Vào thập kỷ 80, tiếp cận ANLT phát triển theo hướng chuyển từ việc quan tâm đến tính sẵn có và ổn định của nguồn cung lương thực ở cấp tổng thể toàn cầu, quốc gia hoặc vùng vào thập kỷ 7
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CÁM ƠN
9
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Thầy của tôi, PGS TS Nguyễn Kim Hồng về tất cả những sự hướng dẫn, góp ý, chỉ dạy, giúp đỡ, động viên, khích lệ rất nhiệt tình và tận tâm của Thầy trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành 9tới các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Địa lý
và Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập9, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.9
9
Tôi gửi lời cám ơn chân thành tới các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, động viên và tạo điều
kiện cho tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Trang 3L ỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết, Luận văn Thạc sĩ Địa lý học với tên đề tài:
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1- ANLT: An ninh lương thực
2- ANTP: An ninh thực phẩm
3- BTB & DHNTB: Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ
4- BTB & DHNT: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
5- ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, con người đã làm ra được nhiều điều kỳ diệu trong nhiều lĩnh vực như: vũ trụ, hàng không, điện tử, tin học, sinh học,… Tuy nhiên, có một vấn đề rất căn bản và thiết
thực, gắn liền với sự sống của hàng triệu người trên trái đất vẫn chưa được khắc phục, đó là “An
ninh lương thực” Điều tưởng như nghịch lý ấy lại là một sự thật [2] Trong nhiều thập kỷ qua, an
ninh lương thực (ANLT) luôn là vấn đề bức xúc của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Tìm kiếm giải pháp đảm bảo ANLT cho tất cả mọi người không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia nghèo mà nó đã trở thành vấn đề thời sự mang tính toàn cầu Vì
vậy, việc giải quyết kịp thời vấn đề lương thực là trung tâm của mọi cố gắng hiện nay để phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Ở Việt Nam, hiện tại, ANLT tương đối được đảm bảo, nhưng trong tương lai, với sự gia tăng dân số, sự thu hẹp diện tích nông nghiệp và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, mục tiêu đảm bảo ANLT quốc gia rất có thể sẽ bị ảnh hưởng Mặt khác, việc đảm bảo ANLT vẫn còn nhiều hạn chế,
nhất là khả năng tiếp cận lương thực của các vùng khác nhau trong cả nước và các lớp dân cư còn
thấp và không đều Chính vì vậy, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã tập trung ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm mục tiêu đảm bảo ANLT Tuy nhiên, đến nay, vẫn có nhiều nguy cơ đe dọa đến khả năng duy trì đảm bảo ANLT của cả nước Như vậy, trước mắt và lâu dài, ANLT là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước, làm cơ sở để phát triển kinh tế bền vững, ổn định chính trị, xã hội và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm sản xuất lương thực của quốc gia,
là vựa lúa lớn nhất cả nước, đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo 1ANLT1 quốc gia Tuy nhiên,
với xuất phát điểm thấp, ĐBSCL đang đối mặt với nhiều thách thức trong điều kiện dân số tăng,
biến đổi khí hậu, dịch bệnh, sẽ tạo áp lực lớn trong việc giữ vững vai trò chiến lược đảm bảo ANLT cho vùng và quốc gia Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm giải pháp giải quyết vấn đề 1ANLT1ở vùng ĐBSCL là rất cần thiết và góp phần đảm bảo 1ANLT1 cho cả nước và khu vực
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
2.1 Trên thế giới
Quan niệm về ANLT ra đời khá sớm, đã trải qua những biến đổi khác nhau trong vài thập kỷ qua và đã có nhiều lý thuyết nghiên cứu về ANLT nói chung
Trang 10Tuyên ngôn về Quyền con người năm 1948 đề cập đến ANLT, “mỗi người đều có quyền
hưởng tiêu chuẩn sống đầy đủ về thể chất và phúc lợi của bản thân và gia đình, bao gồm lương thực
và th ực phẩm” [3] Qua đó, đã công nhận quyền được đảm bảo đầy đủ lương thực như một yếu tố
cốt lõi của một tiêu chuẩn sống đầy đủ của con người
Những năm 1960, được gọi là “thập kỷ phát triển” là một thời gian của những nỗ lực hy
vọng thực sự kết thúc nạn đói [47] Trong thời gian này, Liên hiệp quốc và Tổ chức Nông Lương (FAO) đã phát động phong trào Tự do Quốc tế về Chiến dịch chống đói, huy động sự hỗ trợ của
Chính phủ và Phi Chính phủ Mục đích là để kết thúc đói bằng cách cho phép người dân tự phát triển sản xuất lương thực đủ để nuôi sống bản thân, chứ không phải thông qua sự phụ thuộc vào viện trợ lương thực Vào thời điểm đó, quan điểm phổ biến cho rằng, nếu Chính phủ các nước có thể sản xuất đủ lương thực để cung cấp nhu cầu trong nước của họ thì nạn đói sẽ biến mất
Trong những năm 1970, quan niệm về ANLT đã có những tiến bộ hơn nhiều hơn so với những nhận thức trước đó Lúc này, vấn đề ANLT thế giới thật sự gặp khó khăn bởi giá lương thực tăng cao và dân số ngày càng tăng nhanh Vì vậy, vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định
chính sách chính là “ANLT và bùng nổ dân số” [47] Mối quan tâm chính của họ là đảm bảo lương
thực cho thế giới khi dân số tăng nhanh Giải pháp quan trọng nhất là hướng đến những cải tiến
trong sản xuất nông nghiệp và “cuộc cách mạng xanh” đã tăng sản lượng tuyệt đối đáng kể Vào
giữa những năm 70, quan niệm ANLT trong các thảo luận về tình hình lương thực thế giới là phản ứng trước cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vào thời điểm đó Quan tâm ban đầu chủ yếu tập trung vào các vấn đề cung lương thực - đảm bảo nguồn cung cấp và ở một mức độ nào đó là ổn định giá cả của nguồn thực phẩm chủ yếu ở cấp độ quốc gia và quốc tế
Vào thập kỷ 80, tiếp cận ANLT phát triển theo hướng chuyển từ việc quan tâm đến tính sẵn
có và ổn định của nguồn cung lương thực ở cấp tổng thể (toàn cầu, quốc gia hoặc vùng) vào thập kỷ
70 sang khả năng tiếp cận và tiêu dùng lương thực ở cấp hộ gia đình và cá nhân, mà tiêu biểu cho trường phái này là nhà kinh tế học người Ấn Độ, Amatya Sen [2] Ông cho rằng, tình trạng bất ANLT xảy ra không phải do thiếu lương thực từ phía cung mà do người tiêu dùng không có khả năng tiếp cận đủ lương thực mà họ cần Khả năng tiếp cận của cá nhân hay hộ gia đình phụ thuộc vào nguồn lực kinh tế của họ mà quan trọng nhất là tài sản, kể cả sức lao động, việc làm và thu
nhập
Những năm 1980 được gọi là “thập kỷ phát triển bị mất”, nhìn thấy sự suy giảm mức sống
của phần lớn dân cư ở những nước nghèo mà nguyên nhân là từ chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh
tế và cuộc khủng hoảng nợ [47] Nhiều quốc gia đã phải gỡ bỏ các mạng lưới an sinh xã hội cho người dân nghèo nhất của họ Đói vẫn tiếp tục đe dọa và là một mối quan tâm sâu sắc, bất chấp đã
có những tiến bộ trong sản xuất lương thực hơn nhiều so với trước kia
Trang 11Trong năm 1981, Amartya Sen đã xuất bản cuốn sách đột phá của mình, “Nghèo đói và nạn
đói: một vấn đề về quyền lợi” [47], đặt câu hỏi giả định truyền thống về nạn đói và lập luận rằng,
nạn đói là kết quả của sự thất bại trong vấn đề tiếp cận lương thực chứ không phải là sự thiếu hụt thực phẩm Sen đã chứng minh rằng, một sự suy giảm lượng lương thực hiện tại là không đáng kể
và cũng không đủ để tạo ra nạn đói Ông đã cho thấy rằng, nạn đói có thể xảy ra trong trường hợp không có bất kỳ sự thay đổi trong sản xuất, nếu giá trị sản xuất của nhân dân vẫn ổn định và các hoạt động liên quan đến nạn đói là sự tăng giá lương thực và sự không đồng đều trong phân phối
Tuy nhiên, với sự ra đời của quan niệm về sinh kết bền vững của Chambers đã chỉ trích lý thuyết của Sen, bởi vì nó không đưa vào hành động và lựa chọn khả năng tiếp cận lương thực của cá
nhân, đúng hơn, nó xem các cá nhân thụ động Nội dung quan điểm về “sinh kế bền vững” như sau:
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người, để từ đó,
sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ, nó phải có khả năng đương đầu vượt qua áp lực
bất ngờ Sinh kế bền vững không được khai thác và gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai Trên thực tế, nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho tương lai
Các định nghĩa của đói cũng phát triển với sự thay đổi mô hình sinh kế bền vững Cho đến cuối những năm 1980, hầu hết các nhà nghiên cứu đã cho rằng, khẩu phần ăn với 2100 kcal một ngày là tiêu chuẩn đánh giá ANLT [47] Điều này hơi mang tính chủ quan vì bắt đầu đã có thay đổi
về nhận thức rằng, mỗi cá nhân có nhu cầu khác nhau về số lượng, chất lượng và loại thực phẩm, chứ không phải là 2100 kcal tiêu chuẩn Tuy nhiên, quan điểm này vẫn được chấp nhận khi đánh giá tiếp cận ANLT cấp quốc gia và vùng
Đến giữa những năm 1990, ANLT được xem là mối quan ngại nghiêm trọng, trải nhiều
cấp độ từ cấp cá nhân lên đến cấp toàn cầu Tuy nhiên, vấn đề “tiếp cận” trong ANLT hiện nay
bao gồm cả vấn đề có đủ lương thực và dinh dưỡng prôtêin Việc mở rộng quan niệm bao gồm các khía cạnh an toàn lương thực, cân bằng dinh dưỡng cũng cho thấy những quan tâm về thành
phần lương thực, thực phẩm gồm các điều kiện về dinh dưỡng vi mô và vĩ mô cần thiết cho một
cuộc sống năng động và khoẻ mạnh [47] Người ta cũng khuyến cáo các hộ gia đình để đảm bảo cho con em mình có cân bằng dinh dưỡng và thực phẩm, đặc biệt trong giai đoạn phát triển ban đầu
Trong thời kỳ này, các tổ chức quốc tế liên quan đến các vấn đề về lương thực và y tế như:
Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Chương trình Lương thực
T hế giới (WFP), Viện Nghiên cứu và Chính sách Lương thực Thế giới (IFPRI) và nhiều tổ
chức khác đều nỗ lực kêu gọi phát triển nguồn lương thực, thực phẩm cân bằng và đời sống khoẻ
mạnh Người ta cũng quan tâm nhiều hơn đến sở thích đối với lương thực, thực phẩm theo truyền
Trang 12thống văn hoá hoặc xã hội Mức độ phức tạp và cụ thể theo từng hoàn cảnh của ANLT cho thấy
