Bài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhấtBài thi vận dung kiến thức liên môn đạt giải cao, vận dụng kiến thức liên môn 2017-2018 mới nhất
Trang 1PHÒNG GD – ĐT ĐỨC THỌTRƯỜNG THCS ĐỒNG LẠNG
Điện thoại: 01679258810 Email: hoangquockhanh1509@gmail.com
Trang 21 Tên tình huống.
NĂNG LƯỢNG VÀ THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA!
Sau khi kết thúc buổi học, hai bạn Khánh và Anh đang trên đường ra nhà xe đểlấy xe đạp đi về Chợt nhìn thấy trong lớp 7A: quạt điện đang quay và bóng đènđang sáng Khánh bảo Anh:
– Khánh: Chúng ta đi tìm bác bảo vệ xin bác chìa khóa mở cửa để vào tắt bóng đèn và quạt điện nhé!
– Anh: Không phải lớp mình, chúng ta mất công làm gì? Chúng ta về đi
– Khánh: Anh à! Cậu làm thế là không được Cậu biết không: việc làm đó rất gâylãng phí điện Lãng phí điện quá mức gây dẫn đến cạn kiệt năng lượng điện Mặtkhác để sản xuất ra điện thì gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng Chúng taphải biết tiết kiệm nguồn năng lượng quý giá này
– Anh: Thế à! Tớ hiểu rồi, vậy bây giờ chúng ta đi gặp bác bảo vệ, xin bác chìa khóa để vào tắt các thiết bị điện nhé
– Khánh: Vậy chúng ta đi nhanh lên
– Anh: Ừ
– Khánh: Vì vậy, từ hôm nay chúng ta cùng nhau sử dụng các nguồn năng lượng trong nhà trường và gia đình một cách hợp lí nhé
2 Mục tiêu giải quyết tình huống
– Thứ nhất: Thế giới đang vào những năm đầu của thế kỉ 21 Dân số thế giới đã
đạt mức 7,3 tỉ người (Số liệu trên được công bố trong phiên họp dự báo dân số tạiHội nghị Thống kê Chung 2015 (JSM) 2015) tổ chức ở Seattle, Mỹ ngày10/8/2015) nên nhiều vấn đề mới nảy sinh Vấn đề sự khủng hoảng về nguồn nănglượng đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa hoc cũng như của tất cả mọingười trên thế giới Đây là một tình huống thiết thực, xuất phát từ thực tế đời sốnghiện đại hóa như bây giờ
– Thứ hai: Như chúng ta đã biết về hiện tượng biến đổi khí hậu làm Trái đất nóng
lên Về hiện tượng này em có thể giải thích ngắn gọn như sau:
Hiệu ứng nhà kính: Chúng ta biết rằng, bức xạ mặt trời là bức xạ sóng ngắn (năng lượng lớn) nên nó dễ dàng xuyên các lớp khí CO 2 và tầng ozon để chiếu xuống trái đất Ngược lại, bức xạ nhiệt từ mặt đất phát vào vũ trụ là bước sóng dài (yếu hơn ), nên nó bị hấp thụ (không xuyên qua được) bởi CO 2 và hơi nước trong khí quyển Cân bằng CO 2 được duy trì nhờ sự hấp thụ của thực vật và hòa tan trong nước biển đại dương Như vậy, với một mức nào đó, lượng CO 2 trong khí quyển là cần thiết cho sự ổn định nhiệt trên trái đất cũng như cho quá trình quang hợp của thực vật Tuy nhiên, ngày nay, con người đã thải CO 2 vào khí quyển vượt quá mức cân bằng bình thường của nó(2,5.10 13 tấn CO 2 )
Trang 3Điều này dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ trên trái đất Người ta ước tính nếu nồng
độ CO 2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi thì nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất sẽ tăng lên 3,6 độ C Sự nóng lên toàn cầu này sẽ làm tan băng hai cực, dâng mực nước biển, ngập lụt những vùng ven biển Nó có thể gây ra bão lụt ở một số vùng
và hạn hán ở những vùng khác.Những sự biến đổi bất thường này của khí hậu vẫn chưa thể lường hết được.
sử dung hợp lí nguồn năng lượng xung quanh cuộc sống Bên cạnh đó các bạntuyên truyền tới những người thân trong gia đình và những người xung quanh vềviệc sử dụng hợp lí nguồn năng lượng
– Thứ ba: Khi giải quyết tình huống này, chúng em được tìm hiểu sâu rộng hơn
về các môn như Địa lí, Công nghệ, Vật lí, Sinh học, Mĩ thuật, Giáo dục công dân,Tiếng anh và từ đó chúng em tăng khả năng vận dụng kiến thức các môn học vàođời sống
3 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan tới việc giải quyết tình huống?
