VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRƯƠNG THỊ CẨM VÂN VẬN DỤNG QUAN NIỆM THẨM MĨ VÀ TRI THỨC DÂN GIAN TRONG VIỆC LÀM ĐẸP VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE PHỤ NỮ HIỆN
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THỊ CẨM VÂN
VẬN DỤNG QUAN NIỆM THẨM MĨ
VÀ TRI THỨC DÂN GIAN TRONG VIỆC LÀM ĐẸP
VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE PHỤ NỮ HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THỊ CẨM VÂN
VẬN DỤNG QUAN NIỆM THẨM MĨ
VÀ TRI THỨC DÂN GIAN TRONG VIỆC LÀM ĐẸP
VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE PHỤ NỮ HIỆN NAY
Chuyên ngành: VĂN HÓA DÂN GIAN
Mã số: 62 22 01 30
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS NGUYỄN XUÂN KÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và công trình này đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong việc trích dẫn tài liệu
Nghiên cứu sinh
TRƯƠNG THỊ CẨM VÂN
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, HỘP v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ, LÝ THUYẾT VẬN DỤNG VÀ TỔNG QUAN VỀ BẮC BỘ, CHÂU THỔ BẮC BỘ 11
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.2 Lý thuyết vận dụng và khái niệm 14
1.3 Tổng quan về Bắc Bộ và châu thổ Bắc Bộ 34
CHƯƠNG 2 TRI THỨC DÂN GIAN TRONG CHĂM SÓC SẮC ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VÙNG BẮC BỘ HIỆN NAY 50
2.1 Những quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ 50
2.2 Thực tế làm đẹp của phụ nữ Việt Nam hiện nay 62
2.3 Tri thức dân gian trong việc làm đẹp cho phụ nữ hiện nay 79
CHƯƠNG 3: TRI THỨC DÂN GIAN TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VÙNG BẮC BỘ HIỆN NAY 93
3.1 Quan niệm dân gian về sức khỏe của phụ nữ và việc chữa bệnh 93
3.2 Thực tế chăm sóc sức khỏe hiện nay ở phụ nữ Việt Nam 95
3.3 Tri thức dân gian trong việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ hiện nay 100
CHƯƠNG 4: NHỮNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN 117
4.1 Mối quan hệ giữa sắc đẹp và sức khỏe 117
4.2 Sự khác nhau giữa tác giả dân gian và tác giả của dòng văn học viết trong quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ 121
4.3 Sức mạnh, giá trị và những số phận nổi chìm của những người phụ nữ đẹp thời trước 125
4.4 Sự mở rộng trong cách nhìn nhận và điều kiện xã hội tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, bảo vệ, cổ súy cho cái đẹp của người phụ nữ 131
4.5 Đánh giá tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe của phụ nữ 138
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 164
Trang 5Hà Nội Nxb
NCS
Nhà xuất bản Nghiên cứu sinh
Trang 6
DANH MỤC BẢNG, HỘP
CÁC BẢNG
Bảng 1: Số lượng mẫu khảo sát tại các tỉnh 6
Bảng 2 Phân biệt tri thức bản địa và kiến thức khoa học 28
Bảng 3: Xu hướng quan tâm đến hoạt động chăm sóc sắc đẹp 62
Bảng 4: Các nguyên liệu tự nhiên trong làm đẹp 79
Bảng 5: Phương pháp chăm sóc sắc đẹp dân gian được phụ nữ sử dụng hiện nay(%) 86
Bảng 6: Một số nguyên liệu thường dùng để chăm sóc sức khỏe 100
Bảng 7: Những hình thức “kiêng cữ” sau khi sinh của phụ nữ 108
CÁC HỘP Hộp 1: Tác dụng làm đẹp của một số loại lá, hoa, củ, quả 82
Hộp 2: Làm đẹp tóc bằng bồ kết 83
Hộp 3: Làm son dưỡng môi từ sáp ong 83
Hộp 4: Tác dụng chữa bệnh của một số loại cây 101
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vẻ đẹp cơ thể là một yêu cầu quan trọng đầu tiên của người phụ nữ hiện đại vì nó tăng sự quyến rũ của nữ tính Vẻ đẹp mà người phụ nữ thu hút người khác có được là nhờ sự bộc lộ những nét đẹp thiên phú, nhờ việc biết cách giữ gìn và chủ động làm đẹp Ngày nay, cuộc sống đã khác trước với nhịp độ ngày càng gia tăng, người phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào đời sống xã hội và dần dần thay đổi cách nghĩ, cách làm và nhất là cách biểu lộ tình cảm, cách làm đẹp Do nhu cầu làm đẹp của phái nữ, xã hội đã hình thành và phát triển dịch vụ làm đẹp (Spa) Ở Việt Nam, công nghệ này đã phát triển, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và đang lan rộng ra các vùng nông thôn
Trong một cuộc điều tra xã hội học, người ta thấy 80% số người được hỏi đều cho rằng người phụ nữ Việt Nam hiện đại có tính năng động, tự tin, cởi mở, ham thích hoạt động xã hội, có khả năng lãnh đạo với tinh thần trách nhiệm cao Một số người Việt Nam vẫn giữ một thái độ cố hữu: "Cái nết đánh chết cái đẹp" Trên thực tế, nhu cầu làm đẹp để tôn tạo những nét đẹp trên sắc mặt, cơ thể lại phát triển khá mạnh Tiếc rằng nhu cầu và việc làm này chưa được sự hướng dẫn một cách khoa học trên quan điểm thẩm mỹ của văn hóa học Có không ít người, vì thiếu hiểu biết đã chạy theo mốt mới, theo cái hiện đại, làm đẹp theo kiểu phản thẩm mỹ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
Dù rất quan tâm đến cái đẹp hay chỉ thừa nhận nó ở mức độ vừa phải, mọi người đều cho rằng người phụ nữ đẹp cũng còn là người phụ nữ khỏe mạnh
Thực hiện đề tài khoa học Vận dụng quan niệm thẩm mĩ và tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khoẻ phụ nữ hiện nay, chúng tôi sẽ
trình bày những hiểu biết và thực hành của người dân xưa trong việc chăm
Trang 8sóc sắc đẹp và sức khỏe cho người phụ nữ Việt, từ đó rút ra những ưu điểm của cách làm đẹp và chăm sóc sức khỏe dân gian còn phù hợp mà phụ nữ hiện đại cần học tập
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trong việc làm đẹp và giữ gìn sức khỏe của người phụ nữ Bắc Bộ hiện nay, có những quan niệm và phương pháp dân gian nào được vận dụng? Vị trí, vai trò của tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe của phái đẹp hiện nay như thế nào?
