tham thể cơ sở sẽ gắn liền với sự thay đổi của sự tình chứa nó Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa tham thể cơ sở và tham thể mở rộng
Tham thể mở rộng là những thực thể xuất hiện trong sự tình, song sự
có mặt của chúng không do vị từ hạt nhân đòi hỏi mà do sự chi phối của tình huống, hoàn cảnh Chúng là các yếu tố thời gian, không gian, về nguyên nhân, mục đích, cách thức, phương tiện có mặt trong sự tình, làm cho sự tình được đầy đủ hơn Đúng như Hoàng Văn Vân đã nhận xét:
“Chúng không phải là những thành phần thiết yếu để tạo dựng một phán đoán thỏa mãn về mặt logic Tuy nhiên, chúng có tầm quan trọng trong việc cung cấp hậu cảnh hay tình huống mà thiếu chúng thì nội dung phán đoán sẽ trần trụi hay mất đi vẻ thú vị” (dẫn theo [1, 35])
Trong câu, tham thể cơ sở thường được biểu hiện bằng danh từ, cụm danh từ hay đại từ, còn tham thể mở rộng được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ), động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ)
Sự phân biệt giữa tham thể cơ sở và tham thể mở rộng là điều hết sức cần thiết trong việc xác định rõ vai trò của các vai nghĩa trong sự tình Sự phân biệt này, một mặt, căn cứ vào bản thân nghĩa của chúng, mặt khác căn cứ vào
vị trí của chúng trong cấu trúc nghĩa biểu hiện và cấu trúc cú pháp của câu
- Danh mục các tham thể
Fillmore đã giới thiệu những cách hay vai nghĩa sau đây: Agentive (Tác cách), Instrumental (Công cụ cách), Dative (Tặng cách), Factitive (Tạo cách), Locative (Địa điểm), Objectice (Đối thể) [29]
Trong các công trình tiếp theo, Fillmore (1971 và 1977) dần bổ sung
thêm một số cách “cách”, tức là các “vai nghĩa”, khác: Source (Nguồn), Experiencer (Kẻ thể nghiệm hay Nghiệm thể), Undergoer (Người/Vật trải qua
sự biến) Danh sách các vai nghĩa đã được nhiều nhà ngôn ngữ học bổ sung
trong nhiều công trình khác nhau
Trang 4040
M.A.K Halliday chú ý đến chức năng động, đến quá trình nên ông đã
chia nghĩa câu thành sáu quá trình, về sau ông gọi là các kiểu quá trình mà
“phương thức phản ánh được thể hiện là hệ thống chuyển tác”: Quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ, quá trình ứng xử, quá trình nói năng, quá trình tồn tại [34]
Khi xem xét ba loại kết cấu nghĩa lấy vị từ làm trung tâm là: trạng thái, quá trình và hành động, W.Chafe phát hiện thêm một số quan hệ nghĩa khác như: kết quả làm thay đổi trạng thái, gây ra quá trình làm thay đổi trạng thái, tuyệt đối hóa trạng thái tương đối
Từ sự đánh giá trên, W.Chafe mới đề nghị danh sách các vai nghĩa như
người hành động, người chịu đựng, người nghiệm thể, người hưởng lợi, công
cụ, đối tượng, nơi chốn [15]
Trong “Câu chủ - vị tiếng Việt” [88], Lê Xuân Thại đã xác định các vai nghĩa có thể đứng vị trí chủ ngữ trong câu tiếng Việt: 1) Kẻ hoạt động; 2) Đối tượng của hoạt động; 3) Kẻ tiếp nhận; 4) Công cụ của hoạt động; 5) Vị trí
Lê Xuân Thại cũng cho rằng việc các vai nghĩa trên (trừ vai kẻ hoạt động) đứng ở vị trí chủ ngữ thì “kéo theo sự thay đổi ý nghĩa và cấu tạo của vị
ngữ so với vị ngữ khi kẻ hoạt động đứng làm chủ ngữ và cũng từ đó mà ý nghĩa của câu cũng có chỗ thay đổi” [90, 152]
Diệp Quang Ban cho rằng các tham thể thường gặp là động thể, đắc lợi thể, bị đồng nhất thể, thuộc tính thể,đương thể, cảm thể, phát ngôn thể, đích thể, tiếp thể [9, 36]
Hoàng Văn Vân đã thuyết minh cho quan điểm mà Halliday [1985,
1994] gọi là “hệ thống tính” trong cách phân tích ngữ pháp của các ngôn
ngữ trên thế giới dựa trên quan điểm chức năng, đặc biệt là cách phân tích
câu Theo Hoàng Văn Vân, các vai nghĩa sau đây có trong tiếng Việt: Hành thể, Đích thể, Lợi thể, Tiếp thể, Khách thể, Khiến thể, Cảm thể, Hiện tượng, Đương thể, Thuộc tính, Tạo thuộc tính thể, Giá trị, Biểu hiện, Bị đồng nhất thể, Đồng nhất thể, Hiện hữu thể, Phát ngôn thể, Tiếp ngôn thể, Hiện hữu thể, Ngôn thể, Dung môi, Cương vực, Ứng thể, Chu cảnh gồm Phạm vi, Định vị, Phong cách, Nguyên nhân, Đồng hành, Vấn đề, Vai diễn và Quan điểm [108]