Như vậy việc xác định tỷ lệ thiếu máu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai là hết sức có ý nghĩa [7].. Định nghĩa thiếu máu ở phụ nữ có thai Định nghĩa chính xác t
Trang 1BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐÔNG ANH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU Ở THAI PHỤ ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐÔNG ANH NĂM 2014
Nhóm nghiên cứu:
1.Bs Nghiêm Thị Xang
2.Bs Nguyễn Minh Đức 3.Bs Ngô Anh Quang 4.Bs Nhữ Văn Giang
HÀ NỘI – 2015
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1 : TỔNG QUAN
1.1 Thiếu máu ở phụ nữ có thai
1.1.1 Định nghĩa thiếu máu
1.1.2 Định nghĩa thiếu máu ở phụ nữ có thai
1.1.3 Phân loại thiếu máu ở phụ nữ có thai theo WHO
1.1.4 Nguyên nhân thiếu máu ở phụ nữ có thai
1.2 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu
1.3 Một số nghiên cứu thiếu máu ở phụ nữ có thai
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
2.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin nghiên cứu
2.2.4 Biến số nghiên cứu
2.2.5 Một số tiêu chuẩn liên quan đến nghiên cứu
2.2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tỷ lệ thiếu máu
Trang 43.2 Mức độ thiếu máu của thai phụ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: MẪU BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu đồ 1 Tỷ lệ thiếu máu
Bảng 1 Mức độ thiếu máu của thai phụ
Bảng 2 Liên quan giữa tuổi của thai phụ và thiếu máu
Bảng 3 Liên quan giữa nghề nghiệp của thai phụ và thiếu máu
Bảng 4 Liên quan giữa số lần đẻ của thai phụ và thiếu máu
Bảng 5 Liên quan khoảng cách giữa lần sinh trước của thai phụ con rạ và thiếu máuBảng 6 Liên quan giữa số lượng thai và thiếu máu
Bảng 7 Liên quan giữa địa chỉ thai phụ và thiếu máu
Bảng 8 Liên quan giữa cách thức đẻ và thiếu máu
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiếu máu là sự giảm số lượng hồng cầu hoặc giảm nồng độ Hb ở máu ngoại
vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các mô tế bào trong cơ thể [1]
Thiếu máu trong thời kỳ mang thai là 1 trong những nguyên nhân đe dọa cả mẹ
và thai nhi Đối với người mẹ, thiếu máu làm tăng tai biến trong và sau đẻ, nhiễmkhuẩn hậu sản, sót rau, choáng trong cuộc đẻ, chậm hồi phục sức khoẻ sau đẻ [2] Tỷ
lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ bị thiếu máu cao hơn so với người mẹ bìnhthường [3] Thai có thể bị sẩy, đẻ non, chậm phát triển trong buồng tử cung, và thiếumáu, nhẹ cân khi đẻ ra [4]
Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữmang thai dao động từ 5 -15% tại Hoa Kỳ và lên đến 20- 80% tại các nước đang pháttriển [5] Ở Việt Nam, năm 2006 tỷ lệ này là 16,2- 68,1% và tại Hà Nội là 36,7% [6]
Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2010- 2020 do Thủ tướng chínhphủ phê duyệt đã xây dựng mục tiêu giảm tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai xuống28% năm 2010 và 23% vào năm 2015 Như vậy việc xác định tỷ lệ thiếu máu và một
số yếu tố liên quan ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai là hết sức có ý nghĩa [7]
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm góp xác định tỷ lệ thiếu máu ở thai phụ và cải
thiện sức khoẻ bà mẹ - trẻ em, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu
tình trạng thiếu máu ở thai phụ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh năm 2014 ”
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ CÓ THAI
1.1.1 Định nghĩa thiếu máu