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm tri thức dân gian, quan niệm dân gian về cái đẹp, thẩm mỹ, sức khỏe, những bài thuốc và cách thức sử dụng của nhân dân ta ngày xưa
- Trình bày quan niệm và những phương thức làm đẹp của người phụ
nữ hiện đại, đánh giá vai trò và tác dụng của tri thức dân gian trong vấn đề này
- Trình bày những phương thức chăm sóc sức khỏe của phụ nữ hiện đại, nhận diện vai trò của tri thức dân gian trong vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu việc làm đẹp, giữ gìn, rèn luyện sức khỏe của phụ nữ hiện nay ở Bắc Bộ, tìm hiểu trong số những phương thức, những bài thuốc làm đẹp và tăng cường sức khỏe hiện nay có những phương thức nào, bài thuốc nào sử dụng từ tri thức dân gian
Đối với người phụ nữ hiện nay, chúng tôi điều tra và phỏng vấn những
Trang 9phụ nữ từ 16 đến dưới 70 tuổi (nhóm chưa có chồng, nhóm có chồng và nhóm người có tuổi) Những người này đại diện cho các thế hệ khác nhau, thể hiện việc chăm sóc sắc đẹp, sức khỏe trước và sau khi có con và sự khác biệt giữa các thế hệ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi không thể nghiên cứu việc vận dụng quan điểm thẩm mĩ và tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe phụ nữ của tất cả các dân tộc ở mọi vùng trên đất nước ta Chúng tôi xin được giới hạn nghiên cứu tri thức dân gian trong việc làm đẹp
và chăm sóc sức khỏe của phụ nữ Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ Khi điều kiện cho phép, chúng tôi so sánh, liên hệ vấn đề này ở một số dân tộc thiểu số cư trú tại Bắc Bộ Việc giới hạn không gian nghiên cứu này là phù hợp với tính chất của tri thức dân gian Tri thức dân gian (hay tri thức địa phương, hay kiến thức bản địa) có tính chất vùng, miền (địa phương) rất rõ Các nhà nghiên cứu có nhiều phương án phân vùng văn hóa Việt Nam, trong đó có cách phân chia nước ta thành ba vùng lớn: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ Trong luận án, chúng tôi quan niệm: Bắc Bộ là khu vực tính từ các tỉnh từ biên giới phía Bắc kéo đến hết Ninh Bình (chúng tôi sẽ xin trở lại vấn đề này trong tiểu mục lý thuyết vận dụng) Trong Bắc Bộ, chúng tôi tập trung khảo sát vùng châu thổ Bắc Bộ Trong châu thổ Bắc Bộ, chúng tôi khảo sát ở tám tỉnh và thành phố: Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nội Đây là những nơi vừa bảo lưu nhiều nét truyền thống văn hóa, đồng thời cũng là nơi biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa,
xã hội
Luận án nghiên cứu tri thức dân gian trong chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của phụ nữ Việt và đánh giá sự tồn tại của các tri thức này trong xã hội ngày nay Tuy chủ yếu viết về người Việt, trong một số trường hợp, chúng tôi
Trang 10có mở rộng đến những dân tộc khác nhằm làm rõ hơn vấn đề của người phụ
ăn trầu cho môi đỏ, ra đường mặc quần áo đẹp hoặc chí ít cũng tươm tất hơn lúc ở nhà, đeo đồ trang sức,…) Trong xã hội ngày nay, không chỉ ở thời con gái mà sau khi đã lập gia đình hay khi tuổi đã cao, người phụ nữ vẫn quan tâm chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp cho bản thân Sự giao lưu với thế giới, điều kiện sống, những quan niệm mới về bình đẳng giới đã đem đến sự thay đổi
đó Đó chính là hoàn cảnh cụ thể đã giúp NCS giải thích về một hiện tượng hiện nay khác với truyền thống
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp tổng hợp trong nghiên cứu văn hóa dân gian
Theo tác giả Đinh Gia Khánh, trong khoa nghiên cứu văn hóa dân gian, phương pháp tổng hợp có tầm quan trọng đặc biệt Vậy phương pháp tổng hợp là gì? Cũng theo tác giả Đinh Gia Khánh, đó là phương pháp tiếp cận thẩm mỹ kết hợp với phương pháp tiếp cận chỉnh thể Để nghiên cứu một tác phẩm, một hiện tượng văn hóa dân gian thì cần phải phân tích chủ thể nguyên hợp ấy ra các thành tố, hơn nữa cần phải phân tích các thành tố ra các yếu tố nhỏ hơn để có thể đi sâu tìm hiểu nội dung cũng như cấu trúc của từng thành
tố nói riêng, của chỉnh thể nguyên hợp nói chung Trong nghiên cứu văn hóa
Trang 11dân gian, khởi đầu bằng việc phân tích là một điều tất yếu Nhưng quá trình phân tích ấy lại được bổ sung và nâng cao bằng quá trình tổng hợp bởi vì dẫu
có tiến hành thao tác khoa học nào đi chăng nữa thì cuối cùng cũng phải đạt mục tiêu là nhận thức được sâu sắc và toàn diện tác phẩm, hiện tượng với tư cách là một chủ thể nguyên hợp [133, tr 10-11]
lý theo tổ chức nghiên cứu liên ngành Nhiều ngành khoa học xã hội và cả một số ngành khoa học tự nhiên đã được huy động vào việc nghiên cứu đề tài này
Thời đại Hùng Vương không ghi lại những tư liệu thành văn, những văn bản, nhưng còn lưu lại khá nhiều hiện vật khảo cổ học Vì vậy khoa học khảo cổ đã giữ vai trò trung tâm, vai trò tổ chức của việc nghiên cứu liên ngành Khi nghiên cứu về Tây Nguyên là một vùng trong đó các tộc người
Trang 12còn giữ được nhiều hơn các nơi khác những nét đặc thù của xã hội thời kỳ tiền giai cấp Bởi vậy trong việc xử lý đề tài này theo tổ chức liên ngành thì dân tộc học đóng vai trò trung tâm, vai trò tổ chức Trong đề tài quy hoạch đồng bằng sông Hồng hoặc quy hoạch đồng bằng sông Cửu Long thì dù ngành khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, nông học, văn hóa dân gian…có thể tùy theo hoàn cảnh mà có đóng góp nhiều hoặc ít vào kết quả nghiên cứu nhưng ngành kinh tế học phải giữ vai trò trung tâm, vai trò tổ chức, bởi vì mục tiêu của việc nghiên cứu liên ngành này trước hết là mục tiêu kinh tế [133, tr.12-14]
Từ những gợi ý của tác giả Đinh Gia Khánh, để thực hiện đề tài này chúng tôi vận dụng những quy phạm của khoa nghiên cứu văn hóa dân gian bên cạnh việc tiếp thu phương pháp nghiên cứu và thụ hưởng kết quả nghiên cứu của mỹ học, y học và xã hội học, trong đó khoa nghiên cứu văn hóa dân gian đóng vai trò trung tâm
4.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Cơ cấu mẫu nghiên cứu của chúng tôi như sau: Phỏng vấn bảng hỏi được thiết kế sẵn với 300 phụ nữ từ 16 đến dưới 70 tuổi tại 8 tỉnh, thành ở khu vực châu thổ Bắc Bộ, cụ thể là: Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nội Ở mỗi tỉnh, thành trên, chúng tôi khảo sát hai địa điểm: một là thành phố/thị xã/ thị trấn/ thị tứ và một địa điểm ở một xã trong tỉnh
Bảng 1: Số lượng mẫu khảo sát tại các tỉnh
Trang 13(Nguồn: Số liệu khảo sát của tác giả, 2013)
- Về độ tuổi: Nhóm tuổi từ 16-25 chiếm 35%, nhóm từ 25-35 tuổi
chiếm 15%, nhóm từ 36-55 tuổi chiếm 25% và nhóm trên 55 tuổi chiếm 25%
- Về nơi sinh sống: Tỷ lệ sống ở khu vực nông thôn chiếm gần một nửa
(46,7%), tỷ lệ ở khu vực thị trấn/thị tứ chiếm 22,8% và ở thành phố chiếm 30,4%
- Về nghề nghiệp: Làm nông nghiệp thuần túy chiếm 27,3%, buôn bán,
dịch vụ: 12,1%, cán bộ viên chức 19,0%, làm tự do 3,5%, nội trợ, nghỉ hưu 2,1%, lĩnh vực nghệ thuật 2,4%, nhân viên trong các công ty, doanh nghiệp 5,2%, học sinh, sinh viên 20,7%, thất nghiệp 1,4%
- Về thu nhập bình quân/tháng: Tỷ lệ dưới 1 triệu/tháng chiếm 28,7%,
từ 1- dưới 3 triệu chiếm 31,7%, từ 3- dưới 5 triệu chiếm 26%, trên 5- dưới 7 triệu chiếm 8,3% và trên 7 triệu chiếm 5,3%
- Về tình trạng hôn nhân: Tỷ lệ phụ nữ được khảo sát đang ở cùng
chồng chiếm 46,4%, đã ly hôn/ly thân chiếm 4,8%, chưa lập gia đình 48,8%
- Về học vấn: Tỷ lệ phụ nữ có trình độ tiểu học chỉ chiếm 3,8%, trung
học cơ sở 33,1%, trung học phổ thông 36,2%, trung cấp nghề 16,3%, cao đẳng, đại học 10,1% và trên đại học 0,5%
- Về tôn giáo: 95,2% không theo tôn giáo nào, 4,8% theo các tôn giáo
khác như Tin Lành, Cao Đài…
Các đặc điểm về đối tượng được khảo sát sẽ được phân tích nhằm giải
Trang 14thích sự khác biệt trong nhận thức, thực hành việc vận dụng tri thức dân gian trong chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của phụ nữ
