Thực hiện đề tài khoa học Vận dụng quan niệm thẩm mĩ và tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khoẻ phụ nữ hiện nay, chúng tôi sẽ trình bày những hiểu biết và thực hành c
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại :
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học :
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học xã hội vào
hồi…… ….giờ……phút, ngày……tháng……….năm 2016
Có thể tìm hiểu tại :
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Trương Thị Cẩm Vân (2013), "Quan niệm làm đẹp của phụ
nữ Vệt truyền thống đến hiện đại qua cách tiếp cận nhân học văn
hóa", Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, số 4, (tr 18 - 22)
2 Trương Thị Cẩm Vân (2013), "Bàn thêm về tri thức dân
gian", Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4 (148), (tr 66 - 68)
3 Trương Thị Cẩm Vân (2015), “Bàn luận xung quanh vẻ đẹp
của người phụ nữ và người phụ nữ đẹp thời xưa”, Tạp chí Văn hóa
dân gian, số 5 (161), tr.30-35
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vẻ đẹp cơ thể là một yêu cầu quan trọng đầu tiên của người phụ
nữ hiện đại vì nó tăng sự quyến rũ của nữ tính Vẻ đẹp mà người phụ nữ thu hút người khác có được là nhờ sự bộc lộ những nét đẹp thiên phú, nhờ việc biết cách giữ gìn và chủ động làm đẹp Ngày nay, cuộc sống
đã khác trước với nhịp độ ngày càng gia tăng, người phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào đời sống xã hội và dần dần thay đổi cách nghĩ, cách làm và nhất là cách biểu lộ tình cảm, cách làm đẹp Do nhu cầu làm đẹp của phái nữ, xã hội đã hình thành và phát triển dịch vụ làm đẹp (Spa) Ở Việt Nam, công nghệ này đã phát triển, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và đang lan rộng ra các vùng nông thôn
Trong một cuộc điều tra xã hội học, người ta thấy 80% số người được hỏi đều cho rằng người phụ nữ Việt Nam hiện đại có tính năng động, tự tin, cởi mở, ham thích hoạt động xã hội, có khả năng lãnh đạo với tinh thần trách nhiệm cao Một số người Việt Nam vẫn giữ một thái độ cố hữu: "Cái nết đánh chết cái đẹp" Trên thực tế, nhu cầu làm đẹp để tôn tạo những nét đẹp trên sắc mặt, cơ thể lại phát triển khá mạnh Tiếc rằng nhu cầu và việc làm này chưa được sự hướng dẫn một cách khoa học trên quan điểm thẩm mỹ của văn hóa học Có không ít người, vì thiếu hiểu biết đã chạy theo mốt mới, theo cái hiện đại, làm đẹp theo kiểu phản thẩm mỹ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Dù rất quan tâm đến cái đẹp hay chỉ thừa nhận nó ở mức độ vừa phải, mọi người đều cho rằng người phụ nữ đẹp cũng còn là người phụ
nữ khỏe mạnh Thực hiện đề tài khoa học Vận dụng quan niệm thẩm
mĩ và tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khoẻ phụ nữ hiện nay, chúng tôi sẽ trình bày những hiểu biết và thực hành
của người dân xưa trong việc chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe cho người phụ nữ Việt, từ đó rút ra những ưu điểm của cách làm đẹp và chăm sóc sức khỏe dân gian còn phù hợp mà phụ nữ hiện đại cần học tập
Trang 52 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trong việc làm đẹp và giữ gìn sức khỏe của người phụ nữ Bắc
Bộ hiện nay, có những quan niệm và phương pháp dân gian nào được vận dụng? Vị trí, vai trò của tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe của phái đẹp hiện nay như thế nào?