Thiếu máu là sự giảm số lượng HC hoặc giảm nồng độ Hb ở máu ngoại vi dẫnđến máu thiếu oxy để cung cấp cho các mô tế bào trong cơ thể Thiếu máu khi có 2trong 3 xét nghiệm sau đây giảm dưới mức bình thường [1]:
- Hematocrit (Hct)
- Nồng độ Hemoglobin (Hb)
- Số lượng hồng cầu (HC)
1.1.2 Định nghĩa thiếu máu ở phụ nữ có thai
Định nghĩa chính xác thiếu máu ở phụ nữ có thai (PNCT) rất phức tạp bởi một
số yếu tố như giá trị bình thường của Hb rất khác nhau giữa nam và nữ, giữa phụ nữ
có thai và không có thai Các yếu tố về mức sống, tuổi, tình trạng sinh lý, việc dùngthuốc, hoạt động của bệnh nhân trước khi xét nghiệm đều ảnh hưởng đáng kể đếnkết quả xét nghiệm
Có nhiều định nghĩa khác nhau của nhiều tác giả về thiếu máu ở PNCT:
- Theo Brideau thiếu máu khi Hb <10g/dl, HC <3,5 triệu/mm3, Hct < 30% [8]
- Theo J.Bernard thiếu máu khi Hb < 10,5 g/dl, HC < 3,5 triệu/mm3, Hct < 30%
- Trung tâm giám sát bệnh tật ở Mỹ đưa ra định nghĩa thiếu máu ở PNCT khi
Hb < 10,5 g/dl ở 3 tháng giữa thai kỳ, Hb < 11g/dl ở 3 tháng đầu và 3 tháng cuối thaikỳ
Hiện nay trên thế giới người ta thừa nhận định nghĩa về thiếu máu ở PNCT củaWHO khi Hb < 11g/dl [5]
Trang 81.3 Phân loại thiếu máu ở PNCT của WHO [5]
- Thiếu máu nhẹ: Hb>90 g/l và <110 g/l
- Thiếu máu trung bình: Hb 70 - 90 g/l
- Thiếu máu nặng: Hb <70 g/l
1.1.4 Nguyên nhân thiếu máu
1.1.4.1 Thiếu máu do thiếu sắt:
Sắt trong thức ăn vào ống tiêu hoá nhờ acid clohydric và vitamin C hấp thu quaniêm mạc ruột vào huyết tương Tại đây sắt được vận chuyển nhờ chất transferrin(một loại protein) tới nơi dự trữ ở tổ chức dưới dạng ferritin, hemosiderin (gan, lách)hoặc hem của men (xytocrom, myoglobin – hemoglobin…) Đây là hỗn hợp sắt luônthay đổi Tại tuỷ xương, sắt kết hợp với protoporphyrin thành hem để hình thànhhemoglobin Nhu cầu sắt cho cơ thể phụ thuộc vào tuổi, giới và những tiêu hao hàngngày, tiêu hao bất thường như kinh nguyệt, có thai, cho con bú Bình thường, mỗingày cơ thể nữ giới cần 2,5 mg sắt Bình thường hàm lượng sắt trong huyết thanh là:11±2 mmol/lít hoặc 140 ± 54g/100ml máu [11] Thiếu máu thiếu sắt khi hàm lượngsắt trong huyết thanh giảm dưới ngưỡng trên Thiếu máu thiếu sắt chiếm đại đa số cáctrường hợp thiếu máu trong quá trình mang thai Theo Đào văn Chinh, thiếu máu dothiếu sắt chiếm 80% các trường hợp thiếu máu khi có thai, 10% - 20% các PNCT cóchế độ ăn đầy đủ bị thiếu máu do thiếu sắt, tỷ lệ này tăng cao hơn nhiều ở nhữngngười đẻ nhiều, đẻ dày và cho con bú kéo dài [12]
Nguyên cứu trên 33 phụ nữ có thai bình thường ở 3 tháng cuối thai kỳ đến khámtại khoa sản bệnh viện Thanh Nhàn – Hà Nội năm 1994, Hà Huy Khôi và các cộng sựcho thấy: dự trữ sắt bình thường ở thai phụ không thiếu máu, dự trữ sắt giảm ở thaiphụ bị thiếu máu, khi lượng Hb 6-8 g/l dữ trữ sắt cạn kiện, từ đó nhận định rằng thiếusắt là nguyên nhân quan trọng dẫn tới thiếu máu ở các đối tượng nghiên cứu [13].Sukrat B và Sirichotiyakul S nghiên cứu năm 2006 trên 648 phụ nữ có thai ở bệnhviện Maharaj Nakim Chiangmai, Thái Lan, kết quả cho thấy: tỷ lệ thiếu máu là20,1%; phân chia thiếu máu trong từng thai kỳ là 17,3%, 23,8% và 50,0% tương ứngvới quý 1,2 và 3 PNCT bị bệnh Thalassemia và các bệnh khác là 56 trong tổng số
102 PNCT bị thiếu máu (54,9%) Trong 58 thai phụ bị thiếu máu, có 25 trường hợp
Trang 9thiếu máu thiếu sắt Các nguyên nhân khác gây thiếu máu là nhiễm ký sinh trùng(8,7%), thiếu máu do các bệnh mãn tính( 92,7%), 37 trường hợp (33%) không xácđịnh được nguyên nhân thiếu máu [14].