4.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện với nhiều đối tượng:
+ Phỏng vấn phụ nữ trong cộng đồng:
- Phỏng vấn phụ nữ cao niên (nông thôn, thành thị)
- Phỏng vấn phụ nữ trung tuổi (nông thôn, thành thị)
- Phỏng vấn phụ nữ chưa lập gia đình (nông thôn, thành thị)
+ Phỏng vấn chủ/đại diện các trung tâm chăm sóc sắc đẹp/thẩm mỹ tại mỗi tỉnh
+ Phỏng vấn kỹ thuật viên trong các trung tâm chăm sóc sắc đẹp có sử dụng các phương pháp trị liệu (nguyên liệu truyền thống): bác sĩ, dược sỹ, chuyên gia làm đẹp…
+ Phỏng vấn chuyên gia về nghiên cứu văn hóa dân gian, nghệ thuật làm đẹp, chuyên gia về phụ nữ… ở các cơ quan quản lý, nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật
4.2.5 Phương pháp thu thập, xử lý các tài liệu thứ cấp
Luận án tổng hợp và phân tích một lượng lớn các tài liệu đã công bố có thể phân chia số tài liệu này thành năm loại
Loại thứ nhất là những công trình bàn về vẻ đẹp và làm đẹp của phụ nữ thời xưa Loại thứ hai là những công trình bàn về việc làm đẹp của phụ nữ thời nay Loại thứ ba là những công trình viết về việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ ngày xưa Loại thứ tư là những công trình quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ hiện nay Loại thứ năm là những công trình sưu tầm, biên soạn văn học dân gian trong đó chủ yếu là những công trình sưu tầm,
Trang 15biên soạn ca dao tục ngữ Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sắp xếp các tài liệu như trên, trong mỗi loại lại được chia nhỏ hơn nữa Thí dụ, trong việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ ngày xưa gồm có những công trình viết về việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ Việt (Kinh), những công trình viết về việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ các dân tộc thiểu số
Trên cơ sở khối tư liệu đã công bố, xuất bản khá phong phú, chúng tôi tiến hành phân tích theo các vấn đề mà nội dung luận án quy định
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Bản luận án đã phân tích và chứng minh các thuật ngữ tri thức bản địa, tri thức dân gian, kiến thức bản địa, về cơ bản chỉ là những cách gọi khác nhau của một sự vật, trình bày có hệ thống quan niệm dân gian và tri thức dân gian về cái đẹp của người phụ nữ và việc chăm sóc sức khỏe của họ trong xã hội xưa và nay, khẳng định vai trò của tri thức dân gian trong việc làm đẹp và
chăm sóc sức khỏe phụ nữ hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý thuyết: Luận án làm sáng tỏ vai trò của tri thức dân gian trong việc làm đẹp và giữ gìn sức khỏe của người phụ nữ hiện đại, đánh giá đúng mức tầm quan trọng của tri thức này (không hạ mức, không cường điệu) Qua kết quả nghiên cứu của luận án, người đọc thấy rõ sự đa dạng
trong quan niệm về cái đẹp, mối liên hệ hữu cơ giữa cái đẹp và sức khỏe
- Về mặt thực tiễn: Kết quả của luận án sẽ làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các chị em phụ nữ và các cơ sở làm đẹp hiện nay
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được trình bày theo bốn chương như sau:
Trang 16Chương 1: Lịch sử nghiên cứu vấn đề, lý thuyết vận dụng và tổng quan
Trang 17CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ, LÝ THUYẾT VẬN DỤNG VÀ
Tác giả Trần Ngọc Thêm nhận thấy, chiếc yếm ngày xưa tạo nên nét đẹp duyên dáng và sức quyến rũ của người phụ nữ Việt Nam [102, tr.382-383] Cũng quan tâm đến vấn đề này, tác giả Phạm Anh Trang nhận xét, cách
ăn mặc của người phụ nữ luôn thể hiện sự linh hoạt, phù hợp với từng thời đại, chẳng hạn như sự thay đổi của chiếc yếm và chiếc áo dài [122]
Theo tác giả Vũ Ngọc Khánh, trang phục còn thể hiện địa vị xã hội, phẩm chất của người phụ nữ [55] Cũng quan tâm đến trang phục của người phụ nữ xưa, tác giả Ngô Đức Thịnh viết khá kỹ về chiếc áo dài của người phụ
nữ thuở trước Ngoài ra ông cũng viết về cách thức chải tóc rẽ ngôi của người phụ nữ ngày trước và cách chít khăn vuông, khăn mỏ quạ của phụ nữ Bắc Bộ
Trang 18và việc phụ nữ Nghệ Tĩnh đội khăn đầu rìu [108]
Đáng chú ý có hai nữ tác giả dành số trang đáng kể, viết một cách có
hệ thống về chủ đề đang bàn Năm 2008, tác giả Lê Thị Nguyệt hoàn thành
luận văn thạc sĩ Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt [84] Năm 2012, nhà giáo Nguyễn Thị Thúy Loan bảo vệ luận văn thạc sĩ Vấn
đề miêu tả ngoại hình con người trong “Kho tàng ca dao người Việt” [71]
Hai tác giả, bằng phương pháp thống kê đã phân tích vẻ đẹp bộ phận và vẻ đẹp tổng thể ngoại hình của người phụ nữ Việt trong thơ ca dân gian Các kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nguyệt, Nguyễn Thị Thúy Loan đã giúp ích rất nhiều cho NCS trong quá trình thực hiện đề tài luận án
1.1.2 Các công trình đề cập đến việc chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của người phụ nữ bằng phương pháp dân gian
1.1.2.1 Các công trình đề cập đến việc chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của người phụ nữ Việt bằng phương pháp dân gian
Năm 2000, trong cuốn sách Những phương thuốc làm đẹp từ cây thuốc nam, tác giả Thiên Kim đề cập đến đặc điểm, thành phần cấu tạo, cách sử
dụng và phòng tránh cũng như những công dụng làm đẹp từ cây thuốc nam Các phương thuốc này rất dễ tìm kiếm và rất hiệu quả trong sử dụng [58]
Năm 2007, trong cuốn Cây nhà lá vườn vị thuốc chữa bệnh và làm đẹp, tác
giả Công Anh sưu tầm và giới thiệu nguyên liệu rau, củ, quả và cách chế biến
để có công dụng chữa bệnh, làm đẹp, dưỡng sinh chăm sóc sức khỏe [6]
Năm 2008, cuốn sách đồ sộ Almanach người mẹ và phái đẹp của nhiều
tác giả được xuất bản Trong sách này, có mục “Bí quyết làm đẹp” Mục này gồm nhiều bài, trong đó có những bài như “Bí quyết kéo dài tuổi thanh xuân
và sắc đẹp”, “Một số thực phẩm giúp con người kéo dài tuổi thanh xuân”,
“Dưỡng da bằng tỏi”, “Day huyệt, xoa bóp giữ gìn sức khỏe và nhan sắc”,…
Trang 19Tất cả gồm 36 bài với 32 trang khổ lớn Sách này còn có mục “Phái đẹp với y học” gồm 69 bài với 89 trang khổ lớn Những bài trong tập sách là những bài viết ngắn, chưa phải là những công trình khoa học chuyên sâu [87]
Ngoài ra còn có các cuốn sách của Hoa Phượng, Nguyễn Thúy Ngà, Nam Việt, Thanh Hải và Thanh Minh, Hà Hương, Nguyễn Trúc Chi,… Các phương pháp làm đẹp (qua ăn uống, luyện tập, trang điểm) của người phụ nữ chủ yếu được đúc kết từ kinh nghiệm trong dân gian Các tài liệu đề cập cụ thể đến các bài thuốc, công thức, cách chế biến ra sản phẩm làm đẹp từ các sản phẩm tự nhiên, cách sử dụng để làm đẹp cho phụ nữ ở các lứa tuổi khác nhau Riêng về việc chăm sóc sức khỏe dưới cái nhìn dân gian, năm 2002, nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân giới thiệu 54 câu tục ngữ (có chú giải) nói về ốm đau, chữa bệnh [63, tr.82-88]
Cho đến nay, còn thiếu các nghiên cứu từ cách tiếp cận văn hóa, xã hội
để đánh giá, tìm hiểu nhu cầu thẩm mỹ, xu hướng về chăm sóc sắc đẹp, sử dụng lựa chọn các phương pháp làm đẹp (truyền thống và hiện đại) để từ đó
có những khuyến nghị phù hợp nhằm duy trì và phát huy văn hóa truyền thống (qua hệ thống tri thức dân gian), đồng thời giúp phụ nữ Việt Nam tiếp cận lựa chọn các phương pháp làm đẹp an toàn, tiết kiệm và hiệu quả bên cạnh các công nghệ làm đẹp hiện đại
1.1.2.2 Các công trình đề cập đến việc chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ các dân tộc thiểu số bằng phương pháp dân gian
Những năm gần đây, một số lượng đáng kể những cuốn sách có nội dung bàn về việc chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ các dân tộc thiểu số Các tác giả chủ yếu viết về việc chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ trong
khi mang thai và sau khi sinh: Tri thức dân gian liên quan đến tập quán sinh
