ĐẶT VẤN ĐỀ Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại làng nghề trở thành thương phẩm trao đổi góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng lao động lúc nông nhàn. Theo số liệu công bố mới đây của đại diện lãnh đạo Cục Cảnh sát môi trường (Bộ công an) ngày 26082009, hiện nay trong cả nước có 2790 làng nghề, các làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là miền Trung (chiếm khoảng 30%) và miền Nam (chiếm khoảng 10%) (Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp, 2008). Sự phát triển của các làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho dân cư ở khu vực nông thôn. Cải thiện đời sống gia đình, tận dụng lao động và góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Trị trấn Thanh Lãng nằm phía Nam huyện Bình Xuyên, cách trung tâm huyện 6km, với diện tích tự nhiên 948.21ha, có 2.784 hộ gia đình với 13.200 nhân khẩu. Thanh Lãng có 3 làng nghề mộc truyền thống là Hợp Lễ, Yên Lan và Xuân Lãng. Thị trấn Thanh Lãng nổi tiếng với các sản phẩm thủcông gỗ mỹ nghệ truyền thống như bàn, ghế, sập, tủ, tượng… Các sản phẩm này được các thương lái mang đi khắp nơi trong và ngoài nước, chính vì vậy quy mô của làng nghề là tương đối lớn. Toàn xã có 2000 hộ hoạt động sản xuất hàng thủ công gỗ mỹ nghệ với quy mô lán xưởng lớn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây giữ ở mức 10%. Sự phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp đã có nhiều đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương. Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, vấn đề phát triển nghề mộc cũng mang đến những ảnh hưởng không chỉ tới sức khỏe của người lao động mà còn môi trường xung quanh. Thứ nhất, về vấn đề ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động, sản xuất nghề mộc còn mang đặc thù riêng, điều kiện kinh tế khó khăn, dân trí thấp, người lao động chưa được đào tạo đầy đủ, vấn đề bảo hộ lao động và an toàn lao động nghề mộc chưa được quan tâm đúng mức và thường xuyên. Chính vì vậy, tiềm ẩn nguy cơ về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp trong sản xuất nghề mộc là rất cao. Có thể nói ở Việt Nam nói chung và tại thị trấn Thanh Lãng – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, số lượng lao động sản xuất nghề mộc khá dồi dào nhưng về cơ bản vẫn là lao động thủ công, cơ bắp nặng nhọc, tư thế làm việc không thoải mái, đối diện với nguy cơ cao về tai nạn, bệnh nghề nghiệp và có hại cho sức khoẻ. Thứ hai, việc phát triển nghề mộc đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm bụi và tiếng ồn, làm ảnh hưởng đến đời sống, mỹ quan cũng như sức khỏe của người dân. Hoạt động sản xuất hàng thủ công gỗ mỹ nghệ không theo quy mô sản xuất tập trung mà chủ yếu nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình, chính vì thế mức độ đầu tư cho sản xuất đặc biệt là đầu tư máy móc, dây chuyền công nghệ nhằm giảm thiểu các tác động tới môi trường là còn rất hạn chế, bởi vậy nên trong quá trình sản xuất có nhiều công đoạn phát sinh ô nhiễm làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường xung quanh. Bên cạnh những áp lực do phát triển làng nghề mộc thì quá trình sản xuất nông nghiệp, vấn đề thu gom và quản lý rác thải cũng gây ra không ít tác động đến môi trường trên địa bàn của khu vực. Đứng trước thực trạng sức khỏe nghề nghiệp và sức khỏe môi trường do sản xuất nghề mộc gây ra, nhóm sinh viên chúng em nhận thấy cần có sự đánh giá sát sao hơn tình hình thực tế của sản xuất nghề mộc từ đó có thể đưa ra các giải pháp cụ thể để quản lý các hoạt động sao cho vừa có thể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhưng vẫn đảm bảo sức khỏe của người dân và chất lượng môi trường sống. Dưới sự hướng dẫn và giám sát của cô Nguyễn Ngọc Anh cùng các thầy cô bộ môn, cán bộ tại Trạm Y tế Thị trấn Thanh Lãng, nhóm sinh viên chúng em xin đề xuất báo cáo: “Đánh giá ảnh hưởng của sản xuất nghề mộc tới sức khỏe người lao động và sức khỏe môi trường tại xã Thanh Lãng – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc tháng 7 năm 2013”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA SẢN XUẤT NGHỀ MỘC TỚI SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG TẠI
XÃ THANH LÃNG – HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1 Nguyễn Mai Thu
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
ĐẶT VẤN ĐỀ 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1
Một số khái niệm cơ bản 1
Làng nghề 1
Nghề mộc 2
Quy trình sản xuất gỗ 2
Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội 3
Tình hình kinh tế 3
Văn hóa, xã hội 4
Đặc điểm 4
Lý do nghiên cứu: 4
Lịch sử nghiên cứu 6
Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 7
