1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khai quật khu mộ táng Gò De lần thứ nhất 19941995

23 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 96,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo khai quật khu mộ táng Gò De lần thứ nhất 19941995 Phong Châu là một huyện thuộc vùng đồi trung du Vĩnh Phú. Nơi đây được sông Hồng hợp với sông Đà chảy qua và bao viền ba mặt. Do đó phù sa được hai dòng sông chở từ ngọn nguộn Tây bắc đem về bồi tụ, làm cho đất trở nên phì nhiêu, màu mỡ. Phong Châu có di tích Đền Hùng. Theo truyền thuyết là nơi các vua Hùng chọn làm nơi dựng đô lập nước Văn Lang. Những năm qua khảo cổ học đã đi sâu vào vùng đất Tổ, khơi dậy những di tích và di vật của những con người đã có công lập nước từ 4000 năm trước. Trong khoảng một vùng đất không rộng lắm thuộc hạ huyện Phong Châu, chúng ta đã phát hiện hàng trăm nơi cư trú và mộ táng của người xưa nằm sâu dưới lòng đất. Đó là những di tích thuộc các giai đoạn phát triển văn hoá từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn – giai đoạn mở đầu thời kỳ dựng nước của dân tộc. Gò De là một trong những di tích phản ánh quá trình đó

Trang 1

Báo cáo khai quật khu mô táng gò de

Lần thứ nhất 1994-1995

Chơng I: Vị trí, địa lý, quá trình phát hiện và nghiên

cứu

Phong Châu là một huyện thuộc vùng đồi trung du Vĩnh Phú Nơi đây

đợc sông Hồng hợp với sông Đà chảy qua và bao viền ba mặt Do đó phù sa

đợc hai dòng sông chở từ ngọn nguộn Tây bắc đem về bồi tụ, làm cho đất trởnên phì nhiêu, màu mỡ Phong Châu có di tích Đền Hùng Theo truyềnthuyết là nơi các vua Hùng chọn làm nơi dựng đô lập nớc Văn Lang Nhữngnăm qua khảo cổ học đã đi sâu vào vùng đất Tổ, khơi dậy những di tích và divật của những con ngời đã có công lập nớc từ 4000 năm trớc Trong khoảngmột vùng đất không rộng lắm thuộc hạ huyện Phong Châu, chúng ta đã pháthiện hàng trăm nơi c trú và mộ táng của ngời xa nằm sâu dới lòng đất Đó lànhững di tích thuộc các giai đoạn phát triển văn hoá từ Phùng Nguyên đến

Đông Sơn – giai đoạn mở đầu thời kỳ dựng nớc của dân tộc Gò De là mộttrong những di tích phản ánh quá trình đó

Gò De thuộc xã Thanh Bình, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú, nằm

ở 1050 18’33’’ kinh đông, 21019’20’’ vĩ bắc Phía Đông giáp xã Thuỵ Vân,phía Nam giáp xã Cao Xá và Sơn Vi, phía Tây giáp xã Cao Mại, phía Bắcgiáp xã Chu Hoá Đất Gò De đã bị phong hoá màu đỏ gạch trộn lẫn với sỏinhỏ đã bị la tê rít hoá Vì sờn dốc thoải nên hàng năm đã bị nớc ma xói mòntrôi xuống đầm hồ quanh đồi Nếu nhìn từ phía Đông nam, Gò De nh mộtbán đảo nhô ra giữa một hồ nớc lớn Hiện nay ba mặt phía Đông – Nam-Tây của Gò De đợc bao bọc bởi đầm hồ thiên tạo xa xa Phía Bắc là triền đồithấp nối liền nhau chạy mãi tới chân núi Hùng Xét về địa thế và cảnh thiênnhiên thì Gò De là một trong những quả đồi ở vào vị thế đẹp, có cảnh quanmôi trờng thuận lợi cho việc định c sinh sống của ngời xa

Gò De là một quả gò rộng, cao khoảng 10 mét so với mặt ruộng trũng,diện tích 6,5 ha Theo lời các cụ trong làng thì khu vực Gò De cách đây hơn

100 năm đã có c dân đến ở Gò này xa là khu rừng rậm rạp, có nhiều cây gỗ

Trang 2

to và ngày nay, ngoài một số nhà dân ở còn lại là rừng cọ xen lẫn đất trồnghoa màu và bụi rậm.

