PHẦN 1 LỜI NÓI ĐẦU 1.1. LÝ DO XÂY DỰNG ĐỀ ÁN Ngày nay chúng ta đang chứng kiến và hưởng thụ những thành tựu to lớn, những đổi thay kỳ diệu do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới cuộc cách mạng công nghệ thông tin (CNTT) đem đến. Cuộc cách mạng này đã đưa xã hội loài người tiến vào một thời kỳ mới. Thời kỳ mà máy tính và cộng nghệ kỹ thuật số đi kèm đã và đang hiện diện, thay thế các công nghệ trước đây trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Với những mục đích sử dụng cũng hết sức đa dạng từ sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoa học kỹ thuật cho đến mục đích giải trí đơn thuần…khiến cho nhiều ngành kinh tế, xã hội và văn hoá phụ thuộc ngày càng nhiều vào các công nghệ mới của nó. Ngoài ra cuộc cách mạng CNTT cũng hình thành một thế hệ mới, khác so với thế hệ cách họ chỉ vài chục năm ở chỗ họ phụ thuộc nhiều vào công nghệ, họ coi máy tính, internet, thư điện tử, điện thoại di động... là những công cụ không thể thiếu trong cuộc sống. Cũng như bất kỳ một thành tựu khoa học nào của nhân loại, khi mà các thành tựu càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì càng dễ bị lợi dụng hoặc trở thành mục tiêu của giới tội phạm. Các thành tựu do CNTT đem lại cũng không nằm ngoài quy luật đó, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng CNTT đã hình thành nên khái niệm về một loài tội phạm mới, đó là tội phạm trong lĩnh vực CNTT hay còn được biết đến với các tên gọi khác nhau như: Tội phạm mạng (cyber crimes), tội phạm tin học, tội phạm sử dụng CNTT, tội phạm liên quan đến máy tính (computer crimes) hay tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực CNTT. Thực tiễn đời sống xã hội trên thới giới cho thấy loại tội phạm này đã và đang ngày một gia tăng, gây ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế, làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của các nước trên thế giới. Theo báo cáo của Interpol thì tội phạm trong lĩnh vực CNTT đang trở thành mối nguy hại lớn trên thế giới gây thiệt hại mỗi năm khoảng 400 tỷ USD, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được. Và cứ 14 giây lại có một vụ liên quan đến tấn công mạng, Interpol đánh giá loại tội phạm này nguy hiểm thứ 2 sau tội phạm khủng bố. Còn ở nước ta, một trong những quốc gia có tốc độ phát triển cao nhất thế giới trên lĩnh vực CNTT, với hàng chục triệu người sử dụng thường xuyên đang là một “miếng mồi ngon” cho bọn tội phạm trong lĩnh vực CNTT tấn công. Thời gian gần đây, lực lượng công an Việt Nam đã triệt phá hàng loạt các vụ án do tội phạm trong lĩnh vực CNTT thực hiện, qua các vụ án này cho thấy loại tội phạm này ngày càng công khai, táo tợn và tinh vi hơn. Sự gia tăng cả về số lượng, mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này thực sự đang rất đáng báo động. Trong khi đó, ở nước ta ngoại trừ việc tiến hành tội phạm hóa các hành vi thành chỉ năm quy định liên quan đến tội phạm trong lĩnh vực CNTT tại các Điều 224, 225, 226, 226a, 226b trong Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành ra. Thì các cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế về trình độ đấu tranh, các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ đấu tranh vẫn còn thiếu, lỗi thời không theo kịp bọn tội phạm… Do đó dù thời gian qua, đã có nhiều hành vi vi phạm được các cơ quan chức năng điều tra, phát hiện nhưng số lượng các vụ án loại này được đưa ra xét xử rất ít. Còn trên lĩnh vực nghiên cứu thì các tài liệu, các công trình nghiên cứu về các tội phạm trong lĩnh vực CNTT còn ít, còn thiếu. Tất cả những vấn đề trên, đã nêu lên đòi hỏi cấp thiết cần phải tiến hành xây dựng một đề án nghiên cứu toàn diện về loại tội phạm mới này, để tạo cơ sở pháp lý vững chắc đấu tranh phòng chống lại chúng. Đó là lý do người viết lựa chọn đề tài “Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin” để thực hiện đề án tốt nghiệp của mình. 1.2. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ ÁN Đối tượng của đề án: Tập trung nghiên cứu những khái niệm cơ bản của tội phạm trong lĩnh vực CNTT, cũng như các thực trạng, diễn biến của tội phạm này trong thời điểm hiện tại. Những khó khăn phải đối mặt và các giải pháp để tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi của đề án: Do hạn chế về thời gian, kiến thức và tài liệu liên quan nên trong phạm vi nghiên cứu của đề án, người viết xin được phép giới hạn vấn đề nghiên cứu tập trung trong phạm vi những quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về tội phạm trong lĩnh vực CNTT. Mà cụ thể là tại các Điều 224, 225, 226 226a, 226b thuộc chương XIX các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng của BLHS hiện hành. Ngoài ra còn tham khảo thêm các văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu, sách báo tham khảo, sách chuyên khảo có liên quan đến đề tài này. Về không gian: Đề án tập trung nghiên cứu về tình hình tội phạm và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực CNTT chỉ trong phạm vi không gian là lãnh thổ Việt Nam.