đẻ và chăm sóc trẻ em của dân tộc Sán Dìu ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Trang 20Quang của Đinh Thị Hồng Thơm [113], Phong tục sinh đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh của người Dao Tuyển do Lê Thành Nam chủ biên [78], Tri thức dân gian
về cúng chữa bệnh cho phụ nữ và trẻ em của người Dao Tuyển ở Lào Cai của Nguyễn Thị Minh Tú và Triệu Văn Quẩy [128], Tri thức dân gian chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ và trẻ em người Phù Lá, Bắc Hà, Lào Cai của
Chảo Chử Chấn [17],…Đáng chú ý là sức khỏe của những phụ nữ thuộc các dân tộc thiểu số đã được quan tâm Điều này chứng tỏ cái nhìn tiến bộ và đúng đắn đối với phụ nữ và các dân tộc thiểu số ngày một phổ biến
Nhìn chung, các tài liệu viết về tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe của phụ nữ còn khá hiếm Các tài liệu viết về việc làm đẹp hiện nay của phụ nữ chủ yếu là các bài thuốc, các phương pháp có tính chất kĩ thuật, ít có những tổng kết lí luận Tuy nhiên, những gì của các tác giả đi trước đã được công bố sẽ là những gợi ý bổ ích đối với NCS
1.2 Lý thuyết vận dụng và khái niệm
1.2.1 Lý thuyết vận dụng
Trong luận án, chúng tôi vận dụng bốn lý thuyết chính Đó là lý thuyết
về thẩm mĩ và cái đẹp, lý thuyết về tri thức dân gian, lý thuyết về văn hóa vùng, lý thuyết sinh thái học văn hóa
Có nhiều quan niệm thẩm mĩ và cái đẹp Ở đây, NCS tiếp thu quan niệm của các tác giả Đỗ Huy, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Ngọc Long, Lại Nguyên Ân [48], [8] Đây chính là quan niệm vận dụng mỹ học mác xít
Lý thuyết về tri thức bản địa được khởi xướng bởi các nhà nghiên cứu quốc tế Ở ta, các tác giả Hoàng Xuân Tý, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Ngọc Thanh, Vương Xuân Tình,… đã vận dụng nó và tác giả Ngô Đức Thịnh còn gọi nó là tri thức dân gian [132], [107] Nội dung chủ yếu của lý thuyết này chỉ ra các đặc điểm của tri thức dân gian, vai trò và tác dụng của nó trong xã
Trang 21hội trước đây, vai trò và hạn chế của nó trong cuộc sống ngày nay
Lý thuyết về vùng văn hóa cũng do các nhà khoa học nước ngoài khởi xướng Áp dụng lý thuyết này và vận dụng để nghiên cứu văn hóa Việt Nam
có các tác giả Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên, Huỳnh Khái Vinh,…[108], [142] Các tác giả quan niệm một vùng văn hóa được tạo thành trong quá trình lịch sử lâu dài, được quy định bởi điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, lịch sử cư dân, cách thức canh tác và các sinh hoạt văn hóa xã hội Bên cạnh tính chất chung, mỗi vùng văn hóa lại
có sắc thái riêng, thậm chí nét riêng Phương án phân vùng văn hóa Việt Nam của Ngô Đức Thịnh khác với phương án phân vùng cùng tên của Đinh Gia Khánh và các tác giả khác Ở đây, NCS theo cách phân vùng Việt Nam có ba vùng văn hóa
Trong các truyền thống nghiên cứu văn hóa, nhất là đối với nhân học
và xã hội học văn hóa, người ta cũng thường nhắc đến cách tiếp cận dựa trên sinh thái học Là một khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các cơ thể sống với môi trường tự nhiên, sinh thái học được nhà tự nhiên học người Đức là Haeckel đề xướng vào năm 1866 Về sau, khi nội dung khái niệm được mở rộng, sinh thái học đồng thời trở thành một bộ phận của khoa học xã hội, mà theo đó, môi trường tự nhiên khách quan có ảnh hưởng quan trọng đến việc tổ chức xã hội, lối sống và tư tưởng của con người Mối quan hệ tương tác giữa
tự nhiên, xã hội và văn hóa cũng gắn liền với những nghiên cứu của J Stuard (1902 - 1972) Hướng cơ bản trong các công trình của tác giả này là tìm hiểu
sự thích nghi của con người xã hội với môi trường chung quanh, hay nói đầy
đủ hơn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm của các hệ thống xã hội tổng thể (như dân số, thể chế xã hội, khoa học, kỹ thuật, phong tục, tập quán, đạo đức, lối sống, v.v…) dưới sự tác động của các hệ sinh thái Như vậy, sinh thái học văn hóa được coi như một mô hình lý thuyết để tìm hiểu mối quan hệ qua lại
Trang 22giữa con người và môi trường tự nhiên bao quanh, cũng như tìm hiểu về văn hóa với tư cách là sản phẩm của mối quan hệ đó Những người theo thuyết sinh thái học văn hóa khẳng định rằng, kiểu văn hóa của mỗi tộc người được tạo ra là do những nguồn tài nguyên và những giới hạn của môi trường xung quanh, kể cả những thay đổi trong môi trường đó Ở đây, khái niệm “kiểu văn hóa” đóng vai trò căn bản, nó được hiểu như một tập hợp những nét khu biệt cho một lối sống do kết quả thích nghi với môi trường xung quanh Tiếp cận
lý thuyết này để giải thích các tri thức dân gian được hình thành trong quá trình con người tương tác với môi trường tự nhiên, tìm kiếm những giá trị mà
tự nhiên có thể phục vụ cuộc sống con người như các sản phẩm dùng làm thuốc, điều trị bệnh tật, chăm sóc sắc đẹp hoặc các món ăn, kiến trúc xây dựng.v.v…
1.2.2 Một số khái niệm
Các lý thuyết được xây dựng trên những khái niệm cơ bản Dưới đây chúng tôi xin trình bày một số khái niệm của những lý thuyết vừa nêu và một
số khái niệm trong tên đề tài luận án
1.2.2.1 Quan niệm thẩm mĩ và cái đẹp
Quan niệm thẩm mĩ
Mĩ học Mác – Lênin phân tích các quan hệ thẩm mĩ trong cuộc sống cũng như nghệ thuật Theo lý thuyết này, cái thẩm mĩ là mối quan hệ gồm ba mặt hợp thành Mặt thứ nhất là đối tượng trong quan hệ thẩm mĩ Đó là những cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả tồn tại khắp mọi nơi trong xã hội loài người Mặt thứ hai là mặt chủ thể trong quan hệ thẩm mĩ Đó là các hoạt động của chủ thể thẩm mĩ, bao gồm các hoạt động về nhu cầu thẩm mĩ, về thị hiếu thẩm
mĩ, về lý tưởng thẩm mĩ của con người trong xã hội Mặt thứ ba là mặt nghệ thuật trong quan hệ thẩm mĩ Đó là các hoạt động hưởng thụ nghệ thuật, phê
Trang 23bình nghệ thuật, sáng tạo nghệ thuật bao gồm các đặc trưng của nghệ thuật, bản chất xã hội của nghệ thuật và chức năng của nghệ thuật [48, tr.32-33].
Trong quan niệm thẩm mĩ của một cộng đồng người không chỉ có quan niệm về cái đẹp, mà còn có quan niệm về cái cao cả, cái bi, cái hài; tuy nhiên quan niệm về cái đẹp thường đứng ở vị trí trung tâm Trong luận án này, khi nói đến quan niệm thẩm mĩ của dân gian, chúng tôi chủ yếu nói đến quan niệm về cái đẹp của dân gian
Cái đẹp
Cái đẹp là một phạm trù mĩ học xác định giá trị thẩm mỹ của các hiện tượng theo quan điểm về sự hoàn thiện, xem chúng như là các hiện tượng có giá trị thẩm mĩ cao nhất Các hiện tượng có thể được coi là đẹp khi với tính toàn vẹn cụ thể cảm tính của mình, chúng hiện diện như những giá trị xã hội - nhân bản, tức là những giá trị thể hiện sự khẳng định của con người trong thế giới, chứng tỏ sự mở rộng giới hạn tự do của cộng đồng về con người, thúc đẩy sự phát triển hài hòa của nhân cách, sự nảy sinh và bộc lộ ngày càng đầy
đủ những sức mạnh và năng lực của con người Bởi vậy, việc tiếp nhận cái đẹp gây nên trạng thái vui sướng, tình yêu vô tư, cảm giác tự do, xác nhận và làm giàu lý tưởng thẩm mỹ Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, trong lịch
sử mĩ học, cái đẹp và sự tiếp nhận cái đẹp được nghiên cứu ở bình diện quan
hệ giữa cái tinh thần và cái vật chất, cái khách quan và chủ quan, cái tự nhiên
và cái xã hội, giữa nội dung và hình thức Đặc trưng của cái đẹp được xác định thông qua mối quan hệ của nó với các loại hình giá trị khác: giá trị thực dụng (lợi ích), giá trị nhận thức (chân lý), giá trị đạo đức (cái thiện) Tùy theo những quan niệm triết học khác nhau, các tác giả có những cách giải quyết khác nhau về vấn đề cái đẹp có thuộc tính khách quan hoặc chủ quan Mĩ học duy tâm khách quan giải thích tác động của cái đẹp đến con người bằng quan niệm cho rằng ở cái đẹp biểu lộ những sức mạnh tâm linh khách quan, siêu
