BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI ĐINH XUÂN ĐẠI PHÂN TÍCH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ CỦA CÁC BỆNH NHÂN HIV/AIDS NGOẠI TRÖ TẠI TRUNG TÂM PHÕNG CHỐNG HIV/AIDS TỈNH HẢI D
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐINH XUÂN ĐẠI
PHÂN TÍCH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ
CỦA CÁC BỆNH NHÂN HIV/AIDS
NGOẠI TRÖ TẠI TRUNG TÂM PHÕNG CHỐNG HIV/AIDS
TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐINH XUÂN ĐẠI
PHÂN TÍCH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ
CỦA CÁC BỆNH NHÂN HIV/AIDS
NGOẠI TRÖ TẠI TRUNG TÂM PHÕNG CHỐNG HIV/AIDS
TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: 60720412
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Hương
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương - phó trưởng Bộ môn Quản lý và kinh tế dược, người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý giá trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Trưởng khoa Dược Nguyễn Đức Cảnh, giám đốc Nguyễn Văn Hải, chị Nguyễn Thị Như Quỳnh, chị Đỗ Hải Yến, chị Nhữ Thị Nhiên, chị Nguyễn Thị Hiền, anh Nguyễn Việt Tiệp, bác sĩ Vũ Tiến Vượng, bác sĩ Nguyễn Đình Học, anh Nguyễn Đình Thành, chị Lường Thị Thu Huyền, cô Trần Thị Nghĩa cùng các cán bộ, nhân viên khác trực thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương đã tận tình hỗ trợ, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu tại trung tâm Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn bộ các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú đã nhiệt tình chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập
dữ liệu Xin chân thành cảm ơn chị Nguyễn Thị Kim Anh và anh Trần Văn Huy đã giúp đỡ tôi trong thời gian tôi làm việc trên địa bàn tỉnh
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và kinh tế dược đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Tôi vô cùng biết ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức bổ ích trong thời gian học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, ông bà và người thân trong gia đình tôi đã nuôi dạy tôi trưởng thành, luôn nâng đỡ và cho tôi nhiều bài học quý giá trong cuộc sống
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn Nguyễn Vũ Lam và tất cả bạn bè của tôi đã luôn sát cánh bên tôi, luôn động viên và giúp đỡ tôi cả trong học tập và trong cuộc sống
Hà Nội, ngày 06 tháng 02 năm 2016
Học viên
Đinh Xuân Đại
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.1.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới 2
1.1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam 5
1.1.3 Tình hình chăm sóc và điều trị HIV/AIDS 6
1.1.4 Gánh nặng chi phí điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam 15
1.2.1 Quá trình điều trị ngoại trú cho bệnh nhân HIV/AIDS 16
1.2.2 Các phác đồ điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam 17
1.3.2.2 Các phương pháp đo lường chi phí bệnh 20
Trang 52.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, kỹ thuật chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên
cứu
24
2.2.3 Các loại chi phí ở Trung tâm phòng chống HIV/AIDS 25
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả 27
3.1.1 Một số đặc điểm về nhân khẩu học của bệnh nhân 34
3.1.1.1 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo giới tính 34
3.1.1.2 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo độ tuổi 34
3.1.1.3 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo trình độ học vấn 34
3.1.1.4 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo nghề nghiệp 35
3.1.1.5 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo tình trạng hôn nhân 35
3.1.1.6 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo địa điểm sống 36
3.1.1.7 Khoảng cách trung bình từ nhà bệnh nhân đến phòng khám 36
3.1.1.9 Loại hình Bảo hiểm y tế bệnh nhân sử dụng 37
3.1.1.10 Các thành viên trong gia đình của 1 bệnh nhân 38
3.1.2 Khả năng kinh tế của bệnh nhân và gia đình 40
3.1.3 Các đặc điểm về điều trị ngoại trú của bệnh nhân 42
Trang 63.1.3.4 Chỉ số CD4 của bệnh nhân 44
3.1.3.6 Các nhóm thuốc khác được sử dụng để điều trị trong năm 2015 45
3.1.4.1 Nguyên nhân mắc bệnh của bệnh nhân 46
3.1.4.2 Thái độ sống của bệnh nhân trong thời gian nhiễm bệnh 46
3.1.4.3 Số người chăm sóc, hỗ trợ đi cùng bệnh nhân 47
3.2.1 Chi phí điều trị bình quân hàng năm cho một bệnh nhân HIV/AIDS
ngoại trú
47
3.2.1.1 Tổng chi phí điều trị HIV/AIDS cho một bệnh nhân ngoại trú trong
thời gian một năm
47
3.2.1.2 Thành phần chi phí từ phía trung tâm phòng chống HIV/AIDS 48
3.2.1.3 Thành phần chi phí từ phía bệnh nhân và gia đình 49
3.2.2 So sánh chi phí điều trị cho các bệnh nhân giữa các phác đồ 50
3.2.3 Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ bậc 1 51
3.2.3.1 Chi phí điều trị HIV/AIDS cho tất cả các bệnh nhân sử dụng phác
đồ bậc 1
51
3.2.3.2 Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ 1C 52
3.2.3.3 Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ 1D 54
3.2.3.4 Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ 1E 55
3.2.3.5 Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ 1F 55
3.2.4 Chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân sử dụng phác đồ bậc 2 56
3.2.5 Chi phí điều trị HIV/AIDS của đối tượng người lớn và trẻ em 58
Trang 74.3 Ƣu điểm và nhƣợc điểm của nghiên cứu 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 3TC Lamividine
ART Antiretroviral treatment Điều trị bằng thuốc kháng HIV
AZT Zidovudine
CD4 Cluster of Differentiation 4 Tế bào CD4
Nhóm ức chế men sao chép ngược không
có cấu trúc nucleoside và nucleotide
For AIDS Relief
Chương trình cứu trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ
PI Protease inhibitors Nhóm ức chế enzyme protease
Trang 9Children's Emergency Fund Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở châu Á và
Bảng 1.2 Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở châu Âu và
Bảng 1.3 Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở miền Nam
Bảng 1.4 Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở phía Đông và
Bảng 1.5 Chi phí điều trị HIV/AIDS ước tính cho từng đối tượng của
Bảng 1.7 Phác đồ điều trị bậc 1 và phác đồ điều trị bậc 2 cho từng đối
Bảng 3.15 Số thành viên có độ tuổi từ 18 đến 60 trong gia đình bệnh nhân 39
Bảng 3.18 Chênh lệch thu – chi bình quân hàng tháng của gia đình bệnh
Trang 11Bảng 3.19 Phân loại điều kiện kinh tế của gia đình bệnh nhân 42
Bảng 3.22 Giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân lúc mới điều trị và trong
Bảng 3.23 Chỉ số CD4 của bệnh nhân lúc mới điều trị, năm 2015 và lần
Bảng 3.28 Chi phí điều trị từ phía chính phủ và trung tâm phòng chống
Bảng 3.29 Chi phí điều trị HIV/AIDS từ phía bệnh nhân và gia đình bình