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
-NGẠCH CHUYÊN VIÊN CAO CẤP
Tổ chức tại Học viện Hành chính Quốc Gia Cơ sở TP Hồ Chí Minh
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 1
LỜI NÓI ĐẦU 1
1.1 LÝ DO XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1
BẢNG VIẾT TẮT
Trang 3PHẦN 2 3
NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN 3
2.1 CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 3
2.1.1 Cơ sở khoa học, lý luận của đề án 3
2.1.1.1 Khái niệm tội phạm 3
2.1.1.2 Khái niệm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin 3
2.1.1.3 Đặc điểm của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin 4
2.1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý của đề án 6
2.1.3 Cơ sở thực tiễn của đề án 6
2.1.3.1 Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm trong lĩnh vực CNTT 6
2.1.3.2 Tội phạm trong lĩnh vực CNTT với tội phạm thông thường 8
2.2 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 10
2.2.1 Quan điểm xây dựng đề án 10
2.2.2 Mục tiêu của đề án 10
2.2.2.1 Mục tiêu chung của đề án 10
2.2.2.2.Mục tiêu cụ thể của đề án 10
2.3 NỘI DUNG THỰC HIỆN CỦA ĐỀ ÁN 11
2.3.1 Thực trạng tội phạm trong lĩnh vực CNTT ở nước ta 11
2.3.1.1 Tình hình tội phạm trong lĩnh vực CNTT trên phạm vi cả nước 11
2.3.1.2 Tình hình tội phạm trong lĩnh vực CNTT trong một số lĩnh vực và địa phương cụ thể 12
2.3.2 Thực trạng về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực CNTT ở nước ta 18
2.3.3 Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện 22
2.4 TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 23
2.4.1 Các giải pháp thực hiện đề án 23
2.4.2 Phân công trách nhiệm thực hiện đề án 25
2.4.3 Tiến độ và kinh phí thực hiện đề án 26
2.5 DỰ KIẾN HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ ÁN 27
2.5.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề án 27
2.5.2 Đối tượng hưởng lợi của đề án 27
2.5.3 Tồn tại khó khăn khi thực hiện đề án 28
PHẦN 3 29
KIẾN NGHỊ, KẾT LUẬN 29
3.1 KIẾN NGHỊ 29
3.2 KẾT LUẬN 30
Trang 4PHẦN 1 LỜI NÓI ĐẦU 1.1 LÝ DO XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Ngày nay chúng ta đang chứng kiến và hưởng thụ những thành tựu to lớn, nhữngđổi thay kỳ diệu do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới - cuộc cách mạng công nghệthông tin (CNTT) đem đến Cuộc cách mạng này đã đưa xã hội loài người tiến vào mộtthời kỳ mới Thời kỳ mà máy tính và cộng nghệ kỹ thuật số đi kèm đã và đang hiện diện,thay thế các công nghệ trước đây trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Vớinhững mục đích sử dụng cũng hết sức đa dạng từ sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoahọc kỹ thuật cho đến mục đích giải trí đơn thuần…khiến cho nhiều ngành kinh tế, xã hội
và văn hoá phụ thuộc ngày càng nhiều vào các công nghệ mới của nó Ngoài ra cuộc cáchmạng CNTT cũng hình thành một thế hệ mới, khác so với thế hệ cách họ chỉ vài chụcnăm ở chỗ họ phụ thuộc nhiều vào công nghệ, họ coi máy tính, internet, thư điện tử, điệnthoại di động là những công cụ không thể thiếu trong cuộc sống
Cũng như bất kỳ một thành tựu khoa học nào của nhân loại, khi mà các thành tựucàng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì càng dễ bị lợi dụng hoặc trở thànhmục tiêu của giới tội phạm Các thành tựu do CNTT đem lại cũng không nằm ngoài quyluật đó, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng CNTT đã hình thành nên khái niệm
về một loài tội phạm mới, đó là tội phạm trong lĩnh vực CNTT hay còn được biết đến vớicác tên gọi khác nhau như: Tội phạm mạng (cyber crimes), tội phạm tin học, tội phạm sửdụng CNTT, tội phạm liên quan đến máy tính (computer crimes) hay tội phạm công nghệcao trong lĩnh vực CNTT
Thực tiễn đời sống xã hội trên thới giới cho thấy loại tội phạm này đã và đang ngàymột gia tăng, gây ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế, làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triểnchung của các nước trên thế giới Theo báo cáo của Interpol1 thì tội phạm trong lĩnh vựcCNTT đang trở thành mối nguy hại lớn trên thế giới gây thiệt hại mỗi năm khoảng 400 tỷUSD, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được Và cứ 14 giây lại có một
vụ liên quan đến tấn công mạng, Interpol đánh giá loại tội phạm này nguy hiểm thứ 2 sautội phạm khủng bố
Còn ở nước ta, một trong những quốc gia có tốc độ phát triển cao nhất thế giới trênlĩnh vực CNTT, với hàng chục triệu người sử dụng thường xuyên đang là một “miếng
1 Theo Wikipedia thì Interpol là từ viết tắt của cụm từ Tiếng Anh “International Criminal Police Organization” là tên gọi thường dùng của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế.