Tổng lượng sắt cần cho thời kỳ có thai trung bình là 1000mg, trong đó 500mg để tăng tổng hợp Hemoglobin, 250 - 300mg giúp thai phát triển, 30 - 100mgcần cho máu thai và bánh rau [2] Chảy máu khi sổ rau bình thường khoảng 300mlcũng gây mất 150 mg sắt Như vậy, khi có thai cần khoảng 700mg sắt và cơ thể phảihấp thu được 2,5 mg/ngày Nhu cầu sắt tăng theo tuổi thai, 3 tháng đầu cần1mg/ngày, 3 tháng cuối cần 06mg/ngày [12)]
Với chế độ ăn uống đầy đủ, mỗi ngày cũng chỉ cấp cho cơ thể khoảng 1,5mgsắt, số thiếu hụt phải lấy ở nơi dự trữ, vì vậy nếu người mẹ ngay từ đầu chỉ có dự trữsắt ít hoặc không có sẽ xảy ra tình trạng thiếu sắt nghiêm trọng Qua nghiên cứu,người ta thấy 30% phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ không có dự trữ sắt Thiếu máu thiếu sắtthường gặp ở thai phụ trẻ tuổi và lớn tuổi, đẻ nhiều lần một số bệnh mãn tính: bị sốtrét gây tan máu, trĩ, ung thư dạ dày, ung thư trực tràng, u xơ tử cung gây chảy máumất máu rỉ rả, giun móc không những hút máu mà còn gây viêm tá tràng làm chokhông hấp thu được sắt, tá tràng là nơi hấp thu nhiều sắt nhất, các bệnh có rối loạntiêu hoá như viêm ruột, viêm dạ dày thì khả năng hấp thu sắt kém… Thiếu máu thiếusắt hình ảnh hồng cầu sẽ thay đổi HC nhỏ không đều, nhược sắc [2]
1.1.4.2 Thiếu máu do thiếu acid folic:
Các dẫn xuất của acid folic tham gia vào cơ chế chuyển hoá một số acid amincần thiết cho sự tổng hợp protein của cơ thể Thiếu acid folic, quá trình phân chia tếbào bị giảm sút vì acid folic tham gia tổng hợp bazơ purin và pyrimidin của acidnucleic [15] Acid folic không được dự trữ trong cơ thể Trong khi có thai, cơ thểphát triển mạnh, phân bào mạnh đòi hỏi nhiều acid folic Nếu không thoả mãn được,thiếu acid folic sẽ là nguyên nhân thiếu máu ở người mẹ
Nguyên nhân chính của thiếu máu hồng cầu to ở PNCT là do nhu cầu acid folictăng lên một cách đáng kể Tình trạng thiếu acid folic trong khẩu phần ăn không phải
là nguyên nhân chủ yếu ra thiếu máu HC to, ngoài ra còn có các nguyên nhân khác
Trang 10như nôn nghén kéo dài, viêm dạ dày ruột kéo dài, kém hấp thu, chế độ ăn kiêng…[5].