Gò De nằm trong vùng phân bố dày đặc các di tích thuộc các giai

đoạn văn hoá khác nhau Đó là di chỉ Gò Mồng phía Bắc, Gò Nghệ, Gò Dạ,

Gò Thờ phía Tây thuộc giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên Gò Đồng phía

Đông thuộc giai đoạn văn hoá cuối Phùng Nguyên đầu Đồng Đậu Gò Trotrên, Tro dới, Gò Gai, Gò Thế, Gò Con Cá, Gò Sành thuộc giai đoạn văn hoá

Gò Mun Gò Môm Dền, Gò Bún thuộc giai đoạn văn hoá Đông Sơn Các địa

điểm này phân bố chủ yếu trên các quả gò, cách nhau không xa theo đờngchim bay Phía Đông Gò De cách khoảng 8 km là thành phố Việt Trì với ditích Làng Cả nổi tiếng Phía Bắc là núi Hùng cách đó 5 km Cách sông Hồngnơi gần nhất về phía Nam khoảng 2 km (Sơ đồ I)

Gò De nằm trong vùng trũng của huyện Phong Châu Cho nên, khimùa ma đến, nớc trong các đầm hồ dâng ngập, từ xa Gò De nh một bán đảonhỏ nhô ra giữa đồng nớc bạc mênh mông Thuyền bè có thể đi từ Gò De ratới sông Hồng bằng con ngòi cổ mang tên ngòi Tùng

Từ năm 1960 khái niệm đồ đồng thau Thanh Đình rất hấp dẫn đối vớicác nhà khảo cổ quan tâm đến đồ đồng thau(1)1

Vết tích thời đại đồ đồng thau ở Thanh Đình đợc nhắc tới lần đầu tiêntrong cuốn “ Những vết tích đầu tiên của thời đại đồ đồng thau ở Việt Nam”.Những vết tích đó đợc nhân dân địa phơng phát hiện trên hai quả đồi mangtên Đồi Nghệ và Đồi Dạ thuộc địa phận xã Thanh Đình Từ lâu, trên hai quả

đồi đã đợc nhân dân địa phơng khai phá thành những thửa ruộng bậc thang

để trồng trọt Trong khi làm ruộng ở đây nhân dân đã tìm đợc một số di vật

đồ đồng và đồ đá

Năm 1972 trong khi đào đất đắp đờng, dân công hai xã Thuỵ Vân vàThanh Đình đã phát hiện địa chỉ c dân Gò De

Để biến đầm nớc bao quanh ba mặt Gò De trở thành khu hồ thả cá,

đội liên doanh cá Vân Đình (xã Thuỵ Vân và xã Thanh Đình) đã tổ chức đắpcon đờng lớn chạy từ bờ đê chắn ngòi Tùng đến đầu Gò De qua đầm nớc lớn

1 (1) Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh và Nguyễn Linh Những vết tích đầu tiên của thời đại đồ đồng thau ở Việt Nam NXB khoa học – Hà Nội 1963.

Trang 3

Ngày 15 tháng 8 năm 1972 đội liên doanh cá Vân Đình đã tổ chức đào lấy

đất ở đầu Gò De song cha phát hiện đợc gì Ba ngày sau, ngày 18 tháng 8năm 1972 khi diện tích lấy đất đã đợc mở rộng và phát triển từ phía Namsang phía Tây dới sờn đồi thì các xã viên đã phát ra nồi gốm, rìu đồng ở độsâu khoảng 0,60m (theo lời kể của nhân dân) Những hiện vật đợc đào lên,mỗi ngời lấy một thứ đem về nhà riêng Một số hiện vật bị đập vỡ, bẻ gãyhoặc cạo gọt phần vỏ có trang trí hoa văn bên ngoài Ngày 12 tháng 7 năm

1973 đội liên doanh lại tiếp tục đào lấy đất để phụ mặt đờng và do đó cáchiện vật bằng đồng, gốm lại đợc đào lên (12) Những hiện vật đào thấy lần thứhai này nằm cạnh những hiện vật tìm thấy lần trớc trong khu vực đó và theonhân dân kể lại thì nằm ở độ sâu 1,20m Số phận của những hiện vật lần sau

