1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone

89 491 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG. 1.1 Khái quát về cạnh tranh 1.1.1 Khái niệm và bản chất của cạnh tranh 1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh “Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản. Điểm lại các lý thuyết cạnh tranh trong lịch sử, có thể thấy hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại. Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như Adam Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc học phái Viên; tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển. Như vậy, cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau: i) Theo một định nghĩa được A. Lobe đưa ra từ gần một thế kỷ nay có thể hiểu cạnh tranh là sự cố gắng của hai hay nhiều người thông qua những hành vi và khả năng nhất định để cùng đạt được một mục đích. ii) Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào. Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế. iii) Khi nghiên cứu về cạnh tranh, K. Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhận siêu ngạch” . iv) Kinh tế học của P. Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

Sinh viên thực hiện: Đặng Ngọc Linh

Hoàng Thùy Dương

Dương Khánh Ngà

Nguyễn Ngọc Thư

Dân tộc: Kinh

Lớp, khoa: QTKD- BCVT, Khoa Vận tải – Kinh tế

Năm thứ: 3 / Số năm đào tạo: 4Ngành học: Quản trị kinh doanh Bưu Chính Viễn Thông

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Vân Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 5

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN 7

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1.Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Mục tiêu nghiên cứu 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

3.1 Đối tượng 10

3.2 Phạm vi 10

4 Phương pháp nghiên cứu 10

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 10

4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 10

4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 10

5 Kết cấu đề tài nghiên cứu 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG 12

1.1 Khái quát về cạnh tranh 12

1.1.1 Khái niệm và bản chất của cạnh tranh 12

1.1.2 Vai trò và chức năng của cạnh tranh 16

1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh 19

1.2 Khái quát về năng lực cạnh tranh 24

1.2.1 Khái niệm và phân loại năng lực cạnh tranh 24

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 28

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh 32

Trang 5

1.2.4 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của các công ty cung cấp dịch vụ

Internet trên điện thoại di động tại thị trường Việt nam 34

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH GIỮA VIETTEL VÀ VINAPHONE TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG 37

2.1 Khái quát Viettel và các dịch vụ Internet trên điện thoại di động 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37

2.1.2 Các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả 38

2.1.3 Dịch vụ Internet trên điện thoại di dộng của Viettel 40

2 2 Khái quát Vinanphone và các dịch vụ Internet trên điện thoại di động 42 2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 42

2.2.2 Các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả 43

2.2.3 Dịch vụ Internet trên điện thoại di dộng của Vinaphone 46

2.3 Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh giữa Viettel và Vinaphone trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Internet trên điện thoại di dộng 47

2.3.1 Tiêu chí chung về doanh nghiệp 47

2.3.2 Tiêu chí định tính và định lượng cụ thể 58

2.4 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Viettel so với Vinaphone trong cung cấp dịch vụ Internet trên điện thoại di động 65

2.4.1 Những sự khác biệt và nổi trội của Viettel so với Vinaphone 65

2.4.2 So sánh chất lượng và giá thành 3G của Viettel, Vinaphone và các nhà mạng ở Việt Nam 71

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH VỀ CUNG CẤP DỊCH VỤ MOBILE INTERNET TRÊN ĐTDĐ 78

3.1 Mục tiêu và địnhhướng phát triển của Viettel giai đoạn 2015 – 2020 78

3.2 Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh về cung cấp dịch Mobile Internet của Viettel 80

3.2.1 Giải pháp về phát triển thị trường 80

3.2.2 Giải pháp phát triển và đa dạng hoá dịch vụ viễn thông 80

Trang 6

3.2.3 Giải pháp về công nghệ 80

3.2.4 Giải pháp về nguồn nhân lực 81

3.2.5 Giải pháp về bán hàng và chăm sóc khách hàng 81

3.2.6 Giải pháp về xây dựng văn hoá doanh nghiệp 82

3.2.7 Một số đề xuất kiến nghị 82

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Các đầu số di động của Viettel

Bảng 2.2: Quá trình hình thành phát triển của Vinaphone

Bảng 2.3: Các gói cước 3G Viettel năm 2015

Bảng 2.4: Bảng gói cước dịch vụ Vinaphone

Bảng 2.5: Bảng giá cước dịch vụ Viettel

Bảng 2.6: Bảng giá cước 3G Mobile Internet của Viettel

Bảng 2.7: Bảng giá cước 3G Mobile Internet của Mobifone

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Mạng lưới Vinaphone

Hình 2: Dịch vụ Mobile Banking của Viettel

Hình 3: Các dịch vụ tiện ích 3G của Vinaphone

Hình 4: Doanh thu của Viettel từ 2000-2010

Hình 5: Minh họa thị phần các doanh nghiệp trong ngành về dịch vụ 3G.Hình 6: Các gói 3G của Vinaphone

Hình 7: Các gói sim “ đặc biệt” của 2 nhà mạng Vinaphone và Mobifone

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCVT: bưu chính viễn thông

ĐTDĐ: điện thoại di động

Trang 8

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GTVT

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Đánh giá năng lực cạnh tranh về dịch vụ truy cập internet trên điện thoại di động của Viettel và vinaphone.

- Sinh viên thực hiện:

Đặng Ngọc Linh, Hoàng Thùy Dương, Dương Khánh Ngà, Nguyễn Ngọc Thư

- Lớp: QTKD- BCVT Khoa:Vận tải-Kinh tế

Năm thứ: 3 Số năm đào tạo:4

- Người hướng dẫn: T.S Nguyễn Thị Vân Hà

2 Mục tiêu đề tài:

Mục tiêu của đề tài làm sang tỏ những vấn đề sau:

- Trình bày những lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh lợi thế cạnh tranh,các nhân tố ảnh hưởng và chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ viễn thông

- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Viettel với Vinaphone trên thịtrường dịch vụ Mobile internet

- Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh, đề xuất các giảipháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Viettel trong lĩnh vực cung cấp dịch vụMobile internet

3 Tính mới và sáng tạo:

Đề tài đã mạnh dạn so sánh hai dịch vụ khá mới trên Mobile của hai hãng dy động khá lớn ở Việt Nam Trước đây chưa có đề tài nào đề cập đến vấn đề này

4 Kết quả nghiên cứu:

Đã phan tích được thực trạng năng lực cạnh tranh và so sánh giữa Viettel và

Vinaphone; đồng thời đề xuất một số giải pháp

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài

Giúp cho người tiêu dùng nhận biết và đánh giá về dịch vụ Internet trên mobile của các hãng di động lớn, đề xuất giải pháp cho Viettel

Trang 9

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài: Đề tài không

có công bố báo chí nào

Trang 10

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Đặng Ngọc Linh

Sinh ngày: 06 tháng 12 năm 1994

Nơi sinh: Hà Nội

Lớp: QTKD BCVT Khóa: 53

Khoa: Vận tải- Kinh tế

Địa chỉ liên hệ: 46, ngách 71/69, Hoàng Văn Thái, Hà Nội

Điện thoại: 01676970744 Email: dangngoclinh94@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm

Ngành học: Kinh tế BCVT Khoa: Vận tải- Kinh tế

Kết quả xếp loại học tập: Xuất sắc

Trang 11

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa hiện nay, cácngành kinh tế nói chung và ngành dịch vụ thông tin di động nói riêng đang phải đốiđầu với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bên cạnh các cơ hội kinh doanh,các doanh nghiệp phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức, đòi hỏi các doanhnghiệp phải nhận thức đúng năng lực của mình để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh

và giành thắng lợi trong kinh doanh

Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình hộinhập quốc tế của nước ta Sự kiện này đã đem lại những tác động mạnh mẽ và sâurộng đến mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH, trong đó có lĩnh vực BCVT và Côngnghệ thông tin (CNTT) Các cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực BCVTcho phép các doanh nghiệp nước ngoài được tham gia cung cấp các dịch vụ BCVTthông qua các hình thức liên doanh, góp vốn và phát triển một số dịch vụ chưa từng cótrong nước Điều này đặt ra thách thức và buộc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụBCVT trong nước phải nhận thức được các tác động tiền ẩn, phải đối mặt với áp lựccạnh tranh không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước mà với các các doanh nghiệpnước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và đặt biệt là kinh nghiệm trongquản lý…

Công ty Viễn thông Viettel (Viettel Telecom) hiện là nhà cung cấp dịch vụ viễnthông hàng đầu Việt Nam Viettel Telecom luôn coi sự sáng tạo và tiên phong lànhững kim chỉ nam hành động , ý thức được rõ năng lực cạnh tranh của mình Trướcbối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển không ngừng của công nghệ Viễnthông trên thế giới, để tồn tại và phát triển, Viettel Telecom cần phải tìm mọi biệnpháp để giữ vững và phát triển thị trường Một trong những biện pháp quan trọng đó

là nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm, dịch vụ đang cung cấp

Tuy nhiên, hiện nay ngành viễn thông đang trở nên bão hào về thuê bao và dịchchuyển dần sang cạnh tranh sáng tạo trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ Cácnhà mạng bước vào một cuộc chạy đua mới về các dịch vụ gia tăng với trình độ côngnghệ cao Viettel cũng không nằm ngoài dòng chảy đó của thị trường Đặc biệt, sựxuất hiện của dịch vụ 3G nói chung và dịch vụ Mobile Internet nói riêng đã mở ra một

Trang 12

cánh cửa mới cho Viettel trong việc giữa chân khách hàng hiện tại, thu hút khách hàngmới, đồng thời gia tăng lợi nhuận Mobile Internet là dịch vụ truy cập Internet trựctiếp từ máy điện thoại di động Dịch vụ này giúp người sử dụng truy cập Internetnhanh chóng, tiện lợi; dễ dàng cập nhật thông tin; chia sẻ cảm xúc, hình ảnh; gửi vànhận email trực tiếp từ điện thoại di động…Chính vì những ưu điểm nổi trội đó màdịch vụ Mobile Internet đang được sử dụng phổ biến và ngày càng được cải tiến vớinhiều tiện ích dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.