Ở Châu Âu, tỷ lệ bệnh là khoảng 2% ở PNCT Ở những nước kinh tế đang phát triển,
tỷ lệ mắc có cao hơn, thường phối hợp nhiều nguyên nhân: thiếu chất, kém hấm thu
do các bệnh đường ruột (12)
1.1.4.3 Các nguyên nhân hiếm gặp khác:
- Thiếu máu ác tính do thiếu Vitamin B12:
Bệnh hiếm gặp, hiếm xảy ra trong thời kỳ có thai Nguyên nhân có thể do rốiloạn tiêu hoá, do cắt đoạn dạ dày… gây mất yếu tố nội do vùng đáy dạ dày tiết ra nênkhông hấp thu được vitamin B12 là yếu tố ngoại [16]
- Thiếu máu do suy tuỷ xương:
Một vài trường hợp gặp suy tuỷ xương không rõ nguyên nhân ở PNCT, cơ chếbệnh sinh chưa rõ Suy tuỷ có thể hết đi khi đẻ và tái phát ở lần có thai sau [12]
- Thiếu máu do mất máu cấp: gây nên do sảy thai, thai ngoài tử cung, rau bongnon, rau tiền đạo, thai trứng…
Theo thống kê của WHO, hàng năm có khoảng 1/2 PNCT trên thế giới bị thiếumáu, đặc biệt ở những nước đang phát triển tỷ lệ thiếu máu chiếm 56%
Tỷ lệ PNCT bị thiếu máu cao nhất ở Châu Phi, sau đó là Châu Á và Châu Mỹ LaTinh Tại các quốc gia phát triển, tỷ lệ PNCT bị thiếu máu khoảng 16% [5]
1.2 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THIẾU MÁU
* Các yếu tố: nơi ở, nghề nghiệp, tuổi, môi trường sống, số lần đẻ, khoảng cáchgiữa các lần đẻ… của thai phụ
Nghiên cứu trong 2 năm 1987 và 1988 ở vùng nông thôn và thành phố Hà Nộicủa Từ Giấy và Hà Huy Khôi cho thấy tỷ lệ thiếu máu của PNCT ở nội thành là37,1%, ở nông thôn là 59% Tỷ lệ thiếu máu tăng dần theo tuổi thai ở cả hai nhóm[13]
Trong nghiên cứu của Đào Văn Chinh (1980) cho thấy tỷ lệ thiếu máu tăng cao
ở người đẻ dày, đẻ nhiều, cho con bú kéo dài [12]
Trang 11Tại Trung tâm y tế Jima-Ethiopia năm 1993 nghiên cứu 279 phụ nữ lần đầu đếnkhám thai, người ta thấy tỷ lệ thiếu máu chung là 48% trong đó: nông thôn chiếm56,8%, thành phố 43,8% Tỷ lệ thiếu máu tăng theo số lần mang thai và khoảng cáchgiữa các lần mang thai càng dày tỷ lệ thiếu máu càng cao [17].
Nghiên cứu của Ogbeide O ; Waghatasoma V 1994 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ởPNCT ở độ tuổi 30-39 cao hơn so với các nhóm khác [16]
Vanden Broek N.R và cộng sự nghiên cứu tại Malawi năm 2000 cho thấy tỷ lệthiếu máu ở PNCT sinh sống tại khu vực nông thôn là 72%, trong đó thiếu máu nặngchiếm 4%; tỷ lệ PNCT ở khu vực thành thị bị thiếu máu là 57%, trong đó thiếu máunặng chiếm 4% [18]
Năm 2005, Balachew T.; Legesse Y Nghiên cứu trên 168 PNCT tới khám tạibệnh viện trường đại học Jima – Tây Nam Ethiopia, tỷ lệ thiếu máu là 38,2%, nồng
độ Hb trung bình là 11,3 mg/dl Ở những thai phụ có tiền sử kinh nguyệt nhiều hơnbình thường, tỷ lệ thiếu máu cao gấp 4 lần thai phụ có lượng kinh nguyệt bìnhthường Những thai phụ có tiền sử nhiễm giun móc, tỷ lệ thiếu máu cao gấp 2 lầnnhững thai phụ không có tiền sử nhiễm giun móc; những thai phụ không đi giày, déptrong sinh hoạt và lao động, tỷ lệ thiếu máu cao gấp 3 lần Những thai phụ có khoảngcách về thời gian so với lần sinh trước dưới 24 tháng tỷ lệ thiếu máu cao gấp 3 lần sovới những thai phụ có khoảng cách sinh trên 24 tháng [19]