Để giải quyết tình huống này, chúng em đã tìm hiểu và thấy có thể vận dụngkiến thức các môn học trong nhà trường để giải quyết một cách đầy thuyết phục
Trang 4mà em đã đưa ra trên Vận dụng các môn: Địa lí, Sinh học, Giáo dục công dân,Ngữ văn, Công nghệ, Vật lí, Mĩ thuật, Tiếng anh ở các lớp mà em đã được học.
Cụ thể là:
* Với môn Địa lí lớp 9: Qua bài: “Sự phát triển và phân bố công nghiệp” chúng
ta hiểu biết về sử dụng năng lượng tại Việt Nam
Mục II: Các ngành công nghiệp
Đưa ra các dẫn chứng về sử dụng năng lượng của Việt Nam: công nghiệp trọng điểm
– Sản lượng than, dầu thô khai thác của nước ta giai đoạn 1990-2007
Năm
Sản phẩm
Như vậy trong giai đoạn 1990-2007 sản lượng than khai thác của nước ta tăng 37,9 triệu tấn tăng gấp 9,2 lần và sản lượng dầu mỏ tăng 13,2 triệu tấn, tăng gấp 5,9 lần
– Khai thác than đá, dầu thô (dầu mỏ và khí đốt) là nguyên liệu để phát triển các nhà máy nhiệt điện ở nước ta
+ Than: Quảng Ninh trữ lượng 6,5 tỉ tấn là nguồn nguyên liệu cơ bản xây dựngcác nhà máy nhiệt điện Phả Lại (công suất: 1000MW), Na Dương, Uông Bí (Vùngtrung du miền núi Bắc Bộ), Ninh Bình (Đồng bằng sông Hồng)
+ Dầu khí: Tập trung ở thềm lục địa phía Nam: trữ lượng 4 –> 5 triệu tấn dầu quyđổi và hàng nghìn tỉ m3 khí kèm theo Các mỏ khí ở Lan Đỏ, Lan Tây và khí đốt từcác mỏ dầu là nguyên liệu xây dựng nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, Bà Rịa, Cà Mau
ở phía Nam nước ta
– Sản lượng điện của nước ta không ngừng tăng:
+ Từ năm 2000 – 2007 sản lượng điện tăng: 37,4 tỉ KW, tăng gấp 2,4 lần Sản lượng ngành công nghiệp nặng nước ta chiếm 11% (2007) giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp
+ Từ Bắc vào Nam nguồn điện năng của chúng ta đang sử dụng được truyền tải bằng hệ thống đường dây 500 kV và 250 kV
* Với môn Hóa học 9: Sau khi nghiên cứu các bài:
– Bài 27: Cacbon
– Bài 28: Các oxit của cacbon
– Bài 40: Dầu mỏ và khí thiên nhiên
– Bài 41: Nhiên liệu
Trang 5Em có thể trình bày một vài nhiên liệu như:
– Than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên là những nguồn nhiên liệu thiết yếu Tuynhiên, các nhiên liệu trên luôn có lẫn hợp chất chứa lưu huỳnh hoặc nitơ, vì vậykhi cháy tạo ra khí CO2 thường có lẫn các khí khác như SO2, NO2, CO gây ônhiễm môi trường Các nguồn nhiên liệu đang dần cạn kiệt, vì vậy, người ta đangnghiên cứu tìm kiếm nguồn năng lượng mới thay thế (hiđro)
– Than chứa 90% cacbon là một phi kim Khi đốt than sinh ra khí CO và khí CO2
gây hại cho sức khỏe con người (khí CO có thể gây chết người)
– Dầu mỏ là một hỗn hợp tự nhiên của nhiều loại hiđrocacbon Khí thiên nhiên cótrong các mỏ dầu, mỏ khí nằm dưới lòng đất Dầu mỏ và khí thiên nhiên là nguồnnhiên liêu quý trong đời sống và trong công nghiệp Dàu mỏ và khí thiên nhiêncủa nước ta có trữ lượng vào khoảng 3 – 4 tỉ tấn, tập trung chủ yếu ở thềm lục địaphía Nam Hiện nay nước ta đã khai thác dầu và khí ở các mỏ: Bạch Hổ, RạngĐông, Lan Tây Sản lượng dầu khí tăng lên góp phần quan trọng vào việc pháttriển kinh tế ( Năm 2002: khai thác 19, 362 triệu tấn dầu có 17, 102 triệu tấn dầuthô và 2, 26 tỉ m3 khí)
Hình 2: Biểu đồ sản lượng dầu khai thác ở Việt Nam giai đoạn 1986 – 2002
* Với môn Ngữ văn: sử dụng các kiểu văn bản nghị luận, thuyết minh với những
lí lẽ thuyết phục để giải quyết tình huống
Trang 6* Với môn Công nghệ 8: Biết được quy trình sản xuất năng lượng điện để giáo
dục ý thức sử dụng năng lượng hợp lí
Hình 3: Sơ đồ nhà máy nhiệt điện (1 Lò hơi; 2 Tua bin hơi; 3 Máy phát điện)