Theo thông tin từ chủ tịch Hiệp hội Internet Việt nam đưa ra trong Ngày InternetViệt Nam 2014 (Internet Day 2014) khai mạc tại TPHCM ngày 5/12 thì Việt Nam có26,4 triệu thuê bao di động sử dụng dịch vụ 3G Như vậy, thuê bao di động phát sinhlưu lượng 3G tại Việt Nam chiếm hơn 20% tổng số thuê bao di động Trong đó, 3G trảtrước chiếm khoảng 24,4 triệu thuê bao, trả sau chiếm hơn 2 triệu thuê bao Nhìnchung, thuê bao 3G truy cập qua điện thoại (mobile internet) chiếm tỉ lệ lớn nhất(21,4/26,4 triệu thuê bao phát sinh lưu lượng 3G)

Nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ Mobile Internet, Viettel đang phấnđấu, nổ lực hết mình để giữ vững vị thế và dẫn đầu thị trường về mặt chất lượng dịch

vụ cũng như mức giá truy cập để cạnh tranh với các đối thủ khác, trong đó cóVinaphone là đối thủ cung cấp dịch vụ 3G sớm nhất trên thị trường

Xuất phát từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài “So sánh

năng lực cạnh tranh giữa Viettel và Vinaphone trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Internet trên điện thoại di động” là đề tài nghiên cứu, từ đó đưa ra các biện pháp

nâng cao năng lực cạnh tranh của Viettel

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài làm sang tỏ những vấn đề sau:

- Trình bày những lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh lợi thế cạnh tranh,các nhân tố ảnh hưởng và chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ viễn thông

- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Viettel với Vinaphone trên thịtrường dịch vụ Mobile internet

Trang 13

- Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh, đề xuất các giảipháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Viettel trong lĩnh vực cung cấp dịch vụMobile internet.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, những nhân tố ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh của Viettel và Vinaphone Những giải pháp nâng caonăng lực cạnh tranh của Viettel

3.2 Phạm vi

Đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Viettel và Vinaphone trong phạm vicung cấp dịch vụ Mobile internet, giai đoạn 2012 – 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên sự phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu trong thực

tế, bao gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

- Tổng hợp nguồn thông tin chủ yếu từ các báo cáo thống kê của Viettel vàVinaphone: quy mô, cơ cấu lao động, tình hình trang thiết bị, báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh qua các năm 2010, 2011, 2012

- Đọc, tổng hợp, phân tích thông tin từ giáo trình, Internet, sách báo, các tài liệunghiên cứu có liên quan , số liệu thống kê của các ban ngành liên quan

4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp.

+ Thiết kế bảng hỏi và tiến hành khảo sát điều tra

+Phương pháp chọn mẫu các mẫu điển hình để phỏng vấn sâu

4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Dữ liệu sau khi được thu thập sẽ được xử lý và phân tích nhằm đưa ra kết quả thực

tế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

5 Kết cấu đề tài nghiên cứu

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu đượctrình bày trong 3 chương:

Trang 14

Chương 1: Một số vấn đề cơ sở lý luận chung về đánh giá năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp

Chương 2: Phân tích và so sánh năng lực cạnh tranh của Viettel và Vinaphonetrong cung cấp dịch vụ Mobile Internet

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh về cung cấp dịch vụMobile Internet của Viettel

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN

THOẠI DI ĐỘNG.

1.1 Khái quát về cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm và bản chất của cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

“Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản Điểm lại các lý thuyết cạnh tranhtrong lịch sử, có thể thấy hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trườngphái hiện đại Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như Adam Smith, JohnStuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnhtranh sau này Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếpcận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; tiếpcận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc học phái Viên;tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển

Như vậy, cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khácnhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau:

i) Theo một định nghĩa được A Lobe đưa ra từ gần một thế kỷ nay có thể hiểu

cạnh tranh là sự cố gắng của hai hay nhiều người thông qua những hành vi và khảnăng nhất định để cùng đạt được một mục đích

ii) Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân

chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mìnhmột cách chính xác Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơthúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớnnào Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người,góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế

iii) Khi nghiên cứu về cạnh tranh, K Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua,

sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợitrong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhận siêu ngạch”

Trang 16

iv) Kinh tế học của P Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị

trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”

v) Từ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình

địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sảnxuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” , tức là nâng cao vị thế của ngườinày và làm giảm vị thế của người khác

vi) Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là

hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, cácnhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dànhcác điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”

vii) Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế, về chính sách cạnh

tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganhđua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàngnhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụthể”

Ở Việt Nam, khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường là vấn đề giành lợi thế

về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao chocác chủ thể kinh tế

Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực mộtcách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranhcũng dẫn đến yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ởcác doanh nghiệp Mặc dù còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về kháiniệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể rút ra những nét chung về cạnhtranh như sau:

Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một

nhóm) người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự Cạnh tranhnâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại

Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các

bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay mộtthị trường, một khách hàng ) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao

Trang 17

Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung

mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiệnpháp lý, các thông lệ kinh doanh…

Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng

nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ,cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sảnphẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranhthông qua hình thức thanh toán

1.1.1.2 Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh

Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định: cạnh tranh là độnglực phát triển nội tại của mỗi nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điềukiện của kinh tế thị trường Người tiêu dùng và các doanh nghiệp tác động qua lại lẫnnhau trên thị trường để xác định ba vấn đề trọng tâm: sản xuất cái gì? như thế nào? vàcho ai? Do đó, người tiêu dùng giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế và là đối tượnghướng tới của mọi doanh nghiệp Dưới sự tác động của quy luật cung cầu và quy luậtgiá trị, các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm cho ngườitiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt khả năng kinh doanh Dưới tác động củacạnh tranh, thị trường tự thân nó luôn giải quyết mâu thuẫn giữa sở thích của ngườitiêu dùng và năng lực sản xuất hạn chế, do đó cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong

hệ thống thị trường Các áp lực liên tục của người tiêu dùng buộc các chủ thể kinhdoanh phải phản ứng, phù hợp với các mong muốn thay đổi của người tiêu dùng.Cạnh tranh thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển, nâng cao NSLĐ, đẩy nhanhquá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong điều kiện các yếu tố của sản xuất đều vàluôn thiếu hụt Cạnh tranh thực sự là một cuộc đua tranh, khi các chủ thể kinh doanh

có lợi ích cơ bản là mâu thuẫn nhau Do vậy, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiệncủa kinh tế thị trường, nơi mà cung cầu là “cốt vật chất”, giá cả là “diện mạo”, cạnhtranh là “linh hồn sống” của thị trường

Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế thị trường trong những điều kiện của nhữngtiền đề pháp lý cụ thể Đó là tự do thương mại mà theo đó tự do kinh doanh, tự do khếước và quyền tự chủ của cá nhân được hình thành và bảo đảm Cạnh tranh xuất hiệnkhi pháp luật thừa nhận và bảo vệ tính đa dạng của các loại hình sở hữu với tính cách

Trang 18

là nguồn gốc của cạnh tranh Cạnh tranh hiện thân là động lực phát triển của xã hội; lànhân tố làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm sự bình đẳngtrước pháp luật của mọi thành phần kinh tế Nhìn từ phía các chủ thể kinh doanh, cạnhtranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinhdoanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh

là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu, do đó là động lực bên trongthúc đẩy nền kinh tế phát triển Cùng với mục đích tối đa hoá lợi nhuận, cạnh tranh đãthúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn diễn ra không đều ở các ngành, lĩnh vựckinh tế khác nhau Đây là tiền đề vật chất của các hình thái cạnh tranh