Trang 5mồi ngon” cho bọn tội phạm trong lĩnh vực CNTT tấn công Thời gian gần đây, lựclượng công an Việt Nam đã triệt phá hàng loạt các vụ án do tội phạm trong lĩnh vựcCNTT thực hiện, qua các vụ án này cho thấy loại tội phạm này ngày càng công khai, táotợn và tinh vi hơn Sự gia tăng cả về số lượng, mức độ nguy hiểm của loại tội phạm nàythực sự đang rất đáng báo động
Trong khi đó, ở nước ta ngoại trừ việc tiến hành tội phạm hóa các hành vi thành chỉnăm quy định liên quan đến tội phạm trong lĩnh vực CNTT tại các Điều 224, 225, 226,226a, 226b trong Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành ra Thì các cơ quan bảo vệ pháp luậtvẫn còn nhiều hạn chế về trình độ đấu tranh, các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ đấu tranhvẫn còn thiếu, lỗi thời không theo kịp bọn tội phạm… Do đó dù thời gian qua, đã cónhiều hành vi vi phạm được các cơ quan chức năng điều tra, phát hiện nhưng số lượngcác vụ án loại này được đưa ra xét xử rất ít Còn trên lĩnh vực nghiên cứu thì các tài liệu,các công trình nghiên cứu về các tội phạm trong lĩnh vực CNTT còn ít, còn thiếu
Tất cả những vấn đề trên, đã nêu lên đòi hỏi cấp thiết cần phải tiến hành xây dựngmột đề án nghiên cứu toàn diện về loại tội phạm mới này, để tạo cơ sở pháp lý vững chắc
đấu tranh phòng chống lại chúng Đó là lý do người viết lựa chọn đề tài “Tăng cường
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin” để thực
hiện đề án tốt nghiệp của mình
1.2 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ ÁN
- Đối tượng của đề án: Tập trung nghiên cứu những khái niệm cơ bản của tội phạm
trong lĩnh vực CNTT, cũng như các thực trạng, diễn biến của tội phạm này trong thờiđiểm hiện tại Những khó khăn phải đối mặt và các giải pháp để tăng cường hiệu quảcông tác đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam hiện nay
- Phạm vi của đề án: Do hạn chế về thời gian, kiến thức và tài liệu liên quan nên
trong phạm vi nghiên cứu của đề án, người viết xin được phép giới hạn vấn đề nghiêncứu tập trung trong phạm vi những quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về tội phạmtrong lĩnh vực CNTT Mà cụ thể là tại các Điều 224, 225, 226 226a, 226b thuộc chươngXIX các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng của BLHS hiện hành Ngoài
ra còn tham khảo thêm các văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu, sách báo tham khảo,sách chuyên khảo có liên quan đến đề tài này
- Về không gian: Đề án tập trung nghiên cứu về tình hình tội phạm và công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực CNTT chỉ trong phạm vi không gian là lãnhthổ Việt Nam
Trang 6PHẦN 2 NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN 2.1 CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
2.1.1 Cơ sở khoa học, lý luận của đề án
2.1.1.1 Khái niệm tội phạm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS hiện hành thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN” Theo quy
định này thì một hành vi được cho là tội phạm khi nó hàm chứa các dấu hiệu sau:
- Thứ nhất: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội Đây là dấu hiệu đầu tiên, tiền đề để
xác định tội phạm Bởi nếu không có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra thì ta khôngcần xem xét đến các dấu hiệu khác, nói cách khác là không có tội phạm xảy ra
- Thứ hai: Có lỗi, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm phạm
các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ
- Thứ 3: Tội phạm phải được quy định trong BLHS Đây là dấu hiệu luật định, bởi Điều 2 BLHS hiện hành đã quy định “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”
- Thứ 4: Tội phạm phải chịu hình phạt
2.1.1.2 Khái niệm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Tội phạm trong lĩnh vực CNTT hay còn được biết đến với các tên gọi khác nhaunhư: Tội phạm mạng (cyber crimes), tội phạm tin học, tội phạm sử dụng CNTT, tội phạmliên quan đến máy tính (computer crimes) hay tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vựcCNTT…
Theo như quy định pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới thì: Tội phạmCNTT là hành vi vi phạm pháp luật hình sự được thực hiện trên mạng máy tính hay tộiphạm CNTT là bất kỳ hành động phi pháp nào liên quan đến một máy vi tính hoặc mộtmạng lưới máy tính Tuy nhiên, hiện nay ở tầm quốc tế chưa có một định nghĩa chuẩn về
Trang 7tội phạm CNTT Tuỳ thuộc vào nhận thức, thực tiễn mà khái niệm về tội phạm CNTT rấtkhác nhau ở từng quốc gia, nó có thể rất rộng cũng có thể là rất hẹp và mỗi một quanđiểm lại có những khiếm khuyết nhất định Tại cuộc họp lần thứ 10 của Đại hội đồngLiên hợp quốc về ngăn chặn và xử lý tội phạm được tổ chức tại thành phố Viên (áo), mộtcuộc hội thảo đã được tổ chức để bàn về vấn đề tội phạm CNTT, việc định nghĩa tộiphạm này đã được chia ra thành hai dạng tội phạm:
- Thứ nhất, theo nghĩa hẹp: Tội phạm CNTT được định nghĩa là các hành vi phạm
tội sử dụng máy tính và mạng máy tính với mục đích xâm phạm đến an toàn của hệ thốngmáy tính và quy trình lưu trữ dữ liệu của hệ thống đó Loại tội phạm theo định nghĩa này
có thể được hiểu là loại tội phạm mới có quan hệ trực tiếp đến máy tính, mạng máy tính,làm ảnh hưởng và gây thiệt hại cho người sử dụng.2
Thứ hai, theo nghĩa rộng: Tội phạm CNTT được định nghĩa là các hành vi phạm tội
sử dụng máy tính hoặc các phương pháp khác có liên quan đến máy tính, mạng máy tính,bao gồm các loại tội phạm như chiếm giữ bất hợp pháp và đe doạ hoặc làm sai lệnh thôngtin bằng phương pháp sử dụng mạng máy tính Loại tội phạm theo định nghĩa này là rấtrộng, bao gồm nhiều loại hành vi của tội phạm truyền thống được thực hiện với sự trợgiúp của công cụ máy tính mà phổ biến hiện nay như các hành vi lừa đảo, mạo danh.3Dựa các định nghĩa của thế giới về loại tội phạm này, người viết đã xây dựng mộtkhái niệm về tội phạm CNTT phù hợp với cách mà pháp luật hiện hành của nước ta tiếpcận vấn đề, đó là theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp cụ thể như sau:
Tội phạm CNTT là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS có sử dụng CNTT, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn công cộng, trật tự công cộng,
an toàn các chương trình tin học, hoạt động tin học gây nên những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân.