Hình 4: Nhà máy thủy điện
* Với môn Sinh học: Hiểu được lượng khí thải độc hại trong quá trình khai thác
và sử dụng của các nước trên thế giới có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người.Các khí nguy hiểm nhất đối với sức khoẻ con người và khí quyển trái đất đã đượcbiết đến gồm: Cacbon đioxit (CO2); Lưu huỳnh đioxit (SO2).; Cacbon oxit (CO);Nitơ oxit (N2O); Clorofluorocacbon (còn gọi là CFC) và Mê tan (CH4)
– Cacbon đioxit (CO2): CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là nguyên liệucho quá trình quang hợp để sản xuất năng suất sinh học sơ cấp ở cây xanh Thôngthường, lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với lượng CO2 được sửdụng cho quang hợp Hai loại hoạt động của con người là đốt nhiên liệu hoá thạch
và phá rừng đã làm cho quá trình trên mất cân bằng, có tác động xấu tới khí hậu
Trang 7– Ðioxit Sunfua (SO2): là chất gây ô nhiễm không khí có nồng độ thấp trong khíquyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu Đioxit sunfua sinh ra do núi lửa phun, dođốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh khối thực vật, quặng sunfua,.v.v SO2 rấtđộc hại đối với sức khoẻ của người và sinh vật, gây ra các bệnh về phổi khí phếquản SO2 trong không khí khi gặp oxi và nước tạo thành axit, tập trung trongnước mưa gây ra hiện tượng mưa axit.
– Cacbon oxit (CO): CO được hình thành do việc đốt cháy không hết nhiên liệuhoá thạch như than, dầu và một số chất hữu cơ khác Khí thải từ các động cơ xemáy là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố Hàng năm trên toàn cầusản sinh khoảng 600 triệu tấn CO CO không độc với thực vật vì cây xanh có thểchuyển hoá CO => CO2 và sử dụng nó trong quá trình quang hợp Vì vậy, thảmthực vật được xem là tác nhân tự nhiên có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO Khicon người ở trong không khí có nồng độ CO khoảng 250 ppm sẽ bị tử vong
– Nitơ oxit (N2O): N2O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra trong quátrình đốt các nhiên liệu hoá thạch Hàm lượng của nó đang tăng dần trên phạm vitoàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 – 3% Một lượng nhỏ N2O khác xâm nhập vàokhí quyển do kết quả của quá trình nitrat hoá các loại phân bón hữu cơ và vô cơ
N2O xâm nhập vào không khí sẽ không thay đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khiđạt tới những tầng trên của khí quyển nó mới tác động một cách chậm chạp vớinguyên tử oxi
– Clorofluorocacbon (viết tắt là CFC): CFC là những hoá chất do con người tổnghợp để sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào khí quyển.CFC 11 hoặc CFCl3 hoặc CFC l2 hoặc CF2Cl2 (còn gọi là freon 12 hoặc F12) lànhững chất thông dụng của CFC Một lượng nhỏ CFC khác là CHC1F2 (hoặc F22),CCl4 và CF4 cũng xâm nhập vào khí quyển Cả hai hợp chất CFC 11 và CFC 12hoặc freon đều là những hợp chất có ý nghĩa kinh tế cao, việc sản xuất và sử dụngchúng đã tăng lên rất nhanh trong hai thập kỷ vừa qua Chúng tồn tại cả ở dạng solkhí và không sol khí Dạng sol khí thường làm tổn hại tầng ozon, do đó là sự báođộng về môi trường, những dạng không sol khí thì vẫn tiếp tục sản xuất và ngàycàng tăng về số lượng CFC có tính ổn định cao và không bị phân huỷ Khi CFCđạt tới thượng tầng khí quyển chúng sẽ được các tia cực tím phân huỷ Tốc độphân huỷ CFC sẽ rất nhanh nếu tầng ôzôn bị tổn thương và các bức xạ cực tím tớiđược những tầng khí quyển thấp hơn