rằng, quan niệm này không còn đơn giản và tự nó không phải là mục đích mà nó là một loạt các hành động trung gian nhằm đạt được một đời sống năng động và khoẻ mạnh
Năm 1994, Báo cáo phát triển con người của UNDP cổ vũ cho quan niệm về an ninh con người, bao gồm một loạt khía cạnh, trong đó có ANLT Quan niệm này cũng liên quan chặt chẽ đến quan điểm về quyền con người trong phát triển đã có ảnh hưởng đến các thảo luận về ANLT
Năm 1996, FAO đã họp bàn với 186 Chính phủ các quốc gia và các quan chức cấp cao khác tại Hội nghị Thượng đỉnh Lương thực Thế giới để thảo luận và tìm giải pháp chống lại nạn đói trên
thế giới Hội nghị Thượng đỉnh này đã thông qua một “phương pháp tiếp cận dựa trên quyền” để
đảm bảo ANLT [47]
Trong giai đoạn này, cũng có nhiều quan điểm lý thuyết về các vấn đề có liên quan đến khả năng tiếp cận của hộ gia đình đến vấn đề tiêu dùng lương thực, thực phẩm
Đầu tiên, chúng ta sẽ đề cập đến lý thuyết của Foster (1999) về ANLT, trong đó, Foster đề
cập đến các yếu tố giới hạn khả năng tiêu dùng của hộ gia đình qua công thức sau [46]:
Công thức trên đã thể hiện được tình hình ANLT cấp hộ gia đình Khi vế trái lớn hơn vế phải thì hộ đạt được ANLT Cụ thể, với những hộ có nhiều tài sản hơn hoặc thu nhập cao hơn, thì những
hộ này có nhiều khả năng đạt được tính an toàn lương thực Theo Foster, thu nhập và tài sản của hộ được hình thành bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố như giáo dục, vốn, đất đai, việc làm, sức khỏe,… Ngoài ra, khi giá lương thực giảm, cũng có thể gia tăng khả năng tiếp cận lương thực của hộ
Như vậy, thông qua việc chuyển đổi công thức như trên, Foster đã chuyển vấn đề ANLT từ
việc nhấn mạnh đến khía cạnh sản xuất lương thực (cung lương thực) sang khả năng tiếp cận lương
thực của hộ Trong đó, đã thể hiện rõ ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố (thu nhập, giá cả) đến tình hình ANLT của hộ và ảnh hưởng gián tiếp thông qua các yếu tố như giáo dục, vốn, đất đai, việc làm, sức khỏe,…
Trị giá lượng lương thực
Trang 13Để thấy rõ hơn ảnh hưởng của những yếu tố trên đến vấn đề ANLT cũng như khả năng tiếp
cận lương thực của hộ, chúng ta sẽ tìm hiểu các ảnh hưởng trên thông qua những nghiên cứu về khía
cạnh tiếp cận lương thực của Diskin (1995), Diskin đã đưa ra các mô hình thể hiện mối liên hệ giữa tiêu dùng lương thực của hộ gia đình với một số các yếu tố ảnh hưởng như thu nhập, đất đai, giáo
dục, tài sản, [2], [48] Các yếu tố này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng tiếp
cận và tiêu dùng lương thực của hộ gia đình qua các kênh khác nhau (Xem Sơ đồ 1)
Theo Diskin, trong ngắn hạn, hai yếu tố chính quyết định trực tiếp đến khả năng tiêu dùng lương thực của hộ gia đình là giá lương thực và thu nhập Hơn nữa, theo lý thuyết hành vi người tiêu dùng lương thực với số lượng lớn hơn, đa dạng hơn Ngược lại, khi giá cả lương thực tăng, với
một mức thu nhập không đổi, khả năng mua của người tiêu dùng đối với lương thực giảm, người tiêu dùng có khuynh hướng giảm lượng tiêu thụ
Tuy nhiên, trong khi về mặt lý thuyết thì phản ứng của người tiêu dùng đối với sự thay đổi
của giá cả hàng tiêu dùng về nguyên tắc chung là đúng như trên đã nói Chúng ta cần lưu ý một khía
cạnh thực tế, lương thực là một mặt hàng đặc biệt, có vai trò thiết yếu đối với đời sống Do đó, độ
co giãn theo giá của cầu đối với lương thực theo giá là rất thấp Điều này có ý nghĩa là việc tăng giá lương thực không phải là luôn luôn làm giảm mức tiêu dùng lương thực theo một tỉ lệ như có thể quan sát thấy đối với các hàng hóa khác Ngược lại, thông thường, để bảo đảm mức tiêu dùng lương
thực, người tiêu dùng có thể cắt giảm các hàng hóa khác
Sơ đồ 1 Mối liên hệ giữa nguồn lực của hộ gia đình và dinh dưỡng [2]
Trang 14Tuy nhiên, ngoài các yếu tố về thu nhập và giá cả, trong dài hạn, theo Diskin, các nguồn lực
của hộ gia đình như đất đai, lao động, giáo dục, kinh nghiệm, vốn, là nhân tố chính tác động đến
khả năng tiếp cận lương thực của gia đình Nguồn lực của hộ gia đình càng lớn (đất đai, lao động,
vốn, ) sẽ tham gia tăng khả năng tiếp cận lương thực của hộ, từ đó dẫn đến, tiêu dùng lương thực
của hộ càng tăng
Tương tự như vậy, Maxwell và Frankenberger (1995) cũng cho rằng, tài sản của hộ gia đình
là nhân tố quyết định đến khả năng tiêu dùng và số lượng lương thực tiêu dùng của hộ Trong đó, Maxwell và Farankenberger đã chia tài sản của hộ ra nhiều loại như: tài sản dùng trong sản xuất (đất đai, máy móc, công cụ lao động, súc vật,…), tài sản dự trữ (vàng, bạc, nhà cửa, tiền mặt,…), nguồn nhân lực (sức lao động, giáo dục, sức khoẻ,…), và những mối quan hệ xã hội Hơn nữa, thường
những hộ gia đình ở vào tình trạng thiếu lương thực là những hộ có ít tài sản [52]
Trong những năm gần đây, dựa trên lý thuyết tiếp cận của Amatya Sen, một nhận thức rộng hơn về ANLT thu hút sự chú ý của thế giới đó là Trường phái Sinh kế bền vững Trường phái này xem xét khả năng tiếp cận lương thực của cá nhân hay hộ gia đình trong dài hạn, có tính đến yếu tố
Tình trạng dinh dưỡng (cá nhân)
cây trồng,…
Trang 15thời gian Khả năng tiếp cận lương thực không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực kinh tế sẵn có của hộ gia đình mà còn phụ thuộc vào khả năng duy trì các nguồn lực kinh tế đó để có thể tiếp cận đủ lương thực trong mọi lúc, mọi nơi, ngay cả khi gặp rủi ro bất ngờ Hay nói khác đi là hộ gia đình
phải có một sinh kế bền vững
Tóm l ại, nhiều tác giả khi nghiên cứa về ANLT đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận lương thực của hộ “trong ngắn hạn là giá lương thực thu nhập của hộ, trong dài hạn
là các ngu ồn lực của hộ”
Là một trong những khái niệm ứng dụng trong chính sách công, quan niệm về ANLT tiếp tục được phát triển để phản ánh được độ phức tạp của các vấn đề chính sách và kỹ thuật có liên quan
Đặc biệt, ANLT có thể được xem là một hiện tượng liên quan đến các cá nhân Đây là tình
trạng dinh dưỡng của các thành viên trong gia đình (mục tiêu cuối cùng) và rủi ro không đạt được tình trạng này thoả đáng hoặc tình trạng thoả đáng này bị suy yếu Rủi ro thứ hai phản ánh sự tổn
thương của các cá nhân trong bối cảnh này Các tổn thương có thể xuất hiện như là các hiện tượng kinh niên hoặc tạm thời Người ta ít quan tâm đến tình trạng mất ANLT tạm thời và rủi ro khủng
hoảng lương thực Theo WB năm 1986, nguyên nhân chính của mất ANLT tạm thời là thay đổi hàng năm của giá nông sản quốc tế, nguồn ngoại tệ thu được, sản xuất lương thực trong nước và thu
nhập của các hộ gia đình Các yếu tố này thường liên quan với nhau Khả năng của người dân sản
xuất hoặc mua lương thực hoặc các nhu yếu phẩm khác tạm thời giảm sút sẽ làm suy yếu sự phát triển dài hạn và gây tổn thất về nguồn vốn con người mà phải mất nhiều năm mới phục hồi được
Trong thời gian qua, chúng ta đã thấy những thay đổi lớn trong mô hình ANLT, được hưởng lợi từ các bài học kinh nghiệm cùng những khó khăn trong việc đảm bảo ANLT và thiên tai Điều này dẫn đến, việc nhận thức về ANLT ngày một đầy đủ hơn
Nội dung nghiên cứu ANLT có tóm tắt như sau:
Tập trung vào nghiên cứu ANLT cá nhân và hộ gia đình chứ không phải chỉ chú trọng ANLT cấp quốc gia và vùng;
Quan niệm về sinh kế bền vững được đặc biệt quan tâm trong nghiên cứu ANLT;
Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là đạt được mục tiêu chấm dứt thiếu đói
2.2 Ở Việt Nam và ĐBSCL
Ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng, vai trò của lương thực đã được quan tâm từ xa
xưa Qua truyền miệng, dân gian ta có câu: “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”,
rồi “hết tiền, hết gạo, hết ông tôi”,… để nói lên lương thực thật sự quan trọng như thế nào
ANLT và xóa đói nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển, thể hiện qua các chương trình “Định canh định cư”,
Trang 16“Chương trình 135”, “Chương trình 30a”, Tuy nhiên, khái niệm về ANLT chỉ thật sự được đề
cập trong vài năm trở lại đây Do còn khá mới mẻ nên việc tiếp cận vấn đề này chỉ mới dừng lại ở
cấp độ quốc gia hay vùng Việc đi sâu vào phân tích cho những cấp độ nhỏ hơn chưa được nghiên
cứu một cách hoàn chỉnh
Từ năm 1993 - 1994, với sự hỗ trợ kỹ thuật của FAO, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các ngành liên quan xây dựng chương trình ANTP quốc gia Sau hơn 20 năm đổi mới, sản xuất lương thực thực phẩm nói chung và lương thực nói riêng, Việt Nam đã xác định
đảm bảo ANTP quốc gia Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: “Phát triển nông nghiệp toàn diện
hướng vào đảm bảo ANLT quốc gia trong mọi tình huống, tăng nhanh nguồn thực phẩm và rau quả,
c ải thiện chất lượng bữa ăn, giảm suy dinh dưỡng”
Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm tới yếu tố con người trong chiến lược phát triển xã hội, coi con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là mục tiêu phấn đấu cao nhất Để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng được các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc nâng cao sức khỏe, trong đó yếu tố nền tảng là cải thiện dinh dưỡng là cần thiết và
cấp bách Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Thực hiện chương trình dinh dưỡng quốc
gia, gi ảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi từ 42% xuống dưới 30% năm 2000, không còn suy dinh dưỡng nặng, đưa tỷ lệ dân số có mức ăn dưới 2100 kcal xuống dưới 10%, ” Luật bảo vệ sức
khoẻ nhân dân đã khẳng định trách nhiệm của Nhà nước, của các cấp chính quyền trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trong đó có chăm sóc dinh dưỡng Nghị quyết 37/CP ngày 20/6/1996 của Chính phủ về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
đã nêu ra các chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ của nhân dân ta đến năm 2020: “Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
b ị suy dinh dưỡng giảm còn 15% vào năm 2020 và chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam đạt 165 cm vào năm 2020”