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm tri thức dân gian, quan niệm dân gian về cái đẹp, thẩm mỹ, sức khỏe, những bài thuốc và cách thức sử dụng của nhân dân ta ngày xưa
- Trình bày quan niệm và những phương thức làm đẹp của người phụ nữ hiện đại, đánh giá vai trò và tác dụng của tri thức dân gian trong vấn đề này
- Trình bày những phương thức chăm sóc sức khỏe của phụ nữ hiện đại, nhận diện vai trò của tri thức dân gian trong vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu việc làm đẹp, giữ gìn, rèn luyện sức khỏe của phụ nữ hiện nay ở Bắc Bộ, tìm hiểu trong số những phương thức, những bài thuốc làm đẹp và tăng cường sức khỏe hiện nay có những phương thức nào, bài thuốc nào sử dụng từ tri thức dân gian
Đối với người phụ nữ hiện nay, chúng tôi điều tra và phỏng vấn những phụ nữ từ 16 đến dưới 70 tuổi (nhóm chưa có chồng, nhóm có chồng và nhóm người có tuổi) Những người này đại diện cho các thế
hệ khác nhau, thể hiện việc chăm sóc sắc đẹp, sức khỏe trước và sau khi có con và sự khác biệt giữa các thế hệ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi không thể nghiên cứu việc vận dụng quan điểm thẩm mĩ và tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe phụ nữ của tất cả các dân tộc ở mọi
Trang 6vùng trên đất nước ta Chúng tôi xin được giới hạn nghiên cứu tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe của phụ nữ Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ Khi điều kiện cho phép, chúng tôi so sánh, liên
hệ vấn đề này ở một số dân tộc thiểu số cư trú tại Bắc Bộ Việc giới hạn không gian nghiên cứu này là phù hợp với tính chất của tri thức dân gian Tri thức dân gian (hay tri thức địa phương, hay kiến thức bản địa) có tính chất vùng, miền (địa phương) rất rõ Các nhà nghiên cứu có nhiều phương án phân vùng văn hóa Việt Nam, trong đó có cách phân chia nước ta thành ba vùng lớn: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam
Bộ Trong luận án, chúng tôi quan niệm: Bắc Bộ là khu vực tính từ các tỉnh từ biên giới phía Bắc kéo đến hết Ninh Bình Trong Bắc Bộ, chúng tôi tập trung khảo sát vùng châu thổ Bắc Bộ Trong châu thổ Bắc Bộ, chúng tôi khảo sát ở tám tỉnh và thành phố: Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nội Đây là những nơi vừa bảo lưu nhiều nét truyền thống văn hóa, đồng thời cũng là nơi biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội Luận án nghiên cứu tri thức dân gian trong chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của phụ nữ Việt và đánh giá sự tồn tại của các tri thức này trong xã hội ngày nay Tuy chủ yếu viết về người Việt, trong một số trường hợp, chúng tôi có mở rộng đến những dân tộc khác nhằm làm rõ hơn vấn đề của người phụ nữ Việt
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Chúng tôi vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét đối tượng nghiên cứu trong sự vận động và trong mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác Thí dụ, trong việc làm đẹp, ở xã hội cũ, trong thời con gái, phụ nữ rất chú ý đến việc làm đẹp và chăm sóc sắc đẹp, nhưng sau khi lập gia đình, họ ít chú ý đến việc làm đẹp cho bản thân (tuy vẫn ăn trầu cho môi đỏ, ra đường mặc quần áo đẹp hoặc chí ít cũng tươm tất hơn lúc ở nhà, đeo đồ trang
Trang 7sức,…) Trong xã hội ngày nay, không chỉ ở thời con gái mà sau khi
đã lập gia đình hay khi tuổi đã cao, người phụ nữ vẫn quan tâm chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp cho bản thân Sự giao lưu với thế giới, điều kiện sống, những quan niệm mới về bình đẳng giới đã đem đến sự thay đổi đó Đó chính là hoàn cảnh cụ thể đã giúp NCS giải thích về một hiện tượng hiện nay khác với truyền thống