– Mêtan (CH4): Mêtan là một loại khí gây hiệu ứng nhà kính Nó được sinh ra từcác quá trình sinh học, như sự men hoá đường ruột của động vật có guốc, cừu vànhững động vật khác, sự phân giải kỵ khí ở đất ngập nước, ruộng lúa, cháy rừng
và đốt nhiên liệu hoá thạch CH4 thúc đẩy sự oxi hoá hơi nước ở tầng bình lưu Sựgia tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp
Trang 8của CH4 Hiện nay hàng năm khí quyển thu nhận khoảng từ 400 đến 76 x 1012g
CH4
Hình 5: Phát thải khí CO 2 của một số nước trong một năm
* Với môn Giáo dục công dân: Giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Luật về tài nguyên môi trường
* Với môn Mĩ thuật: Vẽ tranh tuyên truyền, cổ động việc sủ dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả:
Triệu tấn/năm
3000
2500
2000
1500
1000
500
0
Mỹ T Quốc Nga Ấn Độ Nhật Đức Úc N Phi Anh H Quốc
Quốc gia
Trang 9Hình 6: Một số bức tranh cổ động
Trang 10* Với môn Tiếng anh: Để hòa cùng chủ trương, không khí xây dựng môi trường
học Tiếng anh ở trường THCS Chúng ta đưa ra một số khẩu hiệu song ngữ như:
– CHUNG TAY SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ
(JOIN HANDS USING ENERGY SAVING AND EFFICIENCY)
– HÃY TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CHO THẾ HỆ TƯƠNG LAI
(LET’S SAVE ENERGY FOR FUTURE GENERATIONS)
* Với môn Vật lí 8, 9: Tìm hiểu các bài:
– Vật li 8:
Bài 17: Sự chuyển hóa và bảo toàn cơ năng
Nhờ thế năng chuyển hóa thành động năng mà chúng ta có một nguồn nănglượng điện lớn để sử dụng (năng lượng gió, thủy năng ) song các nguồn nănglượng đó tuy nhiều nhưng không phải là vô tận, chúng ta phải biết tiết kiệm nguồnnăng lượng đó để sử dụng lâu dài
Bài 26: Năng suất tỏa nhiệt của nhiên liệu
Để có năng lượng cần phải có nhiên liệu (xăng, dầu, than, khí đốt ) Theo ướctính thì Trái đất chỉ còn dự trữ khoảng 140 tỉ tấn khí đốt
– Vật lí 9:
Bài 36: Truyền tải điện năng đi xa
Điện năng được truyền tải từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ qua hệ thống dây tải điện Vì dây tải điện có điện trở nên phát sinh hao phí trên đường dây Để giảm công suất hao phí, cách tốt nhất là tăng hiệu điện thế vào hai đầu đường dây
Bài 62: Sản xuất điện năng – Nhiệt điện và thủy điện
Điện năng được sử dụng rộng rãi và thuận tiện trong các hoạt động của con người Nhưng nguồn điện năng lại không có sẵn trong tự nhiên như các nguồn năng lượng khác (than đá, dầu khí ) Nhờ các nhà máy nhiệt điện, thủy điện, máy phát điện gió, pin mặt trời, nhà máy điện hạt nhân mà điện được sản xuất
4 Giải pháp giải quyết tình huống
* Của Đảng và nhà nước
– Cần xây dựng một khung pháp lý phù hợp tiêu chuẩn quốc tế và điều kiện Việt
Nam Trước mắt, có thể phải thành lập một nhóm công tác liên ngành để rà soátlại hệ thống pháp luật hiện hành, khảo sát thị trường trong và ngoài nước và thựchiện một số dự án thí điểm để có cơ sở xây dựng khung pháp luật về PPP
– Chính phủ cần thành lập một cơ quan độc lập quản lý các dự án PPP để thực
hiện „cơ chế một cửa“, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư cơ hội nắm bắt thông tin
dự án một cách dễ dàng cũng như thuận lợi trong việc triển khai thực thi dự án
– Xây dựng một cơ chế hỗ trợ đối với các dự án, tính đến vai trò của nhà nước
với tư cách là người bão lãnh và xúc tiến tính khả thi Vì vốn đầu tư các dự ánđến từ nhiều nguồn trong đó, vốn nhà đầu tư thường chỉ khoảng 30%, còn lại là
đi vay Các đối tác cho vay tất nhiên sẽ tính toán và đặt niềm tin vào hiệu quả dự
Trang 11án nhưng nếu không có sự tham gia của Nhà nước thì khả năng huy động vốn sẽrất khó.
– Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các nhà đầu tư tư nhân khi tham gia xây
dựng hạ tầng cùng Nhà nước
– Nhà nước phải bỏ kinh phí và chỉ đạo làm tốt công tác thiết kế, tính toán khả thi
về mặt tài chính, khả năng chịu đựng phí mua điện của các tổ chức phân phối
để định được mức lợi nhuận trước khi kêu gọi đầu tư vì yếu tố lợi nhuận là quyếtđịnh khi kêu gọi các nhà đầu tư Khi đủ điều kiện mới đưa ra kêu gọi đầu tư bằngcách đấu thầu để có được đối tác có lợi nhất
– Đẩy nhanh tiến độ xây dựng thị trường điện để thu hút vốn đầu tư từ mọi thành
phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia hoạt động điện lực
– Cần xây dựng một cơ chế giá điện minh bạch, đủ hấp dẫn nhà đầu tư Chính vì
giá điện hiện nay còn bộc lộ những yếu tố bất cập nên không thu hút nhà đầu tư.Thêm vào đó, việc bù chéo giữa giá điện sản xuất sang giá điện sinh hoạt vẫn duytrì đang làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá Việc giá điện khôngphản ánh đúng chi phí cũng không khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm Hiệnnay, so tương quan mức tăng GDP với tốc độ tăng nhu cầu sử dụng điện thì tốc
độ sử dụng điện luôn gấp đôi GDP, cho thấy việc sử dụng lãng phí, không hiệuquả còn tràn lan
– Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả, tổ chức hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện, có chế độ thưởng, phạt cụ thể.Ban hành các quy chế, quy định về công tác tư vấn tiết kiệm năng lượng, kiểmtoán năng lượng, kiểm định cấp chứng chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng và dán temchất lượng sản phẩm tiết kiệm năng lượng Khuyến khích và có chế độ ưu đãi chocác doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị, vật tư, dây chuyền công nghệ cho mục đíchtiết kiệm năng lượng hoặc có dự án đầu tư sản xuất sản phẩm tiết kiệm nănglượng
– Gắn kết nội dung tiết kiệm điện năng với việc xây dựng kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành nhằm đảm bảo kinh tế xã hội bền vững.Coi đó là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối chủ trương phát triểncủa đất nước
– Giao chỉ tiêu tiết kiệm năng lượng đối với từng cơ quan, đơn vị Cắt giảm ngân
sách hoạt động của cơ quan đơn vị nếu không đạt chỉ tiêu Đồng thời xây dựng chế
độ trách nhiệm đối với từng tập thể cá nhân trong viêc thực hiện tiết kiệm điệnnăng
– Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng máy phát điện trong giờ
cao điểm, hạn chế sử dụng điện lưới
Trang 12– Khuyến khích và có chế độ ưu đãi cho các doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị, vật
tư, dây chuyền công nghệ cho mục đích tiết kiệm năng lượng hoặc có dự án đầu tưsản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng
* Của mỗi người, mỗi cá nhân, mỗi tâp thể…
Hành vi nên làm:
Đối với động cơ truyền động:
– Không để động cơ chạy không tải quá lâu, chạy vượt quá công suất cần thiết,
chạy non tải trong thời gian dài
– Nên sử dụng động cơ, cơ cấu truyền động có khả năng thay đổi tốc độ cho các
hệ thống tải biến đổi
– Sử dụng động cơ hiệu suất cao cho các bộ phận mang tải nặng trong thời gian
dài
Đối với hệ thống nén khí:
– Hợp lý hoá hệ thống ống dẫn, giảm tỉ lệ rò khí, định kỳ thử áp không tải, nén khí
ở mức áp suất thấp nhất vừa đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng, không để sụt áp quálớn trong hệ thống phân phối khí, thu hồi nhiệt khí nén tại vị trí có thể
Nhà máy sản xuất làm lạnh:
– Tránh làm tắc luồng khí trong và xung quanh bộ tản nhiệt, giảm thiểu tắc nghẽn
tại mạch làm phía sơ cấp và thứ cấp
– Bảo dưỡng lớp cách nhiệt đúng tiêu chuẩn, giảm tối đa thời gian vận hành, tránh
vận hành trong điều kiện non tải, giữ tải làm mát ở mức tối thiểu
Nhà máy sản xuất - Nước đá được làm lạnh và làm mát\
– Đảm bảo hệ thống không rò rỉ tối ưu hoá nhiệt độ của nước đá được làm lạnh,
cách ly các thiết bị không sử dụng Cách nhiệt hệ thống phân phối với tiêu chuẩncao
– Nước làm mát sử dụng tuần hoàn kín, sử dụng các bộ cảm biến nhiệt độ để điều
chỉnh các quạt ở tháp làm mát
Toà nhà:
– Điều hoà không khí và thông gió: Lắp đặt các bộ điều khiển tối ưu hoá, giảm
thiểu thể tích lưu không, duy trì nhiệt độ phòng ở 25oC hoặc cao hơn
– Chiếu sáng: Lắp các bộ điều khiển ánh sáng tự động, cảm biến trạng thái sử
dụng Sử dụng các đèn chiếu sáng có hiệu suất cao
Chọn các thiết bị điện: Khi mua sắm các trang thiết bị điện sinh hoạt, đồ dùng gia
dụng cần quan tâm đến các yếu tố sau:
– Chọn thiết bị đúng công suất: vì mọi sự thừa hoặc thiếu công suất đều gây lãng
phí điện
Trang 13– Thay thế các thiết bị tiêu tốn nhiều điện: Đối với hệ thống chiếu sáng nên sử
dụng các loại đèn huỳnh quang, compact Dùng các bếp lò viba, bếp từ thay thếcác loại bếp điện trở
– Hạn chế sử dụng các sản phẩm đồ điện quá cũ.