đào lên cũng nh lần trớc đều bị lấy về nhà riêng đập vỡ, ném vào bụi rậmhoặc xuống đồng nớc Nhiều hiện vật bằng đồng nhỏ bị đập vỡ nát vụn.Công việc đào lấy đất ở khu vực này còn tiếp tục cho đến năm 1974 Songthời gian đào, số lợng đất lấy đi ít hơn, và chủ yếu trên lớp mặt, bởi lẽ con đ-ờng đã hoàn thành và số đất cần ít hơn khi mới khởi công Khu di tích Gò De

đợc phát hiện từ đó Sau đấy ít lâu, nhân chuyến đi công tác ở Vĩnh Phú, HánVăn Khẩn cán bộ thuộc bộ môn khảo cổ, khoa Sử trờng Đại học Tổng hợp

Hà Nội, đồng thời trởng phòng Văn hoá huyện Lâm Thao (nay là huyệnPhong Châu) Lê Nhiễu biết tin cũng đã xuống tận nơi, vào dân thu thậpkhoảng trên 30 hiện vật (2) gồm các loại rìu, giáo, vuốt, dao găm Trong hộinghị thông báo khảo cổ học tổ chức tại Hà Nội tháng 9 năm 1974, trongthông báo tác giả cho biết “ Hiện vật đến nay thu đợc 76 với nhiều loạiphong phú: Đồ đá 3, đồ đồng 70, gốm 3 (3)

Đợc biết một di tích có nhiều hiện vật phong phú, độc đáo, ViệnKhảo cổ học đã cử cán bộ đến điều tra tận nơi Đoàn gồm có Hà Văn Phùng,Phạm Minh Huyền và Lê Tợng, Nguyễn Lộc cán bộ Ty Văn hoá Vĩnh Phútrở lại điều tra khu di tích Gò De 9 hiện vật bằng đồng lu giữ trong các gia

đình đã đợc thu thập gồm có rìu, giáo, dao găm và thạp nhỏ Do thời gian cóhạn, đoàn cha tiến hành điều tra và đào thám sát khi di tích này Để tiếp tụctìm hiểu kỹ hơn nữa, Viện Khảo cổ học lại cử cán bộ đến điều tra thám sát

2 (1) Lê Nhiễu Những vấn đề lịch sử Vĩnh Phú T 211- 212 Ty Văn hoá Vĩnh Phú xuất bản 1975.

(2) Theo ông Hoàng Công Điều cho biết.

(3) Lê Nhiễu Thông báo địa điểm Gò De tháng 9 năm 1974.

Bản đánh máy T liệu Viện Khảo cổ học

Trang 4

khu Gò De lần thứ hai từ ngày 7 tháng 8 năm 1975 đến ngày 13 tháng 8 năm

1975 Đoàn gồm có Hà Văn Phùng và Nguyễn Văn Bình đã tiến hành khảosát toàn bộ khu vực này Ngoài ra đoàn còn đào thám sát hố có diện tích là4m2, ở rìa gò phía Tây cạnh nơi trớc đây tìm thấy hiện vật, đồng thời tiếp tụcthu thập hiện vật còn lu giữ trong một số gia đình Kết quả đợt công tác này

đã có thể xác định đợc tính chất của khu di tích và thu thập thêm đợc 24 hiệnvật nữa

Tháng 12 năm 1977 nhân đợt khai quật địa điểm khảo cổ học Làng Cả(thành phố Việt Trì), một số cán bộ của Viện Khảo cổ học tiếp tục trở lại Gò

De để đào thám sát Tại khu vực tìm thấy nhiều hiện vật trớc đây mà nhândân đã đào, ba hố thám sát đã đợc mở Hố thám sát 1 và 2 diện tích mỗi hố6m2 (3 x 2) Hố thám sát 3 diện tích 17,5m2 (3,5 x 5) tổng cộng 29,5m2 Kếtquả đã phát hiện một vò gốm chôn nằm nghiêng cách mặt đất hiện tại0,50m Trong vò có 5 hiện vật, gồm có rìu xéo, giáo đồng, không có dấu vếtxơng răng hoặc than tro Trong đợt công tác này, cán bộ Viện Khảo cổ họccòn thu đợc trong dân một số hiện vật gồm có lỡi cày đồng hình tim, daogăm, thuổng và rìu đồng Trong đợt đào thám sát này cũng cha phát hiện đợcdấu vết của tầng văn hoá (13)