Cạnh tranh còn là môi trường đào thải các doanh nghiệp không thích nghi đượcvới các điều kiện của thị trường Ở nghĩa này, cạnh tranh là nhân tố hiệu chỉnh bêntrong của thị trường Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận

và chi phối thị trường Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức và uy tín củamỗi chủ thể kinh doanh Dưới tác động điều tiết vĩ mô, sự cạnh tranh ở mỗi nước còn

có bản chất chính trị khác nhau

Cạnh tranh khác về bản chất so với thi đua XHCN Phong trào thi đua XHCN nổilên cùng với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, công cụ kế hoạch hoá như nhữnghiện tượng của động lực thúc đẩy và phát triển kinh tế Hiện tượng này không mangmàu sắc của “đấu tranh” giành giật, bởi vì trong đời sống kinh tế, chỉ tồn tại một nhàđầu tư duy nhất và đồng thời là chủ nhân của quyền lực công cộng, đó là Nhà nước

Vì vậy, thi đua không thể xuất hiện với tính cách là cuộc đấu tranh và là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế Cạnh tranh khác với thi đấu thể thao Trong cơ chế thịtrường, con người được tự do và sáng tạo, không có luật chơi cụ thể riêng rẽ trong mọiđiều kiện Trên thương trường, không thể áp dụng luật chơi và thước đo thành tíchnhư trong thi đấu thể thao

Hơn nữa, sự đua tranh trong hoạt động cạnh tranh cũng khác với cuộc đua tranhđoạt một giải thưởng Nếu đua tranh để đoạt một giải thưởng là cuộc đua tranh mộtlần thì cuộc đua tranh trong kinh tế thị trường diễn ra liên tục Người tham gia cạnhtranh không được phép dừng lại, luôn phải tiến về phía trước để chiến thắng

Tóm lại, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi có các điều kiện sau: một là, phải có ít nhất hai chủ thể cùng tham gia cạnh tranh và các chủ thể có cùng mục đích phải đạt được;

Trang 19

hai là, việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ; ba là, cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian không cố định, hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh); bốn là, sự cạnh tranh diễn ra trong không gian xác định hoặc hẹp (một tổ chức, một ngành, một địa phương), hoặc rộng (một nước, giữa các nước).

1.1.2 Vai trò và chức năng của cạnh tranh

1.1.2.1 Vai trò

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, một xu thế tất yếu khách quantrong nền kinh tế thị trường và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường Đốivới các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi Một mặt nó đào thải khôngthương tiếc các doanh nghiệp có mức chi phí cao, sản phẩm có chất lượng kém Mặtkhác, nó buộc tất cả các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để giảm chi phí,hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, dịch vụ đồng thời tổ chức tốt khâu tiêu thụsản phẩm, dịch vụ để tồn tại và phát triển trên thị trường Do vậy, cạnh tranh đã buộccác doanh nghiệp phải tăng cường năng lực cạnh tranh của mình, đồng thời thay đổimối tương quan về thế và lực để tạo ra các ưu thế trong cạnh tranh Do vậy, cạnh tranhtrong nền kinh tế thị trường có vai trò tích cực:

Thứ nhất, đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh, cạnh tranh tạo áp lực buộc họ

phải thường xuyên tìm tòi sáng tạo, cải tiến phương pháp sản xuất và tổ chức quản lýkinh doanh, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ KHKT, phát triển sản phẩm mới, tăngnăng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Qua đó nâng cao trình độ của công nhân

và các nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp Mặt khác, cạnh tranh sàng lọc kháchquan đội ngũ những người thực sự không có khả năng thích ứng với sự thay đổi củathị trường

Thứ hai, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra một áp lực liên tục đối với giá

cả, buộc các doanh nghiệp phải hạ giá bán để nhanh chóng bán được sản phẩm, qua đóngười tiêu dùng được hưởng các lợi ích từ việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệptrong cung cấp sản phẩm, dịch vụ Mặt khác, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải

Trang 20

mở rộng sản xuất, đa dạng hóa về chủng loại, mẫu mã vì thế người tiêu dùng có thể tự

do lựa chọn theo nhu cầu và thị hiếu của mình

Thứ ba, đối với nền kinh tế, cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy tăng

trưởng và tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồnlực, qua đó góp phần tiết kiệm các nguồn lực chung của nền kinh tế Mặt khác, cạnhtranh cũng tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn,

sử dụng lao động có hiệu quả, tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởngnền KTQD

Thứ tư, đối với quan hệ đối ngoại, cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị

trường ra khu vực và thế giới, tìm kiếm thị trường mới, liên doanh liên kết với cácdoanh nghiệp nước ngoài, qua đó tham gia sâu vào phân công lao động và hợp táckinh tế quốc tế, tăng cường giao lưu vốn, lao động, KHCN với các nước trên thế giới.Bên cạnh các mặt tích cực của cạnh tranh, luôn tồn tại các mặt còn hạn chế, nhữngkhó khăn trở ngại đối với các doanh nghiệp mà không phải bất cứ doanh nghiệp nàocũng có thể vượt qua Trên lý thuyết, cạnh tranh sẽ mang đến sự phát triển theo xu thếlành mạnh của nền kinh tế thị trường Song, trong một cuộc cạnh tranh bao giờ cũng

có “kẻ thắng, người thua”, không phải bao giờ “kẻ thua” cũng có thể đứng dậy được

vì hiệu quả đồng vốn khi về không đúng đích sẽ khó có thể khôi phục lại được Đó làmột quy luật tất yếu và sắt đá của thị trường mà bất cứ nhà kinh doanh nào cũng biết,song lại không biết lúc nào và ở đâu mình sẽ mất hoàn toàn đồng vốn ấy Mặt trái củacạnh tranh còn thể hiện ở những điểm sau:

i Cạnh tranh tất yếu dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp yếu sẽ bị phá sản, gâynên tổn thất chung cho tổng thể nền kinh tế Mặt khác, sự phá sản của các doanhnghiệp sẽ dẫn đến hàng loạt người lao động bị thất nghiệp, gây ra gánh nặng lớn cho

xã hội, buộc Nhà nước phải tăng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ việc làm… Bên cạnh đó,

nó còn làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác

ii Cạnh tranh tự do tạo nên một thị trường sôi động, nhưng ngược lại cũng dễdàng gây nên một tình trạng lộn xộn, gây rối loạn nền KT-XH Điều này dễ dàng dẫnđến tình trạng để đạt được mục đích một số nhà kinh doanh có thể bất chấp mọi thủđoạn “phi kinh tế”, “phi đạo đức kinh doanh”, bất chấp pháp luật và đạo đức xã hội đểđánh bại đối phương bằng mọi giá, gây hậu quả lớn về mặt KT-XH

Trang 21

1.1.2.2 Chức năng của cạnh tranh

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng Tuy nhiên,tầm quan trọng của những chức năng có thể thay đổi theo từng thời kỳ Đó là:

- Chức năng điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường Khi cung một hàng hoánào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả thị trường giảmxuống dẫn đến giảm cung Khi cung một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đótrở nên khan hiếm trên thị trường, giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bìnhquân, nhưng đồng thời dẫn đến giảm cầu Như vậy cạnh tranh điều chỉnh “cung cầu”xung quanh điểm cân bằng

- Chức năng điều tiết việc sử dụng các nhân tố sản xuất Do mục đích tối đa hoá lợinhuận, các chủ thể kinh doanh khi tham gia thị trường phải cân nhắc các quyết định sửdụng nguồn lực về vật chất và nhân lực vào hoạt động SXKD Họ luôn phải sử dụngmột cách hợp lý nhất các nhân tố sản xuất sao cho chi phí sản xuất thấp nhất hiệu quảcao nhất Chính từ đặc điểm này mà các nguồn lực được vận động, chu chuyển hợp lý

về mọi mặt để phát huy hết khả năng vốn có, đưa lại năng suất cao

Tuy nhiên, không vì thế mà coi hoạt động của chức năng này là có hiệu quả tuyệtđối, bởi vì vẫn còn những trường hợp chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro

- Chức năng “xúc tác” tích cực làm cho sản xuất thích ứng với biến động của cầu

và công nghệ sản xuất Điểm mấu chốt của kinh tế thị trường là quyền lựa chọn củangười tiêu dùng Người tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm tốt nhất Nếumột sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu thị trường, thì sự lựa chọn của người tiêudùng và quy luật cạnh tranh sẽ buộc nó phải tự định hướng lại và hoàn thiện Do cạnhtranh, các chủ thể kinh doanh chủ động đổi mới công nghệ, áp dụng những kỹ thuậttiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và phương thức kinhdoanh để thoả mãn yêu cầu thị trường, nâng cao vị thế của chủ thể cạnh tranh và sảnphẩm

- Chức năng phân phối và điều hoà thu nhập Không một chủ thể kinh doanh nào

có thể mãi mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trường Cácđối thủ cạnh tranh ngày đêm tìm kiếm những giải pháp hữu ích để ganh đua Trongtừng thời điểm, một sản phẩm hàng hoá với những ưu việt nhất định thoả mãn yêu cầucủa người tiêu dùng có thể chiếm được ưu thế trên thị trường, song vị trí của nó luôn

Trang 22

bị đe dọa bởi các sản phẩm cùng loại khác tiến bộ hơn Do cạnh tranh, các nhà kinhdoanh không thể lạm dụng được ưu thế của mình Vì vậy, cạnh tranh sẽ tác động mộtcách tích cực đến việc phân phối và điều hoà thu nhập.