Trang 13DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Bản đồ phân bố số lượng người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, HIV/AIDS hiện đang là một trong những vấn đề y tế công cộng lớn nhất toàn cầu với khoảng 36,9 triệu người nhiễm HIV còn sống tính đến cuối năm 2014 trong đó có khoảng 2,6 triệu trường hợp là trẻ em Cho đến nay, có khoảng 34 triệu người tử vong vì những nguyên nhân có liên quan đến HIV/AIDS với khoảng 1,2 triệu trường hợp tử vong trong năm 2014 Khu vực châu Phi
và Đông Nam châu Á là hai khu vực tập trung số bệnh nhân HIV/AIDS nhiều nhất trong đó riêng khu vực miền Nam sa mạc Sahara châu Phi đã có tới 25,8 triệu người sống chung với HIV tính đến cuối năm 2014 [79, 80] Tuy nhiên, tính đến tháng 3 năm
2015 mới chỉ có 15 triệu bệnh nhân được điều trị ARV trên toàn thế giới với gần 13,5 triệu trường hợp ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp Chỉ 41% bệnh nhân người lớn, 32% trẻ em và 73% phụ nữ có thai nhiễm HIV nhận được điều trị [56]
Tại Việt Nam, tính đến ngày 18/06/2015, toàn quốc có 227.114 bệnh nhân HIV/AIDS còn sống, số bệnh nhân AIDS là 71.115, số ca tử vong vì AIDS là 74.442 Tất cả các tỉnh, thành phố; 98,9% quận, huyện và 80,3% xã, phường báo cáo có trường hợp nhiễm HIV [9] Tỷ lệ nhiễm HIV trên toàn dân là 248/100.000 người Nam giới chiếm 67,6%, nữ giới chiếm 32,4% 74,9% các trường hợp nhiễm HIV/AIDS tập trung vào nhóm tuổi 20-39 trong đó chủ yếu là từ 30-39 tuổi [8] Hiện nay, mới chỉ có 95.752 bệnh nhân được điều trị ARV trong đó có 91.156 người lớn và 4.596 trẻ em
Ngân sách điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam hiện đang chủ yếu đến từ nguồn tài trợ nước ngoài Tuy nhiên, Việt Nam đang dần thoát khỏi nhóm các quốc gia nghèo và thu nhập thấp nên trong thời gian tới, nguồn kinh phí viện trợ từ nước ngoài bị cắt giảm nghiêm trọng Hiện nay, nhiều nhà tài trợ đã ngừng cấp kinh phí hỗ trợ công tác điều trị
và phòng chống HIV/AIDS cho Việt Nam [9] Nhằm đem lại một số thông tin về các chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân ngoại trú để góp phần hỗ trợ Chính phủ ước tính nguồn kinh phí cần thiết cho công tác phòng chống HIV/AIDS khi nguồn viện
trợ quốc tế bị cắt giảm trong thời gian tới, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích chi phí
điều trị của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
tỉnh Hải Dương” với 2 mục tiêu:
- Mô tả một số đặc điểm của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú được điều trị tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương
- Phân tích cơ cấu chi phí điều trị của các bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú được điều trị tại cơ sở điều trị nói trên trong năm 2015
Trang 15CHƯƠNG I – TỔNG QUAN 1.1 Thực trạng về HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
HIV là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, có thể dẫn đến hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) Không giống như một số virus khác, cơ thể con người không thể thoát khỏi HIV, điều đó có nghĩa rằng một khi đã nhiễm HIV, virus sẽ tồn tại cho đến khi người bệnh chết HIV là một loại virus lây lan qua dịch cơ thể có ảnh hưởng đến các tế bào cụ thể của hệ thống miễn dịch, được gọi là tế bào CD4, hoặc các tế bào T Theo thời gian, virus HIV có thể phá hủy rất nhiều tế bào làm cho cơ thể không thể chống lại được nhiễm trùng và bệnh tật Khi đó, HIV gây ra AIDS [74]
Hình 1.1 Bản đồ phân bố số lượng người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới năm 2013
Theo số liệu của WHO, đại dịch HIV/AIDS hiện nay đang là một trong những vấn đề y tế công cộng toàn cầu lớn nhất với khoảng 36,9 triệu (34,3 - 41,4 triệu) người nhiễm HIV còn sống tính đến cuối năm 2014 trong đó có khoảng 2,6 triệu (2,4 - 2,8 triệu) trường hợp là trẻ em Khoảng 2 triệu (1,9 - 2,2 triệu) ca mới nhiễm HIV trong năm 2014 trong đó gần 220.000 trường hợp là trẻ em (190.000 – 260.000) Hầu hết các trường hợp trẻ em ở trên đều sống ở khu vực miền Nam vùng sa mạc Sahara châu Phi
và bị lây truyền bởi các bà mẹ bị nhiễm HIV trong quá trình mang thai, sinh con hoặc cho con bú Cho đến nay, 34 triệu người đã tử vong vì những nguyên nhân có liên quan
Trang 16đến HIV/AIDS trên toàn thế giới trong đó khoảng 1,2 triệu (1,0 - 1,5 triệu) người tử vong trong năm 2014 [79, 80]
Các bệnh nhân HIV/AIDS tập trung chủ yếu ở châu Phi và các nước Đông Nam
Á, trong đó khu vực miền Nam sa mạc Sahara ở châu Phi là khu vực bị HIV/AIDS ảnh hưởng nặng nề nhất với 25,8 triệu (24,0 - 28,7 triệu) người sống chung với HIV tính đến năm 2014 Ngoài ra, khu vực này cũng chiếm khoảng 70% tổng số ca mới nhiễm HIV trên toàn cầu [79, 80] Ngân sách toàn cầu cho HIV/AIDS cũng tập trung phần lớn
ở châu Phi (khoảng 90%), 5% cho Đông Nam châu Á và 2,5% cho Mỹ Latin [46]
Chỉ 51% những người sống chung với HIV biết rõ về tình trạng của mình Trong năm 2014, khoảng 150 triệu trẻ em và người lớn ở 129 quốc gia thu nhập trung bình và thấp nhận các dịch vụ xét nghiệm HIV/AIDS Trên toàn cầu, khoảng 17,8 triệu trẻ em mất cha hoặc mẹ hoặc cả hai vì AIDS Mức độ bao phủ điều trị HIV cho trẻ em chỉ bằng 1/2 so với người lớn Cứ 50 tiếng thì có thêm một phụ nữ trẻ nhiễm HIV [53]
HIV là yếu tố nguy cơ lớn nhất cho việc phát triển bệnh lao Trong năm 2013, khoảng 360.000 trường hợp tử vong do bệnh lao xảy ra ở những người sống chung với HIV, chiếm một phần tư trong số 1,5 triệu người tử vong do HIV trong năm đó Đa số những người sống chung với HIV và lao cư trú ở khu vực miền Nam sa mạc Sahara châu Phi (khoảng 78% các trường hợp trên toàn thế giới) [79] Bên cạnh đó, trong số
35 triệu trường hợp sống chung với HIV, có 2 – 4 triệu người đồng nhiễm HBV và 4 –
5 triệu trường hợp đồng nhiễm HCV [55]
Theo số liệu của WHO và UNAIDS, sự tiếp cận của các bệnh nhân HIV/AIDS đến ART tăng gấp 40 lần từ năm 2002 đến năm 2012 [53] Tính đến tháng 3 năm 2015,
15 triệu bệnh nhân đã được điều trị ARV trên toàn thế giới Trong số này, gần 13,5 triệu trường hợp sống ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp 41% (38 – 46%) bệnh nhân người lớn, 32% (30 – 34%) trẻ em và 73% (68 – 79%) phụ nữ có thai nhiễm HIV nhận được điều trị [56] Khoảng 70% phụ nữ mang thai nhiễm HIV ở các nước có thu nhập trung bình và thấp nhận được thuốc ngăn ngừa lây truyền từ mẹ sang con Khoảng 2 triệu người mới bắt đầu bước vào điều trị ARV trong năm 2013 và 2014 – một mức tăng hàng năm lớn nhất từ trước đến nay
Các đối tượng có nguy cơ cao bị nhiễm HIV được WHO cảnh báo [70]:
- Quan hệ tình dục đồng giới ở nam: Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ
tình dục đồng giới lớn hơn so với dân số nói chung khoảng 13 lần Lý do chính là do
quan hệ qua đường hậu môn không sử dụng bao cao su [52]
Trang 17- Các tù nhân và những người bị giam giữ: Tỷ lệ nhiễm HIV và các bệnh lây
truyền qua đường tình dục ở các đối tượng trong tù và bị giam giữ cao gấp 2 đến 10 lần