Trong đó, CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹthuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.4
2.1.1.3 Đặc điểm của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Khi tiến hành nghiên cứu về các tội phạm trong lĩnh vực CNTT ta có thể dễ dàngnhận ra các đặc điểm cơ bản sau:
2 Phạm Văn Lợi, Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2007, tr 31.
3 Phạm Văn Lợi, Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2007, tr 32.
4 Luật công nghệ thông tin năm 2006, Điều 4, khoản 1.
Trang 8- Thứ nhất, là tất cả các tội phạm CNTT đều có liên quan không ít thì nhiều đến máy tính, mạng máy tính và các thiết bị CNTT có liên quan
Nói như vậy bởi vì để thực hiện được các hành vi phạm tội, các tội phạm trong lĩnhvực CNTT luôn cần sử dụng đến các tiến bộ của CNTT Theo đó máy tính, mạng máytính vừa có thể là đối tượng của tội phạm lại vừa có thể là môi trường và công cụ đắc lực
- Thứ ba, các hành vi phạm tội có liên quan đến CNTT thường rất tinh xảo
Tội phạm CNTT phá huỷ hoạt động của các đối tượng tồn tại dưới dạng vật thể, nhưchương trình máy tính hoặc dữ liệu, mà không phá huỷ máy tính hay các linh kiện củachúng và kẻ phạm tội có thể xoá bỏ hoàn toàn các dấu vết của hành vi phạm tội với mộtchương trình xoá dấu vết đã được đặt sẵn khi các lệnh phạm tội được thực hiện
- Thứ tư chủ thể của tội phạm thường là những có trình độ cao, có hiểu biết về CNTT, máy tính, mạng internet và đang dần “trẻ hóa”
Ban đầu đối tượng phạm tội này ở Việt Nam chỉ là một số ít người nước ngoài hoặcViệt kiều nhưng thời gian gần đây thì người Việt Nam phạm tội tăng nhiều, phần lớn lànhững người trẻ, có tri thức, hiểu biết sâu và kỹ năng thành thạo về CNTT nhưng lạidùng vào con đường phạm tội
- Thứ năm, đây thường là tội phạm có tổ chức
Bây giờ chúng ta không còn thấy nhiều những hacker “đơn thương độc mã” nữa màthay vào đó là những kẻ chỉ biết đến tiền hợp tác cùng nhau Giới tội phạm trong lĩnh vựcCNTT ngày nay có mục đích hẳn hoi (thường là tiền) và còn biết liên kết lại để tạo thànhnhững mạng lưới tội phạm toàn cầu
Trang 92.1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý của đề án
Để đấu tranh một các có hiệu quả với loại tội phạm này, Nhà nước ta đã ban hànhcác đạo luật và một số điều luật riêng trong BLHS hiện hành quy định về các tội phạmtrong lĩnh vực CNTT cụ thể như sau:
- Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013
- Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 sửa đổi, bổsung năm 2009, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2011 Cụ thể tại cácđiều sau:
+ Tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động củamạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 224)
+ Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông,
mạng Internet, thiết bị số (Điều 225)
+ Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông,
- Luật Công nghệ thông tin năm 2006
- Luật Viễn thông năm 2009
- Nghị định số 25/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 4 năm 2014 quy định về phòng,chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao
- Thông tư liên tịch số TANDTC ngày 10 tháng 9 năm 2012 Hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự
10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông
2.1.3 Cơ sở thực tiễn của đề án
2.1.3.1 Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm trong lĩnh vực CNTT
Ngoài các nguyên nhân của tội phạm nói chung thì, có nhiều nguyên nhân khácdẫn đến sự bùng nổ về loại tội phạm trong lĩnh vực CNTT ở Việt Nam hiện nay nhưng
Trang 10chủ yếu là các nguyên nhân cơ bản sau đây dẫn đến hành vi phạm tội trong lĩnh vựcCNTT:
- Về khách quan
+ Là do tình hình tội phạm CNTT trên thế giới và các nước trong khu vực có nhiềudiễn biến phức tạp Trong khi đó, đặc thù của loại tội phạm này là tính quốc tế và hộinhập nhanh, do đó đã tác động mạnh đến tình hình tội phạm sử trong lĩnh vực CNTT ởtrong nước
+ Công nghệ phát triển kèm theo sự gia tăng của tội phạm, xã hội đang đòi hỏi một
xã hội số nên tội phạm gia tăng là điều bình thường Theo Đại tá Lê Hồng Sơn – Trưởngphòng Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (PC50) cho hay: Theo tínhtoán, hiện nay Việt Nam có 131 triệu thuê bao điện thoại di động, 4,8 triệu thuê baointernet băng thông rộng, 15,7 triệu thuê bao 3G Số người dùng internet ở Việt Namkhoảng 31 triệu (chiếm 34% so với tỷ lệ người dân, cao hơn nhiều so với mức bình quâncủa thế giới), có 8,5 triệu người dùng mạng xã hội facebook…Cả nước có 14.400 máyATM, 116.700 điểm thanh toán tự động (POS), trên 62,4 triệu thẻ với 410 thương hiệu,