– Không nhất thiết dùng ổn áp hay biến áp.
Sử dụng các đồ gia dụng điện hợp lý:
– Tủ lạnh: Hạn chế mở khi không cần thiết vì khi mở nhiều tủ lạnh sẽ cần nhiều
năng lượng hơn, không xếp thực phẩm quá dầy, quá đầy, giữa các đồ vật phải có
kẽ hở để tạo đối lưu không khí trong tủ, không để tủ lạnh gần nguồn nhiệt
– Máy điều hoà nhiệt độ: Đối với máy điều hoà nhiệt độ, chỉ để ở mức trên 20 độ
C Cứ cao hơn 10 độ C là đã tiết kiệm được 10% điện năng Nếu thường xuyên lau
chùi bộ phận lọc sẽ tiết kiệm được 5–7% điện năng Nếu đặt máy xa tường sẽ tiết kiệm 20–25% điện năng Nên tắt máy điều hòa nếu vắng nhà một giờ trở lên và
nên sử dụng cùng với chiếc quạt trần để tiết kiệm điện hơn nữa
– Quạt: Sử dụng quạt chỉnh số càng nhanh thì tiêu thụ càng nhiều.
– Máy tính: Hãy tắt máy tính nếu không sử dụng trong vòng 15 phút Màn hình
máy tính có độ sáng càng cao, màu càng đậm thì càng tốn điện Nên tắt máy tính nếu như không có ý định dùng trong vòng 15 phút Hãy chọn chế độ tiết kiệm điệnnăng trong máy tính (Screen Save) để vừa bảo vệ được máy, vừa giảm được
khoảng 55% lượng điện năng tiêu thụ trong thời gian tạm dừng sử dụng máy
(down-time)
– Bàn là: Không nên là quần áo khi đang ướt Không là quần áp trong phòng bật
điều hoà Nên lau sạch bề mặt kim loại của bàn giúp hoạt động có hiệu quả hơn Sau khi tắt điện, bạn còn có thể là được 2 bộ quần áo nữa vì nhiệt của bàn là giảm chậm
– Máy giặt: Chỉ nên sử dụng máy giặt khi có đủ quần áo phù hợp với công suất
định mức để hạn chế số lần hoạt động của máy
– Lò vi sóng: Không dùng lò vi sóng trong phòng có bật điều hoà, không nên đặt
gần các đồ điện khác vì nó sẽ làm ảnh hưởng tới chức năng của đồ điện khác
– Máy bơm: Nhớ vặn chặt các van nước vì để nó rò rỉ sẽ làm máy bơm hoạt động
gây tốn điện
– Tivi: Không để chế độ màn hình quá sáng, tắt máy bằng nút tắt ấn tay ở máy,
dùng tivi có kích cỡ phù hợp với nhà của mình, chỉnh độ sáng và tương phản ở mức vừa phải Không nên tắt TV bằng điều khiển từ xa mà nên tắt bằng cách ấn nút ở máy; không xem TV khi đang nối với đầu video Nên chọn kích cỡ TV phù hợp với diện tích nhà bạn vì TV càng to càng tốn điện
Trang 14– Máy hút bụi: Trước mỗi lần hút bụi, cần kiểm tra giữ sạch túi bụi, nếu túi bụi
chứa đầy bụi sẽ làm giảm lực hụt khiến điện năng tiêu thụ nhiều hơn Không nên hút bụi ở những nơi ẩm ướt
– Bình đun nước nóng: Nên chọn bình có thể tích và công suất phù hợp Khi sử
dụng bình đun nước luôn phải đầy nước, đặt bình ở độ cao không nên quá 2m sovới vòi xả để tránh thất thoát nhiệt theo đường ống
– Sử dụng những thiết bị dùng năng lượng mặt trời để đun nước nóng.