Năm 2005, mạng lưới xã hội dân sự cho các hoạt động vì ANLT (VANFS) được thành lập và
là bộ phận không thể tách rời của dự án xây dựng mạng lưới quốc tế về ANLT (INFS) Dự án được tài trợ bởi EC và thực hiện bởi ActionAid - một tổ chức phi chính phủ chuyên về chống đói nghèo trên thế giới Mục tiêu của dự án là góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về đảm bảo ANLT
và quyền của dân chúng trong sản xuất lương thực, được tiếp cận lương thực đủ và đảm bảo chất lượng
Ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Nghị quyết về Kế hoạch sử dụng đất thời
kỳ 2006 - 2010, trong đó có 3.8 triệu ha đất trồng lúa nước và kiểm soát chặt việc chuyển đất trồng lúa làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp Ngày 18/4/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 391/2008 về rà soát kiểm tra thực trạng sử dụng đất nông nghiệp thời kỳ 2002 -
2010 Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng, ANLT cần được hiểu theo nghĩa rộng, đó là có đủ lương thực,
Trang 17dễ mua lương thực, mọi người đều có lương thực Vì vậy, chúng ta vẫn đang phấn đấu để thực hiện
đầy đủ ý nghĩa của ANLT, bởi vì hiện tại, vẫn còn tồn tại bức tranh “kẻ ăn không hết, người lần
chẳng ra” vẫn hiện hữu ở một số vùng, do có sự khác biệt về điều kiện thiên nhiên, đất đai và khí
hậu,
Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/08/2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nêu ra nhiều vấn đề cần giải quyết của nền nông nghiệp Việt Nam
Trong đó, nhấn mạnh “Vấn đề ANLT quốc gia phải nằm trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế
- xã h ội, gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đây là một định hướng hoàn
toàn đúng đắn và cấp thiết trong thời điểm hiện nay Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả định hướng này đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân bởi từ quan điểm đến triển khai là một quãng đường dài
Năm 2009, Nghị quyết 63/NQ-CP về ANLT quốc gia của Chính phủ được ban hành Điều này khẳng định, vấn đề ANLT (bao gồm lương thực, thực phẩm) được Đảng và Nhà nước luôn đặc
biệt quan tâm, chỉ đạo, nhằm bảo đảm ANLT quốc gia cả trước mắt và lâu dài Nghị quyết xác định
mục tiêu chiến lược ANLT quốc gia đến năm 2020 là “Đảm bảo vững chắc ANLT ở từng hộ gia
đình và trên phạm vi toàn quốc trong mọi tình huống bằng việc đẩy mạnh phát triển sản xuất lương
th ực, chủ yếu là lúa và ngô trên cơ sở ổn định diện tích đất lúa nước, tăng cường thâm canh tăng năng suất, sản lượng, tăng hiệu quả và thu nhập cho người sản xuất lương thực, tăng khả năng tiếp
c ận đủ lương thực của mọi người dân trong mọi tình huống”
Năm 2010, Chính phủ thành lập Ủy ban ANLT quốc gia, điều phối các hoạt động có liên quan tới ANLT quốc gia Điều này đã xác lập được trách nhiệm thuộc về ai trong việc đảm bảo ANLT quốc gia và là một một bước tiến quan trong trong vấn đề đảm bảo ANLT
Ngày 03/03/2010, Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) đã hợp tác với Nhóm
công tác về cây lúa khu vực Đông Á tổ chức Hội thảo “Vấn đề ANLT tại Việt Nam” diễn ra trong
một ngày Hội thảo được tổ chức nhằm:
Chia sẻ thông tin về thực trạng sản xuất lương thực và ANLT tại Việt Nam;
Tìm hiểu năng lực của Việt Nam trong việc đảm bảo ANLT, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008 và trong bối cảnh thay đổi khí hậu như hiện nay;
Tìm hiểu các chương trình, chính sách và công tác đánh giá về ANLT của Chính phủ Việt Nam
0
T0ại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 18 tại thủ đô Jakarta (Indonesia) thượng tuần tháng 05/2011, ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) đã ký thỏa thuận khung về ANLT, theo đó nhất trí dự trữ trên 700000 tấn gạo để ngăn chặn tăng giá
Trang 18Về mặt nghiên cứu, có rất nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến ANLT của Việt Nam và vùng ĐBSCL Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở một gốc độ nhất định về những vấn đề liên quan đến thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, để góp phần đảm bảo ANLT, hoặc chỉ đề cặp đến một khía cạnh nhỏ, chẳng hạn, nghiên cứu về đất đai hay vai trò của nông nghiệp, giống phục vụ sản xuất nông nghiệp góp phần thúc đẩy đảm bảo ANLT Có thể kể đến một số công trình của Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh như: Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách đất đai đến kinh tế nông hộ và bền vững về môi trường, Nghiên cứu vai trò của giới trong nông nghiệp và ANLT (2008 - 2009), Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất chính sách bù đắp thu nhập cho những hộ sản xuất lúa trong
vùng lúa chuyên canh đảm bảo ANLT quốc gia của TS Nguyễn Bảo Dương, Dự án “Tăng hiệu quả
phân đạm trong sản xuất lúa” đã được nhận Giải thưởng sáng tạo trị giá 200000 USD tại Cuộc thi
“ Ý tưởng phát triển toàn cầu” nhằm phục vụ cho phát triển nền nông nghiệp bền vững (Global
Development Marketplace) của Ngân hàng Thế giới vào ngày 26/09/2008
Nghiên cứu gần gũi nhất về ANLT vùng ĐBSCL là đề tài “Nghiên cứu ANLT hộ gia đình
vùng Tứ giác Long xuyên” của Nguyễn Thị Song An Đề tài đã đưa ra kết quả khảo sát và phân tích
tình hình ANLT hộ gia đình ở vùng Tứ giác Long Xuyên - An Giang
Nhìn chung, có rất nhiều đề tài liên quan và góp phần đảm bảo ANLT ĐBSCL nhưng chỉ phản ánh ở một mức độ nhất định và chưa đi sâu vào làm rõ cơ sở lí luận về ANLT; chưa đánh giá
cụ thể hiện trạng, những ảnh hưởng của thu nhập trong việc đảm bảo ANLT; chưa dự báo cân đối cung cầu lương thực trong tương lai,… để đề ra phương pháp và giải pháp đảm bảo ANLT lâu dài
và bền vững
Như vậy, nghiên cứu về ANLT là vấn đề mang tính toàn cầu và khá phức tạp, đòi hỏi phải có
sự tập trung nghiên cứu nhiều hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn, góp phần đảm bảo ANLT bền vững trong tương lai
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan các vấn đề liên quan đến ANLT;
Làm sáng tỏ các khía cạnh lý thuyết, thực tiễn và tiêu chí về ANLT của thế giới và Việt Nam, áp dụng vào nghiên cứu hiện trạng và giải pháp đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL dưới góc độ địa lý Góp phần làm sáng tỏ nhận thức, nội dung và phương pháp đánh giá ANLT;
Đưa ra các giải pháp tối ưu để đảm bảo ANLT
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Đúc kết cơ sở lí luận về ANLT của thế giới và Việt Nam;
Trang 19Phân tích thực trạng đảm bảo ANLT ở vùng ĐBSCL trên cả 2 cấp độ là: cấp vùng và cấp hộ gia đình;
Phân tích các nhân tố tác động đến việc đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL;
Dự báo khả năng đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL trong tương lại;
Định hướng các giải pháp đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL, tiến đến phát triển một nền nông nghiệp bền vững
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau đây:
Phân tích hiện trạng các cấp độ đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 - 2010; Đánh giá tiềm năng phát triển lương thực vùng ĐBSCL;
Phân tích các nhân tố tác động đến việc đảm bảo ANLT của vùng ĐBCSL;
Dự báo khả năng đảm bảo ANLT của ĐBSCL đến năm 2050;
Đưa ra giải pháp đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn 2050
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên toàn bộ lãnh thổ vùng ĐBSCL Đồng thời, Luận văn cũng đặt vùng ĐBSCL trong mối quan hệ với các vùng lân cận và cả nước
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, dựa trên những quan điểm sau:
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của khoa học Địa lý kinh tế - xã hội là hệ thống lãnh thổ bao gồm nhiều thành phần (tự nhiên, kinh tế, xã hội, ) có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Do đó, bất
kì một sự thay đổi nào dù lớn hay nhỏ của một thành phần sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành
phần khác trong toàn bộ hệ thống Đối với vấn đề ANLT vùng ĐBSCL, nếu có sự thay đổi của bất
kì thành phần nào đó, chẳng hạn như những thay đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội hoặc
biến động thị trường, thiên tai xảy ra, sẽ kéo theo sự thay đổi lớn trong vấn đề đảm bảo ANLT Do
đó, trong nghiên cứu, cần phải thấy được mối quan hệ này để đưa ra các giải pháp tối ưu, giúp việc
giải quyết vấn đề ANLT được đồng bộ và đúng đắn
5.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Trang 20Các đối tượng nghiên cứu trong Địa lý kinh tế - xã hội có những đặc trưng riêng, nhưng quá trình tồn tại và phát triển của chúng gắn liền với một lãnh thổ nhất định Vì vậy, khi nghiên cứu hiện
trạng và tìm giải pháp giải quyết vấn đề ANLT vùng ĐBSCL thì phải thấy rằng, vùng ĐBSCL là
một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng địa lý khác nhau như địa hình, khí hậu, đất đai,
cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lao động, các hộ gia đình, Đồng thời, cũng là nơi các
hoạt động sản xuất lương thực, lưu thông lương thực, tiêu thụ lương thực, đang diễn ra Do đó, trong quá trình nghiên cứu, phải xem xét và đánh giá tất cả các đối tượng có liên quan đến để đảm
bảo tính toàn diện và khách quan
5.1.3 Quan điểm phát triển bền vững
Giải quyết vấn đề ANLT vùng ĐBSCL nói chung không ngoài mục đích kinh tế, nhưng còn
phải tính đến khả năng chịu đựng của các yếu tố sinh thái Vùng ĐBSCL hướng đến mục tiêu đảm
bảo ANLT bền vững thì cần quan tâm sâu sắc và giải quyết mối quan hệ hữu cơ giữa việc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên Vùng ĐBSCL phải là một vùng trọng điểm về ANLT
quốc gia nhưng chỉ sử dụng tối thiểu các nguồn tài nguyên
5.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh trong nghiên cứu đề tài để thấy được vấn đề ANLT vùng ĐBSCL qua từng thời kì Từ đó, thấy được những yếu kém, đúc kết kinh nghiệm, đưa ra
những giải pháp cụ thể giải quyết vấn đề ANLT vùng ĐBSCL