40 ngân hàng cung cấp dịch vụ Internet Banking, 09 tổ chức cung cấp hơn 1,3 triệu tàikhoản ví điện tử, có 136 doanh nghiệp đã được cấp phép trong lĩnh vực thương mại điện
tử CNTT, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tập trung khai thác, sửdụng để thực hiện tội phạm Đây là những điều kiện rất thuận lợi để tội phạm sử dụngCNTT tấn công
- Về chủ quan
+ Thứ nhất, người sử dụng máy tính chưa nhận thức và có ý thức đầy đủ về tầm
quan trọng của an ninh mạng Hay nói cách khác, ý thức trong việc bảo mật của tổ chức,
cá nhân sử dụng máy tính ở nước ta vẫn chưa cao
+ Thứ hai, một số người phạm tội do không hiểu biết hết về pháp luật Đây là những
đối tượng có kỹ năng hoặc mới khám phá được các kỹ năng xâm nhập vào các websidenhầm thể hiện sự hiểu biết của mình nhưng không biết được hậu quả cho hành vi củamình gây ra, làm tổn hại về vật chất, lẫn uy tín của các trang wedside đó
+ Thứ ba, lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực CNTT còn
chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng Đội ngũ cán bộ cảnh sát phòng, chống tội phạm sửdụng CNTT đa Số còn trẻ, chưa được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, kỹ thuật vànghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm thực tế
Trang 11+ Thứ tư, là do hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, chế tài quá nhẹ chưa đủ sức răn
đe, có thể kiến tội phạm coi thường
+ Thứ năm, là do món lợi bất chính từ việc phạm tội quá lớn nên dễ khơi dậy lòng
tham, làm mờ mắt những kẻ “tham ăn biếng làm” đẩy chúng sa chân vào con đườngphạm tội
Đó chính là những điều kiện tốt để tội phạm CNTT sinh sôi nảy nở…!
2.1.3.2 Tội phạm trong lĩnh vực CNTT với tội phạm thông thường
Ta có thể thấy 4 đặc điểm khác biệt cơ bản để phân biệt các tội phạm trong lĩnh vựcCNTT với các tội phạm truyền thống như sau:
- Khác biệt về phương tiện và hành vi phạm tội
Một điểm căn bản, tạo ra sự khác biệt giữa tội phạm CNTT và tội phạm truyềnthống chính là phương tiện phạm tội Trong khi các tội phạm truyền thống có thể sử dụng
đa dạng các phương tiện các nhau để thực hiện hành vi phạm tội thì tội phạm trong lĩnhvực CNTT chủ yếu sử dụng các tiến bộ của CNTT mà cụ thể như là máy tính và mạngmáy tính để làm phương tiện phạm tội
Chính sự khác biệt về phương tiện phạm tội đã khiến cho tội phạm trong lĩnh vựcCNTT có thể thực hiện được những hành vi phạm tội mà tội phạm truyền thống khôngthể làm được ví dụ như người phạm tội có thể ngồi ở Việt Nam và gây ra một vụ trộmtiền của một người nào đó ở nước ngoài trong khoảng thời gian rất ngắn Đồng thời mốiquan hệ từ trước giữa người phạm tội và người bị xâm hại cũng thường không tồn tàitrước như đối với các tội phạm truyền thống Cũng bởi sử dụng CNTT để phạm tội nênhành vi của tội phạm này cũng khác nhiều so với tội phạm cổ điển như: Tấn công tráiphép vào website để lấy đi những thông tin bí mật, thay vào đó những thông tin giả hayphá hoại website bằng vi-rút, làm giả thẻ tín dụng, lấy cắp tài khoản cá nhân…
- Khác biệt về chủ thể của tội phạm
Đối tượng phạm tội của các tội phạm trong lĩnh vực CNTT cũng khác với tội phạmtruyền thống Trong khi chủ thể của tội phạm truyền thống có thể là bất kỳ ai người già,người trẻ, người có chất xám cao hay người thất học, bất cứ giai tần nào trong xã hội Thìmột điều không thể phủ nhận được là hầu hết người phạm tội trong lĩnh vực CNTT lànhững người khá thông minh và rất giỏi công nghệ Họ thường là những người có trithức, có hiểu biết vững vàng về CNTT, công nghệ kỹ thuật số, máy tính và có kỹ năngkhai thác sử dụng chúng thành thạo thì mới thực hiện được hành vi phạm tội Vì vậy, họ
Trang 12luôn thành công trong việc phạm tội và gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành
tố tụng
Ví dụ: Theo Thượng tá Lê Hồng Sơn, Trưởng phòng PC50 Công an thành phố Hà
Nội cho biết, trong 14 vụ án được đơn vị khám phá trong thời gian từ tháng 8/2013 đếnnay, các đối tượng phạm tội trong lĩnh vực CNTT đều trong độ tuổi 8X, 9X, phần lớn làhọc sinh, sinh viên có trình độ về CNTT Một số đối tượng khác có trình độ cao, làm việctại các doanh nghiệp viễn thông, CNTT nhưng lại cố tình vi phạm pháp luật
- Khác biệt về hậu quả của tội phạm