Trong những đợt điều tra thám sát, cán bộ Viện Khảo cổ học đã tiếnhành đo đạc và nhận thấy: Trong thời gian đào đất đắp đờng từ 1972 đến

1974 ngời ta đã đào thành 4 hố có độ sâu trung bình là 1,50m Nếu tạm gọicác hố theo thứ tự 1, 2, 3, 4 từ Đông sang Tây thì kích thớc các hố nh sau:

- Hố 1: Dài 22m x rộng 8,40m = 184,80m2

- Hố 2: Dài 11,20m x rộng 3,80m = 42,56m2

- Hố 3: Dài 6,30m x rộng 3,9m = 24,57m2

- Hố 4: Dài 6,0m x rộng 5,70m = 34,200m2

Nh vậy tổng cộng diện tích đã đào ở khu vực này là 286,13m2

Để xác định nội dung, tính chất và phạm vi phân bố của khu mộ táng

Gò De, lần đầu tiên khu di tích này đợc tổ chức khai quật và nghiên cứu vớidiện tích 251m2 vào cuối năm 1994

3 (1) Trịnh Sinh Báo cáo về đợt điểu tra thám sát Gò De 1977 Bản đánh máy T liệu Viện Khảo cổ học.

Trang 5

Tham gia đợt khai quật này có cán bộ Viện Khảo cổ học, trờng Đạihọc Tổng hợp Hà Nội và Ban Quản lý di tích Đền Hùng.

6 hố khai quật đợc xác định ở khu vực Tây nam, sát chân đồi

Hố khai quật i với diện tích 84m2 (6 x 14) nằm về phía Bắc của hốnhân dân đào đợc trớc đây Hố có hớng Bắc lệch Đông 600, phía Đông là con

đờng lớn từ đồng chạy vào Thanh Đình Địa hình của hố tơng đối bằngphẳng, lớp đất trên đã bị lấy đi nhiều khoảng từ 0,60 – 0,80m Hố đào tới

độ sâu gần nh tơng đơng với độ sâu mà nhân dan đào trớc đây, vẫn khôngphát hiện đợc mộ táng Chỉ thấy một mảnh đồng do trớc kia đào bới bị hấtlên và một lọ sành cùng với nồi gốm thô thời phong kiến đặt gần nhau (Bản

ảnh I – 1)

Hố khai quật II, diện tích 40m2 (10 x 40) sát đờng từ đồng vào xãThanh Đình, nằm ở phía Đông của hố mà nhân dân đào trớc đây Hố khaiquật II có hớng Bắc lệch Tây 150, phát hiện đợc 4 mộ táng (Bản ảnh I- 2)

Hố khai quật III, diện tích 40m2 (10 x 40) nằm ở phía Bắc hố khaiquật I

Hố khai quật IV, diện tích 40m2 (8 x 5) nằm phía Tây sát với hố III.Hai hố III và IV không phát hiện đợc ngôi mộ nào

Hố khai quật V, diện tích 32m2 (8 x 4) nằm sát phía Đồng Nghệ,thuộc phía Tây của hố đào nhân dân trớc đây ở độ sâu 1,00m cha phát hiện

đợc mộ táng, chỉ phát hiện đợc một rìu đá thô bị gãy phần đốc và bàn màibằng đá màu gan gà (Bản ảnh I – 2)

Hố khai quật VI, diện tích 15m2 (3 x 5) nằm sát vách Bắc của hố IIcách 0,5m, phát hiện đợc 2 mộ táng

Nh vậy với 6 hố khai quật năm 1994 diện tích 251m2 cộng với diệntích mà nhân dân đào lấy đất và các hố thám sát trớc đây thì diện tích lên tớigần 600m2

Chơng II: DI tích và di vật

I Di tích và di vật phát hiện từ 1972 đến trớc cuộc

khai quật 1994: (1)4

4 (1) Tài liệu tổng hợp phần này do PTS Hà Văn Phùng thu thập từ 1975.