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp tổng hợp trong nghiên cứu văn hóa dân gian
Theo tác giả Đinh Gia Khánh, trong khoa nghiên cứu văn hóa dân gian, phương pháp tổng hợp có tầm quan trọng đặc biệt, đó là phương pháp tiếp cận thẩm mỹ kết hợp với phương pháp tiếp cận chỉnh thể Để nghiên cứu một tác phẩm, một hiện tượng văn hóa dân gian thì cần phải phân tích chủ thể nguyên hợp ấy ra các thành tố, hơn nữa cần phải phân tích các thành tố ra các yếu tố nhỏ hơn để có thể đi sâu tìm hiểu nội dung cũng như cấu trúc của từng thành tố nói riêng, của chỉnh thể nguyên hợp nói chung Trong nghiên cứu văn hóa dân gian, khởi đầu bằng việc phân tích là một điều tất yếu Nhưng quá trình phân tích ấy lại được bổ sung và nâng cao bằng quá trình tổng hợp bởi vì dẫu có tiến hành thao tác khoa học nào đi chăng nữa thì cuối cùng cũng phải đạt mục tiêu là nhận thức được sâu sắc và toàn diện tác phẩm, hiện tượng với tư cách là một chủ thể nguyên hợp [133, tr 10-11]
Trang 8vẫn sử dụng những phương pháp mà nhà khoa học cho là thích hợp hơn là với phương hướng tiếp cận của ngành khoa học khác Trong tổ chức nghiên cứu liên ngành, có một ngành khoa học giữ vai trò trung tâm, nói cho đúng hơn là giữ vai trò tổ chức Vai trò ấy được quy định bởi những điều kiện khác nhau như mục tiêu cuối cùng của đề tài nghiên cứu hoặc tính chất của tư liệu nghiên cứu Theo tác giả Đinh Gia Khánh, đề tài Hùng Vương dựng nước đã được xử lý theo tổ chức nghiên cứu liên ngành Nhiều ngành khoa học xã hội và cả một số ngành khoa học tự nhiên đã được huy động vào việc nghiên cứu đề tài này
Thời đại Hùng Vương không ghi lại những tư liệu thành văn, những văn bản, nhưng còn lưu lại khá nhiều hiện vật khảo cổ học Vì vậy khoa học khảo cổ đã giữ vai trò trung tâm, vai trò tổ chức của việc nghiên cứu liên ngành Khi nghiên cứu về Tây Nguyên là một vùng trong đó các tộc người còn giữ được nhiều hơn các nơi khác những nét đặc thù của xã hội thời kỳ tiền giai cấp Bởi vậy trong việc xử lý đề tài này theo tổ chức liên ngành thì dân tộc học đóng vai trò trung tâm, vai trò tổ chức Trong đề tài quy hoạch đồng bằng sông Hồng hoặc quy hoạch đồng bằng sông Cửu Long thì dù ngành khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, nông học, văn hóa dân gian…có thể tùy theo hoàn cảnh mà có đóng góp nhiều hoặc ít vào kết quả nghiên cứu nhưng ngành kinh tế học phải giữ vai trò trung tâm, vai trò tổ chức, bởi vì mục tiêu của việc nghiên cứu liên ngành này trước hết là mục tiêu kinh tế [133, tr.12-14]
Từ những gợi ý của tác giả Đinh Gia Khánh, để thực hiện đề tài này chúng tôi vận dụng những quy phạm của khoa nghiên cứu văn hóa dân gian bên cạnh việc tiếp thu phương pháp nghiên cứu và thụ hưởng kết quả nghiên cứu của mỹ học, y học và xã hội học, trong đó khoa nghiên cứu văn hóa dân gian đóng vai trò trung tâm
4.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Trang 9Cơ cấu mẫu nghiên cứu của chúng tôi như sau: Phỏng vấn bảng hỏi được thiết kế sẵn với 300 phụ nữ từ 16 đến dưới 70 tuổi tại 8 tỉnh, thành ở khu vực châu thổ Bắc Bộ, cụ thể là: Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nội Ở mỗi tỉnh, thành trên, chúng tôi khảo sát hai địa điểm: một là thành phố/thị xã/ thị trấn/ thị tứ và một địa điểm ở một xã trong tỉnh
- Về độ tuổi: Nhóm tuổi từ 16-25 chiếm 35%, nhóm từ 25-35
tuổi chiếm 15%, nhóm từ 36-55 tuổi chiếm 25% và nhóm trên 55 tuổi chiếm 25%
- Về nơi sinh sống: Tỷ lệ sống ở khu vực nông thôn chiếm gần
một nửa (46,7%), tỷ lệ ở khu vực thị trấn/thị tứ chiếm 22,8% và ở thành phố chiếm 30,4%