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Việc hoàn thành Luận văn này đã dựa trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu sau:
5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Tài liệu phục vụ cho nghiên cứu rất đa dạng, bao gồm: tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành, tạp chí và báo cáo khoa học liên ngành, sách chuyên ngành, số liệu thống kê, đòi hỏi người nghiên cứu phải thu thập và xử lí Vận dụng phương pháp này giúp người nghiên cứu khái quát được cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu của những người đi trước; các chủ trương và chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu và số liệu thống kê, Trên cơ sở các tài
liệu thu thập được, tiến hành lựa chọn và xử lý (phân tích, tổng hợp, so sánh) nhằm chắt lọc ra
những thông tin cần thiết cho nội dung đề tài
Các tài liệu có liên quan mật thiết đến địa bàn nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Số liệu thống kê của 12 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL qua các thời kì;
Số liệu thống kê về tình hình cây lương thực theo địa phương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Các số liệu thống kê từ các cuộc điều tra khảo sát thực địa;
Trang 21Số liệu thống kê từ các Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trong quá trình thực hiện được đề tài, tác giả đã tiến hành đi thực địa 5 lần để thu thập bản
đồ, tài liệu, chụp ảnh, phỏng vấn, tham quan và tìm hiểu tình hình ANLT
5.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này có tác dụng giúp người nghiên cứu thu thập, phân tích và tổng hợp được thông tin một cách đa dạng, khách quan, cập nhật với độ tin cậy cao chỉ trong một khoảng thời gian
ngắn Hơn thế nữa, phương pháp này còn nhắm vào đúng mục đích, đối tượng của người nghiên
cứu Để thực hiện phương pháp này, cần thực hiện một số bước: khảo sát, xác định các đối tượng và
nội dung cần điều tra thông qua một số lần thực tế; phỏng vấn bằng hình thức trao đổi, chuyện trò
5.2.4 Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu địa lý nói chung Bản đồ thể hiện sự phân
bố, mối liên hệ và động thái của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau Vì thế, bản đồ
vừa là nguồn tư liệu quý giá giúp người nghiên cứu có thể khai thác những thông tin cần thiết, đồng
thời là phương tiện thể hiện một cách trực quan, khái quát một số đối tượng nghiên cứu của đề tài
5.2.5 Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng để xác định xu hướng, diễn biến của tập hợp các số liệu thu
thập được Tùy thuộc vào tính hệ thống và khả năng thu thập thông tin, số liệu có thể được trình bày dưới nhiều dạng, từ đơn giản đến phức tạp, từ dạng kém trực quan đến trực quan hơn, gồm: các con
số rời rạc, bảng số liệu, biểu đồ, nhằm thể hiện các mối quan hệ và xu thế của sự vật
Trong đề tài, tác giả đã dùng phương pháp thống kê để thể hiện các số liệu dưới dạng bảng
biểu về diện tích, sản lượng, năng suất cây lương thực qua các thời kì, các số liệu thống kê về đói
nghèo,
5.2.6 Phương pháp khai thác phần mềm công nghệ thông tin
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tác giả sử dụng một số phần mềm ứng dụng của công nghệ thông tin Phần mềm Microsoft Offices, dùng để xử lí các thông tin thu thập được dưới các
dạng văn bản, bảng biểu, công thức, Phần mềm MapInfo, được sử dụng để biên tập bản đồ phục
vụ đề tài Mạng Internet dùng để tìm kiếm các thông tin có liên quan đến đề tài, Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng các phần mềm và phương pháp toán học để tính toán đánh giá mức độ ANLT
Trang 225.2.7 Phương pháp phân tích hồi quy
Phân tích hồi quy nghiên cứu mối liên hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay
biến được giải thích), với một hay nhiều biến khác (được gọi là (các) biến độc lập hay giải thích) nhằm ước lượng hoặc dự báo giá trị trung bình của biến phụ thuộc với các giá trị đã biết của (các) biến độc
lập
Phân tích hồi quy có nhiệm vụ: ước lượng giá trị trung bình của biến phụ thuộc với giá trị đã cho của biến độc lập; kiểm định giả thiết về bản chất của sự phụ thuộc; dự đoán giá trị trung bình của
biến phụ thuộc khi biết giá trị của các biến độc lập; kết hợp các vấn đề trên [11]
Trong Luận văn này, chúng tôi sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để dự báo dân số, diện tích đất nông nghiệp, thu nhập,… Đồng thời, nghiên cứu mối quan hệ giữa tổng nhu cầu tiêu dùng lương thực
Đánh giá tiềm năng phát triển lương thực vùng ĐBSCL;
Phân tích hiện trạng các cấp độ đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL;
Phân tích các nhân tố tác động đến việc đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL;
Dự báo cân đối cung cầu lương thực vùng ĐBSCL đến năm 2050;
Đưa ra giải pháp đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn 2050
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lí luận và thực tiễn về an ninh lương thực
Chương 2 Thực trạng về an ninh lương thực vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Chương 3 Định hướng các giải pháp giải quyết vấn đề an ninh lương thực vùng Đồng bằng
sông Cửu Long giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn 2050
Trang 23Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ THỰC
TIỄN Ở VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề lý luận về an ninh lương thực
1.1.1 Nhận thức chung về an ninh lương thực
Từ nhiều năm nay, các quốc gia và các tổ chức quốc tế vẫn dùng cụm từ “Food Security” để
chỉ “An ninh Lương thực” Từ “Security” vừa có nghĩa là “An toàn” vừa có ý nghĩa là “An ninh”
Tuy nhiên, cụm từ “Food Security” cần được hiểu là “An ninh Lương thực” [2], vì 3 lẽ cơ bản sau:
Th ứ nhất, khác với sản phẩm thông thường, lương thực luôn luôn là nhu yếu phẩm tối thiết
số một của tất cả mọi người, mọi thành viên thuộc cộng đồng xã hội ở tất cả các nước không phân
biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, chủng tộc, không phân biệt trình độ kinh tế, văn hóa Lương thực không chỉ mang nội dung kinh tế, xã hội mà còn bao hàm cả ý nghĩa chính trị, quốc phòng Trên
thực tế, lương thực đã từng được sử dụng như một vũ khí chính trị quan trọng ở nhiều quốc gia
Th ứ hai, trong một thời gian dài hoạt động cho mục tiêu ANLT, người ta nhận thấy từ “An toàn” thường chỉ thuần túy là không có sự cố hoặc không có tổn hại xảy ra, chẳng hạn như an toàn lao động, an toàn giao thông Tuy nhiên, ở phạm vi rộng hơn thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội, quốc phòng, do sự khác nhau về mức độ, nội dung và tính chất phức tạp của nó người ta lại nói: An ninh Chính trị, An ninh Quốc phòng Trên thực tế, vấn đề lương thực có tầm quan trọng chiến lược ở tất
cả mọi quốc gia, ảnh hưởng đến toàn bộ tình hình xã hội, đời sống chính trị và lĩnh vực quốc phòng
Do đó, dùng từ “An ninh Lương thực” sẽ biểu đạt được đầy đủ hơn ý nghĩa thực tế của nó
Th ứ ba, gắn liền với ANLT là một hệ thống đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội cần được
phối hợp chặt chẽ trên toàn cầu cũng như trong từng quốc gia đơn lẻ Các chính sách này rất đa
dạng bao gồm chính sách tài chính, dân số, đất đai, lao động, chính sách đầu tư khoa học công nghệ, chính sách tạo việc làm và thu nhập, chính sách xã hội nhân đạo, Như vậy, “An toàn Lương thực”
không bao hàm được đầy đủ nội dung này
Cũng vì ba lẽ trên mà từ Hội thảo khoa học “Tiến tới An ninh Lương thực Quốc gia và Toàn
c ầu” tổ chức tại Hà Nội tháng 08 năm 1996, các văn bản dùng tiếng Việt cũng thống nhất dùng
chính thức cụm từ “An ninh Lương thực” thay cho cụm từ “An toàn Lương thực” [2] Đặc biệt,
thông qua các hội thảo, hội nghị quốc tế, nhận thức về ANLT ngay trong việc dùng từ cũng ngày càng được hoàn thiện và chuẩn mực hơn
Trang 241.1.2 Khái niệm an ninh lương thực
Nhu cầu về các hàng hóa nông nghiệp, đặc biệt là lương thực có độ co giãn rất thấp đối với
những thay đổi về giá cả bởi vì người tiêu dùng vẫn phải tiêu thụ một lượng lương thực nhất định cho
dù mức giá như thế nào Vì vậy từ lâu, vấn đề ANLT đã được hết sức quan tâm, không chỉ ở phạm vi
mỗi quốc gia mà còn trên toàn cầu
Thừa nhận tầm quan trọng của ANLT nên vấn đề ANLT luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau và thực tế ngay cả một thập kỷ trước thì cũng đã có đến khoảng 200 định nghĩa trong các bài viết được xuất bản [52] Vì thế, khái niệm này được diễn
giải theo nhiều cách khác nhau Maxwell (1996) cho rằng, bất cứ khi nào quan niệm này được đề
cập đến trong tiêu đề của một nghiên cứu thì nên đưa ra các định nghĩa rõ ràng hoặc ngầm định cho sát với thực tế
Hội nghị Thượng đỉnh Lương thực Thế giới năm 1974 định nghĩa ANLT là:
“Lúc nào cũng có đủ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cơ bản của thế giới để đảm bảo
vi ệc tiêu dùng lương thực, thực phẩm ngày một nhiều hơn và để bù đắp được những biến động trong s ản xuất và giá cả” [7]
Năm 1983, FAO mở rộng quan niệm này để tính thêm cả việc đảm bảo cho những người dễ
bị tổn thương tiếp cận được với các nguồn cung cấp sẵn có, hàm ý rằng cần phải quan tâm đến sự cân bằng giữa cầu và cung trong bài toán ANLT:
“Đảm bảo tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với ngu ồn lương thực mà họ cần” [47]
Sau đó, Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1986 với tiêu đề “Đói nghèo” đã tập
trung vào tính linh hoạt theo thời gian của mất ANLT Báo cáo này đã đưa ra sự phân biệt giữa mất ANLT kinh niên, gắn liền với các vấn đề về nghèo khổ lâu năm hoặc nghèo khổ cơ cấu và thu nhập
thấp và mất ANLT đang chuyển đổi liên quan đến các giai đoạn khi thảm hoạ thiên nhiên, kinh tế
sụp đổ hoặc xung đột gây ra các sức ép lớn; và điều này đã được chấp thuận rộng rãi Quan niệm
về ANLT được cụ thể hoá hơn theo nghĩa:
“T ất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được với đủ lương thực, thực phẩm để đảm bảo một
cu ộc sống khoẻ mạnh và năng động”
Năm 1996, Hội nghị Lương thực Thế giới sử dụng một khái niệm thậm chí còn phức tạp hơn:
“An ninh l ương thực ở các cấp độ cá nhân, gia đình, khu vực và toàn cầu đạt được khi tất
c ả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ,
an toàn và đảm bảo dinh dưỡng, để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn, nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh” [47]
Báo cáo về tình hình mất ANLT năm 2001 đã chỉnh sửa lại quan niệm này như sau:
Trang 25“An ninh l ương thực là tình trạng khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về
m ặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và kho ẻ mạnh”
Như vậy, ANLT là khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu ăn
uống và khẩu vị thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động, khoẻ mạnh và người trồng lúa không nghèo
Đối với Việt Nam, khái niệm ANLT được đưa vào từ năm 1992 khi thực hiện Dự án mẫu về ANLT do Chính phủ Ý tài trợ thông qua FAO Đến nay, qua nhiều lần hội thảo, xuất phát từ yêu cầu
thực tế, khái niệm ANLT ở Việt Nam được hiểu gồm có 4 bộ phận chính [2]:
S ản xuất đủ yêu cầu lương thực, thực phẩm của xã hội (tính sẵn có): việc cung cấp đầy đủ
lương thực, thực phẩm ở đây vừa phải quan tâm về số lượng, vừa phải chú ý đến chất lượng ngày càng tăng cao của xã hội;
Cung c ấp lương thực thực, phẩm ổn định (tính ổn định): hoàn thiện hệ thống phân phối và
phát triển thị trường để lương thực, thực phẩm đến được mọi nơi, mọi lúc với giá cả ổn định ngay cả trong tình huống xấu nhất khi có thiên tai xảy ra;
Kh ả năng kinh tế để tiếp cận đến lương thực, thực phẩm (tính tiếp cận): là khả năng thực tế
để mọi người có thể mua được lương thực, thực phẩm tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống của họ Yếu
tố này đề cập đến phương kế kiếm sống như tài sản của hộ (đất đai, lao động, vốn,…), việc làm và thu nhập;
V ệ sinh an toàn thực phẩm: là một trong những yếu tố không thể thiếu được của khái niệm
ANLT quốc gia Yếu tố này đề cập đến tiêu chuẩn vệ sinh, chất lượng cần thiết để lương thực, thực
phẩm không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng
Ở mỗi quốc gia cụ thể có đặc điểm tự nhiên, kinh tế, khoa học, văn hoá,… khác nhau, chính
vì thế, quan điểm về ANLT ở từng quốc gia cụ thể cũng sẽ phải cụ thể hoá theo các đặc điểm phù
hợp đó, nhằm phù hợp và có các giải pháp, chính sách và phát huy hiệu quả và đạt kết quả cao trong
việc đảm bảo ANLT cho quốc gia mình
Tóm l ại, ANLT, thực phẩm được hiểu là số lượng lương thực, thực phẩm có sẵn đủ để cung
cấp, khả năng điều phối đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu ở bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào, điều kiện
và khả năng của người được cung cấp lương thực có thể tiếp nhận lương thực không có khó khăn gì
Ở một khía cạnh khác, ANLT còn cần được thể hiện ở khía cạnh đảm bảo chất lượng của
phần lương thực, thực phẩm được cung cấp cho người tiêu dùng, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng không chỉ trong điều kiện lao động thường nhật mà cả cho việc duy trì và phát triển nòi giống Ngày
Trang 26nay, việc đảm bảo ANLT, dù là theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, cho cả loài người đặt ra những thách
thức lớn cho các quốc gia cũng như cho cộng đồng thế giới Nó đòi hỏi sự nỗ lực của bản thân các quốc gia, đồng thời phải có sự phối hợp, chung tay hành động giữa các quốc gia trong việc giải quyết các
vấn đề ANLT
1.1.3 Các cấp độ an ninh lương thực
ANLT được chia ra các cấp độ khác nhau bao gồm [2]:
Sơ đồ 2 Các cấp độ ANLT và Các cách tiếp cận ANLT
`
1.1.3.1 Cấp cá nhân
ANLT cấp cá nhân nhằm thỏa mãn yêu cầu lương thực, thực phẩm đảm bảo vệ sinh, đủ chất dinh dưỡng, phù hợp với tâm sinh lý để có một cuộc sống khỏe mạnh, phát triển nòi giống ANLT
cấp cá nhân là kết quả cuối cùng của vấn đề ANLT, là tiêu chí quan trọng đánh giá việc đảm bảo
“Quy ền không bị đói” của mọi thành viên trong xã hội Đề cập đến ANLT cấp cá nhân cần phải
xem xét sự khác nhau giữa các nhóm người khác nhau theo tuổi, giới tính, khu vực, nghề nghiệp,
mức thu nhập,… Đó là sự khác nhau về nhu cầu tiêu dùng lương thực của trẻ em và người già, của người lao động nặng và lao động nhẹ, giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn, giữa người giàu
và người nghèo, Tuy nhiên, nếu xét đến cấp độ ANLT cho từng cá nhân thì ngay cả ở những nước phát triển cũng chưa thể làm được và cũng không đảm bảo, đáp ứng được độ chính xác và tính kinh
tế của nó Vì thế, với điều kiện hiện nay, Việt Nam chưa thể tiếp cận vấn đề ANLT trên cấp độ cá nhân
Trang 27Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và những rủi
hộ gia đình - cấp kinh tế và xã hội cơ bản sẽ là điều kiện cần thiết để đảm bảo “lương thực cho mọi
người” ( Xem Sơ đồ 3)
Sơ đồ 3 Khung phân tích an ninh lương thực hộ gia đình [2]
Nếu đứng trên cấp độ của một quốc gia hay một vùng nào đó, việc đánh giá tình hình ANLT thường chỉ dựa trên khía cạnh cung lương thực là chủ yếu Như chúng ta đã biết, cung lương thực
chỉ đảm bảo tính sẵn sàng và tính ổn định chứ chưa thể hiện tính tiếp cận lương thực của người tiêu dùng Việc cung cấp đủ lương thực và người dân ăn đủ no là hai khía cạnh hoàn toàn khác nhau, không thể đồng nhất Vì thế, nếu xét trên những cấp độ này, cho dù có kết luận là đã đảm bảo ANLT nhưng thực chất tình trạng thiếu ăn vẫn còn tồn tại Vì kết quả của những chính sách ANLT
được thực hiện chưa đạt đúng như mong đợi
Do có thể tiêu dùng riêng một số thực phẩm nào đó, nhưng phần lớn các cá nhân thường chia
sẻ thực phẩm chung với gia đình Vì thế, tiếp cận vấn đề dinh dưỡng, ANLT trên cấp độ hộ gia đình
là tương đối thích hợp Nó phản ánh phần nào được tính tiếp cận lương thực và tình hình ANLT
thực tế diễn ra ở một vùng, một quốc gia và phản ánh tương đối chính xác tình hình an toàn dinh dưỡng của từng cá nhân Dĩ nhiên, trong một hộ gia đình, với một lượng lương thực tiêu thụ nhất định trong ngày, các cá nhân có thể tiêu thụ một lượng lương thực khác nhau do đặc điểm riêng của
từng cá nhân Tuy nhiên, đứng trên cấp độ hộ gia đình, chúng ta không xét đến sự khác biệt này
Trang 28Tóm l ại, yếu tố tác động mạnh đến ANLT của hộ trong thời gian ngắn là giá lương thực và
thu nhập của hộ và về lâu dài là nguồn lực của hộ như đất đai, lao động, giáo dục, vốn, kinh nghiệm Nhưng do lương thực là mặt hàng thiết yếu không thể thiếu nên dù giá cao hay thấp thì con người cũng phải tiêu thụ một lương lương thực cần thiết để duy trì cuộc sống và phát triển thể
chất Nên thu nhập của hộ là nhân tố cần xem xét đánh giá khi nghiên cứu về ANLT hộ gia đình
1.1.3.3 Cấp quốc gia và cấp vùng
Trở lại với khái niệm ANLT do FAO đưa ra năm 1996:
“An ninh lương thực là trạng thái mà ở đó tất cả mọi người, tại mọi thời điểm, đều có sự tiếp
c ận cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đủ dinh dưỡng, đáp ứng chế
độ ăn uống và thị hiếu lương thực của mình, đảm bảo một cuộc sống năng động và khỏe mạnh” [10]
Như đã nêu, khái niệm ANLT có thể được sử dụng ở nhiều cấp độ khác nhau Ở cấp độ quốc gia và vùng, ANLT của toàn dân tộc được hiểu là luôn luôn đảm bảo có sự cung cấp đầy đủ lương
thực cho toàn dân tộc, đảm bảo trên phạm vi toàn quốc không ai bị đói và mọi người đều được hưởng thụ cuộc sống năng động và khỏe mạnh
Để đảm bảo ANLT của một quốc gia thì quốc gia ấy phải đáp ứng được những điều kiện cơ
bản của ANLT nói chung, bao gồm:
Sự sẵn có nguồn lương thực;
Sự tiếp cận với nguồn lương thực;
Sự ổn định của nguồn cung lương thực;
Sự an toàn, chất lượng của nguồn lương thực cung ứng
Theo quan điểm toàn diện về ANLT của mỗi quốc gia, vấn đề không chỉ là sản xuất ra lượng lương thực để đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân mà còn cần phải quan tâm đến cả ba vấn đề sau đây:
V ấn đề sản xuất: phải có đủ lương thực để cung cấp cho toàn xã hội trong mọi hoàn cảnh, ở
tất cả các vùng miền, địa phương trong cả nước, tại mọi thời điểm;
V ấn đề phân phối: phải có hệ thống cung ứng lương thực đến tay người tiêu dùng với mức giá mà
cả người mua và người bán chấp nhận được;
V ấn đề thu nhập: phải tạo điều kiện để mọi người đều có việc làm, có thu nhập để có đủ tiền mua
lương thực đáp ứng nhu cầu của bản thân và gia đình
Tóm l ại, ANLT là sự đảm bảo bình ổn việc cung cấp đầy đủ lương thực cần thiết về số lượng
và chất lượng cho tiêu dùng của tất cả mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc
Trang 291.1.4 Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá mức độ an ninh lương thực
1.1.4.1 Ở cấp độ quốc gia và vùng
Có 2 nhóm chỉ tiêu cơ bản:
Nhóm ch ỉ tiêu về kinh tế
B ảng cân đối lương thực (food balance sheet): là chỉ tiêu cơ bản đánh giá mức độ ANLT của
một quốc gia hay một vùng trong một giai đoạn nhất định được đo bằng tổng cầu lương thực
T ổng cung: là tổng số lương thực sẵn sàng cung cấp trong một thời gian nhất định (thường là
1 năm) bao gồm:
Số lương thực được sản xuất ra sau khi đã trừ đi số hao hụt;
Số lượng nhập khẩu (nếu có);
Số lượng dự trữ của năm trước
T ổng cầu lương thực, gồm:
Nhu cầu ăn của toàn xã hội;
Nhu cầu lương thực dùng cho chăn nuôi;
Nhu cầu lương thực cho ngành công nghiệp chế biến;
Nhu cầu để giống;
Lương thực xuất khẩu
M ức lương thực bình quân đầu người (gạo hoặc thóc): phản ánh nhạy bén mức độ đáp ứng
nhu cầu của toàn xã hội Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu khi xem xét, đánh giá tình hình ANLT
về tinh bột, tất cả các loại khác như ngô, khoai, sắn,… chỉ chiếm gần 10%
Đối với từng quốc gia cụ thể cần phải có bảng cân đối lương thực để định hướng khả năng đảm bào lương thực cho tương lai và hạn chế sự biến động của giá lương thực nhằm giảm nguy cơ
khủng hoảng lương thực, góp phần đảm bảo ANLT
Nhóm ch ỉ tiêu về xã hội
T ỷ lệ người nghèo trong xã hội: cho thấy mức sống thực tế của xã hội Trên thực tế, chỉ tiêu
này được xác định theo 2 cách:
Mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng trong hộ gia đình thấp hơn ngưỡng nghèo đói (tính theo lượng cầu lương thực tối thiểu nhân với mức giá lương thực);
Mức tiêu dùng calo bình quân hàng ngày trong hộ gia đình để phân loại ra từng mức: đói, thiếu đói, có nguy cơ đói
T ỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em và phụ nữ có thai: đây là hai nhóm người trong xã hội có
nguy cơ suy dưỡng cao nhất và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lâu dài của thể lực, trí lực và
việc giữ gìn nòi giống,…
Trang 30Trong nhóm chỉ tiêu về xã hội thì tỉ lệ người nghèo trong xã hội là nhóm người thật sự mất ANLT, thu nhập của họ không đủ để đảm bảo chi tiêu lương thực thiết yếu hàng ngày Còn tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em và phụ nữ mang thai sẽ phản ánh một mặt về sự mất ANLT Mặt khác, sự thiếu những dinh dưỡng cần thiết, sự không cân đối trong khẩu phần ăn làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự phát triển thể chất và duy trì nòi giống
Các ch ỉ tiêu gián tiếp
Để đo lường mức độ ANLT cấp hộ gia đình người ta thường tính toán một cách gián tiếp qua
2 chỉ tiêu sau:
Mức chi tiêu (tối thiểu) của 1 người trong 1 ngày (hoặc tháng hoặc năm) để có được mức năng lượng tối thiểu Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì UNDP khuyến cáo chi tiêu cho 45 mặt hàng lương thực thực phẩm cơ bản (tiếp cận theo khía cạnh chi tiêu);
Dựa vào giá cả và số lượng những mặt hàng lương thực, thực phẩm người ta tính toán mức thu nhập tối thiểu và nguồn thanh toán để có thể trang trải mức chi tiêu để đảm bảo được lượng dinh dưỡng cần thiết (tiếp cận theo khía cạnh thu nhập)
Trong các cách tiếp cận nêu trên thì cách tiếp cận theo mức ăn và thu nhập là cụ thể và rõ ràng nhất trong đánh giá nghiên cứu mức độ ANLT cấp hộ gia đình Cách tiếp cận này đòi hỏi
những điều tra chi tiết về khẩu phần bữa ăn của các gia đình, nó cần nhiều thời gian và tài chính để
thực hiện Cách tiếp cận về thu nhập và chi tiêu thường được sử dụng trên diện rộng và trong một
thời gian hạn chế
1.1.5 Vai trò của an ninh lương thực
Đảm bảo ANLT sẽ giúp cho mọi người đều được tiếp cận được với lương thực Một quốc gia
có phát triển bền vững hay không thì trước tiên, quốc gia đó phải có một nền chính trị ổn định, một
nền kinh tế phát triển và một nền văn hoá đặc trưng phù hợp,… Nhưng để có được điều đó, trước tiên, quốc gia đó phải duy trì cuộc sống của các công dân trên lãnh thổ của mình để thực hiện các công việc, duy trì sự hoạt động của cả quốc gia Vì vậy, muốn duy trì được điều đó đòi hỏi các quốc gia sẽ phải quan tâm đến đời sống của các công dân về mọi mặt như ăn, uống, ở, mặc, đi lại,… để
họ yên tâm làm việc và giúp quốc gia đó phát triển
Trang 31Vấn đề quan trọng trước tiên đó chính là giải quyết vấn đề ăn cho người dân, đòi hỏi các
quốc gia phải có các chính sách, chiến lược về lương thực, để đảm bảo ANLT hay nói cách khác, các quốc gia phải đảm bảo cho mọi người dân trong quốc gia mình sẽ được tiếp cận với lương thực,
có đủ lương thực để đảm bảo duy trì cuộc sống và duy trì công việc Vậy, đảm bảo ANLT có vai trò
hết sức quan trọng, nó sẽ giúp cho mọi người đều được tiếp cận với lương thực Ở mỗi vùng khác nhau, việc tiếp cận lương thực lại theo các hướng khác nhau Ở thành thị không sản xuất được lương
thực thì hướng tiếp cận là mua bán, trao đổi (thương mại); ở các vùng nông thôn, sản xuất được lương thực nên việc tiếp cận với lương thực sẽ theo hướng tự cung, tự cấp Các vùng núi, vùng sâu, vùng xa vừa sản xuất tự cung, tự cấp, vừa thương mại trao đổi lương thực, do ở khu vực này sản
xuất lương thực có năng suất thấp, diện tích gieo trồng ít, kỹ thuật canh tác thấp kém, đi lại khó khăn nên tình trạng thiếu lương thực thường xuyên xảy ra, gây nên tình trạng đói về lương thực Điều này càng thể hiện rõ vai trò của việc đảm bảo ANLT, nó không chỉ giúp người dân tiếp cận được với lương thực ở mọi lúc, mọi nơi mà nó còn góp phần ổn định về chính trị và kinh tế,… Quan
trọng hơn, đảm bảo cuộc sống cho người dân sẽ giúp người dân duy trì cuộc sống và yên tâm hơn để
có thể làm việc và giúp thoát khỏi nghèo đói
Đảm bảo ANLT sẽ giúp cho các quốc gia đối phó được với các biến động đột như là thiên tai, hạn hán, chiến tranh, xung đột, Trong thực tế, nếu như quốc gia nào không đảm bảo được ANLT thì sẽ gây nên những sự bất ổn về mọi mặt Vì thế, Chính phủ phải đảm bảo ANLT để ứng phó với mọi tình huống xảy ra
Đảm bảo ANLT giúp cân bằng cung cầu thị trường lương thực, ổn định giá cả Vai trò quan
trọng của việc đảm bảo ANLT chính là việc điều tiết cung cầu lương thực giữa các quốc gia và các vùng Nhờ có đảm bảo ANLT với những chính sách và chiến lược hợp lý mà lương thực luôn được đảm bảo và ít xảy ra biến động về cung cầu cũng như giá cả Điều này giúp cho người dân yên tâm hơn và tích cực làm việc; giúp cho các quốc gia, các vùng phát triển một cách bền vững và ổn định
Đảm bảo ANLT nhằm thực hiện nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo Trên thế giới hiện nay,
vấn đề nghèo đói vẫn đang là vấn đề nóng bỏng, đặc biệt là các quốc gia phát triển với tỷ lệ nghèo còn cao và đòi hỏi các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế đất nước phải tìm mọi cách để
giảm nghèo, giảm dần khoảng cách giữa các vùng Ở Việt Nam hiện nay, trong quá trình xóa đói
giảm nghèo, việc giải quyết đầu tiên đó chính là giảm nhanh vấn đề nghèo về lương thực, thực
phẩm để giải quyết vấn đề ăn cho nhân dân, để họ yên tâm làm việc và thực hiện nhiệm vụ của mình, thúc đẩy nhanh quá trình xoá đói giảm nghèo
Đảm bảo ANLT cấp cơ sở tạo điều kiện để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn Khi đảm bảo ANLT, chúng ta phải làm từ cấp cơ sở, bởi lẽ, đối tượng
để chúng ta tác động chính là nông dân và họ đều sinh sống ở nông thôn và họ sản xuất nông nghiệp
Trang 32là chính Vì vậy, đảm bảo được ANLT cấp cơ sở sẽ tạo điều kiện để chuyển đổi và phát triển kinh tế
ở nông thôn Khi đảm bảo ANLT, chúng ta thực hiện sản xuất lương thực, đặc biệt là thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, có đủ lương thực đảm bảo cho người dân tiêu dùng, có thể đem bán và sẽ tăng thu nhập, cải thiện đời sống, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chiến lược công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
Đảm bảo ANLT cấp cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã
hội nông thôn nói riêng và phát triển đất nước nói chung, nó sẽ đảm bảo sự ổn định, sự bền vững khi đất nước ta tiến lên xã hội chủ nghĩa
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực
Giá lương thực tăng cao sẽ gây ra lo ngại về tình trạng lương thực và dinh dưỡng của
người nghèo ở các nước đang phát triển, ngày càng tăng số lượng người thiếu đói vì lương thực
mua lương thực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống Đây sẽ là lực lượng bị ảnh hưởng nhiều nhất khi giá lương thực tăng cao Giá lương thực tăng cao là nguyên nhân dẫn đến
khủng hoảng lương thực và những biến động về chính trị
Cụ thể hơn, cuộc khủng hoảng lương thực có những tác động chủ yếu sau đây đến tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của các quốc gia trên thế giới:
Khủng hoảng lương thực, mà biểu hiện chính là giá lương thực tăng nhanh, là một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình hình lạm phát toàn cầu, ảnh hưởng mạnh đến các nước chậm phát triển có tỷ trọng lương thực cao trong tiêu dùng;
Cuộc khủng hoảng lương thực thế giới có tác động nghiêm trọng đến tình hình an ninh chính trị
của nhiều nước Giá lương thực tăng cao tác động trực tiếp đến chất lượng sống của người dân, thậm chí là sự sống còn của người nghèo Khủng hoảng lương thực có thể dễ dàng thổi bùng bạo lực ở những nơi nghèo khó, làm sâu sắc thêm xung đột bạo lực giữa các sắc tộc Thậm chí ở nhiều nước đã xảy ra bạo động, biểu tình, Hơn nữa, cuộc khủng hoảng còn đào sâu hố ngăn cách giàu - nghèo, đẩy các nước
chậm phát triển lún sâu hơn vào vòng xoáy đói nghèo và bất ổn;
Bên cạnh những tác động tiêu cực nêu trên, cuộc khủng hoảng lương thực cũng khiến cộng
đề liên quan đến tự do hóa nông nghiệp, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, hay vấn đề đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
Trang 331.1.6.2 Dâ n số tăng
Tăng dân số sẽ làm tăng nhu cầu lương thực, đặc biệt đối với ngũ cốc Sự gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã tạo ra áp lực lớn với việc đảm bảo ANLT, bởi tăng số người tiêu dùng và giảm diện tích trồng cây lương thực Điều này sẽ góp phần tăng giá lương thực và gây ra khủng hoảng lương thực, sẽ tác động đến tất cả các nước dù là giàu hay nghèo
Tuy nhiên, tác động nặng nề nhất vẫn là những người nghèo, bởi vì, chi phí cho lương thực chiếm
một phần lớn trong chi tiêu hàng ngày của họ Cùng với dân số tăng, diện tích đất trồng lúa giảm
dần hàng năm, có nghĩa là, nhu cầu lương thực tăng, nhưng sản lượng lương thực ngày càng giảm
Trong tương lai, do biến đổi khí hậu, nước biển sẽ dâng gây ngập lụt các vùng, ANLT sẽ bất
ổn Đây là thực tế chứ không phải lo xa Vì vậy, cùng với việc duy trì và tăng sản lượng lương thực,
nhất thiết phải kiểm soát quy mô dân số Trong khi đó, khi năng suất lúa đã cao và gần như không
thể tăng lên được nữa thì diện tích trồng lúa bị thu hẹp do nhu cầu công nghiệp hóa và đô thị hóa Tuy nhiên, cũng cần tính toán cân đối giữ đất nông nghiệp, việc làm này không phải để một mình người nông dân có trách nhiệm giữ ổn định xã hội và cũng không phải nhất thiết nông dân phải
trồng lúa
Cần có chính sách tạo điều kiện nâng cao trình độ nông dân để thâm canh, tăng năng suất và chuyển đổi cây trồng, chuyển đổi nghề nghiệp và đặc biệt, chính sách hỗ trợ sản xuất lúa (phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật), Trước áp lực tăng nhanh dân số, các quốc gia cần thay đổi cơ cấu bữa
ăn, giảm tiêu dùng lương thực trong bữa ăn và tăng lượng thực phẩm Đa dạng hóa kinh tế tăng thu