so với dân số nói chung [21] Bên cạnh những hành vi gây nguy cơ cao nhiễm HIV trong nhà tù như các hoạt động tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy và xăm mình thì các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng nhà tù, quản lý trại giam và hệ thống tư pháp hình sự cũng góp phần làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV, viêm gan B, C và bệnh lao trong nhà tù [61] Bên cạnh đó, những điều kiện trong tù như tình trạng quá tải, bạo lực tình dục, ma túy và thiếu tiếp cận với công tác phòng chống HIV như bao cao su và
chất bôi trơn nên nguy cơ lây nhiễm là rất cao [65]
- Các đối tượng tiêm chích ma túy: Tỷ lệ nhiễm HIV rất cao ở những người tiêm
chích ma túy Dựa trên dữ liệu từ 49 quốc gia, nguy cơ lây nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma túy cao gấp 22 lần so với dân số nói chung, trong đó ở 11 quốc gia, nguy
cơ này cao hơn ít nhất là 50 lần [70] Trong số 12,7 triệu (8,9 – 22,4 triệu) trường hợp tiêm chích ma túy, có 13% trường hợp nhiễm HIV [55]
- Người chuyển giới: Một phân tích công bố vào năm 2013 cho thấy có 1 sự tổn
thương đặc biệt ở phụ nữ chuyển giới Trong số 7.197 phụ nữ chuyển giới tại 10 quốc gia có thu nhập trung bình và thấp, tỷ lệ nhiễm HIV là 17,7% Trong số 3.869 phụ nữ
chuyển giới lấy mẫu tại 5 quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ nhiễm HIV là 21,6% [15]
- Trẻ vị thành niên: Là nhóm đối tượng có tâm lý và tình cảm phức tạp, còn
thiếu hiểu biết và tiếp cận kém với các cách phòng tránh HIV Đặc biệt là với nhóm thiếu niên dưới 18 tuổi, các chính sách pháp lý liên quan đến độ tuổi như xét nghiệm hay tư vấn có thể là rào cản gây hạn chế đến việc phòng và điều trị HIV/AIDS [20, 44]
- Mại dâm: Trên toàn cầu, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người hành nghề mại
dâm trung bình được ước tính là khoảng 12% Số liệu khảo sát từ 26 quốc gia cho thấy
có khoảng 30,7% số người bán dâm dương tính với HIV [24, 52]
- Phối hợp nguy cơ: Các nguy cơ trên phối hợp với nhau góp phần làm tăng
nhanh tỷ lệ nhiễm HIV
Ngoài ra 7 nhóm đối tượng có nguy cơ cao nói trên, UNAIDS cũng đưa ra 12 nhóm đối tượng có nguy cơ nhiễm HIV cao bao gồm: (1) những người sống chung với HIV, (2) các bé gái tuổi dậy thì và phụ nữ trẻ, (3) tù nhân, (4) dân di cư, (5) dân tị nạn, (6) đối tượng tiêm chích ma túy, (7) đồng tính nam, (8) hành nghề mại dâm, (9) người chuyển giới, (10) trẻ em và phụ nữ sống chung với HIV, (11) người ốm yếu tàn tật và (12) những người già trên 50 tuổi [55]
Trang 181.1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Các trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam đã được báo cáo trong năm
1990 tại thành phố Hồ Chí Minh Kể từ đó, số trường hợp nhiễm HIV đã tăng lên một cách đáng kể Theo báo cáo mới nhất của Bộ Y tế ngày 18/06/2015, số người nhiễm HIV ở Việt Nam đang còn sống là 227.114 người, số bệnh nhân AIDS là 71.115 người
và số trường hợp tử vong 74.442 người [9]
Tỷ lệ người hiện mắc HIV toàn quốc trên 100.000 dân theo báo cáo là 248 người Tỷ lệ hiện mắc HIV trên 100.000 dân cao ở các khu vực miền núi phía Bắc, các tỉnh miền Đông Nam Bộ Tỉnh Điện Biên là địa phương có tỷ lệ hiện mắc HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (875), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (690), xếp thứ
3 là tỉnh Thái Nguyên (636) Phần lớn các tỉnh có số người nhiễm HIV cao là các tỉnh, thành phố có dân số nhiều và kinh tế phát triển, tuy nhiên một số tỉnh như Sơn La, Thái Nguyên có số lượng người nhiễm HIV cao có liên quan nhiều đến việc nghiện chích
ma túy [8] Xu hướng dịch HIV tiếp tục giảm qua các năm, tuy nhiên mỗi vùng, miền
có mức độ dịch HIV khác nhau
Về địa bàn phân bố dịch: Đến giữa năm 2015, tất cả các tỉnh, thành phố; 80,3%
số xã, phường, thị trấn và 98,9% số quận, huyện đã báo cáo có người nhiễm HIV [9] Phân loại theo giới tính: nam giới chiếm 67,6%, nữ giới chiếm 32,4% Các trường hợp nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 20 - 39 tuổi, chiếm khoảng 74,9% tổng số người nhiễm Độ tuổi nhiễm HIV có xu hướng tập trung vào nhóm tuổi 30 - 39 [8]
Phân bố người nhiễm HIV theo đường lây truyền: lây truyền qua đường tình dục ngày chiếm tỷ trọng cao trong khi lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm Báo cáo trong 3 tháng đầu năm 2014 cho thấy tỷ lệ người nhiễm HIV được xét nghiệm phát hiện lây truyền qua đường tình dục chiếm tới 48,2%, đường máu 36,8%, tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2% và có 13% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền [8] Số người nhiễm HIV phát hiện mới có xu hướng giảm trong 7 năm gần đây, tuy nhiên vẫn ở mức cao khoảng 12.000 - 14.000 ca mỗi năm [9]
Tỷ lệ người nhiễm HIV là người nghiện chích ma túy vẫn chiếm chủ yếu trong khi tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện là đối tượng tình dục khác giới có xu hướng gia tăng
Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam gồm nhiều hình thái dịch khác nhau trên toàn quốc
và vẫn đang tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao: người nghiện chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm Ngày càng xuất hiện nhiều người có nguy cơ nhiễm HIV do có quan hệ tình dục không
Trang 19an toàn với các đối tượng trên, đặc biệt là vợ và bạn tình của người nghiện chích ma túy Các trường hợp nhiễm HIVAIDS mới phát hiện và tử vong tính chung toàn quốc
có xu hướng giảm, tuy nhiên mức độ giảm của dịch chưa sâu, không ổn định và vẫn ở mức cao, tốc độ giảm của dịch đã chậm lại so với trước đây [8]
1.1.3 Tình hình chăm sóc và điều trị HIV/AIDS
1.1.3.1 Trên thế giới
Trong những năm gần đây, một lượng lớn nguồn lực (con người và tiền bạc) được sử dụng để cố gắng đạt được sự phổ cập điều trị HIV/AIDS - một phần của mục tiêu to lớn hơn là 15 triệu bệnh nhân được điều trị vào năm 2015 [62] Hầu hết các quốc gia đều muốn mở rộng tiếp cận điều trị và đặt ra cho mình mục tiêu là cung cấp điều trị ARV cho khoảng 80% bệnh nhân Với phạm vi điều trị toàn cầu hiện nay ở mức 65%, mục tiêu này chưa được đáp ứng trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, hiện có một số nước đã đạt được hoặc đang gần đạt được mục tiêu nói trên [51, 68]
Trong năm 2013, các khuyến cáo điều trị toàn cầu thay đổi – những người nhiễm HIV nên bắt đầu điều trị tại 500 tế bào CD4/mm3
– làm tăng số lượng người đủ điều kiện điều trị lên 9,2 triệu Khuyến cáo điều trị của WHO cho thấy không phải tất
cả các nước sẽ có thể điều trị HIV/AIDS khi lượng CD4 ở mức 500 tế bào/mm3, việc điều trị cho những bệnh nhân có số lượng CD4 là 350 tế bào/mm3 hoặc ít hơn hoặc bị nhiễm HIV tiến triển nên được ưu tiên điều trị [67]
Vào những năm đầu của thế kỷ 21, rất ít bệnh nhân ở các nước có thu nhập trung bình và thấp được tiếp cận điều trị HIV Nguyên nhân cốt lõi là do giá của các loại thuốc kháng vi rút (ARV) rất cao Tuy nhiên, trong năm 2001 các nhà sản xuất thuốc ở các nước đang phát triển đã bắt đầu sản xuất thuốc generic theo các điều khoản đặc biệt về luật thương mại quốc tế Việc cắt giảm phần lớn giá thuốc có ý nghĩa to lớn trong việc mở rộng phạm vi điều trị trên quy mô toàn cầu [26] Năm 2003, WHO đưa