Ý nghĩa lý luận 7 Ý nghĩa thực tiễn 7
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 8
Mục tiêu của đề tài 8
Mục tiêu tổng quát 8
Mục tiêu cụ thể 8
Phạm vi nghiên cứu 8
Đối tượng nghiên cứu 8
Cỡ mẫu và chọn mẫu 8
Cỡ mẫu: 8
Chọn mẫu 8
Phương pháp nghiên cứu 8
Phương pháp điều tra 8
Trang 3Phương pháp thu thập số liệu 9
Phương pháp phân tích số liệu 9
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
Kết quả nghiên cứu 10
Thời gian làm việc 10
Tư thế lao động và sắp xếp trang thiết bị 10
Tư thế lao động 10 Sắp xếp trang thiết bị 11
Nhận xét 11
Chiều cao mặt bàn 11
An toàn lao động và mô hình bệnh tật thường gặp phải tại các cơ sở 12
An toàn của máy móc 12
Mô hình bệnh tật thường gặp phải tại các cơ sở 12
Tiếng ồn 13
Rung chuyển 13
Phúc lợi xã hội 14
Cơ sở sản xuất 15 CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 16
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 18
Kết luận 18
Về cơ sở sản xuất 18
Về tai nạn lao động 18
Về môi trường 18
Khuyến nghị 18
Đối với UBND 18 Đối với các cơ sở sản xuất 19
Đối với người lao động 19
Biện pháp 19
Biện pháp về kỹ thuật công nghệ 19
Biện pháp kỹ thuật vệ sinh 19
Biện pháp tổ chức lao động khoa học 20
Biện pháp y tế bảo vệ sức khỏe 20
Trang 4Biện pháp tăng cường công tác giáo dục, huấn luyện về ATLĐ 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
PHỤ LỤC 16
Phụ lục 1 Bảng kiểm điều kiện lao động nghề mộc 16
Phụ lục 2 Một số hình ảnh tư thế lao động 16
Phụ lục 3 Trang thiết bị tại cơ sở sản xuất 20
Phụ lục 4 Rác thải trong sản xuất mộc 23
Phụ lục 5 Sản phẩm nghề mộc 24
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 3.1 Thời gian làm việc trong 1 ngày 10
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ về tư thế lao động của các nhân công 11
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ các cơ sở có chiều cao mặt bàn 12
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ về sự an toàn của các trang thiết bị tại cơ sở 12
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tiếng ồn đạt tiêu chuẩn tại các cơ sở 13
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ độ rung chuyển đạt tiêu chuẩn tại các cơ sở 14
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ các cơ sở có phúc lợi xã hội 14
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ cơ sở vật chất của các xưởng sản xuất đạt tiêu chuẩn 15
Bảng 3.1 Tỷ lệ bệnh mắc tại các cơ sở 12
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Nhiều sản phẩmđược sản xuất trực tiếp tại làng nghề trở thành thương phẩm trao đổi góp phần cảithiện đời sống gia đình và tận dụng lao động lúc nông nhàn Theo số liệu công bố mớiđây của đại diện lãnh đạo Cục Cảnh sát môi trường (Bộ công an) ngày 26/08/2009,hiện nay trong cả nước có 2790 làng nghề, các làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tạiđồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là miền Trung (chiếm khoảng30%) và miền Nam (chiếm khoảng 10%) (Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp,2008)
Sự phát triển của các làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phầnđáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, góp phần tạo công ăn việc làm
và thu nhập ổn định cho dân cư ở khu vực nông thôn Cải thiện đời sống gia đình, tậndụng lao động và góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống ngườidân
Trị trấn Thanh Lãng nằm phía Nam huyện Bình Xuyên, cách trung tâm huyện6km, với diện tích tự nhiên 948.21ha, có 2.784 hộ gia đình với 13.200 nhân khẩu.Thanh Lãng có 3 làng nghề mộc truyền thống là Hợp Lễ, Yên Lan và Xuân Lãng Thị trấn Thanh Lãng nổi tiếng với các sản phẩm thủ công gỗ mỹ nghệ truyền thốngnhư bàn, ghế, sập, tủ, tượng… Các sản phẩm này được các thương lái mang đi khắpnơi trong và ngoài nước, chính vì vậy quy mô của làng nghề là tương đối lớn Toàn xã
có 2000 hộ hoạt động sản xuất hàng thủ công gỗ mỹ nghệ với quy mô lán xưởng lớn.Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây giữ ở mức 10% Sự phát triểncủa ngành tiểu thủ công nghiệp đã có nhiều đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởngkinh tế của địa phương
Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, vấn đề phát triển nghề mộc cũng mangđến những ảnh hưởng không chỉ tới sức khỏe của người lao động mà còn môi trườngxung quanh
Thứ nhất, về vấn đề ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động, sản xuất nghềmộc còn mang đặc thù riêng, điều kiện kinh tế khó khăn, dân trí thấp, người lao độngchưa được đào tạo đầy đủ, vấn đề bảo hộ lao động và an toàn lao động nghề mộc chưađược quan tâm đúng mức và thường xuyên Chính vì vậy, tiềm ẩn nguy cơ về tai nạnlao động và bệnh nghề nghiệp trong sản xuất nghề mộc là rất cao Có thể nói ở ViệtNam nói chung và tại thị trấn Thanh Lãng – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc nóiriêng, số lượng lao động sản xuất nghề mộc khá dồi dào nhưng về cơ bản vẫn là lao