- Chức năng động lực thúc đẩy đổi mới Giống như quy luật tồn tại và đào thải của

tự nhiên, cạnh tranh kinh tế luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh - nhữngchủ thể kinh doanh có tiềm năng, có trình độ quản lý và tri thức về kỹ thuật côngnghệ, có tư duy kinh tế và kinh nghiệm thương trường sẽ tồn tại, phát triển và ngượclại Do đó, cạnh tranh trở thành động lực phát triển không chỉ thôi thúc mỗi cá nhâncác chủ thể kinh doanh, mà còn là động lực phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia

1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh

Mặc dù được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, song theo các lý thuyết vềkinh tế, cạnh tranh là sản phẩm riêng có của nền kinh tế thị trường, là linh hồn và làđộng lực cho sự phát triển của thị trường Từ đó, cạnh tranh được mô tả bởi ba đặctrưng căn bản sau đây:

Một, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh

Với tư cách là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại nhữngtiền đề nhất định sau đây:

• Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hìnhthức sở hữu khác nhau Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủ thểkinh doanh nhằm tranh giành hoặc mở rộng thị trường, đòi hỏi phải có sự tồn tại củanhiều doanh nghiệp trên thị trường Một khi trong một thị trường nhất định nào đó chỉ

có một doanh nghiệp tồn tại thì chắc chắn nơi đó sẽ không có đất cho cạnh tranh nảysinh và phát triển Mặt khác, khi có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp, song chúng chỉthuộc về một thành phần kinh tế duy nhất thì sự cạnh tranh chẳng còn ý nghĩa gì.Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh tốthơn nếu các doanh nghiệp thuộc về các thành phần kinh tế khác nhau với những lợiích và tính toán khác nhau3

• Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do hành xử trênthị trường Tự do khế ước, tự do lập hội và tự chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho cácdoanh nghiệp có thể chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm cơ hội phát triển

Trang 23

trên thương trường Mọi kế hoạch để sắp đặt các hành vi ứng xử, cho dù được thựchiện với mục đích gì đi nữa, đều hạn chế khả năng sáng tạo trong kinh doanh Khi đó,mọi sinh hoạt trong đời sống kinh tế sẽ giống như những động thái của các diễn viên

đã được đạo diễn sắp đặt trong khi sự tự do, sự độc lập và tự chủ của các doanhnghiệp trong quá trình tìm kiếm khả năng sinh tồn và phát triển trên thương trườngkhông được đảm bảo

Hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanhnghiệp Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn

về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêudùng

Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trường, là thước đo sựthành đạt và là mục đích hướng đến của các doanh nghiệp Kinh tế chính trị Macxít đãchỉ ra nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng dư mà nhà tư bản tìm kiếm được trongcác chu trình của quá trình sản xuất, chuyển hoá giữa tiền – hàng

Trong chu trình đó, khách hàng và người tiêu dùng có vai trò là đại diện cho thịtrường, quyết định giá trị thặng dư của xã hội sẽ thuộc về ai Ở đó mức thụ hưởng vềlợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trongviệc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người tiêu dùng trong xã hội

Hình ảnh của cạnh tranh sẽ được minh họa bằng quan hệ tay ba giữa các doanhnghiệp với nhau và với khách hàng Các doanh nghiệp đua nhau lấy lòng khách hàng.Khách hàng là người có quyền lựa chọn người sẽ cung ứng sản phẩm cho mình Quan

hệ này cũng sẽ được mô tả tương tự khi các doanh nghiệp cùng nhau tranh giành mộtnguồn nguyên liệu

Hiện tượng tranh đua như vậy được kinh tế học gọi là cạnh tranh trong thị trường.Từng thủ đoạn được sử dụng để ganh đua được gọi là hành vi cạnh tranh của doanhnghiệp Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trường làm cho người chiến thắng mởrộng được thị phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua cuộc chịu mất khách hàng vàphải rời khỏi thị trường

Ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thịtrường mua hoặc bán sản phẩm

Trang 24

Với sự giục giã của lợi nhuận, nhà kinh doanh khi tham gia vào thị trường luônganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường Với sựgiúp đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ chọn ra người thắng cuộc và trao cho họ lợiích mà họ mong muốn.

Trên thị trường, cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp có chung lợi ích tiềmnăng về nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua); hoặc về thị trường đầu ra củasản phẩm (cạnh tranh bán) của quá trình sản xuất Việc có cùng chung lợi ích để tranhgiành làm cho các doanh nghiệp trở thành là đối thủ của nhau Lý thuyết cạnh tranhxác định sự tồn tại của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp theo hướng xác định sự tồntại của thị trường liên quan đối với các doanh nghiệp Việc họ có cùng một thị trườngliên quan làm cho họ có cùng mục đích và trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau Theokinh nghiệm pháp lý của các nước và theo Luật Cạnh tranh Việt Nam, thị trường liênquan bao gồm thị trường sản phẩm và thị trường địa lý Việc xác định thị trường liênquan suy cho cùng là xác định khả năng thay thế cho nhau giữa sản phẩm của cácdoanh nghiệp trên một khu vực không gian nhất định Trong đó, khả năng thay thế củacác sản phẩm thường được mô tả bằng tính năng sử dụng, tính chất lý hoá và giá cảtương tự nhau Mọi sự khác biệt của một trong ba dấu hiệu về tính năng sử dụng, tínhchất lý hóa và giá cả sẽ làm phân hoá nhóm khách hàng tiêu thụ và làm cho các sảnphẩm không thể thay thế cho nhau Ví dụ, rượu Henessy ngoại nhập và rượu đế gò đencho dù cùng được tiêu thụ trên thị trường Việt Nam, cùng có mục đích sử dụng giốngnhau nhưng không thể cùng thị trường liên quan do giá cả và đặc tính lý hóa củachúng khác nhau quá xa

Các sản phẩm tương tự nhau của các doanh nghiệp khác nhau không thể thay thếcho nhau nếu chúng ở những vùng thị trường địa lý khác nhau vì sự khác nhau đókhông đủ làm cho người tiêu dùng thay đổi thói quen sử dụng sản phẩm của doanhnghiệp này bằng sản phẩm tương tự của doanh nghiệp khác không cùng một khu vựcvới nó, cho dù có sự thay đổi về giá cả và các điều kiện mua bán có gây bất lợi chongười tiêu dùng

Nói tóm lại, chỉ khi nào xác định được các doanh nghiệp cùng trên một thị trườngliên quan mới có thể kết luận được rằng các doanh nghiệp đó là đối thủ cạnh tranh củanhau Khi họ có chung khách hàng hoặc đối tác để tranh giành, có chung một nguồn

Trang 25

lợi ích để hướng đến mới có căn nguyên nảy sinh ra sự ganh đua giữa họ với nhau.Dấu hiệu mục đích vì lợi nhuận và vì thị trường phản ánh bản chất kinh tế của hiệntượng cạnh tranh Từ đó có thể phân biệt cạnh tranh với các hiện tượng xã hội khác cócùng biểu hiện của sự ganh đua như: thi đấu thể thao hay các cuộc thi đua để tranhdành danh hiệu khác trong đời sống kinh tế – xã hội (ví dụ các cuộc thi để dành danhhiệu Sao vàng đất Việt…) Sự ganh đua trong thi đấu thể thao hay trong các cuộc thitranh dành danh hiệu có thể đem lại vinh quang cho kẻ thắng và nỗi buồn cho ngườithất bại nhưng lại không đẩy người thua cuộc đi về phía cùng đường trong kinh doanhhay trong đời sống xã hội Đồng thời, các bên trong cuộc thi đua hay thi đấu tranhdành những phần thưởng, danh hiệu mà Ban tổ chức cuộc thi trao tặng, người thắngcuộc được phần thưởng và những doanh nghiệp thua cuộc ra về tay không (không mất

gì cho người thắng) Cạnh tranh đem về thị trường, khách hàng và các yếu tố kinh tếcủa thị trường của người thua cuộc cho doanh nghiệp thắng cuộc Mối quan hệ giữacác doanh nghiệp cạnh tranh nhau trên thương trường luôn đưa đến kết quả bàn tay vôhình của thị trường sẽ lấy lại phần thị trường, lấy lại các yếu tố thị trường như vốn,nguyên vật liệu, lao động… của người yếu thế và kinh doanh kém hiệu quả hơn đểtrao cho những doanh nghiệp có khả năng sử dụng hiệu quả hơn Như thế, sẽ có kẻmất và người được trong cuộc cạnh tranh Người được sẽ tiếp tục kinh doanh vớinhững gì đã gặt hái, còn doanh nghiệp thua cuộc phải thu hẹp hoạt động kinh doanh,thậm chí phải rời bỏ thị trường Có thể nói, với đặc trưng này, cạnh tranh được mô tảnhư quy luật đào thải rất tự nhiên diễn ra trên thương trường