(2) Lê Nhiễu Thông báo địa điểm Gò De tháng 9 năm 1974.

Bản đánh máy T liệu Viện Khảo cổ học.

Trang 6

Trong tổng số 286,13m2 mà nhân dân đào trớc đây, cho đến naykhông ai hiểu đợc số di tích mà ngời xa để lại là những gì Song qua tìm hiểumột số ngời dân tham gia đào trong thời gian đó nhất là ông Hoàng Công

Điều, ngời phụ trách và trực tiếp chỉ huy đào khu vực này từ đầu đến khi kếtthúc kể lại thì có một số di tích đáng chú ý Đó là những nhóm hiện vật xếpchồng lên nhau, ít khi thấy rải rác Đất xung quanh màu xám tro khác hẳn

đất khu vực không có hiện vật Theo ông Điều chỉ dẫn thì khu vực này đàothấy ba cái thạp nhỏ ở ba vị trí khác nhau

- Chiếc thứ nhất nằm ở giữa hố I và hố II, dới mặt đất khoảng 0,60 –0,80m Trong thạp đựng nhiều vuốt đồng rỉ xanh đóng cục, ớc tính khoảng

100 chiếc Khi đào lên bị đập ra và mỗi ngời lấy một ít

- Chiếc thứ hai nằm lệch về phía Đông bắc của hố II dới độ sâu0,50m Thạp này không đựng gì cả

- Chiếc thứ ba nằm lệch về phía Đông bắc nhng ở hố thứ IV Chiếcthạp này lại chứa nhiều vuốt đồng rỉ xanh đóng cục nh trờng hợp chiếc thứnhất Xơng cốt cha đợc xác định rõ ràng Nhiều chỗ đất màu xám tro, có thể

đó là vết tích của xơng Sau khi nghe kể Lê Nhiễu đã viết trong thông báocủa mình:

“ những vết tích mộ đều thuộc huyệt đất xơng bị mủn nát” (2).Những di vật thực tế đợc khơi từ lòng đất Gò De cho đến nay cha ai nắm đợchết Những con số đã đợc thông báo chẳng qua một phần do nhân dân kể lại,kết hợp với một số hiện vật thu thập đợc Cũng cùng thông báo một địa

điểm, song rõ ràng hai ngời có hai số liệu khác nhau đã nói lên điều đó.Chẳng hạn thông báo của Lê Nhiễu và thông báo của Lê Tợng về địa điểm

Gò De có nhiều chỗ không thống nhất Chúng ta xem bảng thống kê dới đây:

Thông báo

Tên hiện vật

Lê Nhiễu Thông báo Gò De ngày 10/9/1974

Lê Tợng Báo cáo về Gò

De, Hội nghị nghiên cứu lịch sử tỉnh Vĩnh Phú ngày 25/10/1974.

Trang 7

đầy đủ Song có t liệu sử dụng đợc, chúng tôi tiến hành phân tích, thống kênhững hiện vật đã có trong tay, kết hợp với t liệu Lê Nhiễu đã thông báo, tuycha có hiện vật nhng có miêu tả tỉ mỉ, loại trừ những hiện vật trùng hợp.

Các hiện vật đợc phân tích mô tả dới đây bao gồm nhiều loại, chủ yếu

là những hiện vật bằng đồng Căn cứ vào hình dáng có thể chia ra các loại

nh sau:

1 Rìu đồng: 15 chiếc

Rìu đồng ở Gò De có nhiều hình dáng khác nhau, cấu trúc bên ngoàikhông giống nhau và do đó có thể chức năng khác nhau chút ít trong việc sửdụng

- Loại I: Rìu gót vuông hình bàn chân (gồm có 4 chiếc)