Trang 8động thủ công, cơ bắp nặng nhọc, tư thế làm việc không thoải mái, đối diện với nguy
cơ cao về tai nạn, bệnh nghề nghiệp và có hại cho sức khoẻ
Thứ hai, việc phát triển nghề mộc đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm môitrường nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm bụi và tiếng ồn, làm ảnh hưởng đến đời sống,
mỹ quan cũng như sức khỏe của người dân Hoạt động sản xuất hàng thủ công gỗ mỹnghệ không theo quy mô sản xuất tập trung mà chủ yếu nhỏ lẻ theo quy mô hộ giađình, chính vì thế mức độ đầu tư cho sản xuất đặc biệt là đầu tư máy móc, dây chuyềncông nghệ nhằm giảm thiểu các tác động tới môi trường là còn rất hạn chế, bởi vậynên trong quá trình sản xuất có nhiều công đoạn phát sinh ô nhiễm làm ảnh hưởngnghiêm trọng tới môi trường xung quanh Bên cạnh những áp lực do phát triển làngnghề mộc thì quá trình sản xuất nông nghiệp, vấn đề thu gom và quản lý rác thải cũnggây ra không ít tác động đến môi trường trên địa bàn của khu vực
Đứng trước thực trạng sức khỏe nghề nghiệp và sức khỏe môi trường do sản xuấtnghề mộc gây ra, nhóm sinh viên chúng em nhận thấy cần có sự đánh giá sát sao hơntình hình thực tế của sản xuất nghề mộc từ đó có thể đưa ra các giải pháp cụ thể đểquản lý các hoạt động sao cho vừa có thể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xãhội nhưng vẫn đảm bảo sức khỏe của người dân và chất lượng môi trường sống Dưới
sự hướng dẫn và giám sát của cô Nguyễn Ngọc Anh cùng các thầy cô bộ môn, cán bộtại Trạm Y tế Thị trấn Thanh Lãng, nhóm sinh viên chúng em xin đề xuất báo cáo:
“Đánh giá ảnh hưởng của sản xuất nghề mộc tới sức khỏe người lao động và sức khỏe môi trường tại xã Thanh Lãng – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc tháng 7
Xin chào!! Rất vui khi được chia sẻ tài liệu với bạn Nguồn: TANGGIAP.VN
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Một số khái niệm cơ bản
Làng nghề
Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệnhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liênkết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanhnghiệp vừa và nhỏ, có cùng Tổ nghề, và các thành viên luôn ý thức tuân thủ nhữngước chế xã hội và gia tộc Sự liên kết hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạothợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hìnhthành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngay trên đơn vị cư trú, làngxóm truyền thống của họ
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng: “Làng nghề là làng tuy vẫn có trồng trọt theolối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với mộttầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp có phường, có ông trùm, ôngphó cả Cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, với quy trình công nghệ nhất địnhsinh ư nghệ, tử ư nghệ (nhất nghệ tinh, nhất thân vinh) sống chủ yếu bằng nghề đó vàsản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng có tính mỹ nghệ, đã trở thànhhàng hoá và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh” (Trường Đạihọc Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế)
Những làng ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu, trở thành di sản văn hoá dân gian.Quan niệm nêu trên là nói về những làng nghề thủ công truyền thống có từ lâu đời, tồntại hàng trăm năm nay như nghề chạm bạc ở làng Đồng Xâm (Thái Bình), nghề gốmlàng Bát Tràng, nghề rèn làng Đa Sỹ quận Hà Đông thành phố Hà Nội, nghề chạmsừng Thuỵ Ứng xã Hoà Bình, huyện Thường Tín Hà Nội Trong quá trình phát triểnnền kinh tế thị trường đã xuất hiện các làng nghề mới có tính hiện đại, trong đó đặctrưng bởi sự phát triển kinh doanh dịch vụ và xây dựng, kinh doanh đa ngành nghề;đồng thời, do quá trình công nghiệp hoá diễn ra mạnh mẽ ở các làng nghề, trong cáclàng nghề kỹ thuật và công nghệ sản xuất không đơn thuần chỉ là kỹ thuật thủ công,
mà có nhiều nghề nhiều công đoạn sản xuất áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đạinhư mộc, gỗ mỹ nghệ Liên Hà, Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội; thép Trịnh Xá, Châu Khê,
Từ Sơn, Bắc Ninh; mộc mỹ nghệ Dương Sơn, Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh Các làngnghề mới đã xuất hiện, được hình thành trên cơ sở ươm tạo nghề mới hoặc sự lan toảcủa các làng nghề ra các khu vực xung quanh
9
Trang 10Theo Dương Bá Phượng, làng nghề là làng ở nông thôn có một (hoặc một số)nghề thủ công nghiệp tách hẳn ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập.