1.1.4 Phân loại cạnh tranh

Cạnh tranh diễn ra muôn màu, muôn vẻ trên thị trường Để phân loại cạnh tranh cóthể dựa trên một số tiêu thức sau:

- Căn cứ vào số lượng người tham gia thị trường

+ Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh theo “luật mua rẻbán đắt” Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, còn người mualại muốn mua sản phẩm, dịch vụ với giá thấp nhất Giá cả cuối cùng được chấp nhận

là giá thống nhất giữa những người bán và người mua sau quá trình “mặc cả” vớinhau

Trang 26

+ Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: là cuộc cạnh tranh trên thị trườngnhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,dịch vụ.

+ Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: là cuộc cạnh tranh giữa nhữngngười mua nhằm mua được những hàng hóa mà họ cần Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá

cả hàng hóa, dịch vụ tăng lên Do thị trường khan hiếm nên người mua sẵn sàng chấpnhận giá cao để mua được những hàng hóa mà họ cần Vì số người mua đông nênngười bán tiếp tục tăng giá sản phẩm, dịch vụ và người mua tiếp tục chấp nhận giá đócho đến khi đạt điểm cân bằng về giá

- Căn cứ vào phạm vi kinh tế

+ Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cácngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn Kết quả của cuộc cạnhtranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa thành giátrị sản xuất

+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùngsản xuất một loại hàng hóa trong cùng một ngành nhằm tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn

để thu được lợi nhuận cao hơn Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp phải cải tiến

kỹ thuật, nâng cao NSLĐ nhằm làm cho giá trị hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất rathấp hơn giá trị xã hội để thu được lợi nhuận cao hơn

- Căn cứ vào chi phí bình quân của các doanh nghiệp

+ Cạnh tranh dọc: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quânthấp nhất khác nhau cùng tham gia vào thị trường Khi đó, mỗi doanh nghiệp điềuchỉnh mức giá và lượng hàng hóa bán ra của mình sao cho có thể đạt lợi nhuận caonhất trên cơ sở quan sát giá bán của các doanh nghiệp khác Qui luật cạnh tranh dọcchỉ ra rằng sự thay đổi về giá bán hoặc lượng bán của doanh nghiệp sẽ có điểm dừng,tức là chỉ sau một thời gian nhất định sẽ hình thành một mức giá thống nhất trên thịtrường buộc các doanh nghiệp phải hiện đại hóa sản xuất để giảm chi phí mới có thểtồn tại và phát triển trong thị trường cạnh tranh

+ Cạnh tranh ngang: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quânthấp nhất ngang nhau Khác với cạnh tranh dọc, cạnh tranh ngang dẫn tới kết quả làkhông có doanh nghiệp nào bị loại ra khỏi thị trường do có mức chi phí bình quân

Trang 27

thấp nhất ngang nhau So giá cả ở mức tối đa, lợi nhuận giảm dần và có thể là không

có lợi nhuận hoặc tất cả các doanh nghiệp bị đóng cửa do nhu cầu mua quá thấp.Trong tình hình đó, vì mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp không thể chấp nhận kếtquả do cạnh tranh mang lại mà sẽ vận động theo hai xu hướng: hoặc là chất dứt cạnhtranh giữa các doanh nghiệp, thống nhất với nhau một mức giá bán tương đối cao,giảm lượng bán trên toàn thị trường để giành độc quyền; hoặc là các doanh nghiệpphải tìm mọi cách để giảm chi phí sản xuất để chuyển từ cạnh tranh ngang sang cạnhtranh dọc nhằm trụ lại được trên thị trường với mức lợi nhuận cao

- Căn cứ vào phạm vi địa lý có cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế, trong

đó cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay trên thị trường nội địa đó là cạnh tranh giữahàng nhập khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu Trong hình thức cạnh tranh này, cácyếu tố như chất lượng sản phẩm tốt, giá bán thấp, thời gian đưa hàng hóa ra thị trườngđúng thời điểm và điều kiện dịch vụ sau bán hàng như bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa

là mối quan tâm hàng đầu

- Căn cứ theo cấp độ cạnh tranh

+ Cạnh tranh cấp quốc gia: thường được phân tích theo quan điểm tổng thể, chútrọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và vai trò của Chính phủ Theo Ủy ban Cạnh tranhCông nghiệp của Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó dưới điềukiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứngđược các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và nâng cao được thu nhậpthực tế của người dân nước đó

+ Cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp: là các doanh nghiệp căn cứ vào năng lực duytrì lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong và ngoài nước cạnh tranh để tồn tại, giữvững ổn định trong sản xuất kinh doanh

+ Cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm, dịch vụ: đó là việc các doanh nghiệp đưa ra cáchàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá cả hợp lý, các dịch vụ hậu mãi và sau bánhàng hấp dẫn, đặc biệt là các sản phẩm đem lại giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạhơn để thu hút các khách hàng sử dụng và tiêu thụ nhiều sản phẩm của mình

1.2 Khái quát về năng lực cạnh tranh

1.2.1 Khái niệm và phân loại năng lực cạnh tranh

1.2.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh

Trang 28

Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu mộtcách thống nhất Dưới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp đáng chú ý.

Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị

phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay,theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ vàkhả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp Cách quan niệm này có thể gặp trong cáccông trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley (1991),Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tácKinh tế Quốc tế) Cách quan niệm như vậy tương đồng với cách tiếp cận thương mạitruyền thống đã nêu trên Hạn chế trong cách quan niệm này là chưa bao hàm cácphương thức, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanhnghiệp

Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn

công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đưa

ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thịtrường thế giới Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: nănglực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánhbại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chấtđịnh tính, hkó có thể định lượng

Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ chức Hợp

tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sảnxuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làmcho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Theo M.Porter (1990), năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuynhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ củadoanh nghiệp

Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh.

Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làkhả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanhnghiệp, tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: năng lực cạnh tranh của doanh

Trang 29

nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chấtlượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và pháttriển bền vững.

Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vớinăng lực kinh doanh Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất Để có thể đưa ra quan niệm năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây

Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và

trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự dotrước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồngnghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều kiện thịtrường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa háo số lượng hàng hóa nênnăng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay,cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnhtranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm vềnăng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới

Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng tranh đua, tranh giành về các

doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năngtiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khảnăng sáng tạo sản phẩm mới

Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh

tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phương thứchiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vàoquy chế

Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và

nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.

1.2.1.2 Phân loại năng lực cạnh tranh

i Năng lực cạnh tranh quốc gia

Trang 30

Đây là một khái niệm phức tạp bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô, đồng thờicũng bao gồm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước Năng lựccạnh tranh quốc gia được định nghĩa là khả năng của một nền kinh tế đạt được tăngtrưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đờisống của người dân Một số tổ chức quốc tế (như diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Tổchức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD),viện phát triển quản lý (IMD) ở Lausanne,Thuỵ Sỹ ) tiến hành điều tra, so sánh và xếp hạng năng lực cạnh tranh của các nềnkinh tế thế giới Các xếp hạng đó áp dụng các phương pháp luận tương tự như nhau và

đi đến kết quả giống nhau về xu thế, tuy không hoàn toàn giống nhau về xếp hạng do

có những khác biệt trong phương pháp luận (ví dụ như về trọng số cho từng yếu tố, về

cơ sở dữ liệu, ) các nhà đầu tư quốc tế thường tham khảo các xếp hạng này như mộtcăn cứ để lựa chọn địa điểm đầu tư, vì vậy, các xếp hạng đó có ý nghĩa quan trọng đốivới chính phủ và doanh nghiệp

ii Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộngthị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước vànước ngoài Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ, vìvậy cần phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với khả năng cạnh tranh củasản phẩm dịch vụ

iii Năng lực cạnh tranh của sản phẩm – dịch vụ.