Trong số 4 chiếc rìu này, 2 chiếc có ký hiệu G DO1 và G DO2, 2chiếc thu trong dân, trong đợt thám sát 1977 Rìu có gót vuông, mũi kéo dài,rìu tác dụng rộng, họng tra cán hình bầu dục dẹt, cán dài, có gờ nổi phân biệtgiữa chuôi và thân Điển hình trong loại rìu này là chiếc mang ký hiệu GDO1, rìu có chiều dài 12,4cm, lỡi rộng 13,2cm Mũi rìu bị gãy, sứt phần gót,toàn thân rỉ xanh, có lớp patin song bị tróc gần hết Trên một mặt rìu cótrang trí hoa văn Bên ngoài là một khung hoa văn kiểu hồi văn Giữa là hìnhmột con hơu sao, hai sừng dài nhiều chạc Trớc con hơu là một con chó đứng

đối diện, mồm há rộng Phía trên là một con chim cổ dài, có mào đang trong

t thế khép cánh lao cùng chiều với con hơu về phía con chó Đồ án hoa vănnày là những đờng nét đợc khắc vào thân rìu Có lẽ ngời xa diễn tả một cuộcsăn đuổi thú có chó và chim tham gia Chó đón đầu thú để “bắt” là một hiệntợng thờng thấy trong những buổi săn vây ở miền núi và vùng trung du trớc

đây Con chim ở đây đợc ngời xa mô phỏng lại là một giống chim cổ dài,

đuôi dài, thân có khoang trắng và đen xen kẽ báo hiệu cho những ngời đi săn

Trang 8

biết khi con thú ra khỏi rừng rậm Loại chim này thờng đậu ở những ngọncây cao có cành khô trong rừng Khi thấy thú ra khỏi rừng nó sẽ lao theo để

“đánh” và kêu to Do đó, ngời đi săn có thể biết đợc thú đã ra hớng nào Loạichim này vùng Vĩnh Phú thờng gọi là con “Cà tớt” Ngời đi săn thờng theodõi những con chim đó để đuổi theo thú khi chúng ra khỏi rừng rậm Ngoàiloại chim này ra, ngời ta còn chú ý đến một số loại chim khác cũng hay báohiệu thú ra khỏi rừng nh con “cà cơng”, “ chào mào” có thân hình nhỏ hơn(Bản vẽ I, hình 5)

- Loại II: Rìu xéo gót tròn có 9 chiếc mang ký hiệu G DO11, G DO12, G DO13, G DO14, G DO15, G DO16, 77 GDM 1-1, 77 GDM1-2,

77 GDM1-3

Rìu có gót tròn, mũi kéo dài và nhỏ hơn phần gót Loại rìu này có rìatác dụng rộng và phẳng, thích hợp với việc chặt cây và băm thái hơn là dùngchúng vào việc đào, bới hoặc cuốc Toàn bộ hình dáng của chúng giống nhhình bàn chân Họng tra cán chủ yếu là hình bầu dục

Điển hình trong loại này là chiếc mang ký hiệu G DO11, là chiếc rìucòn tơng đối nguyên vẹn, phần sống phía trên của rìu dày, lỡi mỏng Trênmột mặt có gờ đúc nổi phân cách chuôi và lỡi, họng tra cán hình bầu dục

Đôi chỗ trên thân rỉ sần sùi Rìu dài 11,2cm, lỡi rộng 11,6cm (Bản vẽ I, hình2)

- Loại III: Rìu mũi xéo, gót nhọn có một chiếc mang ký hiệu G DO17

Rìu có gót nhọn, mũi chúc kéo dài Rìa tác dụng rộng và thẳng côngdụng của loại rìu này có thể tơng tự nh loại II nói trên

Rìu G DO17 lỡi bị mẻ nhiều, gãy phần chuôi tra cán Họng tra cánphần còn lại hình bầu dục dẹt Không trang trí hoa văn, rỉ nhiều, chiều dàicòn lại 4,5cm, lỡi rộng 7,6cm (Bản vẽ I, hình 4; Bản ảnh IV-2)

- Loại IV: Rìu xoè cân, một chiếc mang ký hiệu G DO18

Rìu xoè cân có tâm rơi vào chính giữa, hai mũi xoè cân đối Rìa tácdụng rộng và hơi có hình vòng cung

Rìu G DO18 có mặt cắt dọc hình chữ V, một mặt hẹp, mặt kia rộngngang hơn Họng tra cán hình thang cân có đáy lớn 2,5cm, đáy nhỏ 2,3cm,cao 1,1cm Do bị nung và toàn bộ lớp bên ngoài bị cạo bỏ nên không biết có

Trang 9

trang trí hoa văn hay không Rìa lỡi và chuôi bị sứt mẻ Rìu dài 6,2cm, lỡirộng 6,0cm (Bản vẽ I, hình 3; Bản ảnh IV, hình 1).