nhập, khi có thu nhập cao thì phần tiền để mua gạo không đáng kể so với chi tiêu hàng ngày của người dân
Như vậy, đảm bảo ANLT phải làm từ mọi phía, kiểm soát sự gia tăng dân số, duy trì sản lượng lương thực và có các giải pháp xóa đói giảm nghèo để mọi người có đủ tiền mua lương thực
ăn hàng ngày Đồng thời, hướng dẫn cơ cấu bữa ăn hợp lý, đủ chất, đủ năng lượng Khi đó, mới có ANLT một cách bền vững
Báo cáo phát triển con người của UNDP nêu rõ:
“Thay đổi khí hậu là thách thức đối với sự phát triển của con người trong thế kỷ 21 Thất bại không đối phó được với thách thức này sẽ cản trở và sau đó đảo ngược các nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm giảm nghèo khổ,… Trong tương lai, không một quốc gia nào, bất kể giàu nghèo, có th ể tránh khỏi tác động của việc trái đất nóng lên”
Các rủi ro về thay đổi khí hậu sẽ có tác động tiêu cực đến sản xuất lương thực và làm tăng thách thức đáp ứng nhu cầu lương thực toàn cầu Hậu quả là người ta ước tính nhiều nước
Trang 34đang phát triển sẽ phải tăng lệ thuộc vào nhập khẩu lương thực Tăng nhiệt độ khí quyển khiến cho rủi ro hạn hán và lũ lụt cao hơn và gây ra mất mùa
Ủy ban Liên Chính phủ về thay đổi khí hậu của Liên hiệp quốc dự báo, trong 100 năm tới, nước biển dâng cao 1 m gây lụt lội khoảng 1/3 diện tích đất trồng thế giới Mực nước biển tăng và các cơn bão nhiệt đới hoạt động dữ dội làm ảnh hưởng đáng kể Đó là chưa kể đến tốc độ đô thị hoá
diễn ra quá nhanh, làm giảm diện tích đất nông nghiệp
Nhu cầu xã hội ngày càng phát triển cao, đòi hỏi con người ngày càng sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tăng năng suất sản lượng sản phẩm Những hoạt động nhằm mục đích kinh tế
của con người là nguyên nhân cơ bản làm ô nhiễm Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp nhiều
và không hợp lý đã làm cho môi trường ngày càng xấu đi, đặc biệt là ô nhiễm môi trường đất, nước
và lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính đã đe dọa đến tình hình sản xuất và đảm bảo ANLT
Sự tác động của ô nhiễm môi trường sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp, đặc
biệt là sản xuất lương thực Một thực tế mà chúng ta đang phải đối mặt là tình trạng ô nhiễm môi trường báo động ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động Kết cấu hạ tầng chưa hoàn thiện, khâu xử lý nước thải và an toàn môi trường chưa được chú trọng Hay những cơ sở có xây dựng nhưng cố ý làm không đúng quy trình, gian lận, ngày càng đầu độc môi trường sống Việc quy hoạch không đồng bộ gây nên tình trạng ngập úng hoặc hạn hán cục bộ do phá vỡ hệ thống kênh, mương tiêu thoát nước, Cùng với việc hình thành các bãi rác tự phát hay cố ý cũng đã, đang
và sẽ làm ô nhiễm nguồn nước tưới tiêu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng đất, nguồn nước
phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu có thể làm nước
biển xâm nhập, lấn chiếm diện tích đất canh tác
Như vậy, môi trường ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp nghiêm trọng đến sản xuất lương thực
và gián tiếp thông qua lương thực tác động đến con người, gây khó khăn cho vấn đề đảm bảo ANLT
Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ở các nước đang phát triển, nơi sản xuất chủ yếu lương thực cho thế giới, các nguồn đầu tư cho nông nghiệp giảm dần, không còn ưu tiên mà chuyển sang công nghiệp và dịch vụ Đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp còn
hạn chế, chưa ngang tầm với đòi hỏi, nhất là chưa có chính sách khuyến khích các thành phần kinh
tế tham gia sản xuất, kinh doanh lương thực Trước hết, dễ nhận thấy rằng, đầu tư cho phát triển kết
cấu hạ tầng nông nghiệp, nhất là hệ thống thủy lợi còn hạn chế Hiện nay, các công trình phục vụ
việc tưới tiêu (hồ chứa nước, mương tiêu úng) chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, nhiều vùng vẫn
phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Ngoài ra, đầu tư khoa học - công nghệ cho nghiên cứu phát
Trang 35triển nông nghiệp công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng lương thực chưa phù hợp với nhu
cầu phát triển và trình độ khoa học - công nghệ của thế giới
Do thiếu đầu tư vào hoạt động nghiên cứu để phát triển các công nghệ cao sản và các tập quán quản lý nông nghiệp bền vững khiến cho tăng sản lượng bị trì trệ và độ màu mỡ của đất bị suy thoái đến mức độ khó phục hồi Cả mức đầu tư Chính phủ hàng năm và viện trợ, cho vay của các tổ chức phát triển quốc tế nhằm phát triển hệ thống thủy lợi đều giảm sút Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến ANLT Hiện nay, trước những đe dọa của tăng dân số, tăng giá lương thực
và biến đổi khí hậu gây bấp bênh cho sản xuất nông nghiệp
1.2 Những vấn về hiện trạng an ninh lương thực ở Việt Nam và kinh nghiệm một số nước trên thế giới
1.2.1 H iện trạng an ninh lương thực ở Việt Nam
Đánh giá về thực trạng ANLT toàn cầu năm 2004, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Thế
giới (FAO) nhận xét:
“M ặc dù các cố gắng giảm nghèo đói ở các nước đang phát triển chưa đáp ứng được mục tiêu c ủa Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Lương thực (1996) và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGS) là gi ảm một nửa số người nghèo đói trên thế giới vào năm 2015, nhưng khả năng đạt được
m ục tiêu vẫn còn nhiều triển vọng Bởi vì, đã có hơn 30 quốc gia chiếm gần một nửa dân số thuộc các nước đang phát triển trên thế giới, có thể chứng minh về khả năng đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo và nh ững bài học quý báu được rút ra từ đây là làm thế nào để đạt được mục tiêu đề ra”
[18]
Việt Nam không những nằm trong danh sách các nước nói trên, bởi những thành tích đầy ấn tượng về đảm bảo ANLT và xoá đói giảm nghèo đạt được trong thời gian qua, mà còn là một trong
những nước đi đầu trên thế giới trong việc đảm bảo tính hiện thực của mục tiêu của Hội nghị
Thượng đỉnh Thế giới về Lương thực và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mới
Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng liên tục qua các năm, đạt 232652.2 tỷ đồng (2010) Năm 2010 so với năm 2009, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 104.7 tỷ đồng [18]
Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là lĩnh vực duy nhất trong nền kinh tế liên tục xuất siêu, năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong những giai đoạn kinh tế gặp khó khăn Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt khoảng 16 tỷ USD gấp 3.8 lần năm 2000, trong đó, tăng trưởng trung bình của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giai đoạn 2000 - 2008 thì gạo chiếm 13.6% và năm 2010, xuất khẩu gạo đạt 3.2 tỷ USD tăng 20.6% so với 2009 [18]
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam Lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất Cây lương thực quan trọng thứ hai là
Trang 36ngô, đang có xu hướng tăng ở ĐBSH, ĐBSCL, TN, BTB & DHNTB Cây lương thực quan trọng thứ ba là cây sắn đang có xu hướng tăng ở vùng ĐNB, TN, TD & MNPB Cây lương thực quan trọng thứ tư là khoai lang có xu hướng giảm ở hầu hết các vùng Những cây lương thực, thực phẩm lấy củ và lấy hạt khác (như khoai tây, khoai môn, khoai mỡ, ) chiếm tỷ trọng không nhiều
Trong giai đoạn 2000 - 2010, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong lĩnh vực sản xuất lương thực Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu Bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên
511.9 kg năm 2010 Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo và các sản phẩm sắn (tinh bột sắn và sắn lát) đứng thứ hai trên thế giới sau một thời gian dài thiếu lương thực
Việt Nam hiện đã đạt được ANLT trên phạm vi quốc gia Tuy nhiên, để đảm bảo được ANLT ở cấp hộ gia đình trên phạm vi cả nước vẫn đang còn là một vấn đề lớn, đặc biệt ở TD & MNPB và TN
1.2.1.1 An ninh lương thực trong sản xuất
Trong giai đoạn 2000 - 2010, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về sản xuất lương thực,
thực phẩm trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sâu bệnh, Sản lượng lương thực tăng cao Không
những đảm bảo nhu cầu lương thực trong nước, dự trữ quốc gia mà còn đóng góp cho nhu cầu quốc
tế hơn 4 triệu tấn gạo, khôi phục vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo Năm 2003, Việt Nam chỉ đứng vị trí thứ 3
Tốc độ tăng về sản xuất lương thực (1.4%/năm) cao hơn nhiều so với tốc độ tăng dân số Lương thực bình quân tính trên đầu người tăng nhanh từ 466.1 kg lên 479.4 kg năm 2004 và đạt
mức 503.7 kg (2009) (xem Bảng 1.1)
B ảng 1.1 Kết quả sản xuất và cung cấp lương thực 2000 - 2009
Chỉ tiêu Sản lượng (1000 tấn) Bình
quân đầu người (kg/năm)
Chỉ số tăng trưởng (%; năm trước = 100)
Lương thực
có hạt
Lúa Ngô
Lương thực
Trang 372006 39706.2 35849.5 3854.6 476.6 100.2 100.0 101.8
2007 40247.4 35942.7 4303.2 477.9 101.4 100.3 111.6
2008 43305.4 38729.8 4573.1 508.7 107.6 107.8 106.3
2009 43329.8 38895.5 4431.8 503.7 100.1 100.4 96.9
(Ngu ồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Sản xuất lúa đã chuyển theo hướng giảm dần diện tích, tăng năng suất và chất lượng gạo để phù hợp với nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu Diện tích gieo trồng lúa năm 2008
giảm 0.252 triệu ha so với năm 2000, chủ yếu là diện tích đất nhiễm phèn, mặn, thiếu nước, hoặc bị
ngập úng trong vụ mùa được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng mầu, cây công nghiệp, cây ăn
quả có lợi hơn Năng suất lúa bình quân đạt mức rất cao 5.22 tấn/ha (2008) so với năng suất năm
2000 tăng 0.64 tấn/ha và năng suất lúa 2009 ổn định ở mức đạt 5.23 tấn/ha Nhờ đó, sản lượng lúa tăng từ 3259.5 nghìn tấn năm 2000 lên 35832.9 nghìn tấn năm 2005 và đạt 38895.5 nghìn tấn năm
2009
Sản lượng lúa cả năm 2010 đạt gần 40 triệu tấn, tăng 1.04 triệu tấn so với năm 2009, chủ yếu