10
Trang 11Bách khoa toàn thư Việt Nam thì khái quát: “Làng nghề là những làng sống bằnghoặc chủ yếu nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam”.
Như vậy, làng nghề là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành là làng và nghề.Trong đó nghề trong làng đã tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp thành ngành kinhdoanh độc lập nên đã phù hợp với điều kiện mới Đồng thời trong cơ cấu kinh tế cấulàng còn có các hoạt động phi nông nghiệp khác Quá trình chuyên môn hoá trong sảnxuất của làng nghề cũng như sự phân công lao động trong các làng nghề đã làm xuấthiện các ngành nghề dịch vụ đi kèm, từ đó đã xuất hiện các làng nghề buôn bán dịch
vụ Tuy nhiên, không phải bất cứ quy mô nào của nghề cũng được gọi là làng nghề
Nghề mộc
Các nghề thuộc ngành gia công chế biến sản phẩm từ gỗ - gọi chung là nghề mộc
- có một lịch sử rất lâu đời và một truyền thống vẻ vang Có thể nói khởi đầu của nghềmộc từ việc tạo lập chuồng tại chăn thả gia súc, vật nuôi, làm nhà ở cho con người.Theo sự tiến bộ của công nghệ xây dựng nghề nghiệp phát triển dần và biến đổi theoyêu cầu tiến bộ công nghệ chung
Ngành gia công chế biến sản phẩm từ gỗ được chia thành nhiều chuyên ngành rấtkhác nhau, như :
− Mộc dân dụng : sản phẩm là các đồ gỗ dùng trong sinh hoạt: bàn ghế, kệ,
Tùy vào từng chuyên ngành của nghề mộc mà có những vị trí lao động khác cụthể khác nhau nhưng nhìn chung đều có một số vị trí lao động chính như: phá gỗ, xẻ,cưa, bào tiện, đục, chạm khắc
Quy trình sản xuất gỗ:
Quy trình sản xuất đồ gỗ nội thất được chia ra 2 giai đoạn như sau:
Trang 12− Giai đoạn tạo phôi nguyên liệu :Với hệ thống trang thiết bị hiện đại, từ
đầu vào là gỗ xẻ được tạo thành phôi nguyên liệu cho giai đoạn sau, phùhợp với yêu cầu về chất lượng gỗ, số lượng, kích thước của đơn hàng.Hoạt động sản xuất được tổ chức tại xưởng theo sơ đồ sau:
nguyên liệu, ván tấm tạo ra sản phẩm nội thất đáp ứng các tiêu chuẩn kỹthuật và yêu cầu của khách hàng theo sơ đồ sau:
Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội
Nghề mộc Thanh Lãng đã phát triển mạnh những năm gần, thu hút gần 3.300 laođộng, chiếm trên 51 % số lao động trong độ tuổi Xã có gần 2.000 hộ làm nghề vớihơn 6.000 lao động Tại địa phương có 478 hộ trực tiếp đầu tư mở xưởng sản xuấtkinh doanh nghề mộc , thu hút 1.167 lao động với mức lương bình quân từ 1,8 đến 2triệu đồng/người/tháng; 56 hộ chuyên kinh doanh dịch vụ sản phẩm gỗ các loại và 18
hộ kinh doanh máy xẻ gỗ Giá trị sản phẩm kinh doanh từ nghề mộc truyền thống
Trang 13chiếm gần 60% tổng sản phẩm ở địa phương Doanh thu từ nghề mộc ở Hợp Lễ,Yên Lan
Trang 14(năm 2005) đạt giá trị sản xuất trên 14 tỷ đồng Hiện tại, trên địa bàn thị trấn tập trung
9 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nghề mộc, trong đó có 4 doanh nghiệp hoạt độngđạt hiệu quả kinh tế cao Thu nhập từ nghề mộc hàng năm thường chiếm tỷ trọng cao,năm 2008 ngành này mang về cho địa phương 80 tỷ/157 tỷ đồng tổng sản phẩm xãhội, chiếm 51% Nghề mộc đã làm giàu cho nhiều hộ gia đình ở Thanh Lãng; Toàn thịtrấn có hơn 60% hộ khá, giàu; Năm 2009, thu từ ngành nghề đạt 95,4 tỷ đồng, bìnhquân thu nhập đầu người đạt 13,2 triệu đồng/năm
Văn hóa, xã hội
Mật độ dân số ở thị trấn Thanh Lãng đứng thứ 2 của huyện Bình Xuyên1.396người/km2, dân tộc Kinh chiếm chủ yếu
Đặc điểm
Quy mô sản xuất thường theo hộ gia đình, trình độ thủ công, thiết bị chắp vá, lạchậu, cơ sở sản xuất xen lẫn trong khu dân cư Các hộ sản xuất kinh doanh ngay trêndiện tích đất ở, nhà ở với mặt bằng chật hẹp Hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề đềuthiếu vốn kinh doanh nên cơ sở thường rất nhỏ, sản xuất manh mún; do đó các cơ sởthường lựa chọn quy trình sản xuât thủ công giá rẻ, dễ sử dụng phù hợp với trình độlao động nông thôn, giá nhân công rẻ, giá nhiên liệu rẻ, sử dụng các hóa chất độc hạinhằm thu lợi nhuận tối đa trong sản xuất
Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có quan hệ giađình dòng họ, được đào tạo theo kiểu “cha truyền con nối” Những lao động này cótrình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật thấp Vì vậy việc tiếp cận các thiết bị côngnghệ mới hạn chế không đáp ứng được nhu cầu sản xuất đặt ra và thiếu nhận thứctrong công tác bảo vệ môi trường Những người lao động ở các làng nghề thường đượchọc nghề từ rất sớm khoảng từ 10 tuổi và thường chỉ học hết lớp 7
Các cơ sở sản xuất phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tình thời
vụ thăng trầm phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, nhu cầu thị trường trong và ngoàinước
Lý do nghiên cứu:
Các số liệu thống kê của các tổ chức chuyên ngành cho biết, hơn 90% người laođộng nông nghiệp và làng nghề tiếp xúc các yếu tố nóng, bụi là 65,89%; tiếng ồn:48,8%; hóa chất: 59,5% Đối với tai nạn lao động và bệnh tật thì những nguy cơ gâybỏng, đứt tay chân, điện giật, bệnh hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa luônchiếm tỷ lệ cao Cụ thể, hơn 50% số người lao động tại các làng nghề bị nhiễm bệnhliên quan đến hô hấp
Trang 15Tình trạng bệnh nghề nghiệp, số vụ tai nạn lao động ngày càng có xu hướng giatăng tại các làng nghề, một phần do chủ các cơ sở không đầu tư máy móc, thiết bị có
độ an toàn cao Theo đánh giá của ngành chức năng, máy móc sử dụng trong sản xuấttại các làng nghề phần lớn không đảm bảo an toàn Phần lớn máy móc không có tàiliệu kỹ thuật để hướng dẫn, vận hành an toàn thiết bị Ngoài ra, còn có các máy tự chế,
tự lắp ráp từ các bộ phận cũ, chắp vá, nhiều chi tiết hỏng không được thay thế, sửachữa Do vậy, nguy cơ gây ra các vụ tai nạn lao động là rất lớn Việc sử dụng côngnghệ cũ không những làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn trực tiếpgây ra những hậu quả xấu tác động đến môi trường
Hầu hết 100% mẫu nước thải tại các làng nghề có thông số vượt quá mức tiêuchuẩn cho phép, nước mặt và nước ngầm đều có dấu hiệu bị ô nhiễm Mức độ ô nhiễmmôi trường đất, nước, không khí ở các làng nghề phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất,tính chất sản phẩm và thành phần chất thải ra môi trường
Theo các nghiên cứu thì những người dân sống trong các làng nghề có 8 – 30%người dân mắc các bệnh về đường tiêu hóa; 4,5 – 23% mắc các bệnh về viêm da, 6 –18% mắc các bệnh về đường hô hấp, 13 – 38% phụ nữ mắc bệnh phụ khoa,…
Nghề mộc truyền thống Thanh Lãng có từ vài trăm năm nay Thanh Lãng nổitiếng trong và ngoài tỉnh với nghề mộc truyền thống tồn tại và phát triển theo phươngthức cha truyền con nối Từ xưa, những sản phẩm đặc trưng của làng nghề chủ yếu là:Lâm đình, chùa, kiệu, câu đối, sập, tủ chè, bàn ghế mỹ nghệ, gia công nội thất Trảiqua bao thăng trầm của lịch sử, những người thợ có những nét đặc trưng riêng theokiểu truyền thống, sản phẩm chứa đựng đầy đủ tâm tư, tình cảm của người thợ, tạo ranhững đường nét có hồn
Thanh Lãng là một xã thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam PhíaĐông giáp với xã Tân Phong, Phú Xuân, huyện Bình Xuyên; phía Tây giáp với xãBình Định, thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc; phía Nam giáp với xã Nguyệt Đức, VănTiến, huyện Yên Lạc; phía Bắc giáp với xã Thanh Trù, thành phố Vĩnh Yên
Thanh Lãng có 3 làng nghề mộc truyền thống là Hợp Lễ, Yên Lan và Xuân Lãng.Mặc dù kinh tế ổn định, nhiều hộ sản xuất làng nghề và buôn bán có đời sốngkhá giả nhưng hàng ngày người dân lại phải đối mặt với tình trạng môi trường bị ônhiễm và kéo dài trong nhiều năm mà chưa có biện pháp giải quyết:
− Ô nhiễm môi trường không khí: do sử dụng các loại hóa chất trong quá trình phun sơn, đánh bóng, mạ,…
− Ô nhiễm môi trường nước (nước mặt và nước ngầm) do nước thải phát sinh từ quá trình sản xuất
Trang 16− Ô nhiễm môi trường đất do các chất thải rắn sinh ra.