Nghiên cứu từ năm 1998 – 2003 trên 327 phụ nữ có thai trong độ tuổi từ 20- 30,không hút thuốc lá, thể lực tốt, có thời gian sinh sống trên 5 năm ở vùng Nis và NiskaBanja (Serbia và Montenegro), Aleksandre Stankovic, Dranana Nikic và MajaNikolic ở Khoa Y Trường đại học Nic (Serbia và Montenegro) đánh giá tương quangiữa chỉ số chất lượng không khí (Air Quality Index) và mức độ thiếu máu ở 327 phụ
nữ có thai nói trên và thấy rằng tần suất bị thiếu máu ở phụ nữ có thai có tiếp xúc với
không khí bị ô nhiễm cao hơn có ý nghĩa thống kê (χ 2 = 11.18,p<0.05) so với tần suấtthiếu máu ở PNCT tiếp xúc với không khí không bị ô nhiễm [3]
* Một số bệnh mãn tính của mẹ có liên quan đến thiếu máu:
- Mẹ bị bệnh thận, tăng HA mãn tính
Trang 12Trong viêm thận mãn: thiếu protein tạo HC, thiếu hormon erythropoietin của tổchức cạnh cầu thận, ngoài ra còn do hậu quả của những chất độc không được đào thải
ứ lại trong máu ức chế tuỷ xương sinh hồng cầu
Trong tăng HA mãn tính: Mạch máu bị thiểu dưỡng, xơ hoá kể cả động mạchthận gây thiếu máu thận ức chế sản sinh hormon erythropoietin dẫn đến ức chế tuỷxương sinh hồng cầu [11]
Theo nghiên cứu của Ramin S.M và cộng sự, bệnh thận mãn tính là một bệnh ítgặp đối với thai nghén, tần suất bệnh dao động trong khoảng từ 0,03% - 0,12% trongquần thể PNCT Các biến chứng trong quá trình mang thai liên quan đến bệnh thậnmãn tính bao gồm tiền sản giật, giảm chức năng thận, đẻ non, thiếu máu, tăng HAmạn tính và mổ lấy thai Tỷ lệ sơ sinh sống trong nhóm PNCT bị bệnh thận mạn tínhtrong khoảng từ 64% - 98%, phụ thuộc vào mức độ suy thận và bệnh tăng HA đi kèm[20] Mẹ mắc một số bệnh mãn tính khác như: bệnh tim, bệnh phối mãn tính… mẹ bịnhiễm độc: chì, tia X…
* Một số yếu tố từ phía thai và phần phụ của thai:
- Đa thai:
Khi có thai nhu cầu dinh dưỡng của thai phụ tăng để nuôi dưỡng thai Trongchửa đa thai không những một thai mà nhiều thai cùng phát triển, vì thế hiện tượngthiếu máu rất hay gặp
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Oanh (2006), tỷ lệ thiếu máu trong chửa songthai chiếm 56,1%, cao gấp 1,76 lần so với 43,3% ở nhóm chửa đơn thai (OR = 1,76,CI: 1,38-0.03) [21]
- Rau tiền đạo:
Rau tiền đạo là rau bám một phần hoặc hoàn toàn ở đoạn dưới và cổ tử cung,làm cản trở đường ra của thai khi chuyển dạ đẻ Rau tiền đạo là một trong nhữngbệnh lý về vị trí rau bám, gây chảy máu trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén vàtrong chuyển dạ Đoạn dưới tử cung được thành lập trong 3 tháng cuối bởi eo tửcung từ 0,5cm giãn dần tới lúc chuyển dạ là 10cm, trong khi đó bánh rau không giãn
ra được gây co kéo làm đứt các mạch máu giữa tử cung và bánh rau gây chảy máu
Trang 13Trong 3 tháng cuối có những cơ co Hick (cơn co sinh lý để hình thành đoạn dưới)cũng có thể gây bong rau một phần làm chảy máu do đó dẫn đến tình trạng thiếu máu.