Trang 24nhiên Có người cho rằng cái đẹp là ý niệm vĩnh cửu, là tuyệt đối, là thần thánh Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận tính khách quan của cái đẹp, loại bỏ nó ra khỏi các năng lực tinh thần của chủ thể Phái hoài nghi thời cổ đại Hy Lạp - La Mã bác bỏ sự tồn tại của cái đẹp trong thực tại Họ cho rằng cái đẹp không phải là một phẩm chất vốn có trong chính các sự vật; nó chỉ có trong tinh thần; chỉ tinh thần mới chiêm nghiệm được nó; và tinh thần của mỗi con người lại thấy một cái đẹp khác Thuyết trực cảm cho rằng cái đẹp được tạo ra do vật chất phản chiếu tình cảm con người lên đối tượng Mỹ học duy vật tìm ngọn nguồn của tiếp nhận và trải nghiệm cái đẹp ở thực tại vật chất Ở đây có hai xu hướng Xu hướng thứ nhất xem cái đẹp như phẩm chất của bản thân vật thể, như sự biểu lộ tính quy luật tự nhiên Xu hướng thứ hai muốn kết hợp việc thừa nhận tính khách quan của cái đẹp với ý nghĩa của nó đối với con người Theo nhà mĩ học Nga Secnưsepxki, “cái đẹp là sự sống”;
“Một vật tồn tại là đẹp khi ở nó ta nhìn thấy cuộc sống như nó phải có theo cách hiểu của ta” Mĩ học macxit nêu lên sự liên hệ có tính quy luật giữa cái đẹp với hoạt động lao động của con người Mác nhận xét rằng: “Con người cũng sáng tạo theo quy luật của cái đẹp”, bởi vì con người tự khẳng định bản chất nhân loại - xã hội của mình trong thực tiễn sáng tạo thế giới vật chất; khác với loài vật, con người sản xuất một cách phổ quát, tự do với nhu cầu thể chất trực tiếp, đối lập một cách tự do với sản phẩm của mình và biết áp dụng thước đo phù hợp cho đối tượng Nói cách khác, trong việc tiếp nhận cái đẹp, con người không chỉ nhận được thông tin về các phẩm chất tự nhiên của hiện tượng, mà còn nhận được thông tin về mức độ khẳng định con người xã hội trong thế giới, về mức độ tự do mà nó đạt tới trong thực tại tự nhiên và xã hội,
về mức phát triển các tiềm năng sáng tạo của nó Cái đẹp là khách quan bởi vì
nó là giá trị nhân bản - xã hội, được tạo ra trong sự tương tác của tự nhiên và
xã hội, trong quan hệ giữa con người với nhau, trong quá tình thực tiễn lịch sử
xã hội khách quan Sự đánh giá cái đẹp (bộc lộ qua tình cảm thẩm mĩ, thị hiếu
Trang 25thẩm mĩ, lý tưởng thẩm mĩ) lại mang tính chủ quan, và có thể chân thực hay giả dối tùy theo chỗ tương ứng hay không tương ứng với cái đẹp như là giá trị khách quan Mĩ học macxit cũng nhấn mạnh mối liên hệ biện chứng của cái đẹp và cái có ích, cái đẹp và chân lý Đặc tính đẹp cũng có ở lao động, vốn là hoạt động tự do, sáng tạo và có ý nghĩa xã hội, đem lại khoái cảm “bởi trò chơi của các sức mạnh thể chất và trí tuệ” (Mác); cũng có ở các kết quả lao động, hiện thân của tài nghệ cao và sự hoàn thiện Cái đẹp cũng có ở những hành động nhận thức, ở sự biểu hiện của hành động này trong chân lý Phẩm chất đẹp cũng có những biểu hiện cụ thể cảm tính ở các nguyên tắc đạo đức Không phải mọi cái đẹp đều có ích lợi thực dụng Ý nghĩa chủ yếu của cái đẹp đối với con người và xã hội là ý nghĩa thực tiễn - tinh thần Bởi vậy sự tiếp nhận thẩm mỹ đối với cái đẹp là sự tiếp nhận vô tư, tức là xa lạ với óc thực dụng dung tục và óc vị lợi vị kỷ Những gì là đẹp trong thực tại đều có thể được miêu tả trong nghệ thuật Tác phẩm nghệ thuật là đẹp, tức là có giá trị nghệ thuật Sáng tác nghệ thuật là lĩnh vực đặc thù của sự tìm tòi và thể hiện cái cái đẹp, là lĩnh vực biểu hiện sự phát triển phong phú về tinh thần của
cá nhân con người [8, tr.196 - 198]
Chúng tôi nghĩ, một mặt cái đẹp là khách quan, mặt khác nó cũng mang tính chủ quan Cái đẹp cũng mang tính lịch sử, tính dân tộc và tính giai cấp, bên cạnh tính người nói chung
Tính nhân loại của cái đẹp
Nhân loại có tính chung, bởi thế khi trông một bông hoa ai cũng cho là đẹp Không ai trên thế giới lại cho người phụ nữ ngực lép, mắt to mắt bé lại là đẹp Quan niệm về người phụ nữ trong thần thoại Hy Lạp tương đồng với quan niệm của nhiều dân tộc trên thế giới ở chỗ dành những lời đẹp đẽ, kỳ diệu nhất khi nói về phái đẹp: “Thượng đế đã lấy vẻ đẹp đầy đặn của mặt trăng, đường uốn cong của loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa, nét
Trang 26mềm mại của loài lau cói, màu rực rỡ của nhị hoa, điệu nhẹ nhàng của chiếc
lá, cảm giác tinh vi của vòi voi, cái nhìn đăm chiêu của mắt hươu, cái xúm xít của đàn ong, ánh rực rỡ của mặt trời, nỗi xót xa của tầng mây, luồng biến động của cơn gió, tính nhút nhát của con hươu rừng, sắc lộng lẫy của con chim công, hình nhuần nhuyễn của con chim yểng, chất cứng rắn của ngọc kim cương, vị ngon ngọt của đường mật, khí lạnh lẽo của băng tuyết, đức trung trinh của chim uyên ương, đem mọi thứ ấy hỗn hợp lại, nặn thành người phụ nữ” [123, tr.30 - 31]
Tính khu vực của cái đẹp
Bên cạnh tính chung lại có nét khác biệt giữa các khu vực Giữa người châu Âu và người châu Á trong không ít trường hợp có quan niệm về cái đẹp khác nhau Một người Trung Quốc sau khi đi thăm châu Âu, đã nói về sự khác nhau giữa châu Âu và châu Á như sau: “Phụ nữ Trung Quốc mặc quần
áo để tránh lạnh và gió; họ sẽ vô cùng xấu hổ, nếu như để hở phần nào đó thân thể của họ Còn phụ nữ ở phương Tây lại thích để trần vai và ngực và thích những kiểu váy nào làm nổi bật thân hình mình Người Trung Quốc không bao giờ để tóc xõa xuống trán Trong khi đó người phương Tây lại rất thích những mớ tóc quăn rủ trước mặt Nếu như ở Trung Quốc, khi gặp nhau
mà không có mũ đội đầu phù hợp với hoàn cảnh cụ thể bị coi là thiếu lịch sự thì ở phương Tây khi gặp người quen, để tỏ ra lịch sự, đàn ông phải bỏ mũ ra
Ở Trung Quốc màu trắng là màu tang tóc, màu đỏ là màu cưới xin và là màu của những niềm vui sướng Còn ở phương Tây thì màu trắng lại biểu hiện niềm vui, phấn khởi, còn màu đen lại là màu tang tóc Ở Trung Quốc, người
ta mặc áo đen khi đi làm những công việc chân tay bẩn thỉu, ở phương Tây nó lại là màu của trang phục đúng nghi lễ Phụ nữ Trung Quốc sẽ vô cùng phật ý nếu như bị người khác ngắm nhìn chăm chú Còn ở phương Tây, phụ nữ lại lấy làm hài lòng nếu họ được ngắm nhìn, điều đó được xem như một sự tán
Trang 27dương Ở Trung Quốc, ý nghĩa về việc phô trương thân thể để trần làm cho người đàn bà vô cùng ghê sợ Còn ở phương Tây, người bị ghê sợ bởi ý nghĩ
ấy lại là đàn ông [53, tr 41 - 42]
Về sự khác nhau trong quan niệm về cái đẹp của người phụ nữ, xin dẫn
ra ba trường hợp dưới đây Người châu Âu và người Việt Nam (bao gồm nhiều thành phần dân tộc) đều quan niệm người phụ nữ đẹp là người có làn da trắng Ca dao Việt từng tiếc cho người con gái “da trắng tóc dài” bị cha mẹ ép
gả cho “con người đầu ngu” Trong sử thi Ba Na và sử thi Ê Đê, các cô gái đẹp thường được miêu tả “bắp vế (đùi) trắng tựa ngà voi, bụng thon như bụng kiến vàng” [123, tr.30] Còn đây là vẻ đẹp của nàng Hơ Nhí (vợ Đăm Xăn), dưới cái nhìn của hai tên đầy tớ của tù trưởng M’tao M’xây: “Bà ấy đẹp thật, rạng rỡ như mặt trời! Bà ấy mặc váy nào cũng đẹp! Cổ chân tròn như bắp chuối Lúc gió thổi váy hở thì thấy bắp đùi trắng muốt, sáng chói như ánh chớp Ai cũng phải khen là đẹp!” [123, tr.31] Người phụ nữ Ấn Độ cũng đẹp, song người đẹp ở xứ sở này có nước da màu không trắng mới là người đẹp:
“Khuôn mặt nàng như trăng tròn, môi nàng đỏ như quả Bunda, mắt nàng mở rộng như cánh hoa sen, nước da như vàng…” [123, tr.30]
Tính dân tộc của cái đẹp
Các nhà nhân học đã chỉ ra hoạt động thể thao chịu ảnh hưởng của văn hóa, giúp tạo dựng các đặc điểm hình thể Nhiều năm bơi lội sẽ làm cho phần
cơ thể trên nở nang, vai to, bờ vai và tấm lưng mạnh mẽ Người Mỹ quan niệm như vậy là đẹp Phụ nữ Mỹ được khuyến khích theo đuổi môn này Nước Mỹ đã sản sinh ra những vận động viên bơi lội thành công Trong khi