Đồng thời, trong quá trình sản xuất chế biến gỗ có các máy móc phát sinh ratiếng ồn, bụi gây ảnh hưởng đến sức khỏe của những người lao động cũng như nhữngngười xung quanh Những người lao động khi làm việc không mang bảo hộ lao động(BHLĐ) đã làm cho tỷ lệ tai nạn lao động ở xã tăng cao Việc người lao động làm việckhông đúng tư thế cũng là một vấn đề cần được quan tâm vì nó làm cho người laođộng cảm thấy gò bó, khó chịu ảnh hưởng đến năng suất lao động, làm cho người laođộng luôn có cảm giác mệt mỏi và có thể mắc các bệnh đau lưng, vẹo cột sống,…
Lịch sử nghiên cứu
Đề tài “Xây dựng thử nghiệm một số giải pháp cải thiện môi trường và điều kiệnlàm việc tại các cơ sở sản xuất ở 3 làng nghề: cơ khí, mộc và rèn thuộc tỉnh Hà Tây(cũ) và Nam Định” của Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động Đề tài đãđiều tra phỏng vấn 179 chủ hộ sản xuất và 409 người lao động, kết hợp với đo đạckhảo sát tại hiện trường các yếu tố vi khí hậu, tiếng ồn, ánh sáng, bụi, hơi khí độc vànước thải để đánh giá tình trạng an toàn, điều kiện lao động tại các cơ sở sản xuất ở 3làng nghề: cơ khí, mộc và rèn thuộc tỉnh Hà Tây (cũ) và Nam Định; từ đó có các biệnpháp cải thiện điều kiện làm việc tại cơ sở mình
Đề tài: “Hiện trạng và giải pháp cho vấn đề môi trường làng nghề mộc xã Vân
Hà – Đông Anh – Hà Nội” của PGS.TS Đoàn Văn Điếm đã đánh giá được thực trạngsản xuất, hoạt động của làng nghề ảnh hưởng tới môi trường
Đề tài: "Nghiên cứu phát triển làng nghề tỉnh Quảng Ngãi" của TS Hồ Kỳ Minhnêu ra được thực trạng và giải pháp nâng cao nghề mộc dân dụng
Năm 2011, Luận văn “Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến phát triển các làng nghềmộc mỹ nghệ truyền thống trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” của trường Đạihọc Nông Nghiệp đã đánh giá được thực trạng phát triển làng nghề mộc mỹ nghệ,phân tích yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển các làng nghề mộc mỹ nghệ; từ đó đưa rađược những đề xuất và định hướng những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các làngnghề mộc
Chuyên đề “Các vấn đề về vệ sinh lao động” đã nghiên cứu điều kiện lao động(tư thế lao động, thời gian làm việc, thời gian nghỉ, mức độ tần số thao tác,…), các yếu
tố ảnh hưởng đến lao động (hệ thống chiếu sáng, hệ thống hút bụi, hệ thống làm mát,máy móc,…), tiếng ồn, rung chuyển,…
Trang 17Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa lý luận
Sức khỏe nghề nghiệp và sức khỏe môi trường là những vẫn đế đặc biệt quantrọng được nhiều quốc gia quan tâm Sản xuất ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và môitrường Sản xuất phát triển có thể làm quốc gia trở lên giàu mạnh nhưng cũng có thểlàm quốc gia đó trở lên tụt hậu, làm thiệt hại về kinh tế, xã hội chậm phát triển Chính
vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình sản xuất với sức khỏe nghề nghiệp vàmôi trường là hết sức quan trọng
Đề tài góp phần làm sáng tỏ những hoạt động của người dân trong quá trình sảnxuất nghề mộc ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe bản thân
Ý nghĩa thực tiễn
Giúp đưa ra những chiến lược và chính sách để bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp vàsức khỏe môi trường của xã Thanh Lãng - huyện Bình Xuyên - tỉnh Vĩnh Phúc
Giúp cho người dân phòng tránh được nguy cơ rủi ro của nghề mộc gây ra Bảo
vệ môi trường xanh, sạch đẹp
Trang 18CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của nghề mộc tới sức khỏe người lao động vàmôi trường xung quanh thông qua phân tích điều kiện lao động, các yếu tố ảnh hưởngtới lao động, và mô hình bệnh tật
Mục tiêu cụ thể
Đề tài cần thực hiện được một số mục tiêu sau:
− Đánh giá thực trạng điều kiện lao động của các xưởng mộc xã Thanh Lãng
− Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến lao động (hệ thống nhà xưởng, hệ thống hút bụi, hệ thống làm mát, ….)