Các tội phạm truyền thống thường chỉ gây hậu quả xấu tới một một lĩnh vực, mộtphương diện nào đó của xã hội như mạng người, tài sản…Còn hậu quả do tội phạmCNTT gây ra thường rất nặng nề và có thể gây tác động xấu đến nhiều lĩnh vực trong đờisống xã hội Ví dụ như một khi các hoạt động quản lý xã hội được máy tính hoá, hệ thốngmạng, hệ thống thông tin được phổ biến rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, thì hậu quả do tội phạm này gây ra sẽ nhanh chóng ảnh hưởng tới hầu hết các lĩnhvực của đời sống với tốc độ chóng mặt gây ra các hậu quả khôn lường về kinh tế - xã hội.Các chuyên gia của EU cũng chỉ ra trong vài năm gần đây, những nhóm hacker có tổchức chuyên phá hoại và thay đổi các trang thông tin ngày càng lộng hành Chúng khôngchỉ gây tổn thất về tài chính tới hàng trăm tỉ đô la mỗi năm mà trong một số trường hợp,còn gây hại đến tính mạng con người, chẳng hạn như việc tấn công vào các hệ thống điềukhiển bệnh viện và không lưu
Ở Việt Nam trong những năm gần đây loại tội phạm này phát triển ngày càng mạnh
mẽ Đã gây ra thiệt hại rất lớn, nhất là trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Rấtnhiều các phần mềm do các công ty trong nước đầu tư hàng mấy trăm triệu và hàng nămtrời nghiên cứu để sản xuất, vừa đưa ra thị trường đã bị giới hacker bẻ khoá rồi chia sẽcông khai trên mạng hoặc sang in đĩa chương trình lậu bán với giá cực rẻ, khiến các công
ty phần mềm rất khó khăn trong việc thu hồi vốn và bảo vệ bản quyền
- Khác biệt về mục đích của tội phạm
Tuy mục đích phạm tội của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc của các tộiphạm trong lĩnh vực CNTT Nhưng động cơ, mục đích phạm tội cũng có thể giúp phânbiệt tội này với các tội phạm truyền thống Có không ít người đã đặt ra câu hỏi là điều gì
đã hấp dẫn giới tội phạm CNTT, điều gì đã dẫn dắt chúng đến con đường phạm tội, bấtchấp việc chúng biết điều đang chờ đợi chúng chính là sự nghiêm minh của pháp luật.Các chuyên gia chỉ ra rằng có nhiều động cơ, mục đích khác nhau đưa đến phạm tội
Trang 13nhưng chính mục tiêu kinh tế kiếm lợi bất chính để làm giàu nhanh chóng mà không phảivất vả lao động mới là thứ hấp dẫn giới tội phạm CNTT nhất Trong khi tội phạm CNTT
là những kẻ chỉ biết tới tiền thì mục đích của các tội phạm truyền thống đa dạng hơn cóthể là tư lợi, chiếm hưởng trái phép tài sản của người khác cũng có thể là để trả thù, đểhãm hại người khác…mới là mục đích chính của tội phạm truyền thống
Ngoài bốn điểm khác biệt cơ bản kể trên, chúng ta cũng có thể thấy một số dấu hiệukhác biệt khác của tội này so với các tội phạm thông thường như: Tính không biên giớicủa loại tội phạm này, tính lan truyền nhanh chóng, tính chất ngày càng tăng về số lượng
và hậu quả, tinh vi hơn về cách thức tiến hành cùng với sự phát triển của cuộc cách mạngCNTT Nhận biết các dấu hiệu này giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc xác định đúngcác loại tội danh thuộc nhóm tội phạm về CNTT để có những biện pháp ngăn ngừa và xử
lý có hiệu quả
2.2 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
2.2.1 Quan điểm xây dựng đề án
Người viết mong muốn xây dựng một đề án với nội dung cụ thể, rỏ ràng, đi sâu bámxác vào tình hình thực tế nhưng vẫn phải phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước Đồng thời phải có khả năng ứng dụng cao, có thểđược áp dụng rộng rải, giải quyết được nhiều nhất những bức xúc trong xã hội và đem lạinhiều đổi thay hữu ích cho xã hội
2.2.2 Mục tiêu của đề án
2.2.2.1 Mục tiêu chung của đề án
Khi người viết xây dựng đề án này hướng đến mục tiêu chung là tăng cường côngtác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực CNTT của các cơ quan tiến hành tốtụng Góp phần thực hiện tốt hơn nhiệm vụ phòng chống tội phạm, bảo đảm an ninh trật
tự, an toàn xã hội
2.2.2.2.Mục tiêu cụ thể của đề án
Xây dựng đề án “Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong
lĩnh vực công nghệ thông tin” người viết hướng đến việc tìm hiểu, phân tích nhằm làm
sáng tỏ các khái niệm cơ bản, các cơ sở pháp lý của các tội phạm trong lĩnh vực CNTTđược quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành Đồng thời tìm hiểu về nguyên nhân tồntại, thực trạng của loại tội phạm này cũng như những khó khăn trong công tác phòngchống tội phạm trong lĩnh vực CNTT của các cơ quan tiến hành tố tụng Và từ đó, đưa ra
Trang 14những đề xuất, giải pháp hợp lí để góp phần giúp cho công cuộc đấu tranh phòng chốngloại tội phạm nguy hiểm này ngày càng đạt được hiệu quả cao.