đó chuẩn mực về cái đẹp của người Braxin lại chấp nhận một hình thể mập mạp hơn, đặc biệt là phần mông và hông của người phụ nữ Văn hóa Braxin cho rằng phụ nữ nên có một dáng vẻ mềm mại với mông và hông lớn, vai nhỏ Vì vậy, nam giới nước này đã từng đôi lần thành công trong các cuộc thi
Trang 28đấu bơi lội và điền kinh quốc tế, nhưng nước này hiếm khi cử các nữ vận động viên bơi lội hay điền kinh đến các đại hội Olympic [16, tr 77 - 78]
Theo các nhà nghiên cứu, lúc đầu người Việt và người Mường cùng gốc, thời gian sau mới tách ra (hiện nay giữa các nhà nghiên cứu còn có những ý kiến khác nhau về thời gian Việt, Mường chia tách) Sau khi đã là hai dân tộc, với người Mường, màu trắng là màu đẹp Trong khi đó, đối với người Việt màu trắng lại là màu tang tóc Vì vậy, những nhóm người Mường khi ở cạnh người Việt đã chịu ảnh hưởng của phong tục Việt nên thiếu nữ Mường không đội khăn màu trắng như đại đa số thiếu nữ Mường ở các vùng khác
Tính thời đại của cái đẹp
Quan niệm về cái đẹp còn mang dấu ấn của thời đại Ở Trung Quốc, trước đời nhà Thanh, giới quý tộc thượng lưu chưa có tục bó chân Đến đời nhà Thanh, các em gái khi còn rất nhỏ đã phải bó chân, làm cho bàn chân không phát triển bình thường Tục bó chân làm phụ nữ tầng lớp trên hết sức đau đớn, khổ sở Sau khi bàn chân bị bó nhỏ, người phụ nữ quý tộc di chuyển khó khăn Mỗi bước đi thường có người hầu gái dìu hoặc đỡ Quan niệm trọng nam khinh nữ của nhà Thanh đã xem người phụ nữ là những người yếu đuối, phải nương tựa vào người đàn ông, tức là người cha và sau đó là người chồng (sau khi đã kết hôn) Mặt khác, theo các thầy thuốc đời Thanh, những người phụ nữ bị bó chân là những người có đời sống tình dục mạnh Lại một lần nữa, ta thấy quan niệm coi người phụ nữ là một thân phận phụ thuộc, là thứ tiêu khiển cho nam giới Chỉ có người phụ nữ thượng lưu mới có bàn chân nhỏ Còn những người phụ nữ thường dân hoặc xuất thân thường dân có đôi bàn chân to Chỉ cần nhìn vào bàn chân là người ta biết được người phụ nữ thuộc tầng lớp nào
Trong tiểu thuyết Đàn hương hình, nhà văn Mạc Ngôn xây dựng thành
công nhiều nhân vật, trong đó có Tôn Mi Nương Đây là vẻ đẹp tự nhiên của
Trang 29nàng giữa đất trời “Vầng trăng tròn vành vạnh treo giữa bầu trời như một người đẹp không mảnh vải che thân Tiếng mõ canh ba vừa điểm, huyện thành im ắng Gió mát đêm hè như tấm voan rộng mênh mông điểm xuyết bằng những chòm sao, trùm lên trời đất, đem theo mùi cây cỏ, cua cá, côn trùng Ánh trăng bàng bạc, soi tỏ Tôn Mi Nương đang đi dạo trong sân Nàng cũng không mảnh vải che thân, lồ lộ dưới trăng Ánh trăng như nước, nàng như con cá lớn màu nhũ bạc Đây là một đóa hoa nở rộ, một quả đã chín tới, một cơ thể khỏe đẹp Từ đầu đến chân, trừ bàn chân to, không một khiếm khuyết” [81, tr 203] Năm mười tám tuổi, Tôn Mi Nương trở thành cô gái đẹp nhất vùng Đông Bắc Cao Mật Mọi người tiếc cho nàng: “Cô gái này nếu chân không to, thì vua phải tuyển làm cung phi!” Vì chân to, hai mươi tuổi, nàng trở thành gái già không lấy được chồng “Về sau Tôn Mi Nương mặt hoa da phấn đành hạ mình lấy Triệu Tiểu Giáp, con nhà đồ tể ở Cửa Đông huyện thành Lúc Mi Nương về làm dâu, mẹ Giáp còn chưa chết Người đàn
bà bó chân này ghét cay ghét đắng cô con dâu chân to, nghĩ ra chuyện quái đản là dùng dao gọt bớt chân cho Mi Nương” [81, tr 205] Sau khi mẹ chồng chết, Tôn Mi Nương mở một quán rượu ở phố bên, bán hoàng tửu và thịt chó luộc Nàng được khách khứa đặt cho ba biệt hiệu là: “Nàng tiên chân to”,
“Người đẹp một nửa”, “Tây Thi thịt cầy”
Tính giai cấp của cái đẹp
Ngày nay ở Trung Quốc, tục bó chân không còn nữa Rõ ràng quan niệm về cái đẹp có tính thời đại và tính giai cấp
Ở Việt Nam, trong thời quân chủ, người con gái đẹp là người có hàm răng đen nhánh hạt huyền Vào những năm 30 của thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của chiếc áo dài, các cô gái tân thời, thị thành bắt đầu để răng trắng Từ thị thành lan đến thôn quê, dần dần tục nhuộm răng đen đi vào quá khứ Trong thời quân chủ, đối với tầng lớp trên, người con gái đẹp phải là người
Trang 30yểu điệu thướt tha, da trắng tóc dài, gương mặt thanh tú, mắt sáng và hiền Trong thời đại ấy, người nông dân và người bình dân nói chung lại quan niệm khác Họ cho những người con gái quý tộc là những con người yếu đuối, mỏng manh, gió thổi bay Đối với họ, người phụ nữ đẹp cũng là da trắng, tóc dài, miệng xinh, răng đen nhánh như hạt na (hạt huyền) nhưng phải tháo vát việc nhà, việc canh cửi, đống áng hay chợ búa Người bình dân chấp nhận cả những người phụ nữ da không trắng, nhưng có duyên và chăm chỉ làm lụng:
“Đen da là bởi em ngồi chợ trưa” [60, tr.2371] Trong thời đại trước, người Việt quan niệm người phụ nữ đẹp là người phụ nữ ăn mặc kín đáo Trong thời đại ngày nay, trong quan niệm về người phụ nữ đẹp, người ta thích người đẹp
có tầm vóc cao lớn, chân dài hơn và người đẹp hiện nay cũng là những người biết phô bày vẻ đẹp tự nhiên của thân thể
1.2.2.2 Tri thức dân gian
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai là giai đoạn thế giới phục hồi kinh
tế, tiếp theo là giai đoạn tăng trưởng Giai đoạn này là cơ sở cho sự ra đời của học thuyết phát triển “Các nhà phát triển đến từ các nước phương Tây, được trang bị bằng hệ thống khoa học và kiến thức của phương Tây đến các nước thứ ba nhằm “phát triển” các nước này và mở rộng công cuộc truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học Trong công cuộc này, họ coi các nguồn kiến thức địa phương như là những trở ngại cần phải được vượt qua để có thể đạt tới mục tiêu của các công cuộc phát triển Các nhà làm công tác phát triển coi truyền thống và các giá trị truyền thống của các tộc người trên thế giới như những gì yếu kém, lạc hậu, cần được hủy bỏ hơn là được động viên để sử dụng” [99, tr.325] Trên thực tế, sau nhiều năm thực hiện, các chuyên gia về phát triển phương Tây đã thất bại Tình trạng nghèo đói và kém phát triển vẫn đang tiếp diễn ở Tây Phi là thí dụ tiêu biểu cho việc chỉ sử dụng hệ thống khoa học và kiến thức phương Tây Từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX, vai
Trang 31trò của tri thức bản địa và vai trò của các tộc người bản địa được xem xét lại
Theo thời gian, các chuyên gia về phát triển, những người hoạt động trong lĩnh vực môi trường, các tổ chức phi chính phủ càng ngày càng nhận ra rằng những hiểu biết và văn hóa của các tộc người bản địa thể hiện mối quan
hệ hài hòa thân thiện giữa con người và môi trường; mặt khác, trong không ít trường hợp, do tác động của kinh tế thị trường, sự khai thác tự nhiên của các tộc người bản địa lại chính là nguyên nhân dẫn đến một phần làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên [99, tr.328-330] Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà nhận xét: “Sự quan tâm của Ngân hàng Thế giới (World Bank) như là một thể chế kinh tế quyền lực toàn cầu đối với tri thức bản địa (tri thức bản địa về môi trường) vừa là hệ quả của hai bối cảnh trên nhưng đồng thời, nó củng cố và
mở rộng phạm vi quan tâm của thế giới đối với tri thức bản địa” [99, tr.331] Năm 1998, Ngân hàng Thế giới thiết lập Chương trình tri thức bản địa cho sự phát triển D.Wolfensohn, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới khẳng định: “Tri thức bản địa là một phần không thể thiếu trong văn hóa và lịch sử của một cộng đồng địa phương Chúng ta cần thiết phải học hỏi từ các cộng đồng địa phương để có thể thúc đẩy quá trình phát triển” [99, tr.332] Chương trình vừa nêu được tiến hành tập trung ở châu Phi nhằm mục đích giảm tỉ lệ đói nghèo
và hướng tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ do Ngân hàng Thế giới đề
ra