2 Thuổng đồng

Có 9 chiếc mang ký hiệu G DO3, G DO4, G DO5, G DO6, G DO7, GDO8, G DO9, G DO10 và một chiếc do cán bộ Viện Khảo cổ thu đ ợc trongdân trong đợt thám sát năm 1977

Thuổng có hình dáng chắc, khoẻ, thân dày, lỡi hình bán nguyệt cóthân dài, chúng chỉ khác nhau về kích thớc và trọng lợng Xét về mặt cấu tạocủa lỡi thì hiện vật này phù hợp với công việc đào hoặc cuốc đất Phần nhiềuthuổng đợc trang trí hoa văn hình tam giác lồng xếp ngợc chiều nhau

Điển hình trong loại hình thuổng là chiếc mang ký hiệu GDO3 có lỡixoè rộng hai bên, lỡi cong hình bán nguyệt Họng tra cán hình bầu dục Haimặt bên của thân tra cán trang trí một khung hoa văn đúc nổi hình tam giáclồng nhau Thuổng to, nặng, một bên lỡi bị dùng mòn nhiều hơn Thuổng cóchiều dài 14,5cm, lỡi rộng 8,2cm (Bản vẽ I, hình 6)

Chiếc mang ký hiệu GDO 7 có chiều dài 16,0cm, lỡi rộng 8,6cm.Cũng giống chiếc ở trên, hai vai xoè rộng, lỡi tròn hình bán nguyệt Họng tracán hình bầu dục Trên hai mặt của chuôi tra cán trang trí hoa văn hình tamgiác lồng xếp ngợc chiều nhau Thuổng nặng, chắc, khoẻ Trong chuôi cònngậm một mẩu cán gỗ bị gãy (Bản vẽ I, hình 7)

G DO19, G DO20, G DO21, G DO22, 77 GDM1-4 Căn cứ vào cấu tạo cóthể chia ra làm hai loại:

- Loại I: 4 chiếc.

Giáo có thân dài, cánh xoè ra hai bên nhng không rộng, sống giữa nổicao tạo cho mặt cắt ngang lỡi hình thoi, rìa lỡi mỏng

Trang 10

Điển hình trong giáo loại I là chiếc mang ký hiệu GDO19 Giáo cóthân dài, cánh hẹp và mỏng, sống giữa nổi cao tạo cho mặt cắt ngang giữahình thoi Họng tra cán hình tròn, đờng kính 2,1cm Giữa chuôi và lỡi có đ-ờng chỉ chìm chạy vòng quanh Giáo rỉ xanh, đôi chỗ đốm xám, lớp patindày nên mặt ngoài nhẵn bóng Rìa lỡi và chuôi của giáo bị sứt mẻ, thờng gọi

là giáo hình lá mía Toàn bộ giáo dài 300cm (Bản vẽ II, hình 1; Bản ảnh 3)

V Loại II: 1 chiếc mang ký hiệu GDO22

Phần lỡi không kéo dài, hai cánh xoè rộng, giữa có sống nổi cao, mặtcắt ngang thân hình thoi Giáo bị gãy làm ba phần, rìa lỡi sứt mẻ nhiều.Họng tra cán hình tròn, đờng kính 2,2cm, ăn sâu xuống ngang thân Giữathân và chuôi có một đờng chỉ chìm chạy vòng quanh Toàn thân phủ lớppatin màu xanh nhẵn bóng, thờng gọi là giáo hình búp đa Giáo dài 22,9cm,chiều rộng hai cánh 6,1cm (Bản vẽ II, hình 2; Bản ảnh V- 2)

4 Lao đồng: 7 chiếc

Lao về hình dáng gần nh giáo song công dụng của chúng có phầnkhác giáo Lao là loại vũ khí ngoài công dụng tự vệ, đánh gần, nó còn đợc sửdụng để đánh xa Nếu lắp cán vào, lao có thể phóng tới cự ly nhất định Bởi

lẽ cấu tạo của nó nhỏ nhẹ, có thể dùng một lực vừa phải mà phóng đợc xa.Căn cứ vào cấu tạo bên ngoài, ta có thể chia lao ra làm 3 loại:

- Loại I: 4 chiếc mang ký hiệu G DO23, G DO24, G DO25, G DO26

Lao loại I có phần lỡi dài và nhọn, chiều ngang của cánh hẹp, có sốngnổi cao ở giữa

Điền hình trong lao loại I là chiếc mang ký hiệu G DO 24 có lỡi dài,nhọn, sống giữa nổi cao Họng tra cán hình gần tròn Chuôi và lỡi lao sứt mẻcòn một đoạn cán gỗ ngậm trong chuôi Thân lao rỉ xanh, không trang tríhoa văn Lao dài 14,5cm, nơi rộng nhất của lỡi 3,0cm (Bản vẽ II, hình 6)

- Loại II: 2 chiếc mang ký hiệu G DO27, G DO28

Loại này có đặc điểm chuôi nhỏ, thân phình rộng và thon nhỏ lại vềphía mũi Lao có dạng hình lá

Trang 11

Trong loại này điển hình là chiếc lao mang ký hiệu G DO27 Lao cósống nổi ở giữa, cánh rộng thuôn dần về mũi Họng tra cán hình tròn, đờngkính khoảng 1,2cm Lao bị gãy ngang thân, sứt chuôi, gãy mũi, toàn thân rỉxanh, sần sùi Lao còn dài 10,2cm, cánh nơi rộng nhất 3,5cm (Bản vẽ II,hình 3; Bản ảnh VI- 3).

- Loại III: Một chiếc mang ký hiệu G DO29

Thân lao dài, rộng ở phần giáp chuôi và nhỏ dần về mũi Trên hai mặtcủa thân lõm xuống tạo thành hình một chiếc lao nhỏ không chuôi Lao cósống nổi ở giữa, chuôi ngắn hơn nhiều so với thân, họng tra cán hình bầudục Một phần chuôi và hai bên rìa lỡi bị gãy và sứt mẻ Lao còn dài 17,0cm,lỡi chỗ rộng nhất 3,7cm Đây là một loại hiện vật khá đặc biệt, có thể hìnhlõm hai bên mặt lỡi vừa có tác dụng thực tế, vừa mang tính chất trang trí(Bản vẽ II, hình 14; Bản ảnh V- 1)

5 Dao găm

3 chiếc mang ký hiệu G DO30, G DO31, một chiếc do cán bộ ViệnKhảo cổ thu đợc trong dân năm 1977 Cả ba chiếc dao găm này có thể xếpvào cùng một loại Toàn bộ thân dao có hình tam giác cân Phần dới chắn tayrộng rồi thu dần về mũi, phần chuôi nhỏ, rỗng giữa, mặt cắt hình tròn

Điển hình là chiếc mang ký hiệu G DO 31 Chiếc dao này bị gãy mấtphần mũi, sứt hai rìa lỡi Cán dao còn dài, tơng đối nguyên vẹn Phần chắntay rộng và thu nhỏ về mũi, hai cạnh bên sắc Toàn bộ trên phần lỡi và cántrang trí hoa văn khắc chìm vào hiện vật, song hiện đã bị những ngời tìmthấy nó gọt đẽo gần hết, chỉ còn lại đôi chỗ Do đó không biết trên toàn thândao đợc trang trí mấy loại đồ án Qua một số hoa văn còn lại trên cán, có thểnhận ra văn vạch chữ S nối đuôi nhau, chữ  những đờng gãy khúc chạydọc chuôi Hai mặt bên của lỡi trang trí hoa văn chữ S, dấu móc đối xứngkhá lạ và đẹp mắt Loại mô típ này thờng gặp trên đồ đồng Đông Sơn Dao

có họng tra cán hình bầu dục, rỗng giữa Toàn thân dao còn dài 15,8cm,phần lỡi dài 7,3cm, phần chắn tay rộng 4,9cm Toàn thân rỉ xanh (Bản vẽ I,hình 1; Bản ảnh VI- 2)

6 Vuốt đồng

Ngày đăng: 27/07/2016, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w