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ thường được đo bằng thị phần của sảnphẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường

Giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết qua lại với nhau, tạođiều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tết có năng lựccạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, ngược lại

để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh thì môitrường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõràng, có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định; bộ máy nhà nước phải trong sạch,hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp Đồng thời, năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp cũng thể hiện qua năng, lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ màdoanh nghiệp kinh doanh Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm

Trang 31

và dịch vụ có năng lực cạnh tranh caovĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh

tế phải ổn định; bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tínhchuyên nghiệp Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện quanăng, lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm và dịch vụ có năng lựccạnh tranh cao

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

1.2.2.1 Thị phần

Là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thịtrường của mình so với đối thủ cạnh tranh

Khi xem xét người ta đề cập đến các loại thị phần sau:

- Thị phần của toàn bộ công ty so với thị trường : Đó chính là tỷ lệ phần trăm giữadoanh số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn ngành

- Thị phần của công ty so với phân khúc mà nó phục vụ : Đó là tỷ lệ phần trămgiữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân khúc

- Thị phần tương đối : Đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của công ty so với đối thủcạnh tranh mạnh nhất, nó cho biết vị thế của công ty cạnh tranh trên thị trường như thếnào?

Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này, doanh nghiệp biết mình đang đứng ở

vị trí nào và cần vạch ra chiến lược hành động như thế nào

Ưu điểm : Chỉ tiêu này đơn giản dễ hiểu

Nhược điểm : Phương pháp này khó đảm bảo tính chính xác do khó lựa chọnnhững doanh nghiệp mạnh nhất, đặc biệt là kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau

và thông thường mỗi doanh nghiệp có thế mạnh trong một vài lĩnh vực nào đó và đểđảm bảo hiệu quả thì phải phân nhỏ sự lựa chọn này thành nhiều lĩnh vực

1.2.2.2 Sự đa dạng về sản phẩm và dịch vụ

Sự ra đời của sản phẩm, dịch vụ mới luôn luôn là một tất yếu nhằm đáp ứng nhữngnhu cầu của thị trường theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú và đòi hỏi ngàycàng cao, số lượng sản phẩm thay thế gia tăng cũng làm tăng mức độ cạnh tranh vàthu hẹp quy mô thị trường của sản phẩm trong ngành

Trang 32

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nếunhư sản phẩm của doanh nghiệp thuộc loại sản phẩm bị thay thế Chẳng hạn như ngàynay dịch vụ nhắn tin thông thường không còn được sử dụng nhiều như trước kia,người tiêu dung chuyển sang sử dụng dịch vụ Zalo, Viber… nhiều hơn Sự ảnh hưởngnày có thể do giá bán của sản phẩm, dịch vụ quá cao khiến người tiêu dùng thay thếbằng việc sử dụng sản phẩm khác có mức giá thấp hơn hoặc nhu cầu tiêu dùng ngàycàng đa dạng và đòi hỏi cao hơn.

1.2.2.3 Lợi nhuận

Một trong các chỉ tiêu thể hiện tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp là lợinhuận Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranhtrên thị trường rất gay gắt, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là doanh nghiệpkinh doanh rất thuận lợi

Ngoài lợi nhuận còn được thể hiện qua các chỉ tiêu tương đối như tỷ suất doanh lợitrên doanh thu (ROS), tỷ suất doanh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất doanh lợitrên tài sản (RÓA) Các chỉ số này cao đều chứng tổ doanh nghiệp làm ăn tốt và cókhả năng cạnh tranh cao

1.2.2.4 Năng lực tài chính

Năng lực về tài chính luôn luôn là yếu tố quyết định đối với hoạt động sản xuấtkinh doanh nói chung cũng như khả năng cạnh tranh nói riêng của mỗi doanh nghiệp.Khi doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh, nhiều vốn thì sẽ có đủ khả năng cạnhtranh được với các doanh nghiệp khác khi họ thực hiện được các chiến lược cạnhtranh , các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ như khuyến mại giảm giá

Một doanh nghiệp có khả năng tài chính đảm bảo sẽ có ưu thế trong việc đầu tư,đổi mới máy móc thiết bị, tiến hành các hoạt động khác nhằm nâng cao khả năng cạnhtranh Doanh nghiệp có khó khăn về vốn sẽ rất khó khăn để tạo lập, duy trì và nângcao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường

1.2.2.5 Chất lượng nguồn nhân lực

Nhân sự là nguồn lực quan trọng nhất của bất kỳ một doanh nghiệp nào vì vậy đầu

tư vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động là một hướng đầu tư hiệu quả nhất,vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, chính vì vậy công ty cần phải tổ chức đào

Trang 33

tạo huấn luyện nhằm mục đích nâng cao, chuẩn bị cho họ theo kịp với những thay đổicủa cơ cấu tổ chức và của bản thân công việc

Nguồn nhân lực có chất lượng càng cao thì năng lực cạnh tranh càng lớn và ngượclại

1.2.2.6 Hoạt động nghiên cứu triển khai

Ngày nay không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh doanh lại không muốngắn doanh nghiệp của mình với thị trường Vì trong cơ chế thị trường chỉ có như vậydoanh nghiệp mới hy vọng tồn tại và phát triển được

Một doanh nghiệp có thể cho rằng cứ tập trung mọi cố gắng của mình để sản xuất

ra thật nhiều sản phẩm, để làm ra những sản phẩm cực kỳ hoàn mĩ với chất lượng cao,

là chắc chắn sẽ thu được nhiều tiền từ người tiêu dùng Điều đó, trên thực tế, chẳng có

gì đảm bảo Bởi vì đằng sau phương châm hành động đó còn ẩn náu hai trở ngại lớn,hai câu hỏi lớn mà nếu không giải đáp được nó thì mọi cố gắng của doanh nghiệpcũng chỉ là một con số không

Một là, liệu thị trường có cần hết, mua hết số sản phẩm doanh nghiệp tạo rakhông?

Hai là, liệu cái giá mà doanh nghiệp định bán, người tiêu ding có đủ tiền mua haykhông? Kết cục là cái mối liên hệ giữa doanh nghiệp với thị trường chưa được giảiquyết thoả đáng

Để giải quyết được hai câu hỏi nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần phải xác định được,liệu tăng thêm chi phí này có ảnh hưởng tới việc tối đa hoá lợi nhuận hay không?

Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu cho phép doanh nghiệp đánh giá được liệumột đồng chi phí marketing bỏ ra thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn

vị sản phẩm

Việc xác đinh được tỷ lệ này giúp cho các nhà lãnh đạo biết được những nhu cầucủa thị trường, bằng các biên pháp so sánh giữa các năm có thể đưa ra được các mứcchi phí marketing bỏ ra sao cho hợp lý trên cơ sở tối đa hoá lợi nhuận

Tỉ lệ chi phí marketing trên tổng doanh thu còn là biện pháp xác định cho từng loạithị trường, đối với các thị trường mới, hay với thị trường đã bão hoà thì nên sử dụngchi phí marketing như thế nào?

1.2.2.7 Quy mô và thương hiệu

Trang 34

Thương hiệu của doanh nghiệp

Thương hiệu và uy tín sản phẩm chính là sự tổng hợp các thuộc tính của sản phẩmnhư dịch vụ của sản phẩm, lợi ích… Thương hiệu không chỉ là dấu hiệu để nhận biếtdoanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, mà nó còn là tài sản rất có giá trị của doanhnghiệp, là uy tín và thể hiện niềm tin người tiêu dùng đối với sản phẩm Một thươnghiệu mạnh là thương hiệu có uy tín cao và uy tín, thương hiệu càng cao thì niềm tin và

sự trung thành của người tiêu dùng đối với sản phẩm càng lớn Điều đó có nghĩa lànếu một sản phẩm nào đó có được uy tín và hình ảnh tốt đối với người tiêu dung thìsản phẩm đó có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với sản phẩm khác của đối thủ cạnhtranh

Ngày nay phần lớn các sản phẩm trên thị trường quốc tế đều gắn với thương hiệu.Thương hiệu trở thành yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp trong điều kiện kinh tế hiện đại và người tiêu dung sẵn sàng sử dụng sản phẩmdịch vụ với giá cả đắt hơn từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của sản phẩm,dịch vụ trên thị trường