Thuật ngữ “tri thức bản địa” (Indigenouse knowledge) được Robert Chambers dùng lần đầu tiên trong một ấn phẩm xuất bản năm 1979 Sau đó, thuật ngữ này được Brokensha và D.M.Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay [132, tr.12]
Ở nước ta, các tác giả Ngô Đức Thịnh, Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc, Vương Xuân Tình, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Ngọc Thanh, Hoàng Cầm, Bùi Quang Thắng, Nguyễn Thị Thu Hà, Hoàng Hữu Bình, An Văn Bảy, Cầm
Trang 32Tú Lan, Đinh Thị Hồng Thơm, Nguyễn Thị Quý,…đã giới thiệu lý thuyết về tri thức bản địa, đã nghiên cứu tri thức bản địa của đồng bào thiểu số trong nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên, trong dưỡng sinh, trị bệnh, trong tập quán sinh đẻ và chăm sóc trẻ em,…
Về phương diện lý luận, năm 2008, với bài viết “Tri thức bản địa” (in trong cuốn sách 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hóa do Bùi Quang Thắng chủ
biên), tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã trình bày một cách có hệ thống về tri thức bản địa, từ các đặc điểm của tri thức này (do Roy Ellen và Holly Harris tổng kết), đến việc tri thức này bị lãng quên, rồi được thừa nhận, từ sự vào cuộc của Ngân hàng thế giới đến những vấn đề đang thảo luận, tranh luận trong việc ứng xử với tri thức bản địa trong thời gian hiện nay [99, tr.321-341] Nếu bài viết của Nguyễn Thị Thu Hà hầu như không đề cập đến hạn chế của tri thức bản địa thì trong phần “Các khái niệm và vai trò của kiến thức
bản địa” in trong cuốn sách Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên xuất bản năm 1998, Hoàng
Xuân Tý đã nêu ra bảy đặc điểm cơ bản của tri thức bản địa và hai hạn chế của tri thức này Theo tác giả, tri thức bản địa có tính địa phương rất cao nên khó phổ cập rộng rãi cho vùng khác; nhiều tri thức bản địa ngày nay đã không còn phù hợp với hoàn cảnh xã hội và điều kiện môi trường hiện đại [132, tr.25] Nếu trong tất cả các thí dụ mà Nguyễn Thị Thu Hà nêu ra không có sự việc, con người nào trên đất Việt Nam thì đối với Hoàng Xuân Tý, bên cạnh những thí dụ rất thú vị như kinh nghiệm của người thổ dân da đỏ Trung Mỹ cải thiện giống khoai tây khỏi bị thoái hóa; Coca – Cola vốn là đồ uống truyền thống của một bộ tộc của người da đỏ ở châu Mỹ, tác giả đã đề cập đến
kỹ thuật làm rẫy của đồng bào Tây Nguyên; việc hái cây thuốc của phụ nữ Dao; tục ngữ, công cụ và cách đánh bắt thủy sản và săn bẫy chim thú của đồng bào Thái; cam Xã Đoài của người Việt ở Nghệ An; bưởi Đoan Hùng của
Trang 33người Việt ở Phú Thọ;…
Năm 1997, tại Hội thảo quốc tế về Văn hóa và phát triển do UNESCO
tổ chức ở Ấn Độ, tác giả Ngô Đức Thịnh trình bày báo cáo Tri thức bản địa
và sự phát triển xã hội Theo tác giả, tri thức bản địa và tri thức dân gian
(Folk knowledge) là một, bao gồm: 1) Tri thức về tự nhiên và môi trường (kể
cả vũ trụ); 2) Tri thức về bản thân con người (cơ thể học, dưỡng sinh, chữa bệnh,…); 3) Tri thức về sản xuất, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; 4) Tri thức về ứng xử xã hội và quản lý cộng đồng; 5) Tri thức về sáng tạo nghệ thuật [107, tr.3], [145] Năm 2004, trên Tạp chí Văn hóa dân gian, tác giả đề xuất khái niệm “thế giới quan bản địa” Theo ông, hệ thống tri thức bản địa hình thành, tồn tại xuất phát từ thế giới quan bản địa [107, tr.4]
Về phạm vi của tri thức bản địa, nhìn chung giữa các tác giả có nhiều
sự gặp gỡ, song cũng có đôi chỗ khác nhau Nếu Ngô Đức Thịnh quan niệm tri thức bản địa bao gồm năm lĩnh vực đã nêu thì Hoàng Xuân Tý, với tư cách
là đồng chủ biên cuốn sách Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên lại “không đưa các kiến thức
văn hóa như âm nhạc, tín ngưỡng, đạo đức,… vào trong khái niệm kiến thức bản địa” [132, tr.12] (Xin lưu ý, đối với cùng một thuật ngữ Indigenouse knowledge, Ngô Đức Thịnh và nhiều tác giả khác dịch là tri thức bản địa, còn Hoàng Xuân Tý dịch là kiến thức bản địa Vì vậy, tri thức bản địa và kiến thức bản địa là một) Còn D.M Warren đã dùng thuật ngữ “kiến thức về kỹ thuật bản địa” (Indigenouse techvical knowledge) để giới hạn phạm vi của thuật ngữ này Theo đó, các nội dung sau thường được tác giả đề cập: 1) Kiến thức về trồng trọt; 2) Kiến thức về chăn nuôi; 3) Kiến thức về quản lý rừng và tài nguyên cộng đồng; 4) Kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng; 5) Kiến thức về tổ chức cộng đồng và truyền thụ kinh nghiệm cho con
Trang 34cháu[Theo 132, tr.13-14]
Dù quan niệm phạm vi của tri thức bản địa khác nhau, dù dùng thuật ngữ khác nhau, các tác giả đều phân biệt tri thức bản địa, tri thức dân gian, kiến thức bản địa, kiến thức truyền thống (Traditional knowledge), kiến thức địa phương (Local knowledge), với kiến thức (tri thức) hàn lâm/kiến thức khoa học Đúng như Hoàng Xuân Tý đã giới thuyết, kiến thức hàn lâm (Academic knowledge) là “những kiến thức được hình thành chủ yếu bởi các nhà thông thái, được hệ thống hóa và truyền lại qua sách vở” [132, tr.12] Dưới đây là sự phân biệt của các tác giả Alan, R Emery and Associates đối với hai loại kiến thức/tri thức đó:
Bảng 2 Phân biệt tri thức bản địa và kiến thức khoa học
Hội nhập toàn thể, dựa vào hệ thống
Được lưu giữ thông qua truyền miệng và trong các thực hành văn hoá
Chỉ tính tới thế tục; loại trừ siêu nhiên
Phân tích hay quy giản, dựa vào các tập hợp nhỏ của cái toàn thể
Được lưu giữ thông qua sách
vở và máy tính
2 Mức độ
chân lý
Được coi là chân lý chủ quan
Chân lý được thấy trong tự nhiên và trong niềm tin Giải thích dựa vào ví dụ, kinh nghiệm và tục ngữ
Được coi là tiếp cận gần nhất đến chân lý
Chân lý được tìm thấy từ sự
lý giải của con người Giải thích dựa vào giả thuyết,
lý thuyết và quy luật
Trang 35Yếu hơn trong điều kiện ở các vùng xa, khác
Suy đoán ngắn hạn Trừu tượng; trải qua kiểm tra
Có khả năng dự báo tốt trong điều kiện tự nhiên (có giá trị
về duy lý) Yếu trong việc sử dụng kiến thức địa phương
Lĩnh hội nhanh (“kiến thức nhanh”)
Học thông qua giáo dục chính thức
Dạy thông qua sách giáo khoa
Được kiểm nghiệm giả tạo trong các kiểm tra
(Nguồn: trích từ Alan, R Emery and Associates (1997) Guidelines for Environmental Assessments and Traditional Knowledge
Dự thảo Báo cáo của Trung tâm Kiến thức bản địa của Hội đồng dân tộc bản địa thế giới, Ottawa, tr 4-5 http://www.kivu.com/wp-content/uploads/2012/01/Preliminary-
Guidelines.pdf)
Qua những điều đã trình bày, trong luận án, chúng tôi xin được dùng thuật ngữ “tri thức dân gian” với tính chất là thuật ngữ tương đương/đồng nghĩa với các thuật ngữ “tri thức bản địa”, “tri thức truyền thống”, “tri thức địa phương”, “kiến thức bản địa”, “kiến thức địa phương”, “kiến thức truyền thống”,(1)… Sở dĩ như vậy là vì khi các tác giả dùng các thuật ngữ tri thức bản địa, tri thức truyền thống, kiến thức địa phương, tri thức địa phương,… họ đều nhằm nói đến loại tri thức không phải do các nhà trí thức hệ thống hóa và
(1) Riêng tác giả Osseweijer, năm 2003, cho rằng tri thức địa phương bao gồm tri thức bản địa và tri thức ngoại sinh (theo Nguyễn Thị Thu Hà) [99, tr.338]
Trang 36truyền bá qua sách vở, trường học Đó là loại tri thức được lưu giữ thông qua truyền miệng và các thực hành văn hóa Tri thức dân gian cũng có những đặc điểm như vậy Chính vì thế, tác giả Ngô Đức Thịnh đã gọi tri thức bản địa là tri thức dân gian mà không cần chứng minh [107, tr.3]
Tri thức dân gian là những kiến thức đa dạng về nhiều mặt của một cộng đồng dân cư ở một vùng nhất định Không phải tất cả mọi thành phần trong một cộng đồng dân cư đều có tri thức dân gian như nhau Kinh nghiệm chọn đất trồng ngô, lúa và các dự báo thời tiết để gieo trồng nằm ở trí nhớ của người già, hay đàn ông Phụ nữ có hiểu biết sâu sắc hơn đàn ông rất nhiều về hái lượm các loại rau rừng cho người và gia súc Các thiếu niên ở độ tuổi 13-