ra mục tiêu đạt 3 triệu người ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình được điều trị thuốc kháng HIV vào năm 2005 tuy nhiên đến năm 2007 thì các chỉ tiêu đặt ra mới đạt được Số lượng bệnh nhân được điều trị tăng từ 400 nghìn người vào năm 2003 lên 1,3 triệu người trong năm 2005, trong đó vùng Sahara châu Phi tăng gấp 8 lần [64] Xem xét một số thành công đã đạt được, một mục tiêu trong năm 2006 đã được thiết lập cho việc tiếp cận sự phổ cập điều trị, phòng ngừa và chăm sóc HIV vào năm 2010 Tuy nhiên, UNAIDS, UNICEF và WHO thừa nhận rằng hầu hết các nước không đáp
Trang 20ứng được các mục tiêu năm 2010 là 80% số bệnh nhân được điều trị Trong năm 2011, cộng đồng quốc tế tiếp tục mục tiêu tiếp cận phổ cập nói trên Lần này, các nước cam kết đạt được tiếp cận phổ cập vào năm 2015
1.1.3.2 Tại Việt Nam
Chương trình điều trị bằng thuốc ARV miễn phí cho bệnh nhân HIV/AIDS được bắt đầu từ năm 2006 Hiện nay, toàn quốc có 312 phòng khám ngoại trú và 526 điểm cấp phát thuốc ARV tại các xã, phường; đang điều trị ARV tại 23 trại giam và 33 Trung tâm 06 Hiện có 95.752 bệnh nhân đang điều trị ARV, trong đó 91.156 người lớn và 4.596 trẻ em Tình trạng điều trị muộn đã được cải thiện với tỷ lệ CD4 < 100 tế bào/mm3 khi bắt đầu điều trị ARV giảm từ 51% của năm 2012 xuống còn 34,4% Tỷ lệ bệnh nhân đã điều trị ARV ít nhất 36 tháng có tải lượng HIV dưới 1.000 bản sao/ml là 95,1%, trong đó điều trị ARV bậc 1 là 92,9% Tình trạng HIV kháng thuốc ở mức độ thấp: tỷ lệ HIV kháng thuốc trên bệnh nhân điều trị ARV từ 36 tháng trở lên là 4,6%
Tính đến ngày 31/5/2015, 46 tỉnh, thành phố đã triển khai chương trình điều trị Methadone với 170 cơ sở, hiện điều trị cho 31.162 bệnh nhân Trong quý 1 năm 2015,
42 tỉnh, thành phố triển khai chương trình bơm kim tiêm, phân phát miễn phí trên 4,1 triệu bơm kim tiêm Chương trình phân phát bao cao su đã được triển khai tại 56 tỉnh, thành phố Số lượng bao cao su được phân phát miễn phí 3 tháng đầu năm 2015 là 1,8 triệu chiếc, chủ yếu là từ nguồn viện trợ của Quỹ Toàn cầu [9]
Phối hợp điều trị lao và HIV: 53 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban điều phối lao
và HIV Theo kết quả trong năm 2014, tỷ lệ bệnh nhân lao được xét nghiệm HIV đạt 72%, tỷ lệ HIV dương tính trong nhóm bệnh nhân lao là 5,2%, tỷ lệ bệnh nhân HIV đồng nhiễm lao được điều trị cả lao và HIV đạt 72%
Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con: Trong quý 1 năm 2015, số phụ nữ mang thai được xét nghiệm là 214.000 người và phát hiện nhiễm HIV là 404 người (0,19%) trong đó có 232 bà mẹ nhiễm HIV đã sinh con được điều trị dự phòng HIV từ
mẹ sang con Tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con trong số trẻ sinh từ mẹ nhiễm HIV được chẩn đoán sớm tình trạng nhiễm HIV năm 2014 là 3,2% (giảm từ 10,8% vào năm
2010 xuống còn 3,2% vào năm 2014) [9]
1.1.3.3 Chi phí điều trị HIV/AIDS
Để đạt được mục tiêu toàn cầu, ước tính hàng năm cần khoảng 22 - 24 tỉ USD
để phục vụ điều trị Năm 2011, tổng vốn đầu tư toàn cầu cho HIV/AIDS là khoảng 16,8
Trang 21tỉ USD, thiếu 30% so với ước tính [51] Tuy nhiên đây vẫn là một sự cải tiến tích cực
so với năm 2010 khi kinh phí phục vụ điều trị giảm do suy thoái kinh tế [50] Quỹ toàn cầu cung cấp điều trị ARV cho 2,5 triệu người trên toàn thế giới chỉ nhận được 11,3 tỉ USD cho 3 năm vào năm 2010 so với nhu cầu được tính toán là 20 tỷ USD cho giai đoạn này [17] Kinh phí từ chính phủ Mỹ thông qua PEPFAR cũng giảm đi, ngân sách cho ARV giảm khoảng 17% Tỷ lệ các nước mà các chương trình điều trị ARV bị ảnh hưởng do giảm tài trợ từ bên ngoài tăng từ 11% năm 2008 lên 21% năm 2009 [48]
Quỹ toàn cầu cho HIV/AIDS tiếp tục giảm xuống trong năm 2011 Sự cải thiện trong ngân sách phục vụ phòng chống HIV/AIDS trên toàn cầu phần lớn là kết quả của việc nhiều nước tự tăng cường đầu tư nội địa cho phòng chống và điều trị HIV/AIDS [51] Ngân sách chi tiêu nội địa ở các nước thu nhập trung bình và thấp cho HIV/AIDS tăng từ 3,9 tỉ USD năm 2005 lên gần 8,6 tỉ USD trong năm 2011 – lần đầu tiên nguồn ngân sách trong nước cao hơn nguồn ngân sách đến từ quốc tế cho việc đối phó với HIV/AIDS [73] Nhìn chung, trong tổng ngân sách HIV/AIDS toàn cầu, nguồn ngân sách cho phòng bệnh, công tác chăm sóc và điều trị chiếm tỷ trọng lớn nhất [46]
Đông Âu và Trung Á là những khu vực bị ảnh hưởng lớn trước tác động của việc giảm tài trợ ngân sách từ bên ngoài và cuộc khủng hoảng kinh tế Ít hơn một phần
tư số người cần điều trị HIV/AIDS trong các khu vực này nhận được điều trị và ngân sách y tế của chính phủ cho chương trình điều trị HIV/AIDS bị giảm mạnh [71]
Theo số liệu từ AVERTing HIV and AIDS, trong năm 2013, chi phí trung bình điều trị ARV theo PĐĐT bậc 1 (first-line), bậc 2 (second-line) và bậc 3 (third-line) ở các nước có thu nhập trung bình và thấp lần lượt là 115 USD, 330 USD và hơn 1.500 USD mỗi bệnh nhân một năm (PPY) Số liệu từ UNAIDS năm 2013 cho thấy chi phí của phác đồ bậc 1 ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp đã giảm xuống còn
140 USD PPY [53]
Chi phí điều trị cho các bệnh nhân HIV/AIDS đã giảm đi rất nhiều so với con số
là 10.000 – 15.000 USD PPY vào cuối thế kỷ 20 nhờ những đột phá trong việc cung cấp các thuốc generic điều trị HIV/AIDS giá rẻ Tuy nhiên, hiện nay nhiều quốc gia thu nhập trung bình ở châu Á, Mỹ Latin, Đông Âu và Trung Á vẫn đang phải trả chi phí cao hơn do không có khả năng tiếp cận với các thuốc generic giá rẻ nói trên [72] Theo các báo cáo từ UNAIDS, chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia trên thế giới được thể hiện ở Bảng 1.1, 1.2, 1.3 và 1.4
Trang 22Bảng 1.1 Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở châu Á
và châu Đại Dương
- Trong các thành phần chi phí, chi phí thuốc ARV luôn chiếm tỉ lệ cao nhất, tăng từ 35,1% năm 2011 lên 37,6% năm 2012
3
Việt Nam
[59]
- Chi phí cho mỗi bệnh nhân hàng năm là 469 USD
- Chi phí dành cho chăm sóc và điều trị chiếm 27,5% tổng chi phí cho HIV/AIDS, thấp hơn chi phí phòng bệnh (32,4%)
- Chi phí điều trị ARV cao nhất chiếm 36,9% tổng chi phí chăm sóc và điều trị, nhiễm trùng cơ hội 21,2% và chi phí chăm sóc ở nhà là 26,7%
45 người năm 2010) Năm 2012, ngân sách dành cho những người sống chung với HIV là 0,00 USD
Trang 232010 là 488,72 USD và năm 2011 tăng lên 675,4 USD
- Ở Thái Lan, ngân sách dành cho chăm sóc và điều trị là chủ yếu, chiếm tới 73,4% trong năm 2010 và 73,18% trong năm 2011 Chi phí điều trị ARV chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các loại chi phí, chiếm 56,6% tổng chi phí chăm sóc và điều trị; dự phòng nhiễm trùng cơ hội
là 3,9% và điều trị nhiễm trùng cơ hội là 0%