1.2.2.8 Các tiêu chí khác theo đặc trưng ngành

Trang 35

1.2.3.1 Các yếu tố bên ngoài

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp baogồm các yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp như các yếu tối vềchính trị, pháp luật , chính sách nhà nước, tập quán tiêu dùng Trong đó vai trò củanhà nước là đặc biệt quan trọng với việc đưa ra một khuôn khổ pháp luật phù hợp , tạođiều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng với nhau Cạnh tranh là tiền đềquyết định sự vận hành của nên kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải thíchứng liên tục về mặt sản phẩm, công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càngcao của khách hàng Tuy nhiên cạnh tranh cũng làm giảm bớt khả năng thu lợi nhuậncủa các doanh nghiệp Do vậy , các doanh nghiệp thường tìm cách làm bớt cạnh tranh, làm cho hiệu năng của cả nền kinh tế thị trường bị kém đi Chính vì vậy , nhà nướctrong nền kinh tế thị trường có nhiệm vụ rất quan trọng là tạo lập môi trường cạnhtranh , duy trì cạnh tranh bằng việc ban hành các chê độ , chính sách , đứng ra với tưcách là trọng tài, người định luật chơi, định hướng phát triển cho cuộc đua giữa cácdoanh nghiệp Việc tạo lập môi trường cạnh tranh cho các chủ thể tham gia vào thịtrường bao gồm các nhân tố và quan hệ cơ bản sau :

Một là , Tạo lập khuôn khổ pháp luật về cạnh tranh Đây là tiên đề đầu tiên của

việc tạo môi trường cạnh tranh , trong đó đạo luật về cạnh tranh, đạo luật chống độcquyền có một vị trí đặc biệt Cơ chế thị trường cạnh tranh chỉ được phát huy mộtcách hữa hiệu trên cơ sở một hệ thống đồng bộ các “luật chơi” đầy đủ , nhờ đó duy trìmôi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp hoạt động , đồng thời mọihành vi cạnh tranh không lành mạnh đều phải bị trừng phạt Vì vậy, xây dựng và thựcthi có hiệu quả một hệ thống pháp luật thích ứng với hoạt động kinh tế theo cơ chế thịtrường và gắn liền với nó là hệ thống tòa kinh tế là nội dung quan trọng của việc tạolập thể chế kinh tế thị trường ở nước ta và là cơ sở nền tảng cho việc tạo lập môitrường cạnh tranh của các doanh nghiệp

Hai là, Hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống chính sách chế độ nhà nước

về cạnh tranh và hỗ trợ cạnh tranh , thúc đẩy cạnh tranh bao gồm các tổ chức như Cụcbảo vệ cạnh tranh, Toàn án kinh tế , các chính sách tài chính , tiền tệ, các chính sáchkhuyến khích bảo trợ , các chính sách xã hội có ý nghĩa và tác động rất lớn đến hoạtđộng kinh doanh và cạnh tranh của các doanh nghiệp

Trang 36

Ba là , Cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước là một nhân tố quan trọng tạo nên môi

trường kinh doanh , môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp , cơ chế này đượcxây dựng dựa trên cơ sở các chiến lược , định hướng phát triển nền kinh tế của nhànước trong mỗi giai đoạn Trong nền kinh tế thị trường , cơ chế quản lý kinh tế củanhà nước phải tạo cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp bằng việc thúc đẩy cácdoanh nghiệp tự tạo cho mình năng lực cạnh trah và hoạt động dưới áp lực của thịtrường canh tranh Cơ chế quản lý của nhà nước cần tạo ra sự độc lập về quản lý mộtcách thực sự cho lãnh đạo các doanh nghiệp , đồng thời kiểm soát được kết quả hoạtđộng của các doanh nghiệp

Phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệp là một quá trình xem xét, đánhgiá tình hình cụ thể của doanh nghiệp đó Từ đó rút ra thông tin về điểm mạnh, điểmyếu của những vấn đề được xem xét, xác định được năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp trên thương trường Đó là tập hợp các yếu tố tạo nên các hoạt động doanhnghiệp và có rang buộc lẫn nhau tạo thành một hệ thống nhất, hoạt động vì mục tiêuchung của doanh nghiệp Mỗi yếu tố đều có ảnh hưởng đến các yếu tố khác và đếntoàn bộ hệ thống

Các yếu tố bên trong là các yêu tố doanh nghiệp có thể chủ động xử lý được.Trong thực tế, có rất nhiều yếu tố bên trong ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, và do vậy ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Tuy nhiên, để phân loại, người ta có thể dựa trên một số yếu tố ảnh hưởngchính tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như yếu tố con người, tiềm lực vôhình, yếu tố công nghệ, tổ chức sản xuất, marketing nghiên cứu và phát triển… Cácdoanh nghiệp có dành được chiến thắng trong cạnh tranh hay không chính là nhờ vàoviệc lựa chọn các yếu tố này một cách hợp lý nhất

Tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, do vậy ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh Tuy nhiên trong phần nàychỉ đề cập đến những yếu tố chính, những yếu tố chủ yếu nhất ảnh hưởng tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Để khẳng định mình và tạo ra chỗ đứng vững chắc trênthị trường, ngoài những yếu tố trên, doanh nghiệp có thể thực hiện đồng bộ với cácyếu tố khác như giải pháp về tài chính (huy động vốn, sử dụng vốn…), vấn đề liên kếtvới các doanh nghiệp, chống độc quyền

Trang 37

1.2.3.2 Các yếu tố bên trong

Phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệp là một quá trình xem xét, đánhgiá tình hình cụ thể của doanh nghiệp đó Từ đó rút ra thông tin về điểm mạnh, điểmyếu của những vấn đề được xem xét, xác định được năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp trên thương trường Đó là tập hợp các yếu tố tạo nên các hoạt động doanhnghiệp và có rang buộc lẫn nhau tạo thành một hệ thống nhất, hoạt động vì mục tiêuchung của doanh nghiệp Mỗi yếu tố đều có ảnh hưởng đến các yếu tố khác và đếntoàn bộ hệ thống

Các yếu tố bên trong là các yêu tố doanh nghiệp có thể chủ động xử lý được.Trong thực tế, có rất nhiều yếu tố bên trong ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, và do vậy ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Tuy nhiên, để phân loại, người ta có thể dựa trên một số yếu tố ảnh hưởngchính tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như yếu tố con người, tiềm lực vôhình, yếu tố công nghệ, tổ chức sản xuất, marketing nghiên cứu và phát triển… Cácdoanh nghiệp có dành được chiến thắng trong cạnh tranh hay không chính là nhờ vàoviệc lựa chọn các yếu tố này một cách hợp lý nhất

Tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, do vậy ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh Tuy nhiên trong phần nàychỉ đề cập đến những yếu tố chính, những yếu tố chủ yếu nhất ảnh hưởng tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Để khẳng định mình và tạo ra chỗ đứng vững chắc trênthị trường, ngoài những yếu tố trên, doanh nghiệp có thể thực hiện đồng bộ với cácyếu tố khác như giải pháp về tài chính (huy động vốn, sử dụng vốn…), vấn đề liên kếtvới các doanh nghiệp, chống độc quyền

1.2.4 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của các công ty cung cấp dịch vụ Internet trên điện thoại di động tại thị trường Việt nam

Việt Nam đã và đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập Trong lĩnh vựcviễn thông, các doanh nghiệp viễn thông đang gặp phải thách thức rất lớn Trướcnhững thách thức rất lớn đó các doanh nghiệp viễn thông buộc phải đổi mới nâng caonăng lực cạnh tranh nắm bắt những cơ hội do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại để tồntại và không ngừng phát triển

Trang 38

Trong một vài năm trở lại đây thị trường viễn thông trong nước ngày càng thôngthoáng và hấp dẫn thu hút nhiều những doanh nghiệp mới tham gia thị trường Đó là

do kinh doanh dịch vụ viễn thông là một lĩnh vực đem lại giá trị gia tăng cao và trong

xu hướng phát triển của xã hội thì đây là một ngành nghề có cơ hội phát triển mạnh.Với nhiều động thái tích cực của Chính Phủ và Bộ thông tin và truyền thông cácdoanh nghiệp viễn thông trong nước không ngừng cạnh tranh lẫn nhau để giữ vững và

mở rộng thị trường Tình trạng độc quyền dần được xóa bỏ thay vào đó mà môitrường kinh doanh bình đẳng hơn, thuận lợi hơn và lợi thế cạnh tranh không hoàn toànthuộc về một doanh nghiệp nhất định Những văn bản, chính sách được ban hành đềunhằm mục tiêu khuyến khích sự cạnh tranh trên thị trường viễn thông đa dạng hóathành phần tham gia và tăng sự lựa chọn cho người tiêu dùng cũng như thúc đẩy sựphát triển của thị trường Do vậy bất cứ doanh nghiệp nào trong ngành đều phải đốimặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn

Cánh cửa vào WTO đã mở rộng với Việt Nam Là một trong số những thị trườngđầu tư hấp dẫn, ngành viễn thông Việt Nam đang nhắm tới của nhiều nhà đầu tư nướcngoài Mục tiêu của ngành viễn thông đề ra là thu hút được các đối tác nước ngoài vàođầu tư trong tất cả các lĩnh vực Thị trường viễn thông hội nhập, doanh nghiệp viễnthông Việt Nam có thêm nhiều cơ hội tiếp cận các công nghệ tiên tiến và được thử sứctrên một sân chơi rộng và bình đẳng hơn Tuy nhiên, cũng như lĩnh vực khác các doanhnghiệp viễn thông Việt Nam đang trong tư thế đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ phíacác doanh nghiệp nước ngoài Sức ép đó ngày một lớn hơn bởi thị trường viễn thông làmột trong những thị trường mở cửa sớm nhất và có sự cạnh tranh khốc liệt nhất Để cạnhtranh với các doan nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam cần khẳng định vị thế củamình bằng việc tích lũy vốn, nắm được công nghệ tiên tiến, hiện đại, kinh nghiệm khaithác, chất lượng dịch vụ tốt và đặc biệt là phải có khách hàng

Không nằm ngoài sự phát triển chung của ngành, tập đoàn viễn thông quân đội Viettel cũng chịu sự cạnh tranh ngày càng lớn từ các đối thủ hoạt động trong cùng lĩnhvực Là một thành viên trực thuộc Bộ quốc phòng, Viettel đã có những hướng phát triển riêng để thích ứng với những điều kiện cạnh tranh mới Áp lực cạnh tranh đòi hỏibản thân tập đoàn phải có sự đổi mới và thích ứng để vận động và phát triển Đây là

Trang 39

nhân tố quan trọng quyết định tới sự thành bại của Viettel cũng như các doanh nghiệp khác.

Hệ quả của sự hội nhập có thể làm cho doanh nghiệp phát triển tốt, không phát triển được hoặc bị đào thải khỏi thương trường Chính vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại là điều kiện tiên quyết trong thời đại hội nhập là điều kiện tiên quyết của sự phát triển

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Chương 1 đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lựccạnh tranh của một số tác giả trong nước và thế giới từ đó rút ra khái niệm tăng cườngnăng lực cạnh tranh của các nhà mạng nói chung và Viettel nói riêng trong điều kiệnViệt Nam là thành viên WTO Trong chương này, bài nghiên cứu cũng đã phân tích,rút ra các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các tiêu chí vàphương pháp đánh giá tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đặc biệt làcác mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh và tăng cường năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp từ đó làm căn cứ để đề xuất một số mô hình phân tích nănglực cạnh tranh áp dụng cho Viettel Ngoài ra, qua việc nghiên cứu và phân tích cáckinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số tập đoàn bưu chính, viễn thôngquốc tế và Viettel đã đúc kết được các bài học thành công của từng Tập đoàn làm căn

cứ đề xuất ra các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong dịch vụ truy cậpinternet trên ĐTDĐ Kết quả nghiên cứu của chương 1 là căn cứ quan trọng để phântích, đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp BCVT theo các yếu tố ảnhhưởng, yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của Viettel có so sánh với các đối thủcạnh tranh chính trên thị trường BCVT trong giai đoạn vừa qua từ đó đề xuất ra cácgiải pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của Viettel trong bối cảnh mới –khi Việt Nam là thành viên WTO

Trang 40

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH GIỮA VIETTEL VÀ VINAPHONE TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG.

2.1 Khái quát Viettel và các dịch vụ Internet trên điện thoại di động

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) là một doanh nghiệp Nhà nước,được thành lập từ ngày 1 tháng 6 năm 1989 theo Quyết định số 58/ HĐBT của Hộiđồng Bộ trưởng (do đồng chí Võ Văn Kiệt - Phó chủ tịch HĐBT ký) Tổng công tyđược thành lập với hai nhiệm vụ chính là: Phục vụ quốc phòng và tham gia phát triểnkinh tế

Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Viễn thông Quân Đội đượctrình bày tóm tắt như sau:

- Năm 1989: Tổng công ty điện tử thiết bị thông tin, tiền thân của tổng công tyViễn thông Quân Đội được thành trên cơ sở sát nhập 3 doanh nghiệp: Công ty điện tửviễn thông quân đội, Công ty điện tử và thiết bị thông tin 1 và Công ty điện tử và thiết

bị thông tin 2

- Năm 1995: Công ty điện tử thiết bị thông tin được đổi tên thành công ty điện

tử Viễn thông Quân Đội ( tên giao dịch là Viettel) trở thành nhà cung cấp viễn thôngthứ hai tại Việt Nam

- Năm 1998: Thiết lập mạng bưu chính công cộng và dịch vụ chuyển tiềntrong nước Thiết lập và cung cấp dịch vụ trung kế vô tuyến

- Năm 2000: Viettel có giấy phép cung cấp thử nghiệm dịch vụ điện thoạiđường dài sử dụng công nghệ VoIP tuyến Hà Nội – Hồ Chí Minh với thương hiệu 178

và đã triển khai thành công Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên ở Việt Nam, có thêmmột doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông giúp khách hàng cơ hội được lựachọn Đây cũng là bước đi có tính đột phá mở đường cho giai đoạn phát triển mới đầynăng động của Công ty viễn thông quân đội và của chính Viettel Telecom

- Năm 2001: Chính thức cung cấp rộng rãi dịch vụ điện thoại đường dài trongnước và quốc tế sử dụng công nghệ mới VoIP Cung cấp dịch vụ cho thuê kênh truyềndẫn nội hạt và đường dài trong nước

Ngày đăng: 28/07/2016, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(3) PGS. Nguyễn Như Phát, TS. Trần Đình Hảo, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam (NXB Công an nhân dân, 2001), chuyên đề “Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam có ảnh hưởng tới Pháp luật cạnh tranh”của PGS Lê Hồng Hạnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sốđặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam có ảnh hưởng tới Pháp luật cạnh tranh
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
(6)Tài liệu báo cáo khoa học “ Phân tích chiến lược phát triển tập trung tại công ty viễn thông quân đội Viettel” của thạc sỹ Đỗ Văn Tính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chiến lược phát triển tập trung tại công tyviễn thông quân đội Viettel
(2) Dẫn theo Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam (NXB chính trị quốc gia, 2004), tr 19 Khác
(4) PGS. Nguyễn Như Phát & Ths. Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường (Hà Nội: NXB Công an nhân dân, 2001) Khác
(8) Bộ Bưu chính Viễn thông (2004), Chiến lược phát triển Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Khác
(9). Bộ Thông tin và Truyền thông, Các Quyết định phê duyệt của Bộ Thông tin và Truyền thông về giao kế hoạch thu các khoản đóng góp và dự toán kinh phí hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích các năm từ 2005-2010 Khác
(13). Bùi Xuân Phong (2005), Nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ BCVT, Tạp chí Thông tin KHKT và Kinh tế Bưu điện (số 3/2005) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Mạng lưới Vinaphone trên  toàn quốc. - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Hình 1 Mạng lưới Vinaphone trên toàn quốc (Trang 50)
Hình 2 : Dịch vụ Mobile Banking của Viettel. - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Hình 2 Dịch vụ Mobile Banking của Viettel (Trang 53)
Hình 3 : Các dịch vụ tiện ích 3G của Vinaphone - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Hình 3 Các dịch vụ tiện ích 3G của Vinaphone (Trang 54)
Hình 4 : Doanh thu của Viettel từ năm 2000-2010 - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Hình 4 Doanh thu của Viettel từ năm 2000-2010 (Trang 55)
Hình 6 : Các gói cước 3G của Vinaphone - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Hình 6 Các gói cước 3G của Vinaphone (Trang 61)
Bảng 2.3 : Các gói cước 3G Viettel năm 2015 - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Bảng 2.3 Các gói cước 3G Viettel năm 2015 (Trang 62)
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp điều tra khảo sát về dịch vụ internet trên ĐTDĐ - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Bảng 2.4 Bảng tổng hợp điều tra khảo sát về dịch vụ internet trên ĐTDĐ (Trang 64)
Bảng 2.4 : Bảng gói cước dịch vụ Vinaphone - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Bảng 2.4 Bảng gói cước dịch vụ Vinaphone (Trang 66)
Bảng 2.6: Bảng giá cước 3G Mobile Internet của Viettel - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Bảng 2.6 Bảng giá cước 3G Mobile Internet của Viettel (Trang 72)
Bảng 2.7: Bảng giá cước 3G Mobile Internet của Mobifone - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Bảng 2.7 Bảng giá cước 3G Mobile Internet của Mobifone (Trang 73)
Hình 7: Các gói sim “đặc biệt” của hai nhà mạng Vinaphone và Mobifone - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Hình 7 Các gói sim “đặc biệt” của hai nhà mạng Vinaphone và Mobifone (Trang 74)
Bảng 2.8: Bảng giá cước 3G Mobile Internet của Vietnamobile - Tiểu luận đánh giá năng lực cạnh tranh truy cập internet trên đtdđ của viettel và vinaphone
Bảng 2.8 Bảng giá cước 3G Mobile Internet của Vietnamobile (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w