15 biết rất nhiều loại cỏ cây mà bò và dê ưa thích Ở đồng bào Dao, người biết hái cây thuốc trong rừng chủ yếu lại là phụ nữ [132, tr.17-18]
Tri thức dân gian thường được tổng kết trong tục ngữ Chính vì vậy, người ta thường nói tục ngữ là “túi khôn” của một cộng đồng Ngoài ra, tri thức dân gian c ̣òn được thể hiện trong truyện ngụ ngôn Thí dụ, câu chuyện
Đẽo cày giữa đường khuyên người ta làm việc gì phải có chủ kiến không nên
bị động hết chạy theo ý kiến người này lại nghe theo lời khuyên của người
khác cuối cùng hỏng việc Truyện Dại như vích khuyên người ta muốn chinh
phục được đối phương thì phải nắm được quy luật hoạt động của nó Bên cạnh đó, thông qua các truyện dân gian khác như truyện cổ tích, truyện cười, người ta cũng có thể gửi gắm tri thức dân gian Trong kho tàng ca dao, đối với những câu hát lời ca mà văn bản của chúng thuộc dạng văn bản biểu hiện thì chúng ta ít tìm thấy tri thức dân gian Nhưng ở những bài, những câu thuộc loại văn bản tạo hình thì có không ít tri thức mà người xưa gửi gắm(1)
Tri thức dân gian còn được thể hiện qua những kinh nghiệm, những
Trang 37cách thức không bộc lộ thành lời Thí dụ, sau khi sản phụ sinh nở, người ta cho người mẹ trẻ nằm và đốt bồ kết trong phòng, ninh cháo với chân giò lợn
và đu đủ xanh để người mẹ có nhiều sữa cho con Những tri thức này chưa được tổng kết trong một câu tục ngữ, một lời ca nào
1.2.2.3 Vùng và tiểu vùng văn hóa
Các nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Hoàng Vinh, Huỳnh Khái Vinh,… tuy đưa ra những phương án phân vùng văn hóa Việt Nam khác nhau, song các tác giả đều giống nhau ở chỗ vùng văn hóa là đơn vị lớn hơn tiểu vùng văn hóa, một vùng văn hóa có thể bao gồm nhiều tiểu vùng Chúng tôi tiếp thu cách chia văn hóa Việt Nam thành ba vùng: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ Đây là những tên gọi quen thuộc hiện nay Từ đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn chia nước ta thành ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung
Kỳ, Nam Kỳ Trong thời gian Pháp thuộc (1884-1945), nhà cầm quyền tiếp tục duy trì các tên gọi và cách phân chia này Có thể nói, về cơ bản, các vùng Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ hiện nay tương đương với Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ trước kia
Trong mỗi vùng, lại có thể chia thành nhiều tiểu vùng Thí dụ, vùng văn hóa Trung Bộ được chia thành Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ Vùng văn hóa Bắc Bộ được chia thành vùng Tây Bắc, vùng Việt Bắc và vùng châu thổ Bắc Bộ
1.2.2.4 Phụ nữ
Hiện nay có nhiều quan niệm về phụ nữ Theo Wikipedia, phụ nữ hay đàn bà là chỉ giống cái của loài người Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ "quyền phụ nữ"
Trang 38[https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BB%A5_n%E1%BB%AF#Kh.C3.A1i_ni.E1.BB.87m, truy cập ngày 29/12/2015]
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm 2002,
phụ nữ là người lớn thuộc nữ giới
Theo điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thì tại thời điểm xét kết nạp, người được kết nạp vào Đoàn ít nhất ở tuổi từ 16 (từ đủ 15 tuổi +
1 ngày) [28]
Theo Luật hôn nhân và gia đình hiện nay, tuổi kết hôn của nữ là 18 tuổi
trở lên, nam 20 tuổi trở lên Trong quan niệm dân gian, “gái thập tam, nam thập lục” có nghĩa là con gái 13 tuổi, con trai 16 tuổi là ở tuổi dậy thì
Từ tất cả các thông tin trên, chúng tôi xin được giới thuyết trong luận
án này: phụ nữ là người có tuổi từ 16 trở lên
1.2.2.5 Làm đẹp
Chăm sóc sắc đẹp: Là một khái niệm để chỉ hoạt động nhằm duy trì, tăng vẻ đẹp dựa trên những nguyên liệu, phương pháp và kỹ thuật thích hợp được chấp nhận Có nhiều phương pháp và kỹ thuật chăm sóc sắc đẹp khác nhau được sử dụng Có thể chia thành ba loại:
+ Cách làm đẹp của Đông y và Tây y (những người làm việc này được đào tạo bài bản, có bằng cấp)
+ Cách làm đẹp của một nhóm người đặc biệt như các bà mụ, lang vườn, thầy cúng
+ Cách làm đẹp phổ thông do những người dân tự làm (nhuộm răng đen (thời trước), giữ gìn răng trắng (thời nay), để và chải tóc theo thời trang, cài hoa trên tóc, tự tỉa lông mày,…) cách làm đẹp này chiếm số lượng đông đảo và ít tốn kém về tiền bạc Đây có thể gọi là cách tự làm đẹp
Trang 39Nhu cầu tự làm đẹp xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người Từ những di chỉ khảo cổ học, chúng ta biết rằng người cổ xưa đã biết dùng đồ trang sức Trên cơ sở những cách làm đẹp phổ thông, phổ biến của dân gian,
đã hình thành nên các chuyên khoa dành cho những người có chuyên môn Hiện nay, tương đối khó xác định một hành vi làm đẹp thuộc loại nào Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, người ta hoàn toàn có thể cùng một lúc sử dụng nhiều cách khác nhau, miễn sao đạt được hiệu quả như mong ước1
1.2.2.6 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe
Thông thường ta nói một người nào đó khỏe là khi họ không có bệnh tật và họ cảm thấy thoải mái Năm 1946, Tổ chức Sức khỏe thế giới đã định nghĩa sức khỏe là “tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không có bệnh hay tật” [92] Định nghĩa này nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết giữa ba mặt thể chất, tâm thần và xã hội của một cá nhân Một yếu tố bị ảnh hưởng sẽ tác động đến những mặt khác và ảnh hưởng đến sức khỏe Từ đó ta thấy sức khỏe không phải là một tình trạng
cố định mà biến chuyển liên tục, phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Một số khái niệm khác có liên quan đến sức khỏe:
- Bệnh (disease): là tình trạng tổn thương hoặc rối loạn cấu trúc, chức năng của cơ thể hoặc cả hai, đang diễn tiến (có thể tăng hoặc giảm) Người bệnh có thể có: (1) Triệu chứng cơ năng (symptoms) là những cảm giác khó chịu do người bệnh cảm thấy và (2) Dấu hiệu hay triệu chứng thực thể (signs)
là những biểu hiện mà người khác có thể nhận biết được
- Tàn tật (disability): là tình trạng tổn thương hoặc rối loạn cấu trúc, chức năng của cơ thể hoặc cả hai, không diễn tiến hoặc diễn tiến rất chậm
Nếu lấy mốc là bệnh có thể chia các hoạt động chăm sóc sức khỏe ra ba
Trang 40lĩnh vực:
- Dự phòng/Phòng bệnh (prevention): những hoạt động chăm sóc sức khỏe để phòng bệnh, thí dụ: rửa tay trước khi ăn, uống nước đun sôi để nguội, ngủ màn tránh muỗi đốt Cách chăm sóc sức khỏe bằng phòng bệnh có mục đích làm chậm lại việc bắt đầu phát bệnh, tức là làm chậm lại quá trình lão hóa của cơ thể
- Điều trị (treatment): các biện pháp điều trị như uống thuốc, mổ xẻ, hoặc đơn giản như cạo gió, xoa bóp v.v
- Phục hồi (rehalibitation): những biện pháp nhằm phục hồi chức năng sau khi bị bệnh, bị tật, ví dụ dinh dưỡng tốt sau khi bị cơn bệnh cấp tính, tập thở cho người bị viêm mũi, màng phổi đã chữa trị, tập cho trẻ bại liệt đi lại v.v
Tuy nhiên cách phân chia này còn phiến diện vì con người ta không chỉ đơn thuần nghĩ đến việc phòng/chữa bệnh mà còn muốn thực hiện các hoạt động để được khỏe hơn Cho nên gần đây người ta còn đề cập đến khái niệm nâng cao sức khỏe (health promotion) với hàm ý là những hoạt động giúp tăng cường sức khỏe chứ không chỉ để phòng ngừa bệnh [15]
1.3 Tổng quan về Bắc Bộ và châu thổ Bắc Bộ
1.3.1 Bắc Bộ trong sự so sánh với Trung Bộ và Nam Bộ
Bắc Bộ bao gồm vùng Tây Bắc, vùng Việt Bắc và vùng châu thổ Bắc
Bộ
So với Trung Bộ và Nam Bộ, Bắc Bộ là nơi người Việt tụ cư sớm hơn
cả và đông hơn cả Trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn, người Việt cổ đã biết khai thác đất đai, làm ruộng nước, cấy lúa theo hai vụ chiêm, mùa, bên cạnh các hình thức kinh tế đánh bắt và làm nương rẫy Không gian cư trú của người Bắc Bộ thời trước nằm trọn trong không gian cư trú của người Việt cổ thời kì