do tăng diện tích gieo trồng đạt gần 7513.7 nghìn ha, tăng 76.5 nghìn ha so với năm 2009 và năng suất đạt 53.2 tạ/ha (2010), tăng 0.8 tạ/ha so với năm 2008
Tuy diện tích trồng lúa giảm, nhưng mục tiêu ANLT vẫn đảm bảo Một trong những giải pháp mà Việt Nam đang chọn đó là mở rộng diện tích lúa lai Diện tích lúa lai được phát triển khá nhanh ở miền Bắc, tăng từ 8 nghìn ha năm 2001 lên hơn 600 nghìn ha năm 2004 Đặc biệt, chiến lược tạo giống lai có thời gian sinh trưởng từ 90 - 100 ngày để trồng lúa trước và sau mùa lũ ở ĐBSCL là một thành công được nhiều nước trong khu vực quan tâm và đánh giá cao Từ chỗ phải
nhập khẩu, đến nay, Việt Nam đã sản xuất được một phần lúa lai và đạt tự sản xuất khoảng 70% nhu
cầu vào năm 2010
Trong sản xuất lương thực hiện nay còn thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu sản lượng, tăng
dần tỷ trọng ngô, giảm tỷ trọng lúa Năm 2008, diện tích ngô đạt hơn 1.125 triệu ha, năng suất đạt 4.02tạ /ha, sản lượng đạt 4.53 triệu tấn, tỷ trọng ngô trong sản lượng lương thực đã tăng 9.622% năm 2005 lên 10.23% năm 2008 Năm 2009, diện tích và sản lượng ngô tiếp tục tăng lên và đạt
diện tích 4431.8 nghìn ha và sản lượng là 4431.8 nghìn tấn Tuy nhiên, so với 2008 thì giảm 3.1%
về sản lượng và 4.7% về diện tích Ngô đã trở thành mặt hàng nông sản quan trọng phục vụ công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi thay thế nhập khẩu, đáp ứng nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi quy
mô công nghiệp đang tăng nhanh
Về sản xuất thực phẩm thì ngành chăn nuôi vẫn duy trì được tốc độ tăng khá Cơ cấu và tốc
độ tăng trưởng trong chăn nuôi đã có những nét chuyển biến mới, hướng về sản xuất hàng hoá và
xuất khẩu nhiều hơn Chăn nuôi trâu bò phục vụ cày kéo giảm, đàn bò thịt, sữa tăng nhanh, tỷ lệ
Trang 38giống lai chiếm đáng kể trong tổng đàn Năm 2008, cả nước có 6337.7 nghìn con bò, giảm 9.1 % so
với năm 2007, tuy nhiên, sản lượng thịt hơi xuất chuồng rất cao 226696 tấn Đàn lợn đạt 26701.6 nghìn con và tăng đều qua các năm So với 2007, tăng 1.6%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 2782.8 nghìn tấn [35]
Năm 2010, chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất quy mô lớn với
mô hình gia trại và trang trại ngày càng tăng Các vùng có số trang trại chăn nuôi tăng nhanh là TD
& MNPB tăng 26.7%; ĐBSH tăng 15.7%; ĐBSCL tăng 14.4%
Đàn gia cầm có 300.5 triệu con, tăng 7.3% Đàn trâu có 2913.4 nghìn con, tăng 0.9% Đàn bò
có 5916.3 nghìn con, giảm 3.1% Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng năm 2010 ước tính 84.2 nghìn
tấn, tăng 6.5% so với năm 2009 Sản lượng thịt bò 278.9 nghìn tấn, tăng 5.9% Sản lượng thịt lợn 3036.4 nghìn tấn, tăng 0.2% Sản lượng thịt gia cầm 621.2 nghìn tấn, tăng 17.5% Trứng gia cầm 6371.8 triệu quả, tăng 16.5% [35]
Để đạt được điều này, Việt Nam đã đẩy mạnh chăn nuôi quy mô trang trại, chăn nuôi theo phương thức công nghiệp Mặt khác, chăn nuôi theo phương thức hộ nhỏ vẫn được tiếp tục đẩy
mạnh
Sản lượng thuỷ sản năm 2008 giảm 2.8% so với năm 2007, trong đó, thuỷ sản nuôi trồng
giảm 9.2%, thuỷ sản đánh bắt tăng 0.6% Diện tích nuôi trồng quy mô công nghiệp được mở rộng ở nhiều địa phương, phong trào nuôi cá bè, cá hầm, đặc sản baba, lươn, ếch tiếp tục phát triển Sản lượng thuỷ sản năm 2010 ước tính đạt 5127.6 nghìn tấn, tăng 5.3% so với năm 2009, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 2706.8 nghìn tấn, tăng 4.5% (sản lượng cá nuôi tăng 4.9%); sản lượng khai thác đạt 2420.8 nghìn tấn, tăng 6.2% (khai thác biển đạt 2226.6 nghìn tấn, tăng 6.4%) [35]
Với những kết quả đạt được của Việt Nam về sản xuất và cung cấp lương thực như trên thì
đã phần nào nói lên mức độ đảm bảo ANLT cho nhân dân Vì vậy, Việt Nam đang đi lên một cách
ổn định về mọi mặt, đặc biệt là về kinh tế và xã hội, tình trạng thiếu lương thực vẫn còn nhưng chỉ
là tỷ lệ ít và dần được khắc phục Tình trạng nghèo về lương thực đã được Đảng và Nhà nước hết
sức quan tâm và cố gắng giải quyết tình trạng cấp bách này, tiếp tục hướng tới mục tiêu xoá đói
giảm nghèo và phát triển nhanh ổn định nền kinh tế, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
1.2.1.2 An ninh lương thực trong lưu thông và phân phối
Đặc điểm nổi bật của ANLT trong phân phối ở Việt Nam hiện nay là:
Theo cơ chế “tự do kinh doanh lương thực” với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
làm cho thị trường lương thực năng động hơn, hệ thống phân phối lương thực đảm bảo nhanh chóng
và có hiệu quả hơn;
Có hai hệ thống phân phối lương thực trong nước là hệ thống tiêu thụ nội địa, trong đó đảm
bảo vận chuyển lương thực đến tất cả mọi người tiêu dùng trong nước ở mọi nơi, mọi lúc và hệ
Trang 39thống tiêu thụ xuất khẩu, trong đó đảm bảo cung cấp gạo theo nhu cầu của khách hàng nước ngoài
một cách hiệu quả;
Cơ chế giá cả lương thực vận động theo quan hệ cung cầu của thị trường có sự hướng dẫn
của nhà nước thông qua những biện pháp kinh tế (lập kho dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ lưu thông, )
để điều tiết cung cầu, giá cả và đảm bảo quyền lợi cho người sản xuất Với những đổi mới trong cơ
chế lưu thông và phân phối lương thực như trên, về cơ bản chúng ta đã đảm bảo được ANLT quốc gia về mặt phân phối
Hiện nay, quỹ dự trữ lưu thông lương thực được hình thành theo Quyết định số 565/TTg ngày 22 tháng 08 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ [7] Quỹ dự trữ lưu thông lương thực có một
số đặc điểm chính như sau:
Đối tượng dự trữ: Quỹ dự trữ lưu thông lương thực là lượng lương thực (chủ yếu là gạo) của
Nhà nước giao cho các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh lương thực có đủ điều kiện kho tàng và năng lực quản lý thực hiện dự trữ để kịp thời có nguồn lương thực can thiệp vào thị trường nhằm cân đối cung cầu, bình ồn giá cả lương thực khi cần thiết;
Địa bàn dự trữ: Quỹ dự trữ lưu thông lương thực được bố trí ở những khu vực, địa bàn
thường dễ xảy ra biến động giá lương thực và phải để ở kho có điều kiện thuận lợi nhất cho việc huy động đưa ra bán bình ổn giá khi cần thiết;
M ức dự trữ: không có con số cố định mà căn cứ tình hình sản xuất lương thực và diễn biến
về lưu thông hàng hoá, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ quyết định mức lương thực đưa vào dự trữ lưu thông hàng năm;
Ngu ồn vốn để mua lương thực đưa vào dự trữ lưu thông: là một phần vốn lưu động của doanh
nghiệp do ngân sách nhà nước cấp Trường hợp do có khó khăn mà ngân sách nhà nước chưa hoặc cấp chưa đủ thì doanh nghiệp phải chủ động vay vốn ngân hàng để mua đủ số lượng lương thực được giao đưa vào dữ trữ theo quy định, ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% lãi suất trong suốt thời gian doanh nghiệp thực hiện dự trữ theo quy định;
Th ẩm quyền chỉ đạo điều hành: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn căn cứ
mức lương thực dự trữ lưu thông đã được Thủ tướng Chính phủ quy định, tình hình sản xuất, lưu thông lương thực để quyết định và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc giao nhiệm
vụ thực hiện dự trữ lưu thông cho doanh nghiệp, chỉ đạo việc xuất bán can thiệp thị trường để thực
hiện mục tiêu ổn định cung cầu và bình ổn giá lương thực ở từng địa bàn cũng như trên phạm vi cả nước;
Quy ền hạn và trách nhiệm của doanh nghiệp thực hiện dự trữ lưu thông:
Trang 40Được quyền quyết định việc mua, bán, luân chuyển, đổi hạt lương thực thuộc quỹ dự trữ lưu thông lương thực cùng với quá trình kinh doanh lương thực của mình để bảo quản chất lượng lương
thực của quỹ dự trữ lưu thông;
Khi quỹ lương thực dự trữ lưu thông để tại doanh nghiệp không phải huy động để can thiệp
thị trường thì doanh nghiệp được chủ động tìm thị trường để tiêu thụ hết số lương thực dự trữ lưu thông của vụ trước, toàn bộ số tiền thu được phải được hạch toán riêng và sử dụng để mua ngay lương thực mới đưa vào quỹ dự trữ lưu thông tại doanh nghiệp;
Phải tự bù đắp mọi chi phí và tự chịu trách nhiệm về tài chính, Nhà nước không bù lỗ;
Phải bảo đảm đủ 100% số lượng lương thực dự trữ lưu thông trong kho ở đầu thời kỳ giáp
hạt và thường xuyên không được thấp hơn 60% so với mức dự trữ được giao;
Phải tổ chức hạch toán riêng việc mua, bán lương thực để phục vụ mục tiêu bình ổn giá theo
từng đợt, báo cáo định kỳ hàng tháng tồn kho dự trữ lưu thông lương thực (bao gồm: số lượng ở
từng kho, phẩm chất, giá bình quân tồn kho, ) với cơ quan quản lý cấp trên;
Phải chịu sự kiểm tra, giám sát và chấp hành không điều kiện các quyết định về huy động, điều phối sử dụng quỹ lương thực dự trữ lưu thông của cơ quan có thẩm quyền và thực hiện việc
xuất bán bình ổn giá lương thực trong thời gian nhanh nhất
Các ưu đãi cho doanh nghiệp thực hiện dự trữ lưu thông:
Những doanh nghiệp có tồn kho lương thực thuộc quỹ dự trữ lưu thông sẽ được Nhà nước ưu tiên cho tham gia vào việc xuất khẩu trả nợ bằng lương thực;
Không phải nộp khoản thu về sử dụng vốn đối với số vốn dự trữ lưu thông lương thực do ngân sách nhà nước cấp;
Doanh nghiệp được hưởng lợi nhuận thu được do việc gắn quỹ dự trữ lưu thông với quá trình kinh doanh lương thực
Với những chủ trương đúng đắn, Việt Nam đã đạt được ANLT trong phân phối, thị trường lương thực ổn định, lương thực hàng hóa đáp ứng kịp thời, mọi lúc, mọi nơi, tạo điều kiện tiếp cận lương thực dễ dàng hơn
1.2.1.3 Khả năng tiếp cận lương thực
Các đặc điểm cơ bản về nhân khẩu liên quan đến ANLT
Trong giai đoạn 2000 - 2010, đời sống các tầng lớp dân cư Việt Nam ở các vùng miền trên cả nước được cải thiện, tỷ lệ nghèo đói tiếp tục giảm nhanh nhờ sản xuất phát triển, giá cả nông sản,
thực phẩm tăng, công tác giải quyết việc làm, cho vay vốn sản xuất và chương trình xoá đói giảm nghèo được thực hiện có hiệu quả Theo chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước giảm từ 28.9% năm 2002 xuống còn 24.1% năm 2004, tỷ lệ hộ nghèo về lương thực,
thực phẩm giảm từ 9.9% xuống còn 7.8% trong các năm tương ứng (2002 - 2004) Theo chuẩn