− Mô tả được mô hình bệnh tật thường xuyên gặp phải ở những người làm nghề mộc tại xã Thanh Lãng
Phạm vi nghiên cứu
− Về không gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu các cơ sở sản xuất nghề mộc tại
xã Thanh Lãng - huyện Bình Xuyên - tỉnh Vĩnh Phúc
− Về thời gian: 3 ngày từ ngày 05/07/213 đến ngày 07/07/2013
Đối tượng nghiên cứu
Các cơ sở sản xuất nghề mộc tại xã Thanh Lãng - huyện Bình Xuyên - tỉnh VĩnhPhúc
Dùng hệ thống chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cắt ngang
Phương pháp điều tra
− Phỏng vấn và quan sát
Trang 19− Phương pháp điều tra, khảo sát trực tiếp bằng bảng kiểm cho các đốitượng là: chủ các CSSX và NLĐ tại các CSSX kinh doanh nghề mộc tại
xã Thanh Lãng
Phương pháp thu thập số liệu
− Tài liệu thứ cấp: tài liệu thu thập được từ các phòng ban, internet, văn bảnquy phạm, báo cáo về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế xãhội của xã Thanh Lãng
− Tài liệu sơ cấp: thu thập từ bảng kiểm đi điều tra 36 cơ sở sản xuất nghềmộc tại xã Thanh Lãng
Phương pháp phân tích số liệu
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu liên ngành, với các phương pháp cụ thể như sau:
− Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh và tổng hợp
− Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích, xử lý số liệu thu thập đượctrong 2 đợt điều tra
Trang 20CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu
Thời gian làm việc
Biểu đồ 3.1 Thời gian làm việc trong 1 ngày
Trang 21Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ về tư thế lao động của các nhân công
Nhận xét:
- Người lao động làm việc ở tư ngồi đúng tiêu chuẩn chiếm 48.44% cao hơn những người làm việc ở tư thế đứng vì đối với một số vị trí lao động như đục, khắc gỗ… thì tư thế ngồi dễ làm việc, lấy các dụng cụ hơn ở tư thế
đứng
Sắp xếp trang thiết bị
Nhận xét:
- Trang thiết bị được sắp xếp thuận tiện cho người lao động chỉ chiếm 27%
- Tại một số vị trí lao động trang thiết bị được sắp xếp xa tầm với của người lao động
Chiều cao mặt bàn
Trang 22Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ các cơ sở có chiều cao mặt bàn
Nhận xét:
- Tỷ lệ vị trí lao động không sử dụng bàn chiếm 15,62% như vị trí: đánh giấynhám, trạm khắc bằng công nghệ thủ công
- Tỷ lệ bàn phù hợp với người lao động chiếm 67,19% trên tổng số vị trí lao động
An toàn lao động và mô hình bệnh tật thường gặp phải tại các cơ sở
An toàn của máy móc
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ về sự an toàn của các trang thiết bị tại cơ sở
Nhận xét:
- Tỷ lệ vị trí lao động có sự an toàn của máy móc trang thiết bị chiếm 89,06%
- Một số máy móc lớn, độ an toàn không cao nhưng lại không có thiết bị che
chắn như: máy cưa, máy xẻ…
Mô hình bệnh tật thường gặp phải tại các cơ sở
Trang 23Nhận xét:
− Bệnh hay mắc phải là Viêm xoang chiếm 50%/36 cơ sở, Viêm phổi chiếm42.19%/36 cơ sở
− Cụt chi và vẹo cột sống chiếm tỷ lệ thấp nhất chiếm 4.69%/36 và 0.2%/36
cơ sở đã điều tra
Tiếng ồn
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tiếng ồn đạt tiêu chuẩn tại các cơ sở
Nhận xét:
- Tỷ lệ vị trí lao động có tiếng ồn không đạt chiếm 64%
- Một số vị trí lao động không phát ra tiếng ồn như: sơn thủ công (không
dùng máy)…
Rung chuyển
Trang 24Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ độ rung chuyển đạt tiêu chuẩn tại các cơ sở
Nhận xét:
- Mức độ rung chuyển phụ thuộc vào loại máy móc, thiết bị
- Tỷ lệ vị trí lao động có độ rung chuyển đạt tiêu chuẩn chiếm 50% bằng với tỷ lệ
vị trí lao động có độ rung chuyển không đạt tiêu chuẩn
− Hầu hết các cơ sở không sử dụng bảo hộ lao động đúng tiêu chuẩn, số cơ
sở sử dụng bảo hộ lao động chiếm 26.56%
Trang 25− Diện tích đất làm nhà xưởng đạt tiêu chuẩn chiếm 36.1%.