2.3 NỘI DUNG THỰC HIỆN CỦA ĐỀ ÁN
2.3.1 Thực trạng tội phạm trong lĩnh vực CNTT ở nước ta
2.3.1.1 Tình hình tội phạm trong lĩnh vực CNTT trên phạm vi cả nước
Tại Việt Nam, trong những năm qua bên cạnh các thành tựu về chính trị, kinh tế,văn hóa - xã hội thì cũng xuất hiện, gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, trong đó
có các tội phạm trong lĩnh vực CNTT Tội phạm trong lĩnh vực CNTT đã và đang gâyảnh hưởng xấu đến đời sống, tài chính của từng cá nhân, gia đình, trật tự an toàn chungcho toàn xã hội và sự phát triển của nền kinh tế cả nước về trước mắt lẫn lâu dài Tìnhhình tội phạm sử dụng công nghệ cao mà chủ yếu là trong lĩnh vực CNTT diễn biến phứctạp, qua từng năm loại tội phạm này gia tăng nhanh chóng cả về số vụ lẫn mức độ thiệthại và phương thức ngày càng tinh vi hơn
Tội phạm này xuất hiện “rầm rộ” trong khoảng 3,4 năm trở lại đây và ngày càng cóchiều hướng gia tăng Nếu như năm 2010, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụngcông nghệ cao được thành lập, đã phát hiện, xác minh hơn 70 đầu mối vụ việc có dấuhiệu vi phạm pháp luật (có sử dụng công nghệ CNTT) Thì năm 2011, ngành Công anphát hiện và điều tra xử lý số vụ tội phạm này tăng lên đến 128 vụ việc, tức tăng khoản70% gây thiệt hại 58 tỷ đồng, hơn 1 triệu đô la Mỹ, đã thu giữ 12 tỷ đồng và 235.000đôla Mỹ Trong 6 tháng đầu năm 2012 đã phát hiện và xử lý 111 vụ, với 232 đối tượng
đã đạt 85% tổng số vụ năm 2011.5 Theo PC50 - Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm
sử dụng công nghệ cao, công an thành phố Hà Nội, năm 2013 và năm 2014 tình hình tộiphạm sử dụng CNTT tiếp tục diễn biến phức tạp, các hành vi phát tán các loại vi - rút,phần mềm gián điệp, mã độc ngày càng tinh vi và hiện đại hơn Đã xuất hiện nhiều biếnthể của các loại vi rút nhằm trộm cắp tài khoản ngân hàng, các kết nối ngầm và các phầnmềm gián điệp, mã độc chuyển dùng để đánh cắp thông tin
Nhưng đó mới chỉ là bề nổi của vấn đề, các con số về các vụ án được phát hiện,điều tra, xử lý nêu trên quá nhỏ so với các vụ phạm tội trên thực tế Chỉ riêng các vụ tấncông web, theo Đại tá Mai Tiến Dũng, Phó Chánh văn phòng Interpol Việt Nam, tínhriêng trong năm 2012 đã có hơn 2.000 website của các cơ quan, doanh nghiệp tại Việt
5 Phạm Minh Tuyền, Tòa án nhân dân tối cao, Quy định của Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫ thi hành luật
sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình Sự năm 2009 trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông ở Việt Nam,
http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?
p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=26779872&article_details=1 , [ngày truy cập 12-05-2016].
Trang 15Nam bị tấn công, chủ yếu thông qua các lỗ hổng trên hệ thống mạng Hiệp hội An toànthông tin (ATTT) Việt Nam cho biết, năm 2012 Việt Nam xếp thứ 15 về lượng phát tán
mã độc, thứ 10 về tin rác, thứ 15 về zombie (máy tính bị mất kiểm soát) Đến năm 2013
Mỹ đứng đầu, còn Việt Nam thì xuất hiện ở vị trí thứ 8 Công tác đấu tranh với tội phạm
sử dụng CNTT diễn ra hằng ngày, hằng giờ và nhiều cam go
Theo thống kê từ hệ thống giám sát của SecurityDaily, trong năm 2014 đã có tổngcộng 1039 website của Việt Nam bị tấn công trong đó có đến 30 website của các cơ quanchính phủ và 69 websites của các cơ quan giáo dục Việt Nam, 30 website gov.vn củachính phủ bị chiếm quyền điều khiển trong vòng gần 20 ngày, đây thực sự là một con sốđáng báo động đối với công tác an toàn bảo mật thông tin của Chính phủ Trong năm
2015 có 4767 websites của Việt Nam đã bị tấn công, tăng gấp đôi so với các năm từ2011-2013 Trung bình mỗi ngày có hơn 18 website của Việt Nam bị chiếm quyền điềukhiển, dự báo sẽ tiếp tục tăng
Còn theo Báo cáo về Hiện trạng các mối đe dọa bảo mật Internet lần thứ 20 (ISTR20) của Symantec - Tập đoàn bảo vệ bí mật máy tính quốc tế, thì đánh giá Việt Namđứng thứ 11 trên toàn cầu về nguy cơ bị tấn công mạng Tăng 1 bậc so với báo cáo ISTR
19 và 9 bậc so với bản báo cáo ISTR 18
2.3.1.2 Tình hình tội phạm trong lĩnh vực CNTT trong một số lĩnh vực và địa phương cụ thể
Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an, hiện tội phạm trong lĩnh vựcCNTT ở nước ta đang hoạt động với các thủ đoạn rất tinh vi nhắm vào lĩnh vực kinh tế -
xã hội như: Tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử và cả an ninh trật tự Tội phạmnày tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và đanglan ra các tỉnh, thành phố khác như: Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên
Trang 1692,5% số lượng, còn lại là thẻ tín dụng quốc tế Và với lượng thẻ dùng nhiều như vậy thìnguy cơ bọn tội phạm lợi dụng để thực hiện hành vi đột nhập vào hệ thống máy tính củacác công ty, ngân hàng để đánh cắp dữ liệu khách hàng, đem rao bán trên các trang “thếgiới ngầm” hay dùng thông tin tài khoản từ đó làm giả thẻ tín dụng để rút tiền hoặc ralệnh giả để chuyển tiền Điển hình như:
+ Vụ ngân hàng HSBC bị hacker đánh cắp 1 triệu USD năm 2007 Theo đó hệthống thanh toán trực tuyến của ngân hàng HSBC (Việt Nam) đã bị hacker chiếm quyềnđiều khiển, tấn công và lấy đi số tiền trị giá 1 triệu USD
+ Vào ngày 9/01/2014 Cục cảnh sát Phòng chống tội phạm công nghệ cao - BộCông an đã phá 1 đường dây tội phạm CNTT do Huỳnh Phước và Phạm Thái Thànhđừng đầu, với 2 chuyên án mang bí số 258V và 113H Trong ngày 9/01/2014, nhiều tổcông tác của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao (C50), Cục Cảnh sátđiều tra tội phạm về trật tự xã hội (C45) Bộ Công an và các cơ quan liên quan đồng loạtthực hiện lệnh bắt khẩn cấp, khám xét nơi ở của 9 đối tượng tại TP.HCM, Đồng Nai, Đà
Nẵng, Hà Nội Các đối tượng này bị bắt để điều tra về hành vi “Sử dụng mạng Internet nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác” (Điều 226b) Theo đó các đối tượng này lập 2
trang web để rao bán thông tin thẻ tín dụng mà chúng trộm được và lập 2 tài khoản tạingân hàng Đông Á để giao dịch trên diễn đàn và phục vụ việc mua bán trái phép thôngtin tài khoản thẻ tín dụng của người khác Để tham gia vào diễn đàn do Mẫn lập ra, mỗithành viên phải đóng 100USD lệ phí
Điều này không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng cho chủ thẻ tín dụng mà còn gâythiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế và mất lòng tin của người sử dụng vào các hoạt độngngân hàng trực tuyến Việc đường dây làm giả thẻ ngân hàng để rút tiền, mua hàng liêntiếp bị cơ quan chức năng bóc dỡ khiến người dân vô cùng lo lắng về sự an toàn củanhững “chiếc ví điện tử” vốn hiện đại, tiện lợi nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lấy trộm
- Trong lĩnh vực thương mại điện tử
Ở nước ta hiện nay, việc ngồi tại nhà lựa chọn và đặt mua một món hàng trong nướchoặc thậm chí ở nước ngoài đã không còn xa lạ và quá khó khăn Xu thế này đã góp phần
khiến cho hành vi lừa đảo trong mua bán hàng qua mạng ngày nhiều hơn: Tội phạm lợi
dụng đặc điểm của việc mua bán qua mạng là người mua bao giờ cũng phải trả tiền trước,người bán chào hàng không chuyển hành hoặc giao không đúng với quảng cáo về chấtlượng, số lượng, chủng loại, mẫu mã Điển hình như vụ:
Trang 17+ Ngày 29/01/2013, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hồ Chí Minh đã
khởi tố Nguyễn Ngọc Anh và đồng bọn về tội “sử dụng mạng Interet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” (Điều 226b) Do Phương và đồng bọn đã tổ chức đăng tin tin quảng
cáo trên website rao vặt kèm theo số điện thoại để liên lạc mua hàng, khi khách hàng liên
hệ mua hàng Phương và đồng bọn yêu cầu khách hàng chuyển tiền vào tài khoản chỉđịnh nhưng không giao hàng và hủy sim điện thoại, rút tiền chia nhau chiếm hưởng Tổng
số tiền chúng chiếm đoạt là 167 triệu 895 nghìn đồng
Tình hình lừa đảo trong lĩnh vực thương mại điện tử và thanh toán điện tử gia tăng,
đã làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của khách hàng xuất phát từ Việt Nam, khi nhiều tranggiao dịch trực tuyến ở nước ngoài từ chối các giao dịch có nguồn gốc, địa chỉ IP xuấtphát từ Việt Nam Đặc biệt, hành vi này còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và hìnhảnh của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại điện tử nói riêng và lĩnh vực kinh tế quốc tếnói chung
- Trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội
Trên lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, trong vài năm trở lại đây tiếp tục được đặt “báođộng đỏ” của an ninh mạng Việt Nam với rất nhiều vụ tấn công, phá hoại, lây nhiễm vi -rút, phần mềm gián điệp, mã tin học độc hại nhằm vào hệ thống mạng của cơ quan,doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế của Nhà nước với mức độ, tính chất ngày càng nghiêmtrọng, làm rối loạn hoạt động của hệ thống và lộ lọt thông tin
Điển hình là vụ hệ thống mạng của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam bị tin tặcliên tiếp tấn công bằng nhiều phương thức khác nhau, làm ngưng trệ hoạt động và xóasạch toàn bộ dữ liệu website Hay vụ Công ty Cổ phần Bảo hiểm AAA tại TP Hồ ChíMinh bị đối tượng tấn công làm tê liệt hệ thống mạng máy tính, mã hóa dữ liệu, đe dọatống tiền trên 2 triệu đô la Mỹ Và gần đây, hàng loạt báo mạng như VnMedia,VnExpress,VietNamNet…liên tiếp bị tấn công làm tê liệt trong vài giờ
- Trong hoạt động thanh toán thẻ, thanh toán điện tử
Gần đây, tội phạm thẻ tấn công dồn dập vào Việt Nam, chỉ tính riêng trong 6 thángđầu năm 2014 Cục phòng chống tội phạm công nghệ cao bộ công an (C50) đã bắt và triệtphá gần 10 vụ liên quan đến loại tội phạm này Tình trạng các đối tượng sử dụng CNTTđánh cắp thông tin, làm giả thẻ tín dụng để mua vé máy bay, hàng hóa ở nước ngoàichuyển về Việt Nam tiêu thụ tiếp tục gia tăng, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng tiền ViệtNam và hàng triệu đô la Mỹ cho nạn nhân