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ CÓ THAI:
1.3.1 Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
Năm 1990, trong nghiên cứu về tỷ lệ thiếu máu ở PNBCT tại Brasil, người tathấy tỷ lệ thiếu máu là 12,4%, trong đó tỷ lệ thiếu máu quý 1 là 3,3%, quý 2 là20,9%, quý 3 là 32,1% PNCT trên 3 lần thì tỷ lệ thiếu máu cao hơn những PNCTdưới 3 lần Trong nghiên cứu về tỷ lệ thiếu máu của 279 PNCT lần đầu đến khám tạikhoa chăm sóc tiền sản của Trung tâm Y tế Jima – Ethiopia năm 1993, người ta thấy
tỷ lệ thiếu máu chung là 48%, trong đó, nông thôn chiếm 56,8%, thành thị chiếm43,2% Nồng độ Hb trung bình là 10,9 g/dl, đối với phụ nữ có thiếu máu là 6,5 g/dl;
đa số thiếu máu vừa, tỷ lệ thiếu máu nặng chiếm 2,8% Tỷ lệ thiếu máu cao ở nhómthất học và nhóm không áp dụng biện pháp tránh thai, trong 3 tháng cuối thai kỳ vàtưng theo số lần mang thai [17]
Năm 1993, Ogbeide O nghiên cứu trên 435 phụ nữ có thai đến khám tại Bệnhviện Benin (Nigeria) cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 10,7%, trong đó có 2,8% là thiếumáu nặng, thiếu máu ở độ tuổi 30-39 là cao hơn so với các độ tuổi khác [16]
Nghiên cứu về tỷ lệ và loại thiếu máu trong các thai phụ nghèo ở nội ô Karachinăm 1994 cho thấy trong 318 phụ nữ có 104 phụ nữ (32,7%) bị thiếu máu Thiếu máu
do thiếu sắt là nguyên nhân nổi bật, chiếm tới 63,5% PNCT bị thiếu máu [16]
Năm 1997, Một nghiên cứu tại Ấn Độ về ảnh hưởng của thiếu máu ở PNCT lêncác chỉ số hình thái sơ sinh được tiến hành ở PNCT bị thiếu máu (Hb<11g/l) và 22PNCT không bị thiếu máu (Hb>11g/l) hai nhóm nghiên cứu này được chọn ngẫunhiên tại bệnh viện thuộc trường đại học Banaras với tuổi thai 37- 41 tuần Sản phụđược làm xét nghiệm Hb khi bắt đầu chuyển dạ
Kết quả cho thấy các chỉ số: cân nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, vòngcánh tay của trẻ sơ sinh sinh ra do các sản phụ bị thiếu máu vừa và nặng đều thấp hơnmột cách có ý nghĩa so với trẻ sơ sinh sinh ra do các bà mẹ không thiếu máu [22]
Trang 14Năm 2000, một nghiên cứu ở Miền Nam Malawi cho thấy tỷ lệ PNCT bị thiếumáu là 57%, thiếu máu nặng là 3,6%, cáctỷ lệ này cao hơn ở nông thôn( 72% và 4%),
tỷ lệ thiếu máu ở PNCT lần đầu cao hơn PNCT lần sau [23]
1.3.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1981 kết quả nghiên cứu huyết đồ trên PNCTtại Bệnh viện Hùng Vương cho thấy các trị số nằm ở giới hạn giữa bình thường vàthấp của thiếu máu, Hb trung bình 11.2 ±1.29 g/dl [24]
Nghiên cứu ở vùng nông thôn và thành phố Hà Nội của Từ Giấy và Hà HuyKhôi trong 2 năm 1987- 1988 cho thấy tỷ lệ thiếu máu của PNCT ở nội thành là37,1%, ở nông thôn là 59% Tỷ lệ thiếu máu tăng dần theo tuổi thai ở cả hai nhóm[13]
Dương Thị Cương và Nguyễn Thị Hảo nghiên cứu trên 384 PNCT đến khám tạiphòng khám của BVBVBMTSS trong năm 1991 cho kết quả 77% PNCT bị thiếumáu, tỷ lệ tăng dần theo tuổi thai Trên 302 trẻ sơ sinh của những bà mẹ này, tác giả
đã làm xét nghiệm Hb cho thấy 22.85% trẻ có thiếu máu [25]
Năm 1995, công trình nghiên cứu ở 6 quận nội thành và 3 huyện ngoại thành tạithành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ thiếu máu trong thai kỳ là 26,5% với Hb trungbình 11,6 ±1.2g/dl Năm 1996, nghiên cứu tại bệnh viện Châu Đốc – An Giang, thiếumáu ở PNCT là 35,6% trong đó 87,5% là thiếu máu thiếu sắt [24]