− Tỷ lệ đạt tiêu chuẩn về hệ thống khử mùi và bụi chiếm thấp nhất chỉ đạt 2.8%
Trang 26CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN
Người lao động làm việc ở tư thế bất lợi: tỷ lệ lao động làm việc ở tư thế đứngchiếm 69,64%, tư thế ngồi là 51,56% Nghiên cứu của Hoàng Khải Lập cho thấy37,8% người lao động làm việc ở tư thế đứng, 11,7% lao động ở tư thế ngồi Người laođộng làm việc ở tư thế đứng và tư thế làm ngồi trong nghiên cứu của nhóm cao hơn sovới nghiên cứu trên
Tại các vị trí được khảo sát hầu hết nguyên vật liệu thường đặt ngay dưới đất,nguyên vật liệu được đặt trên giá chiếm tỷ lệ rất nhỏ Kết quả khảo sát thực trạng vềkhu vực bố trí nguyên vật liệu và sản phẩm tại hầu hết các cơ sở nghiên cứu cho thấyhầu như các cơ sở sản xuất này không bố trí không gian như mặt bằng, giá đỡ v.v ở độcao thích hợp cho các thao tác trong lao động Đây chính là nguyên nhân làm cản trởlối đi trong nhà xưởng do nguyên liệu và sản phẩm đặt tuỳ tiện trên sàn, nguy cơ gâytổn thương do vấp phải nguyên vật liệu sắc nhọn cao Các tư thế lao động xấu do phảicúi lấy nguyên vật liệu và đặt sản phẩm xuống sàn cũng là nguyên nhân gây đau mỏi
cơ xương và giảm năng xuất lao động do có nhiều thao tác không hợp lý Kết quả khảosát bằng các bảng kiểm cho thấy hầu hết các vị trí lao động không đảm bảo đủ khônggian cho việc đi lại do vướng nguyên liệu và sản phẩm trên sàn Như vậy, việc sắp xếpnguyên vật liệu tại các cơ sở được khảo sát cần được cải thiện
Máy móc không đảm bảo an toàn chiếm 89,06%, đảm bảo an toàn là 10,94%.Nghiên cứu của H Marucci-Wellman về tổn thương nghề nghiệp tại xã Xuân Tiến [2]thấy rằng 10% tổn thương hoàn toàn liên quan đến máy móc
Kết quả nghiên cứu điều kiện lao động tại làng nghề đúc đồng Đại Bái-Bắc Ninh
tỷ lệ máy móc không đảm bảo an toàn là 74,7% thấp hơn so với nghiên cứu của nhóm.Theo “Khảo sát ecgônômi vị trí lao động Đề xuất giải pháp cải thiện tại Một số
cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ” của Đào Phú Cường, Tạ Tuyết Bình, Nguyễn BíchDiệp – Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường thì có rất ít người lao động sử dụngphương tiện bảo vệ cá nhân mặc dù tại vị trí lao động của họ cần thiết phải sử dụng81,6% người lao động không sử dụng găng tay,97,2% không sử dụng giày và 78,1%không sử dụng kính Kết quả của nghiên cứu của nhóm cũng tương tự nghiên cứu nàyvới tỷ lệ người có đầy đủ bảo hộ lao động là 26.56%, chỉ có tỷ lệ rất nhỏ là có BHYT(7.84%) Do họ không được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, người lao động cũngkhông được đào tạo về an toàn vệ sinh lao động nên chưa nhận thức được đầy đủ cáctác hại tại nơi làm việc
Trang 27Theo kết quả khảo sát điều kiện lao động và tình hình sức khỏe của người laođộng làng nghề đúc đồng Đại Bái - Bắc Ninh, chỉ có 64,2% người lao động sử dụngphương tiện bảo vệ cá nhân trong đó tỷ lệ sử dụng găng tay là 57,3% Đây cũng là tìnhtrạng chung tại các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ ở các làng nghề.
Bùi Quốc Khánh nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây tai nạn lao động trong ngànhcông nghiệp cho thấy 52,7% công nhân cho rằng tai nạn lao động là do thiếu phươngtiện bảo vệ cá nhân Như vậy, sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân là một trong nhữngbiện pháp để phòng tai nạn lao động và bệnh do nghề nghiệp
Tỷ lệ tiếng ồn do máy móc phát ra còn quá lớn chiếm 64% sẽ làm ảnh hưởng đếnnhững người xung quanh và làm giảm thính lực đối với những người lao động Bêncạnh đó thì các cơ sở sản xuất vẫn chưa có các biện pháp để khắc phục sự rung chuyểncủa máy móc lên người lao động (tỷ lệ này chiếm 50%), do đó sẽ làm cho người laođộng mắc bệnh hội chứng ống cổ tay, bệnh về thần kinh,…