- Về nghề nghiệp: Làm nông nghiệp thuần túy chiếm 27,3%,
buôn bán, dịch vụ: 12,1%, cán bộ viên chức 19,0%, làm tự do 3,5%, nội trợ, nghỉ hưu 2,1%, lĩnh vực nghệ thuật 2,4%, nhân viên trong các công ty, doanh nghiệp 5,2%, học sinh, sinh viên 20,7%, thất nghiệp 1,4%
- Về thu nhập bình quân/tháng: Tỷ lệ dưới 1 triệu/tháng chiếm
28,7%, từ 1- dưới 3 triệu chiếm 31,7%, từ 3- dưới 5 triệu chiếm 26%, trên 5- dưới 7 triệu chiếm 8,3% và trên 7 triệu chiếm 5,3%
- Về tình trạng hôn nhân: Tỷ lệ phụ nữ được khảo sát đang ở
cùng chồng chiếm 46,4%, đã ly hôn/ly thân chiếm 4,8%, chưa lập gia đình 48,8%
- Về học vấn: Tỷ lệ phụ nữ có trình độ tiểu học chỉ chiếm 3,8%,
trung học cơ sở 33,1%, trung học phổ thông 36,2%, trung cấp nghề 16,3%, cao đẳng, đại học 10,1% và trên đại học 0,5%
- Về tôn giáo: 95,2% không theo tôn giáo nào, 4,8% theo các
tôn giáo khác như Tin Lành, Cao Đài…
Các đặc điểm về đối tượng được khảo sát sẽ được phân tích nhằm giải thích sự khác biệt trong nhận thức, thực hành việc vận dụng
Trang 10tri thức dân gian trong chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của phụ nữ
4.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện với nhiều đối tượng: + Phỏng vấn phụ nữ trong cộng đồng:
- Phỏng vấn phụ nữ cao niên (nông thôn, thành thị)
- Phỏng vấn phụ nữ trung tuổi (nông thôn, thành thị)
- Phỏng vấn phụ nữ chưa lập gia đình (nông thôn, thành thị) + Phỏng vấn chủ/đại diện các trung tâm chăm sóc sắc đẹp/thẩm
mỹ tại mỗi tỉnh
+ Phỏng vấn kỹ thuật viên trong các trung tâm chăm sóc sắc đẹp
có sử dụng các phương pháp trị liệu (nguyên liệu truyền thống): bác sĩ, dược sỹ, chuyên gia làm đẹp…
+ Phỏng vấn chuyên gia về nghiên cứu văn hóa dân gian, nghệ thuật làm đẹp, chuyên gia về phụ nữ… ở các cơ quan quản lý, nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật
4.2.5 Phương pháp thu thập, xử lý các tài liệu thứ cấp
Luận án tổng hợp và phân tích một lượng lớn các tài liệu đã công
bố có thể phân chia số tài liệu này thành năm loại
Loại thứ nhất là những công trình bàn về vẻ đẹp và làm đẹp của phụ nữ thời xưa Loại thứ hai là những công trình bàn về việc làm đẹp của phụ nữ thời nay Loại thứ ba là những công trình viết về việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ ngày xưa Loại thứ tư là những công trình quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ hiện nay Loại thứ năm là những công trình sưu tầm, biên soạn văn học dân gian trong đó chủ yếu là những công trình sưu tầm, biên soạn ca dao tục ngữ Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sắp xếp các tài liệu như trên, trong mỗi loại lại được chia nhỏ hơn nữa Thí dụ, trong việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ ngày xưa gồm có những công trình viết về việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ Việt (Kinh), những công trình viết về việc chăm sóc sức khỏe của phụ nữ các dân tộc thiểu số
Trang 11Trên cơ sở khối tư liệu đã công bố, xuất bản khá phong phú, chúng tôi tiến hành phân tích theo các vấn đề mà nội dung luận án quy định
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Bản luận án đã phân tích và chứng minh các thuật ngữ tri thức bản địa, tri thức dân gian, kiến thức bản địa, về cơ bản chỉ là những cách gọi khác nhau của một sự vật, trình bày có hệ thống quan niệm dân gian và tri thức dân gian về cái đẹp của người phụ nữ và việc chăm sóc sức khỏe của họ trong xã hội xưa và nay, khẳng định vai trò của tri thức dân gian trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe phụ nữ
hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý thuyết: Luận án làm sáng tỏ vai trò của tri thức dân gian trong việc làm đẹp và giữ gìn sức khỏe của người phụ nữ hiện đại, đánh giá đúng mức tầm quan trọng của tri thức này (không hạ mức, không cường điệu) Qua kết quả nghiên cứu của luận án, người đọc thấy rõ sự đa dạng trong quan niệm về cái đẹp, mối liên hệ hữu cơ
giữa cái đẹp và sức khỏe
- Về mặt thực tiễn: Kết quả của luận án sẽ làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các chị em phụ nữ và các cơ sở làm đẹp hiện nay
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
án được trình bày theo bốn chương như sau:
Chương 1: Lịch sử nghiên cứu vấn đề, lý thuyết vận dụng và tổng quan về Bắc Bộ, châu thổ Bắc Bộ;
Chương 2: Tri thức dân gian trong chăm sóc sắc đẹp của người phụ nữ vùng Bắc Bộ hiện nay;
Chương 3: Tri thức dân gian trong chăm sóc sức khỏe của người phụ nữ vùng Bắc Bộ hiện nay;
Chương 4: Những vấn đề bàn luận
CHƯƠNG 1
Trang 12LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ, LÝ THUYẾT VẬN DỤNG
VÀ TỔNG QUAN VỀ BẮC BỘ, CHÂU THỔ BẮC BỘ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về vẻ đẹp của người phụ nữ Việt theo quan niệm dân gian
Đề cập đến vẻ đẹp của người phụ nữ Việt, đã có một số tác giả quan tâm đến như Phạm Thị Nhung, Trần Ngọc Thêm, Phạm Anh Trang, Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh Đáng chú ý có hai nữ tác giả dành số trang đáng kể, viết một cách có hệ thống về chủ đề đang bàn
đó là tác giả Lê Thị Nguyệt với Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt và Nguyễn Thị Thúy Loan với Vấn đề miêu
tả ngoại hình con người trong “Kho tàng ca dao người Việt” Hai tác
giả, bằng phương pháp thống kê đã phân tích vẻ đẹp bộ phận và vẻ đẹp tổng thể ngoại hình của người phụ nữ Việt trong thơ ca dân gian Các kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nguyệt, Nguyễn Thị Thúy Loan
đã giúp ích rất nhiều cho NCS trong quá trình thực hiện đề tài luận án
1.1.2 Các công trình đề cập đến việc chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của người phụ nữ bằng phương pháp dân gian
1.1.2.1 Các công trình đề cập đến việc chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe của người phụ nữ Việt bằng phương pháp dân gian
Ở mục này, chúng tôi giới thiệu những công trình đề cập đến phương thức làm đẹp và cách chữa bệnh từ những cây thuốc và nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên được đúc kết từ kinh nghiệm trong dân gian Cho đến nay, còn thiếu các nghiên cứu từ cách tiếp cận văn hóa, xã hội để đánh giá, tìm hiểu nhu cầu thẩm mỹ, xu hướng về chăm sóc sắc đẹp, sử dụng lựa chọn các phương pháp làm đẹp (truyền thống
và hiện đại) để từ đó có những khuyến nghị phù hợp nhằm duy trì và phát huy văn hóa truyền thống (qua hệ thống tri thức dân gian), đồng thời giúp phụ nữ Việt Nam tiếp cận lựa chọn các phương pháp làm đẹp an toàn, tiết kiệm và hiệu quả bên cạnh các công nghệ làm đẹp
Trang 131.2 Lý thuyết vận dụng và khái niệm
1.3 Tổng quan về Bắc Bộ và châu thổ Bắc Bộ
1.3.1 Bắc Bộ trong sự so sánh với Trung Bộ và Nam Bộ
Bắc Bộ bao gồm từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến hết tỉnh Ninh Bình Phần lãnh thổ này nằm trọn trong không gian văn hóa Đông Sơn; trong khi đó chỉ có một phần lãnh thổ của vùng Trung Bộ hiện nay là các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nằm trong lãnh thổ của cư dân Đông Sơn Điều đó có nghĩa là so với Trung
Bộ và Nam Bộ, Bắc Bộ là nơi tụ cư sớm nhất của người Việt cổ, cũng
là nơi có lịch sử lâu dài hơn cả Dân tộc chủ thể chiếm đa số ở Bắc Bộ
là người Việt Bên cạnh đó, còn có nhiều tộc người thiểu số như Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, H’mông, Cống, Sán Chay,…
1.3.2 Tiểu vùng châu thổ Bắc Bộ