Bảng 1.2 Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở châu Âu và châu Mĩ
1
Jamaica
[28]
- Hàng năm, chi phí dành cho 1 bệnh nhân ước tính khoảng 674 USD
- Chi phí dành cho chăm sóc và điều trị thấp hơn chi phí phòng bệnh nhưng tăng mạnh từ 18,21% năm 2011/12 lên 28,76% năm 2012/13 Chi phí cho điều trị ART chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,39% tổng chi phí chăm sóc và điều trị năm 2012/13
- Chi phí điều trị ARV cao nhất, chiếm 40,85%, điều trị nhiễm trùng cơ hội chiếm 23,53% tổng chi phí chăm sóc và điều trị Chi phí điều trị HIV/AIDS khoảng 276,5 USD PPY Trung bình, chi phí của PĐĐT bậc 1 là 234 USD và PĐĐT bậc 2 là 1.305 USD PPY
là 1.216 USD, bệnh nhân mắc kèm lao là 223 USD, dinh dưỡng hỗ trợ
3 USD, dịch vụ vận chuyển 111 USD, cotrimoxazole 3 USD, điều trị nhiễm trùng cơ hội 510 USD
Trang 24Bảng 1.3 Chi phí điều trị HIV/AIDS của một số quốc gia ở miền Nam châu Phi
Trang 25Bảng 1.4 Chi phí điều trị HIV/AIDS của 1 số quốc gia ở phía Đông và Tây châu Phi
- Chi phí trung bình cho PĐĐT bậc 1 là 283,04 USD PPY, PĐĐT bậc
2 là 1.447,32 USD PPY năm 2006-07 Năm 2008-09, chi phí trung bình cho PĐĐT bậc 1 là 122,37 USD và bậc 2 là 1.739,80 USD PPY (chỉ tính tiền thuốc ARV)
[18]
- Chăm sóc và điều trị chiếm 31,43% tổng chi phí, phòng bệnh chiếm 17,02% Trong chi phí chăm sóc và điều trị, chi phí cho ARV chiếm 14,3%, các chất dinh dưỡng bổ sung chiếm 21,9%
- Chi phí từ phía hộ gia đình: chi phí nhập viện trực tiếp là 120 USD PPY, cho ARV là 41,5 USD PPY, cho những thuốc khác là 47 USD PPY và cho các chất dinh dưỡng là 113,4 USD PPY
5 Liberia
[32]
- Trong chi phí dành cho chăm sóc và điều trị, chi phí cho ARV chiếm 60,1% năm 2010/11 và 55% năm 2011/12; chi phí cho dinh dưỡng hỗ trợ ART khoảng 10,5% tổng chi phí
Trang 266 Liberia
[23]
- Chi phí dành cho phòng bệnh cao hơn nhiều so với chi phí chăm sóc
và điều trị, lần lượt là 27% và 12% ở cả 2 khoảng thời gian 2010/11 và 2011/12 Trong chi phí chăm sóc và điều trị, chi phí ART chiếm phần lớn với 60,1% trong khoảng thời gian 2010/11 và 55% trong khoảng 2011/12
- Mỗi năm, bệnh nhân ngoại trú khám 7 lần Chi phí bình quân mỗi năm không tính ARV là 62,35 USD Chi phí cho xét nghiệm và hướng dẫn là 8,38 USD mỗi lần Về phía hộ gia đình, bệnh nhân ngoại trú mất 5,6 USD năm 2009/10, 5,8 USD năm 2010/11 và 6,4 USD năm 2011/12
[41]
- Chi phí bình quân cho mỗi bệnh nhân HIV/AIDS là khoảng 686 USD trong năm 2007 và 846 USD trong năm 2008 Trong chi phí dành cho chăm sóc và điều trị, chi phí cho ARV chiếm 62,2% trong năm 2007
và giảm còn 31,1% trong năm 2008
Bảng 1.5 Chi phí điều trị HIV/AIDS ước tính cho từng đối tượng của PEPFAR
(USD/năm)
Tổng chi phí (USD/năm)
Trang 27Hình 1.2 Thành phần chi phí điều trị HIV/AIDS của PEPFAR
Theo số liệu từ PEPFAR [39], Bảng 1.5 mô tả chi phí điều trị HIV/AIDS và chi phí tổng ước tính cho từng đối tượng bệnh nhân cụ thể, dựa trên số liệu từ 12 quốc gia Xét về thành phần chi phí (Hình 1.2), chi phí dành cho thuốc ARV chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42% tổng chi phí Chi phí định kỳ thường xuyên không phải ARV (bao gồm lương nhân viên, phòng thí nghiệm và vật tư lâm sàng, thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội, vận chuyển, nhà cửa, các dịch vụ ký kết) chiếm 26% Chi phí quản lý chương trình
và hỗ trợ trung tâm chiếm 27% Chi phí đầu tư tăng cường hệ thống y tế (bao gồm hàng đệm ARV – để hỗ trợ chuỗi cung ứng thuốc đáng tin cậy, cất trữ khi thiếu hàng
và ổn định giá cả, xây dựng và cải tạo nhà cửa, phòng thí nghiệm và thiết bị lâm sàng, đào tạo trong dịch vụ của các nhà cung cấp ARV) chiếm 5%
Mỗi thuốc điều trị HIV/AIDS có giá khác nhau nên việc sử dụng các PĐĐT khác nhau cho từng bệnh nhân sẽ có chi phí điều trị khác nhau, kể cả trong từng bậc Theo số liệu từ Medecins Sans Frontieres (MST) năm 2011, đa số bệnh nhân dùng PĐĐT bậc 1 ở các nước thu nhập trung bình và thấp sử dụng phác đồ 3TC/d4T/NVP Nhờ sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, phác đồ này có giá 61 USD PPY Trong khi
đó, một PĐĐT bậc 1 khác kết hợp TDF+3TC+EFV có chi phí 173 USD PPY [25]
Chi phí thuốc thuộc PĐĐT bậc 1 được khuyến cáo hiện nay là dưới 200 USD PPY: từ 186 USD PPY cho sự kết hợp của tenofovir + emtracitabine + efavirent cho đến 112 USD PPY cho phác đồ kết hợp 2 thuốc Chi phí trung bình cho PĐĐT bậc 1
Trang 28năm 2011 là 145 USD PPY trong khi đó, chi phí cho các thuốc thuộc PĐĐT bậc 2 cao hơn đáng kể, khoảng 450 USD PPY và rất khác nhau giữa các quốc gia Chi phí thêm vào cho việc giám sát phòng thí nghiệm thậm chí còn có thể cao hơn chi phí thuốc, trung bình 220 USD [63]
Phác đồ điều trị bậc 2 AZT/3TC+ATVr có chi phí là 442 USD PPY Trong khi
đó, phác đồ bậc 3 tiềm năng RAL+DRVr+ETV với chi phí tăng vọt lên 2.766 USD PPY ở châu Phi và các nước kém phát triển trong khi ở các quốc gia thu nhập trung bình, chi phí cho phác đồ bậc 3 lên đến 5.870 USD PPY cho phác đồ có raltegravir và 6.000 USD PPY cho phác đồ có darunavir Ngoài ra, để đảm bảo giá thuốc không vượt trần, The Clinton Health Access Initiative (CHAI) cung cấp các bảng giá thuốc trần để
hỗ trợ cho chính phủ các nước mở rộng dịch vụ chăm sóc và điều trị chất lượng cao cho các bệnh nhân HIV/AIDS [25]
Tại Việt Nam, một nghiên cứu phân tích chi phí điều trị HIV/AIDS cho các bệnh nhân ngoại trú năm 2011 ở bệnh viện Bạch Mai [11] cho thấy: Tổng chi phí điều trị bình quân 1 năm của 1 bệnh nhân là 612 USD, bao gồm:
+ Từ phía người cung cấp dịch vụ, tổng chi phí điều trị cho một bệnh nhân là
459 USD PPY trong đó chi phí dành cho thuốc ARV chiếm 42,1% tổng chi phí, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh chiếm 26,2% Chi phí điều trị của PĐĐT bậc 1 và bậc 2 lần lượt là 361 USD và 1.346 USD PPY
+ Từ phía bệnh nhân và gia đình, mỗi năm bệnh nhân và người nhà phải trả thêm 153 USD trong đó 48,9% là chi phí đi lại và 24,4% là chi phí cơ hội
Một số liệu khác từ UNAIDS năm 2013 cho thấy, một người đàn ông sử dụng phác đồ điều trị bậc 1 có chi phí là 98 USD PPY cho biết rằng mình có thể tự chi trả số tiền này nếu điều trị HIV/AIDS không còn miễn phí Tuy nhiên, điều trị ARV là điều trị suốt đời nên ông không chắc chắn rằng ông có thể làm việc đến khi nào và có tự chi trả được không nếu chuyển sang dùng phác đồ bậc 2 [76]
1.1.4 Gánh nặng chi phí điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam
Nguồn kinh phí viện trợ từ nước ngoài bị cắt giảm nghiêm trọng trong thời gian tới Nhiều nhà tài trợ đã dừng viện trợ cho phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam Một
số nhà tài trợ khác cũng đang giảm nhanh quy mô và sẽ dừng viện trợ trong thời gian ngắn sắp tới (Quỹ Toàn cầu viện trợ đến hết 2017, PEPFAR viện trợ đến hết 2018) Nguồn Chương trình mục tiêu quốc gia cho phòng chống HIV/AIDS cũng cắt giảm,
Trang 29không ổn định: từ 245 tỷ năm 2013, cắt 2/3 xuống còn 83 tỷ năm 2014 và năm 2015 được bố trí 120 tỷ, tăng không đáng kể [9]