Tiết kiệm điện trong chiếu sáng:
–Chiếu sáng trong nhà nên sử dụng các đèn huỳnh quang, compact thay thế cho
đèn sợi đốt
– Luôn tắt đèn khi ra khỏi phòng đây là biện pháp tiết kiệm điện mà không mất chi
phí
Các giải pháp tuyên truyền:
– Các đài truyền thanh, truyền hình các cấp cần xây dựng phóng sự, thông tin, tọa
đàm, giới thiệu mô hình điển hình về tiết kiệm năng lượng
– Các tờ báo trung ương, báo địa phương cần dành ít nhất một góc nhỏ trên trang
báo nói về vấn đề tiết kiệm năng lượng
– Không coi việc tiết kiệm điện là việc riêng của ngành điện: Các cơ quan chức
năng cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với Ngành điện và nhất quán về chủ trươngbiện pháp thực hiện từ trung ương đến địa phương Việc tuyên truyền tiết kiệmnăng lượng là việc làm thường xuyên của mọi người
– Gắn chỉ tiêu tiết kiệm năng lượng vào cuộc vận động xây dựng khu phố văn
hóa, làng văn hóa, gia đình văn hóa, phong trào “ Toàn dân đòan kết xây dựng đờisống văn hóa ở khu dân cư”
– Kết hợp tuyên truyền về tiết kiệm năng lượng trong các buổi họp khu dân cư,
buổi sinh hoạt của các đoàn thể…Tổ chức các hội nghị chuyên đề, diễn đàn, gặpmặt điển hình cuộc thi, hội thi…về tiết kiệm năng lượng
– Nêu tên trên các phương tiện thông tin đại chúng những cơ sở, cơ quan, đơn vị
không sử dụng tiết kiệm điện năng hiệu quả
– Đẩy mạnh phát triển mô hình sử dụng khí Biogas để làm khí đốt và phát điện
năng ở nông thôn và thành thị
– Thành lập các trung tâm tư vấn khách hàng sử dụng tiết kiệm điện cũng như tiết
kiệm năng lượng nói chung
Hành vi cấm
– Hủy hoại nguồn tài nguyên năng lượng quốc gia.
– Giả mạo, gian dối để được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước trong hoạt
Trang 15–Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả vì mục đích vụ lợi
– Cố ý cung cấp thông tin không trung thực về hiệu suất năng lượng của phương
tiện, thiết bị trong hoạt động dán nhãn năng lượng, kiểm định, quảng cáo và cáchoạt động khác gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
– Sản xuất, nhập khẩu, lưu thông phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc
Danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành
5 Thuyết minh về tiến trình giải quyết tình huống
ĐỐI VỚI NĂNG LƯỢNG THẾ GIỚI NÓI CHUNG
Trước tiên chúng ta phải hiểu năng lượng là gì? Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là gì?
Thuật ngữ năng lượng được định nghĩa là những tài nguyên thiên nhiên có thểcung cấp nguyên liệu làm các máy móc hoạt động và thao tác sản xuất.Từ điểnTiếng Việt và từ điển Vật lí phổ thông định nghĩa: “Năng lượng là đại lượng vật líđặc trưng cho khả năng sinh công của một vật” Đại từ điển Bách khoa toàn thưTiếng Anh đã định nghĩa: “Năng lượng là thuật ngữ bao gồm nhiệt năng, thủynăng và ánh sáng, con người có khả năng chuyển hóa thích hợp để cung cấp nhucầu năng lượng cho chính mình” Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả làgiảm bớt số năng lượng sử dụng bằng cách loại bỏ việc tiêu thụ năng lượng lãngphí, không cần thiết và không đúng cách Điều đó còn có nghĩa là sử dụng nănglượng phù hợp với mục đích sử dụng, không lãng phí, sử dụng những thiết bị íttiêu hao năng lượng
Năng lượng cung cấp nguyên liệu phục vụ cho đời sống , sản xuất và các nhucầu thiết yếu của con người Năng lượng có vai trò sống còn đối với đời sống conngười, nó quyết định sự tồn tại, phát triển và chất lượng cuộc sống của con người.Năng lượng dùng để thắp sáng, để sưởi ấm, để đi lại, Có năng lượng thì conngười mới tồn tại Năng lượng cũng chính là yếu tố đầu vào không thể thiếu củarất nhiều ngành kinh tế khác, có tác động ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt độngkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Ngày nay, có thể thấy rõ các vấn đề khủnghoảng năng lượng thường có tác động rất lớn tới kinh tế và xã hội của các nướctrên thế giới Do vậy, nhiều nước trên thế giới đã đặt vấn đề năng lượng thành vấn