Năm 2001, Nguyễn Thị Minh Yên nghiên cứu trên 355 PNCT đẻ tại bệnh việnBVBMTSS thấy rằng tỷ lệ thiếu máu là 62%, trong đó chủ yếu là thiếu máu mức độnhẹ ( 94,1%) còn lại thiếu máu trung bình (5,9%), không có trường hợp nào thiếumáu nặng Sau đẻ tình trạng thiếu máu ở sản phụ tăng (85,9%), trong đó 81% thiếumáu nhẹ, 18,7% thiếu máu trung bình, 3% thiếu máu nặng Thiếu máu trong thời kỳmang thai ảnh hưởng rõ rệt tới tình trạng thiếu máu sau đẻ của sản phụ Thiếu máuPNCT có ảnh hưởng rõ rệt tới một số chỉ số hình thái của trẻ sơ sinh: các chỉ số cânnặng, chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, vòng cánh tay của nhóm trẻ sơ sinh có mẹ bịthiếu máu đều thấp hơn có ý nghĩa so với các chỉ số hình thái này của nhóm sơ sinh
có mẹ không thiếu máu [26]
Trang 15Năm 2003, Nguyễn Viết Trung nghiên cứu trên 416 PNCT và 35 phụ nữ không
có thai tại Bệnh viện Quân Y 103, thấy: tỷ lệ thiếu máu là 37,02%, hầu hết là thiếumáu nhẹ Tỷ lệ thiếu máu ở PNCT liên quan đến nghề nhgiệp, trình độ văn hoá.Nguyên nhân thiếu máu chủ yếu là do thiếu dinh dưỡng, thiếu sắt, acid folic,protein Thiếu máu cũng liên quan đến một số yếu tố miễn dịch có vai trò trong quátrình tạo máu như GM-CFS, IL-6 tăng cao ở PNCT bị thiếu máu Thiếu máu ở PNCT
dễ gây ra các tai biến như sảy thai, đẻ non, băng huyết, tỷ lệ đẻ khó và mổ lấy thaicao; chiều cao và cân nặng trung bình của cơ sinh ở thai phụ bị thiếu máu thấp hơn sovới sơ sinh của thai phụ không bị thiếu máu [27]
Trang 16CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Gồm bệnh án của thai phụ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh trong năm2014
- Tuổi thai > 22 tuần ( tính từ ngày KCC hoặc kết quả siêu âm tuổi thai quý I)
- Có đủ thông tin trong bệnh án theo tiêu chuẩn của mục tiêu nghiên cứu
2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- ĐTNC mắc bệnh lý về máu và hệ tạo máu
- ĐTNC mất máu cấp do chấn thương, bệnh lý
- Bệnh án không đủ thông tin cho mục tiêu nghiên cứu
2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: + Bắt đầu: 01/4/2015
+ Kết thúc: 30/9/2015
- Địa điểm:Khoa Sản - bệnh viện Đa khoa Đông Anh
2.2- Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu
Tất cả bệnh án đẻ tại khoa sản bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2014 có đầy đủthông tin nghiên cứu, không nằm trong nhóm loại trừ
2.2.3 Thu thập thông tin và dữ liệu:
- Lấy thông tin từ bệnh án
- Ghi chép thông tin vào phiếu thu thập
2.2.4 Các biến số nghiên cứu:
* Các yếu tố liên quan
- Tuổi của thai phụ
Trang 17- Địa chỉ: Nông thôn, thị trấn
- Nghề nghiệp: Cán bộ công nhân viên chức, làm ruộng và nghề khác
- Số lần đẻ
- Khoảng cách sinh lần này so với lần sinh trước ở người con rạ ( năm)
- Số con của lần đẻ này
- Lượng huyết sắc tố
- Số lượng hồng cầu
- Lượng hematocrit
- Cách thức đẻ: Đẻ thường, mổ đẻ
2.2.5 Một số tiêu chuẩn liên quan đến nghiên cứu:
- Đánh giá về thiếu máu
Theo tiêu chuẩn của WHO [11] thiếu máu ở PNCT khi Hb<110 g/l; được chialàm 3 mức độ
- Thiếu máu nhẹ: Hb>90g/l và <110g/l
- Thiếu máu trung bình: Hb 70- 90 g/l
- Thiếu máu nặng: Hb < 70g/l
- Bình thường : Hb > 110g/l
Tiêu chuẩn đánh giá nghề nghiệp:
- Cán bộ công nhân viên chức
- Làm ruộng
- Nghề khác: Không phải là công nhân viên nhà nước hoặc xí nghiệp, khôngphải là nông dân, đó là nghề buôn bán nhỏ, kinh doanh tự do, nghề thủ công, nội trợ,hoạt động mang tính chất xã hội
2.2.6 Xử lý số liệu
- Sau khi thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết, số liệu được nhập và xử lý trênphần mềm SPSS phiên bản 16.0 Lập bảng thống kê và các biểu đồ
- Tính tỷ lệ % giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tính tỷ suất chênh OR 95% CI
- Sử dụng các thuật toán: Test để so sánh các giá trị trung bình, kiểm định X2 để
so sánh giá trị % Sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi p<0,05; p< 0,01;p<0,001