Trong khi nguồn lực suy giảm thì các chỉ tiêu phòng, chống HIV/AIDS vẫn cần duy trì tăng cao (điều trị Methdone tăng từ 31.000 bệnh nhân lên 80.000 bệnh vào năm
2015 và tiếp tục tăng qua các năm) Nhu cầu điều trị ARV đến năm 2020 đạt 90% người nhiễm HIV được phát hiện Nếu không đủ kinh phí, sẽ dẫn thiếu hụt các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS, cả dự phòng và điều trị, có nguy cơ dẫn đến việc dịch HIV/AIDS bùng phát trở lại, với tỷ lệ kháng thuốc cao và chi phí điều trị sẽ tăng cao nhiều lần so với hiện nay [9]
Một mô hình ước tính kinh phí BHYT chi trả cho điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam đã được tiến hành nhằm đảm bảo nguồn tài chính bền vững cho hoạt động phòng chống HIV/AIDS Theo ước tính, đến năm 2020, hơn 190 nghìn người điều trị ARV trong đó khoảng 150 nghìn người có BHYT Với độ bao phủ của BHYT tăng từ 40% năm 2015 lên 80% năm 2010, dự kiến kinh phí BHYT chi trả cho điều trị HIV/AIDS tương ứng tăng từ 267 tỉ đồng lên 813 tỉ đồng trong đó chi phí cho khám, xét nghiệm
và thuốc ARV chiếm khoảng 94% Tổng chi phí cho điều trị HIV/AIDS được dự báo vào khoảng 919 tỉ đồng trong năm 2015 và tăng lên 1.566 tỉ đồng ở năm 2020 với kinh phí từ BHYT chiếm tỷ trọng lớn nhất [9]
Hiện nay, HIV/AIDS xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố với 99,8% số quận,huyện và trên 80,3% số xã, phường Nhiều khó khăn vào thách thức khác như công tác thông tin giáo dục tuyền thông còn chưa hiệu quả, những hạn chế trong tư vấn xét nghiệm HIV, thị trường cung ứng thuốc còn kém… cùng với gánh nặng chi phí điều trị đang là thách thức lớn cho chính phủ và người dân trong thời gian tới
1.2 Điều trị ngoại trú HIV/AIDS
1.2.1 Quá trình điều trị ngoại trú cho bệnh nhân HIV/AIDS
Điều trị bằng thuốc ARV cho các bệnh nhân HIV/AIDS chủ yếu là điều trị ngoại trú Bệnh nhân chỉ được điều trị bằng thuốc khi đủ tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm Bệnh nhân nhiễm HIV được làm xét nghiệm CD4 và các xét nghiệm cơ bản, được dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội miễn phí; được điều trị bằng các phác đồ điều trị miễn phí và phải điều trị ARV suốt đời Quá trình điều trị như sau:
Tiếp nhận bệnh nhân → Đánh giá tiêu chuẩn điều trị ARV → Đăng ký điều trị ARV → Tập huấn điều trị → Đánh giá sẵn sàng điều trị và xét duyệt điều trị cho bệnh nhân → Bắt đầu điều trị theo phác đồ, hướng dẫn cách sử dụng thuốc, lịch cấp thuốc,
Trang 30lịch tái khám để đảm bảo bệnh nhân tuân thủ điều trị và biết cách xử lý khi gặp khó khăn → Theo dõi các bệnh nhân được điều trị: theo dõi các tiến triển lâm sàng, xét nghiệm để theo dõi tác dụng phụ và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân [1] Khi bệnh tiến triển nặng hoặc bị biến chứng được chuyển vào điều trị nội trú
Hình 1.3 Quá trình điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS
1.2.2 Các phác đồ điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam
1.2.2.1 Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV
Bắt đầu điều trị ARV đối với các bệnh nhân sau:
- Những người nhiễm HIV có số lượng tế bào CD4 ≤ 350 TB/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng
- Những người nhiễm HIV ở giai đoạn lâm sàng 3 và 4 không phụ thuộc số lượng tế bào CD4 [4, 6]
1.2.2.2 Các loại thuốc điều trị HIV/AIDS
Bảng 1.6 Các thuốc ARV điều trị HIV/AIDS theo từng nhóm
Nhóm ức chế men sao chép ngược
Nhóm ức chế men sao chép ngược
cấu trúc không phải là nucleoside
(NNRTI)
efavirenz (EFV), etravirine (ETV), nevirapine
(NVP)
Trang 31Nhóm ức chế men protease (PI)
atazanavir + ritonavir (ATV/r), darunavir + ritonavir (DRV/r), fos-amprenavir + ritonavir (FPV/r), indinavir + ritonavir (IDV/r), lopinavir/ritonavir (LPV/r)
1.2.2.3 Các phác đồ điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam [4, 6]
Bảng 1.7 Phác đồ điều trị bậc 1 và phác đồ điều trị bậc 2 cho từng đối tượng
AZT + 3TC + EFV hoặc NPV
LPV/r hoặc ATV/r phối hợp với:
truyền sang con: AZT + 3TC + LPV/r
- Trẻ < 24 tháng tuổi chưa tiếp xúc hoặc không rõ đã tiếp xúc hay chưa với NVP
hoặc EFV: AZT + 3TC + NVP
- AZT + 3TC/ddI + LPV/r khi
PĐ bậc 1 dùng ABC + 3TC + NVP/EFV
- ddI + EFV/NPV + LPV/r
khi PĐ bậc 1 dùng AZT/d4T + 3TC + ABC
PNCT
- Phác đồ ưu tiên: AZT + 3TC + NVP
- Phác đồ thay thế: Không sử dụng được AZT thì thay bằng d4T hoặc ABC
Không sử dụng được NVP thì dùng: AZT + 3TC + EFV (thai > 12 tuần) / AZT + 3TC + LPV/r / AZT + 3TC + ABC
Kèm HBV - Sử dụng phác đồ: TDF + 3TC + EFV
Trang 32Về phác đồ điều trị bậc 3: Được áp dụng khi PĐĐT bậc 2 thất bại, bao gồm các
loại thuốc mới có khả năng chống HIV hoạt động, ít có nguy cơ kháng chéo với các phác đồ đã dùng trước đó, chẳng hạn như thuốc ức chế integrase và thế hệ thứ hai của các nhóm NNRTI và PI [66, 69] Có rất ít các nghiên cứu về thuốc mới được sử dụng trong PĐĐT bâc 3 Dữ liệu trong một nghiên cứu thuần tập cho thấy tỷ lệ tử vong cao đối với những bệnh nhân mà hai PĐĐT bậc 1 và 2 đã thất bại [14] Một số thuốc dùng trong PĐĐT bậc 3: darunavir (DRV), ritonavir (RTV), raltegravir (RAL), etravirine (ETV) ETV và RAL không được chấp thuận cho sử dụng ở những người ít hơn 16 tuổi Có rất ít dữ liệu về việc sử dụng những loại thuốc mới ở trẻ em và phụ nữ có thai, nhất là các thông tin về dược động học và độ an toàn [66, 69]
1.3 Chi phí và phân tích chi phí
1.3.1 Một số khái niệm
Chi phí là giá trị hàng hóa, dịch vụ được xác định thông qua việc sử dụng nguồn lực theo các cách khác nhau Nói cách khác, chi phí là giá trị của nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ [3]
Trong lĩnh vực y tế, chi phí là giá trị của nguồn lực được sử dụng để tạo ra một dịch vụ y tế cụ thể hoặc tất cả các dịch vụ (như một chương trình y tế) [3]
1.3.2 Phân tích chi phí y tế
Phân tích chi phí là một trong những công cụ đánh giá kinh tế y tế và nghiên cứu trong kinh tế học, quan tâm đến sự phân bổ chi phí trong hệ thống, khu vực hay can thiệp [13] Nguồn lực nói chung và nguồn lực dành cho y tế nói riêng đều khan hiếm đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Nguồn lực có thể là tiền bạc, trang thiết
bị, nhân lực… được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau trong đó có mục đích tăng cường và bảo vệ sức khỏe cho mọi người dân Vấn đề cốt lõi và quan trọng nhất không những của các nhà hoạch địch chính sách mà còn của toàn thể các cán bộ, nhân viên ngành y tế đó là sử dụng nguồn lực hiện có một cách hiệu quả và tiết kiệm nhất [3]
Trước bối cảnh trong thời gian tới các nguồn viện trợ từ quốc tế bị cắt giảm nhanh, cần sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực sẵn có nhằm đảm bảo công tác phòng,
Trang 33chống HIV/AIDS Việc phân tích chi phí đầy đủ và chi tiết không những giúp định rõ chi phí của dịch vụ y tế để từ đó xác định các mức giá phù hợp mà còn góp phần hỗ trợ giám sát việc thực hiện kế hoạch, chi tiêu ngân sách, giám sát hiệu quả dịch vụ được cung cấp, phát hiện các chi phí tăng thêm để kịp thời điều chỉnh và lựa chọn phương thức cung ứng phù hợp và hiệu quả nhất [2, 3]
- Từ chính phủ: các nguồn lực mà chính phủ và các nhà tài trợ phải chi trả để
phát hiện, chăm sóc, điều trị và quản lý các bệnh nhân HIV/AIDS
- Bệnh nhân và gia đình: bao gồm các khoản chi tiêu tự túc từ phía bệnh nhân và
người nhà như chi phí thuốc, xét nghiệm, bệnh nhân mất hoặc giảm thu nhập do điều trị, chi phí đi lại, vận chuyển, ăn ở… [3]
1.3.2.2 Các phương pháp đo lường chi phí bệnh
Có 4 phương pháp để đo lường chi phí bệnh tật: (1) Phương pháp vốn con người (Human Capital Method), (2) Phương pháp đo lường mức độ sẵn sàng chi trả (Willing
To Pay Method), (3) Chức năng sản xuất (Production Function) và (4) Phương pháp chi phí ma sát (Friction Cost Method) [60] Trong đó, phương pháp vốn con người dễ
sử dụng vì dữ liệu về thu nhập mất đi có thể dễ dàng được thu thập lại và được sử dụng rộng rãi nhất so với các phương pháp khác
Việc lựa chọn khung thời gian nghiên cứu phù hợp và điều chỉnh để làm giảm thiểu ảnh hưởng của thời gian đối với chi phí có vai trò không nhỏ khi tiến hành phân tính chi phí [3] Xét về khía cạnh khung thời gian, có 3 phương pháp để ước tính chi phí bệnh [78]: (1) phương pháp dựa trên sự phổ biến (Prevalence-based method), (2)
Trang 34phương pháp dựa trên tỷ lệ mắc bệnh (Incidence-based method) và (3) phương pháp chi phí hiện thời (Present cost method), trong đó (1) là cách tiếp cận phổ biến nhất
1.3.3 Phân loại chi phí
Việc phân loại các thành phần chi phí là rất cần thiết khi ước tính cho một chương trình y tế Các thành phần của chi phí có thể phân chia theo nhiều cách, trong
đó một hệ thống phân loại chi phí tốt phụ thuộc vào nhu cầu của một tình huống hoặc một vấn đề cụ thể [13]
Bảng 1.8 Phân loại chi phí theo nội dung và nguồn gốc chi phí
* Phân loại theo nội dung chi phí [42]
Chi phí trực tiếp không
phải y tế: (direct
non-medical cost)
Là chi phí mà bệnh nhân và người nhà
có liên quan trực tiếp đến điều trị nhưng không phải chi phí cho y tế
Chi phí đi lại, chi phí chỗ ở…
Chi phí gián tiếp:
(indirect cost)
Là chi phí gián tiếp có liên quan, phát sinh từ việc mất năng suất lao động do bệnh tật hoặc tử vong
Chi phí do bệnh nhân hoặc người chăm sóc mất khả năng lao động
Chi phí vô hình:
(intangible cost)
Gồm các chi phí do đau đớn, lo âu, mệt mỏi vì một bệnh nào
đó gây ra hoặc khi điều trị bệnh
* Phân loại theo nguồn gốc chi phí [3, 13]
Chi phí trực tiếp
Là những chi phí phát sinh cho hệ thồng y tế, cho cộng đồng và gia đình bệnh nhân trong việc giải quyết trực tiếp bệnh tật
* Chi phí trực tiếp dành cho điều trị
Chi phí thuốc, xét nghiệm, giường bệnh…
* Chi phí trực tiếp không cho điều trị
Chi phí đi lại, vận chuyển, ăn ở…
Trang 35Chi phí gián tiếp
Là những chi phí thực tế không phải chi trả, do mắc bệnh mà bệnh nhân, gia đình và xã hội phải gánh chịu
Là giá trị mất đi khả năng sản xuất do nghỉ việc, mất khả năng lao động, do tử vong sớm mà có liên quan đến bệnh và điều trị bệnh
Chi phí do mất thu nhập khi nghỉ làm…
Tùy vào mục đích khi phân tích và thiết kế nghiên cứu mà lựa chọn cách phân loại chi phí sao cho phù hợp nhất, đảm bảo thuận tiện trong việc liệt kê các mục chi phí, tránh bỏ sót và trùng lặp các thành phần
1.4 Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương là một trong những trung tâm hàng đầu trong cả nước về công tác phòng và điều trị HIV/AIDS với đội ngũ cán
bộ, nhân viên đông đảo có tay nghề cao Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp trong phòng, chống HIV/AIDS thời gian qua mà các tiêu chí đã đặt ra trong từng năm đều đạt kế hoạch, thậm chí còn vượt chỉ tiêu, đưa Hải Dương trở thành 1 trong 10 tỉnh có
số lượng người nhiễm ít nhất
Hàng năm, trung tâm đều đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS thông qua các cuộc thi, các buổi tọa đàm thu hút nhiều thành viên tham gia Trung tâm cũng phối hợp với Đài Phát thanh truyền hình, báo Hải Dương mở các chuyên mục tuyên truyền trên đài, báo, qua đó góp phần hướng dẫn thay đổi hành vi của cộng đồng, hướng dẫn cách phòng tránh lây nhiễm HIV, nhất là đối với các đối tượng có nguy cơ cao Bên cạnh đó, trung tâm cũng đẩy mạnh tuyên truyền chống kỳ thị phân biệt đối xử với người có HIV, tạo điều kiện cho người nhiễm HIV được sống hòa nhập với cộng đồng Hiện nay, toàn trung tâm có hơn 60 bác sĩ, y tá, cán bộ chuyên môn dầy dặn kinh nghiệm cùng với nhiều máy móc, trang thiết bị hiện đại, tiên tiến Trong năm 2015, trung tâm đã điều trị ARV cho 871 bệnh nhân ngoại trú trong đó
có 811 bệnh nhân là người lớn và 60 trẻ em
Với thực trạng nguồn ngân sách dành cho phòng, chống HIV/AIDS từ quốc tế đang bị cắt giảm nghiêm trọng, đồng thời tại Việt Nam mới chỉ có rất ít các nghiên cứu
về chi phí điều trị cho các bệnh nhân HIV/AIDS, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mong muốn mang lại một cái nhìn cụ thể hơn về hoàn cảnh sống, về điều kiện kinh
Trang 36tế và khả năng chi trả của các bệnh nhân HIV/AIDS và gia đình, đồng thời đưa ra chi phí điều trị cho một bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú hiện đang điều trị tại một trong những trung tâm phòng chống HIV/AIDS hàng đầu tại Việt Nam để phần nào giúp chính phủ có những giúp đỡ thiết thực hơn cho các bệnh nhân, tính toán và đưa ra nguồn ngân sách cho phòng và điều trị HIV/AIDS khi quỹ hỗ trợ quốc tế cắt giảm trong thời gian tới
Trang 37CHƯƠNG II - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân HIV/AIDS được quản lý và theo dõi điều trị ngoại trú tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương năm 2015
Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân: Chỉ lựa chọn các bệnh nhân có sử dụng thuốc ARV để điều trị HIV/AIDS trong năm 2015
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thuộc loại nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp hồi cứu
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, kỹ thuật chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
- Để thu thập thông tin về chi phí từ phía chính phủ và trung tâm phòng chống
HIV/AIDS: Hồi cứu tất cả các báo cáo có liên quan đến chi phí điều trị cho các bệnh
nhân HIV/AIDS tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương (bao gồm: Báo
cáo chi tiết kinh phí hoạt động năm 2015, Báo cáo kiểm kê tài sản cố định năm 2015, Báo cáo tổng hợp nhập – xuất – tồn năm 2015 )
Lấy bệnh án của các bệnh nhân HIV/AIDS tham gia điều trị ngoại trú tại trung tâm trong năm 2015 để hồi cứu, thu thập số liệu theo bộ công cụ ở Phụ lục 3 Ngoài ra, thu thập nguồn chi phí từ bảo hiểm từ phòng thu tiền và thanh toán viện phí
- Để thu thập thông tin về chi phí điều trị HIV/AIDS từ phía bệnh nhân và gia
đình và đặc điểm bệnh nhân: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân
HIV/AIDS với bộ câu hỏi ở Phụ lục 1 Bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên một nghiên cứu tương tự trước đó đã tiến hành tại Bệnh viện Bạch Mai trong năm 2011, cùng với một số khảo sát thí điểm ban đầu để đảm bảo tính lôgic của bộ câu hỏi, giúp thu thập số liệu một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất
Bộ câu hỏi được thiết kế gồm 4 phần chính Đầu tiên thu thập một số thông tin
cơ bản của bệnh nhân để bước đầu bệnh nhân quen và nhập cuộc phỏng vấn Phần tiếp
Trang 38theo là nội dung chính bao gồm khả năng kinh tế của gia đình bệnh nhân và chi phí điều trị mà bệnh nhân phải tự mình chi trả Ba câu hỏi khá nhạy cảm được đặt vào phần cuối của bộ câu hỏi, lúc này khả năng bệnh nhân sẵn sàng chia sẻ và cởi mở là cao nhất, sau khi đã hiểu, quen và có cảm giác tin tưởng với cuộc điều tra
Quy trình thu thập số liệu: Đầu tiên, bệnh nhân sẽ được phỏng vấn trước để lấy
một số thông tin cơ bản (mã bệnh nhân, tuổi…) và xác định 1 phần chi phi mà họ phải
tự bỏ ra để điều trị (thuốc bổ, chi phí đi lại, mất lương do nghỉ làm…) Phần chi phí còn lại mà bệnh nhân phải tự chi trả (thuốc men, xét nghiệm…) được xác định sau khi lấy thông tin từ Bảo hiểm y tế qua Phiếu thu thập từ bảo hiểm y tế ở Phụ lục 2 Sau đó tiến hành đối chiếu mã bệnh nhân để thu thập thông tin từ bệnh án Tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương, bệnh nhân hầu như tập trung tới khám và lĩnh thuốc vào buổi sáng nên phần phỏng vấn bệnh nhân được tiến hành vào khoảng thời gian này Buổi chiều hầu như không có bệnh nhân, số liệu từ phía phòng Bảo hiểm
y tế và phòng lưu trữ bệnh án được thu thập Chi phí từ phía Trung tâm được thu thập xen kẽ trong khoảng thời gian rảnh rỗi
Cỡ mẫu bệnh nhân tham gia phỏng vấn là 308 bệnh nhân (là các bệnh nhân đến khám và lĩnh thuốc ARV đồng ý phỏng vấn) trên tổng số 871 bệnh nhân điều trị ARV trong năm 2015
Tỷ giá hối đoái được lấy ở ngày đầu tiên thu thập số liệu (1 USD = 22.510,25431 đồng)
2.2.3 Các loại chi phí ở Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
Dựa trên mục đích nghiên cứu, mối quan hệ của chi phí, đối tượng chịu chi phí
và chức năng của chi phí, chi phí điều trị của bệnh nhân HIV/AIDS ngoại trú được phân thành 2 nhóm chính là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp dưới hai góc độ đánh giá từ phía người cung cấp dịch vụ và từ phía bệnh nhân và gia đình Cụ thể như sau:
► Chi phí điều trị ngoại trú từ phía chính phủ và Trung tâm phòng chống
HIV/AIDS tỉnh Hải Dương: là các chi phí trực tiếp dành cho y tế, bao gồm các chi
phí chẩn đoán, điều trị, quản lý và theo dõi (không bao gồm phục hồi chức năng) trong điều trị HIV/AIDS:
+ Nguồn nhân lực y tế trực tiếp tham gia điều trị (thanh toán cá nhân): là chi
phí lao động của các cán bộ tham gia chăm sóc và điều trị các bệnh nhân HIV/AIDS
Trang 39(bác sĩ, tư vấn viên, y tá, cán bộ phát thuốc ) tại phòng khám ngoại trú, của cán bộ tại các khoa Cận lâm sàng trực tiếp tiến hành các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh cho bệnh nhân HIV/AIDS Bao gồm: tiền lương, tiền trả cho lao động theo hợp đồng, phụ cấp lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp…
+ Tài sản cố định trực tiếp trong quá trình điều trị: là các tài sản cố định hỗ trợ
phục vụ công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS (nhà cửa, điều hòa nhiệt độ, tủ sắt đựng hồ sơ bệnh án, máy móc để làm xét nghiệm )
+ Chi phí nghiệp vụ chuyên môn (vận hành): thanh toán dịch vụ công cộng
(tiền điện, nước…), vật tư văn phòng; thông tin, tuyên truyền, liên lạc; công tác phí, chi phí thuê mướn, sửa chữa tài sản, chi phí nghiệp vụ chuyên môn từng ngành…
+ Chi phí thuốc ARV và dự phòng/điều trị nhiễm trùng cơ hội: là các loại
thuốc ARV bậc 1 và bậc 2 miễn phí (lamivudine, stavudine, ritonavir, abacavir ), các loại thuốc dự phòng/điều trị nhiễm trùng cơ hội miễn phí (cotrimoxazole, isoniazid, ketoconazole, fluconazole, itraconazole ) Tính toán cho mỗi bệnh nhân bằng cách lấy
số lượng thuốc từ bệnh án nhân với đơn giá từng thuốc
+ Chi phí xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh: là các xét nghiệm và chẩn đoán
hình ảnh miễn phí (xét nghiệm CD4) và chi phí của các xét nghiệm được Bảo hiểm y tế chi trả Tính toán bằng cách lấy số lượng các xét nghiệm nhân với đơn giá
+ Chi phí thuốc Bảo hiểm y tế: Chi phí các thuốc mà Bảo hiểm y tế chi trả cho
bệnh nhân có thẻ bảo hiểm Tính toán bằng cách lấy số lượng thuốc nhân với dơn giá thuốc và nhân với phần trăm bảo hiểm chi trả
+ Chi phí khám bệnh: Chi phí khám mà Bảo hiểm y tế chi trả cho những bệnh
nhân có thẻ bảo hiểm Tính toán bằng cách lấy chi phí khám nhân với phần trăm bảo hiểm chi trả
► Chi phí điều trị ngoại trú từ phía bệnh nhân và gia đình: là những chi phí
do bệnh nhân và gia đình phải tự chi trả trong quá trình chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú, bao gồm:
+ Chi phí trực tiếp dành cho y tế: là các chi phí về thuốc, xét nghiệm và chẩn
đoán hình ảnh, vật tư tiêu hao không được hỗ trợ miễn phí phải tự chi trả Chi phí thuốc
tự chi trả bằng tổng chi phí các thuốc bệnh nhân phải mua ngoài và phần chi phí các thuốc mà Bảo hiểm y tế không chi trả
Trang 40+ Chi phí trực tiếp không dành cho y tế: là các khoản chi phí trực tiếp của bệnh
nhân và gia đình trong quá trình tham gia điều trị ngoại trú, ví dụ: ăn uống, đi lại, thuê nhà (khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ)
+ Chi phí gián tiếp không dành cho y tế (chi phí cơ hội): là các chi phí liên
quan đến việc mất thu nhập do phải nghỉ làm hoặc giảm năng suất lao động Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đề cập đến việc mất thu nhập do phải nghỉ làm để đến điều trị tại các phòng khám của bệnh nhân và của người chăm sóc, hỗ trợ đi cùng
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả
Mỗi bộ phiếu thu thập sau khi khảo sát sẽ được rà soát và kiểm tra lại vào ngay buổi tối của ngày thu thập để chắc chắn các câu hỏi đã được điền đầy đủ, chính xác, hợp lệ Sử dụng Microsoft Excel 2010 để nhập và tính toán các kết quả
Đối với các chi phí từ phía chính phủ và Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
(bao gồm chi phí thanh toán cá nhân, khấu hao tài sản cố định, nghiệp vụ chuyên môn
và chi phí khác), cỡ mẫu để tính chi phí bình quân cho 1 bệnh nhân là 871 bệnh nhân
Trong khi đó, đối với tất cả các loại chi phí từ phía bệnh nhân và gia đình và các loại chi phí còn lại từ phía Trung tâm phòng chống HIV/AIDS, cỡ mẫu để tính chi phí bình quân cho 1 bệnh nhân là 308 bệnh nhân Tất cả các loại chi phí đều được tính riêng cho từng bệnh nhân rồi lấy giá trị trung bình
2.2.5 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.9 Các biến số nghiên cứu
Định danh Phỏng vấn
Tuổi của bệnh nhân tính theo năm dương lịch, là số nguyên, được tính bằng công thức:
Tuổi = 2015 – năm sinh
Rời rạc
Phỏng vấn hoặc từ bệnh án