đề ‘an ninh năng lượng” đối với sự phát triển quốc gia
Theo tài liệu của Cơ quan Thông tin năng lượng (IEA) năm 2004 đã dự báorăng nhu cầu tiêu thụ tất cả nguồn năng lượng đang có xu hường tăng nhanh.Trong vòng 24 năm kể từ năm 2001 đến năm 2025, mức tiêu thụ năng lượng trênthế giới có thể tăng thêm 54% (ước tính khoảng 404 nghìn triệu triệu Btu vào năm
2001 tới 623 nghìn triệu triệu Btu vòa năm 2025) Nhu cầu sử dụng ngày càng cao
Trang 16thông vận tải và nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống Việc gia tăng khai thác
và sử dụng các nguồn tài nguyên năng lượng như hiện nay trên thế giới đã dẫn đếnnguồn tài nguyên năng lượng không tái sinh đang bị cạn kiệt Dân số toàn cầu đãđạt mức 7,3 tỉ người Muốn duy trì sự phát triển của xã hội cần tìm kiếm thêm cácnguồn năng lượng mới
Các nguồn năng lượng hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt ) là loại năng lượngquan trọng nhất, có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống Vậy năng lượng(nhiên liệu) hóa thạch được định nghĩa là gì?
Nhiên liệu hóa thạch được hình thành từ quá trình phân hủy kỵ khí của xáccác sinh vật, bao gồm thực vật phù du và động vật phù du lắng đọng xuống đáybiển (hồ) với số lượng lớn trong các điều kiện thiếu oxi, cách đây hàng triệu năm.Trải qua thời gian địa chất, các hợp chất hữu cơ này trộn với bùn, và bị chôn vùibên dưới các lớp trầm tích nặng Trong điều kiện nhiệt độ và áp suất cao làm chocác vật chất hữu cơ bị biến đổi hóa học, đầu tiên là tạo ra kerogen ở dạng sáp.Chúng được tìm thấy trong các đá phiến sét dầu và sau đó khi bị nung ở nhiệt caohơn sẽ tạo ra hiđrocacbon lỏng và khí bởi quá trình phát sinh ngược.
Các nhiên liệu hóa thạch thay đổi trong dải từ chất dễ bay hơi với tỷ sốcacbon: hiđro thấp như methane, dầu hỏa dạng lỏng, đến các chất không bay hơichứa toàn là cacbon như than đá Methane có thể được tìm thấy trong các mỏhiđrocacbon ở dạng riêng lẻ hay đi cùng với dầu hỏa hoặc ở dạng methaneclathrates Về tổng quát chúng được hình thành từ các phần còn lại của thực vật vàđộng vật bị hóa thạch khi chịu áp suất và nhiệt độ bên trong vỏ Trái Đất hàng triệunăm Học thuyết phát sinh sinh vật được Georg Agricola đưa ra đầu tiên vào năm
1556 và sau đó là Mikhail Lomonosov vào thế kỷ 18
Nhiên liệu hóa thạch có vai trò rất quan trọng bởi vì chúng có thể được dùng làmchất đốt (bị ôxi hóa thành cacbon đioxit và nước) để tạo ra năng lượng Việc sửdụng than làm nhiên liệu đã diễn ra rất lâu trong lịch sử Hiện nay năng lượng hóathạch vẫn là nguồn nhiên liệu chủ yếu để thỏa mãn những đòi hỏi về năng lượng
vì giá của chúng vẫn rẻ hơn các nguồn năng lượng hạt nhân, năng lượng tái tạohay các năng lượng hoàn nguyên khác Chính vì điều đó sẽ dẫn đến sự cạn kiệtnguồn năng lượng hóa thạch trong một thời gian không xa
Cơ quan thông tin năng lượng Hoa Kỳ (EIA) ước tính năm 2006 rằng nguồnnăng lượng nguyên thủy bao gồm 36,8% dầu mỏ, than 26,6%, khí thiên nhiên22,9%, chiếm 86% nhiên liệu nguyên thủy sản xuất trên thế giới Các nguồn nhiênliệu không hóa thạch bao gồm thủy điện 6,3%, năng lượng hạt nhân 6,0%, và nănglượng địa nhiệt, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, nhiên liệu gỗ, tái chế chấtthải chiếm 0,9% Tiêu thụ năng lượng trên thế giới tăng mỗi năm khoảng 2,3%.Năng lượng hóa thạch gồm nhiều nguồn năng lượng: