Nguyên nhân của những hạn chế trong hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của các công ty KDBĐS niêm yết 108 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN QUANG HÙNG
TS NGUYỄN VĂN HẬU
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đàm Thanh Tú
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 10
5 Phương pháp nghiên cứu của luận án 11
6 Các kết quả nghiên cứu dự kiến của luận án 13
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN
15
1.1 Tổng quan về phân tích tài chính công ty cổ phần 15 1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần 15 1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của phân tích tài chính công ty cổ phần 18 1.1.3 Cơ sở dữ liệu cho phân tích tài chính công ty cổ phần 21 1.1.4 Các phương pháp phân tích tài chính công ty cổ phần 24
1.2 Lý luận về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính công ty cổ phần 33 1.3.1 Khái niệm và phân loại chỉ tiêu phân tích tài chính công ty cổ phần 33 1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu phân tích tài
1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính công ty cổ phần 39
1.3 Kinh nghiệm vận dụng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính công ty
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán của một số nước phát triển và
1.3.1 Kinh nghiệm vận dụng hệ thống chỉ tiêu PTTC của các công
ty niêm yết trên SGDCK Singapore 66 1.3.2 Kinh nghiệm vận dụng hệ thống chỉ tiêu PTTC của các công
ty niêm yết trên SGDCK Anh quốc 67 1.3.3 Kinh nghiệm vận dụng hệ thống chỉ tiêu PTTC của các công
Trang 51.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 71
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM
YẾT TRÊN CÁC SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN CỦA VIỆT NAM
74
2.1 Tổng quan về các công ty KDBĐS niêm yết trên các SGDCK của
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành kinh doanh bất động
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các công ty kinh doanh
bất động sản niêm yết và ảnh hưởng của nó đến các chỉ tiêu phân
tích tài chính
78
2.1.3 Khái quát kết quả kinh doanh của các công ty kinh doanh bất
2.2 Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công
ty KDBĐS niêm yết trên các SGDCK của Việt Nam 84 2.2.1 Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính công bố công
khai của các công ty kinh doanh bất động sản niêm yết 85 2.2.2 Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phục vụ quản
trị tài chính của các công ty kinh doanh bất động sản niêm yết 87
2.3 Đánh giá khái quát thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính
trong các công ty KDBĐS niêm yết trên các SGDCK của Việt Nam 102 2.3.1 Những kết quả đã đạt được 102
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hệ thống chỉ tiêu phân tích
tài chính của các công ty KDBĐS niêm yết
108
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY KINH DOANH BẤT ĐỘNG
SẢN NIÊM YẾT TRÊN CÁC SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN CỦA
VIỆT NAM
111
3.1 Bối cảnh kinh tế xã hội và định hướng phát triển các công ty KDBĐS
trong các năm tới
111 3.1.1 Bối cảnh kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay 111 3.1.2 Mục tiêu và định hướng phát triển các công ty KDBĐS ở Việt Nam 113
3.2 Mục tiêu và nguyên tắc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài
chính trong các công ty KDBĐS niêm yết trên các SGDCK của Việt Nam
116
Trang 63.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện 117
3.3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong
các công ty KDBĐS niêm yết trên các SGDCK của Việt Nam
121
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính công bố công
khai của các công ty KDBĐS niêm yết
121
3.3.2 Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phục vụ quản
trị tài chính của các công ty KDBĐS niêm yết
131
3.4 Những điều kiện nhằm thực hiện các giải pháp hoàn thiện hệ
thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty KDBĐS niêm yết
trên các SGDCK của Việt Nam
177
3.3.1 Với các công ty KDBĐS niêm yết 177 3.3.2 Kiến nghị với Bộ tài chính và UBCKNN 179 3.3.3 Kiến nghị với các Sở giao dịch chứng khoán 180
Trang 7DTT Doanh thu thuần
HĐKD Hoạt động kinh doanh
KNTT Khả năng thanh toán
KQKD Kết quả kinh doanh
KDBĐS Kinh doanh bất động sản
LNST Lợi nhuận sau thuế
LNTT Lợi nhuận trước thuế
NPT Nợ phải trả
PTTC Phân tích tài chính
SGDCK Sở Giao dịch chứng khoán
SGDCK HN Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
SGDCK TPHCM Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh TCDN Tài chính doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1.1 Các chỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính CTCP 65 1.2 Hệ thống chỉ tiêu PTTC của CTNY phải công bố công khai trên
2.1 Các công ty KDBĐS niêm yết trong giai đoạn thị trường bất động
sản Việt Nam lên đỉnh lần thứ 3 77 2.2 Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính chủ yếu của CTCP niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam 85 2.3 Khái quát quy mô tài chính của công ty KBC năm 2015 87 2.4 Khái quát cấu trúc tài chính của công ty KBC năm 2015 89 2.5a Tình hình tài sản của công ty SCR năm 2015 90 2.5b Cơ cấu tài sản của công ty SCR năm 2015 90 2.6a Tình hình nguồn vốn của công ty SCR năm 2015 91 2.6b Cơ cấu nguồn vốn của công ty SCR năm 2015 92 2.7 Tình hình công nợ tại TDC năm 2015 93 2.8a Các chỉ tiêu phản ánh KNTT của SCR năm 2015 94 2.8b Các chỉ tiêu phản ánh KNTT của NDN năm 2015 95 2.9 Các chỉ tiêu phân tích kết quả kinh doanh của VC3 năm 2015 96 2.10 Các chỉ tiêu phân tích hiệu suất hoạt động của SJS năm 2015 98 2.11 Các chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời của SJS năm 2015 99 2.11 Các chỉ tiêu phân tích tình hình tăng trưởng của PDR năm 2015 100 3.1 Các chỉ tiêu phân tích khái quát quy mô tài chính KBC năm 2015 133 3.2 Các chỉ tiêu phân tích khái quát cấu trúc tài chính KBC năm 2015 134 3.3 Các chỉ tiêu phân tích tình hình tài sản SCR năm 2015 136 3.4 Các chỉ tiêu phân tích tình hình nguồn vốn của SCR năm 2015 137 3.5 Các chỉ tiêu phân tích tình hình công nợ của HQC năm 2015 140 3.6 Các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán của DLR năm 2015 143 3.7 Các chỉ tiêu phân tích kết quả kinh doanh của VC3 năm 2015 144 3.8 Các chỉ tiêu phân tích dòng tiền của RCL năm 2015 146 3.9 Các chỉ tiêu phân tích hiệu suất hoạt động của QCG năm 2015 148 3.10 Các chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời của VIC năm 2015 150 3.11 Các chỉ tiêu phân tích giá cổ phiếu và chính sách cổ tức của CTCP
Trang 93.12 Các chỉ tiêu phân tình hình tăng trưởng của NDN năm 2015 152 3.13 Các chỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính của SJS năm 2015 154 3.14 Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của NVN, D2D và ngành
KDBĐS giai đoạn 2011- 2015 157 3.15a Chỉ số Z của NVN, D2D, ngành KDBĐS năm 2015 157 3.15b Chỉ số Z’’ của NVN, D2D, ngành KDBĐS năm 2015 157 3.16 Kết quả dự báo theo mô hình Holt-Winters trên Eviews 162 3.17 Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu trên Eviews 163 3.18 Kết quả kiểm định tính dừng của sai phân bậc 1 của chuỗi dữ liệu 164 3.19 Bảng đánh giá các mô hình ARIMA 165 3.20 Kiểm định phương sai sai số thay đổi cho mô hình 165 3.21 Kiểm nghiệm mô hình ARIMA(2, 1, 1) 165 3.22 Bảng dự báo các chỉ tiêu về tài sản và nguồn vốn năm 2016 của
CTCP phát triển nhà Thủ Đức 166 3.23 Bảng mô tả các biến sử dụng trong mô hình hồi quy 170 3.24 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy bằng phương pháp OLS 172 3.25 Hệ thống chỉ tiêu PTTC phục vụ quản trị tài chính doanh nghiệp
trong các công ty KDBĐS niêm yết 175
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
2.1 Các giai đoạn phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam 76 2.2 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của các công ty
KDBĐS niêm yết giai đoạn 2011 – 2015 82 2.3 Hệ thống chỉ tiêu PTTC chủ yếu công bố công khai của CTCP
địa ốc Đất xanh năm 2015 86 3.1 Khái quát quy mô tài chính của công ty KDBĐS X giai đoạn
3.2 Cơ cấu tài sản của công ty KDBĐS X giai đoạn 2011-2015 124 3.3 Cơ cấu nguồn vốn của công ty SCR giai đoạn 2011-2015 124 3.4 Hệ số KNTT ngắn hạn của công ty KDBĐS X giai đoạn 2011-
3.5 Hệ số KNTT nhanh của công ty KDBĐS X giai đoạn 2011-2015 125 3.6 Vòng quay HTK của công ty KDBĐS X giai đoạn 2011-2015 126 3.7 Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của công ty KDBĐS X giai
KDBĐS giai đoạn 2011-2015 129
3.14 Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu công ty KDBĐS X so với bình
quân ngành KDBĐS giai đoạn 2011-2015 130 3.15 Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế công ty KDBĐS X so với
bình quân ngành KDBĐS giai đoạn 2011-2015 130
3.16 Lược đồ tương quan cho chuỗi sai phân bậc nhất 163
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường bất động sản Việt Nam đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ, là đòn bẩy cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, một vài năm gần đây, thị trường bất động sản đã suy giảm nhiều với những biểu hiện đáng lo ngại như hàng tồn kho tăng cao, hiệu quả kinh doanh kém, nợ xấu lớn,… Tình trạng đó đã khiến rất nhiều công ty kinh doanh bất động sản (KDBĐS), đặc biệt là các công ty KDBĐS niêm yết đã rơi vào tình trạng khó khăn cả về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính, không ít công ty đã phải giải thể hoặc ngừng hoạt động Ngoài những nguyên nhân khách quan thì một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng trì trệ trên là do các công ty KDBĐS niêm yết chưa sử dụng có hiệu quả các công cụ quản lý, trong đó có phân tích tài chính (PTTC) trong đơn vị Thực tế hiện nay, các công ty KDBĐS niêm yết đã quan tâm đến sử dụng PTTC trong quản lý và điều hành đơn vị Tuy nhiên công tác PTTC, trong đó có hệ thống chỉ tiêu PTTC các công ty KDBĐS niêm yết vẫn còn có hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng khác nhau, chưa xây dựng được các chỉ tiêu đặc thù của ngành nghề kinh doanh đầy rủi ro này
Ở các nền kinh tế phát triển, hệ thống chỉ tiêu tài chính là các con số biết nói, biết biểu cảm về thực trạng tài chính của các công ty Mỗi đối tượng quan tâm, từ nhà làm chính sách, nhà đầu tư đến người lao động đều tìm thấy cái mình cần hoặc được các chuyên gia tài chính chỉ cho cái mình nên biết trong hệ thống chỉ tiêu này
Với việc cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC - ASEAN Economic Community) chính thức được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, nền kinh tế Việt Nam sẽ có rất nhiều thay đổi Khi đó, các công ty KDBĐS của Việt Nam đứng trước hai sự lựa chọn: Hoặc sẽ tồn tại và phát triển trong một môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng và có sức cạnh
tranh cao hoặc sẽ giải thể, phá sản ngay trên “sân nhà” Trong “sân chơi” đang
và sẽ diễn ra thì thông tin sẽ được coi là một nguồn lực tài chính quan trọng của mỗi doanh nghiệp Thông tin công khai về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trang 13hoặc sẽ là một phương thức quảng cáo hữu hiệu về năng lực quản lý, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp với các đối tượng quan tâm, hoặc sẽ phơi bày những căn bệnh tài chính đang tồn tại và tiềm ẩn nguy cơ rủi ro của doanh nghiệp trước các nhà đầu tư và các đối tượng quan tâm khác Những thông tin
do phân tích tài chính cung cấp sẽ tham dự một cách có hiệu quả vào công tác quản trị tài chính, tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Hơn nữa, trong quá trình hội nhập sâu với kinh tế thế giới, sẽ có nhiều công ty của Việt Nam được niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) nước ngoài, ngược lại có thể sẽ có nhiều công ty nước ngoài niêm yết trên các SGDCK của Việt Nam Vì thế, thực tiễn này đòi hỏi phải xây dựng
và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC một cách khoa học, hiệu quả và có tính quốc tế hoá cao là rất cần thiết
Xuất phát những lý do trên và được sự định hướng của các nhà khoa học,
tôi đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty kinh doanh bất động sản niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán” làm luận án tiến sĩ kinh tế của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho nghiên cứu sinh hệ thống hóa được những vấn đề có tính lý luận chung về hệ thống chỉ tiêu PTTC công ty cổ phần (CTCP) và việc vận dụng
hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các CTCP niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) để cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp Bên cạnh đó, làm rõ được những vấn đề đã được nghiên cứu và những vấn đề còn bỏ ngỏ làm định hướng cho nghiên cứu của mình Trong qua trình tiếp cận các công trình đó, tác giả tiến hành khái quát hoá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo 3 nhóm sau:
- Nhóm các công trình nghiên cứu về phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp hay liên quan đến PTTC doanh nghiệp của các tác giả là những nhà khoa học kinh tế hàng đầu ở Việt Nam và đã xuất bản thành sách giảng dạy cho sinh viên các trường Đại học khối kinh tế
- Nhóm các luận án tiến sĩ hay các đề tài khoa học nghiên cứu về nội dung phân tích tài chính CTCP hoặc hệ thống chỉ tiêu PTTC CTCP
Trang 14- Nhóm các công trình các nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến hệ thống chỉ tiêu PTTC doanh nghiệp hoặc thông tin công bố về PTTC của các công ty niêm yết trên TTCK
Thứ nhất: Tổng quan nghiên cứu về phân tích Báo cáo tài chính doanh
nghiệp hay liên quan đến PTTC doanh nghiệp được xuất bản thành sách giảng dạy cho sinh viên các trường Đại học khối kinh tế mà tác giả được biết gồm:
- Các cuốn sách tiêu biểu của Học viện Tài chính:
Sách Đọc và Phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp (Xuất bản năm
2010) do PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS.TS Nghiêm Thị Thà đồng chủ
biên hoặc Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp (Tái bản lần 3, năm 2015) do GS Ngô Thế Chi và PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ đồng chủ biên, Giáo
trình Phân tích Tài chính doanh nghiệp (Dùng cho lớp không chuyên ngành, tái
bản năm 2015) do PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS.TS Nghiêm Thị Thà đồng chủ biên hay Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (tái bản năm 2015) do
PGS.TS Bùi Văn Vần và PGS.TS Vũ Văn ninh đồng chủ biên,…
- Các cuốn sách tiêu biểu của Đại học Kinh tế quốc dân:
Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp do PGS TS Vũ Duy Hào chủ biên (Xuất bản năm 2008), Sách Phân tích tài chính CTCP (Xuất bản năm 2006) do PGS.TS Nguyễn Năng Phúc chủ biên hoặc Giáo trình phân tích kinh
doanh (Xuất bản năm 2009) do GS Nguyễn Văn Công chủ biên, Giáo trình phân tích báo cáo tài chính (Tái bản lần thứ hai, năm 2011) của do PGS.TS
Nguyễn Năng Phúc chủ biên, Phân tích báo cáo tài chính (Tái bản lần thứ nhất,
năm 2013) do PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang chủ biên,…
- Các cuốn sách tiêu biểu của các nhà khoa học từ Đại học khác:
Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp thương mại – dịch
vụ do PGS.TS Nguyễn Quang Hùng và các đồng nghiệp đến từ ĐH Thương
mại viết, hay Phân tích tài chính doanh nghiệp của tác giả TS Ngô Kim Phượng (Chủ biên) đến từ Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, sách Tài chính
doanh nghiệp căn bản của tác giả TS Nguyễn Minh Kiều (Giảng viên của
chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright),
- Theo các tác giả của Học viện Tài chính cho rằng: PTTC doanh nghiệp
là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt
Trang 15mạnh, các mặt yếu của một doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, giúp cho đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm Ngoài ra các tác giả còn nhấn mạnh vai trò của PTTC là thông qua phân tích tài chính tìm ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan, giúp cho đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm [19], [28], [29]
- Theo nhóm tác giả của Trường Đại học Kinh tế quốc dân: Phân tích Báo cáo tài chính (BCTC) là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh
số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua Thông qua việc phân tích Báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp [23], [25]
- Các công trình khác cũng đều thống nhất cho rằng mục tiêu của PTTC doanh nghiệp hay phân tích BCTC là cung cấp thông tin cho các chủ thể quản
lý doanh nghiệp hay các đối tượng khác có quan tâm (nhà đầu tư, nhà cung cấp tín dụng, cơ quan thuế, khách hàng, người lao động trong công ty…)
Tác giả luận án cho rằng, tất cả các đối tượng có lợi ích trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến doanh nghiệp đều quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính sẽ giúp cung cấp thông tin hữu ích cho họ
Do vậy, tác giả luận án cũng đồng tình với quan điểm trên
- Để diễn đạt được nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp, theo quan điểm của tập thể tác giả đến từ Học viện Tài chính đã sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau: Hệ thống chỉ tiêu phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu về quy mô tài chính, cấu trúc tài chính và chỉ tiêu phân tích khái quát khả năng sinh lời; Hệ thống chỉ tiêu phân tích chính sách tài chính bao gồm: Các chỉ tiêu về chính sách huy động vốn, các chỉ tiêu phân tích chính sách đầu tư; các chỉ tiêu phân tích chính sách phân phối lợi nhuận; Hệ thống chỉ tiêu phân tích tiềm lực tài chính của doanh nghiệp bao gồm: Các chỉ tiêu phân tích tình hình và kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu về dòng tiền, các chỉ tiêu về tình hình công nợ, khả năng thanh toán và các chỉ tiêu phân tích hiệu suất sử dụng vốn; Hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hình tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp; Hệ thống chỉ tiêu phân tích và dự báo rủi ro; Hệ thống chỉ tiêu
dự báo báo cáo tài chính doanh nghiệp [19],[28],[29]
Trang 16- Theo quan điểm của các tác giả thuộc Đại học kinh tế quốc dân, để diễn đạt được nội dung phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp thì sẽ sử dụng hệ thống các chỉ tiêu phân tích như sau: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm: các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình huy động vốn, mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán và khả năng sinh lời của doanh nghiệp; Hệ thống chỉ tiêu phân tích cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính bao gồm: các chỉ tiêu phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn; các chỉ tiêu phân tích luân chuyển vốn
và ổn định nguồn tài trợ; Hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán; hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh; Hệ thống chỉ tiêu phân tích dấu hiệu khủng hoảng và rủi ro tài chính; Dự báo chỉ tiêu trên báo cáo tài chính [23], [25]
Tác giả luận án cho rằng, về cơ bản những nội dung và chỉ tiêu phân tích tài chính của các nhà khoa học đến từ các trường Đại học khác nhau không có sự khác biệt lớn mà chỉ có một số điểm khác nhau ở chỗ: cách sử dụng các chỉ tiêu cho một nội dung phân tích tài chính và công thức xác định chỉ tiêu đôi khi không giống nhau
Thứ hai: Tổng quan nghiên cứu về các luận án tiến sĩ hay các đề tài
khoa học liên quan đến hoàn thiện nội dung PTTC hay hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC mà tác giả luận án được biết gồm:
- Tác giả Nguyễn Tuấn Phương (năm 1998) với đề tài luận án Tiến sĩ
“Hoàn thiện nội dung phân tích hoạt động tài chính của các doanh nghiệp sản
xuất liên doanh với nước ngoài” [38] chỉ ra thực trạng và biện pháp hoàn thiện
phân tích hoạt động tài chính của các doanh nghiệp liên doanh Tác giả Nguyễn
Trọng Cơ (năm 1999) trong luận án tiến sĩ với đề tài “Hoàn thiện hệ thống chỉ
tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp cổ phần phi tài chính” [27] đề
cập đến doanh nghiệp cổ phần và phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần Trong luận án này đã khái quát hoá lý luận chung về phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam; thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam để từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính
và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp
- Các tác giả Nguyễn Ngọc Quang (năm 2002), Trần Thị Minh Hương (năm 2008), Phạm Xuân Kiên (năm 2011), Hồ Thị Thu Hương (Năm 2012), Nguyễn Thị
Trang 17Thanh (Năm 2012)… với luận án tiến sĩ của mình cũng đề cập đến việc hoàn thiện nội dung và phương pháp PTTC đối với các công ty trong các lĩnh vực như: xây dựng, giao thông, tài chính, tổng công ty Hàng không hoặc các công
ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con [15],[17],[24],[34]
- Tác giả Nguyễn Thị Quyên trong luận án tiến sĩ bảo vệ năm 2012 với
đề tài “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty cổ
phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” [33] đã đi theo hướng
hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty cổ phần niêm yết công bố công khai trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm cung cấp những thông tin tài chính chính thống, công khai của doanh nghiệp để củng cố lòng tin của nhà đầu tư từ đó góp phần giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển lành mạnh, đúng hướng
- Tác giả Phạm Thị Quyên trong luận án tiến sĩ bảo vệ năm 2014 tại Học
viện Tài chính với đề tài “Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính trong các
công ty cổ phần thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam” [40] đã đi
theo hướng hoàn thiện nội dung phân tích bao gồm: hoàn thiện tổ chức phân tích, hoàn thiện phương pháp phân tích và hệ thống chỉ tiêu phân tích các CTCP thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam Những giải pháp hoàn thiện của tác giả đã góp phần giúp các nhà quản trị của CTCP đưa ra các quyết định tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các CTCP thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam
- Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan trong luận án tiến sĩ bảo vệ năm 2016 tại
Học viện Tài chính với đề tài “Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính trong
các doanh nghiệp xây dựng phục vụ quản trị tài chính doanh nghiệp” [32] đã đi
theo hướng hoàn thiện PTTC bao gồm: hoàn thiện công tác tổ chức phân tích, hoàn thiện phương pháp phân tích và hoàn thiện nội dung - hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phục vụ quản trị tài chính doanh nghiệp xây dựng
- Nhiều tác giả cũng đề cập đến PTTC nhưng ở một khía cạnh khác, đó
là phân tích hiệu quả kinh doanh như tác giả Nguyễn Thị Mai Hương (năm
2008) nghiên cứu về “Phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp
khai thác khoáng sản Việt Nam” [31], tác giả Trần Thị Thu Phong (Năm 2012)
nghiên cứu về “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các công ty cổ
phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” [52] Những nghiên cứu
Trang 18này nhằm xây dựng và lựa chọn hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh theo 3 nội dung là: phân tích hiệu quả hoạt động, phân tích khả năng sinh lời và phân tích hiệu quả sinh lời của cổ phiếu công ty trên thị trường
chứng khoán
- Về các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở tại Học viện Tài chính có
tác giả Nghiêm Thị Thà (năm 2011) đề cập đến việc “Hoàn thiện hệ thống chỉ
tiêu PTTC trong các doanh nghiệp thuộc ngành đóng tầu hàng hải” [18] hay
tác giả Nguyễn Thị Thanh (năm 2014) đề cập đến việc “Hoàn thiện hệ thống
chỉ tiêu PTTC của các công ty dược phẩm niêm yết ở Việt Nam” [36] Các tác
giả này đã đi sâu tìm hiểu về khái niệm và phân loại hệ thống chỉ tiêu PTTC doanh nghiệp để từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cho các doanh nghiệp đóng tầu hàng hải hay các công ty dược phẩm niêm yết theo nội dung kinh tế của các chỉ tiêu
Những ý kiến hoàn thiện trong các luận án tiến sĩ hay các đề tài khoa học
đó đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện lý luận và thực tiễn về phân tích tài chính doanh nghiệp nói chung hay phân tích tài chính CTCP niêm yết trên trị trường chứng khoán nói riêng Đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính đặc thù của ngành nghề kinh doanh đã làm nâng cao hiệu quả hiệu quả phân tích cũng như việc cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng bên ngoài CTCP có nhu cầu sử dụng thông tin PTTC
Thứ ba: Tổng quan nghiên cứu của các tác giả nước ngoài có liên quan
đến hệ thống chỉ tiêu PTTC hoặc thông tin công bố công khai về PTTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Các cuốn sách viết về phân tích tài chính như: Phân tích tài chính doanh
nghiệp của tác giả Josette Peyrard (Người dịch: Đỗ Văn Thận); Financial Management Theory and Practice của tác giả Eugene F Brigham đến từ Đại
học Florida, Mỹ; Financial Analysis: A Business Decision Guide của Steven
Bragg (một kiểm toán viên nổi tiếng trên thế giới, ông đã xuất bản hơn 70 cuấn
sách về tài chính và kế toán để luyện thi CPA quốc tế) hay Financial
Accounting for decision makers của Peter Atrill và Eddie McLaney
- Theo quan điểm của Josette Peyrard thì: Phân tích tài chính có thể được định nghĩa như tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính quá khứ và hiện tại, giúp cho việc ra quyết định quản trị và đánh giá doanh
Trang 19nghiệp một cách chính xác Để thể hiện được nội dung PTTC doanh nghiệp thì Josette Peyrard sử dụng hệ thống các chỉ tiêu phân tích sau: các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu phân tích tài sản, phân tích tài trợ, phân tích rủi ro; phân tích khả năng sinh lời, tăng trưởng và đánh giá doanh nghiệp;
dự báo (chuẩn đoán) tài chính Với các nội dung phân tích trên thông tin tài chính cung cấp sẽ thiếu rất nhiều khía cạnh trọng yếu ảnh hưởng đến quyết định người sử dụng thông tin như khả năng thanh toán, năng lực hoạt động của đơn vị [16]
- Theo tác giả Eugene F Brigham đã phân chia hệ thống chỉ tiêu PTTC vào bốn nhóm: Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản, nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản và quản trị nợ, nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và nhóm chỉ tiêu phản ánh tỷ số giá thị trường [14]
- Theo tác giả Steven Bragg thì hệ thống chỉ tiêu PTTC được chia thành bốn nhóm: nhóm chỉ tiêu về tình hình và khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về
cơ cấu tài chính, nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động và nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận [63]
- Theo nhóm tác giả Peter Atrill và Eddie McLaney thì hệ thống chỉ tiêu PTTC các doanh nghiệp đã cổ phần được chia thành năm nhóm: nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình tài sản, nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời, nhóm chỉ tiêu về vay và nợ, nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh và nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình đầu tư [60]
- Nhóm tác giả Christopher D Ittner (Đại học Pennsylvania, Mỹ), David
F Larcker (Đại học Stanford, Vương quốc Anh) và Taylor Randall (Đại học
Utah, Mỹ) trong công trình nghiên cứu “Performance implications of strategic
performance measurement in financial services firms” [55] đã giới thiệu về hệ
thống chỉ tiêu PTTC nằm trong hệ thống đánh giá tài chính chiến lược cho các công ty cổ phần ở Mỹ gồm các nhóm chỉ tiêu về tài sản và nguồn vốn, nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về kết quả hoạt động và nhóm chỉ tiêu về rủi ra tài chính
- Theo nhóm tác giả Joseph T.L.Ooi và Kim-Hiang Liow (Đại học Quốc
gia Singapore) trong bài báo “Risk adjusted performance of real estate stocks:
Evidence from developing markets” [57] đã chỉ ra các chỉ tiêu PTTC cảnh báo
nhằm hạn chế rủi ro cho việc đầu tư vào cổ phiếu của các công ty KDBĐS niêm yết trên những TTCK đang phát triển
Trang 20- Với các nghiên cứu về hệ thống thông tin công bố về PTTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán có tác giả Yan-Leung Cheung và Lynda Zhou (Đại học Hồng Kông), J.Thomas Connelly và Piman Limpaphayom (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) trong công trình:
Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kong and Thailand [65] khi đề cập đến tính minh bạch của thông tin công bố
đã đưa ra mô hình nghiên cứu tại Thái Lan và Hồng Kông gồm 9 chỉ tiêu, trong
đó 5 chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính và 4 chỉ tiêu phản ánh mức độ quản trị doanh nghiệp Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng đặc điểm tài chính giải thích một số sự thay đổi trong mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết ở Hồng Kông và Thái Lan Hơn nữa, đặc điểm quản trị công ty, chẳng hạn như số lượng thành viên hội đồng quản trị và thành phần hội đồng quản trị có ý nghĩa với các mức độ công bố thông tin
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về phân tích t à i c hí n h d o an h nghiệp hay phân tích tài chính CTCP với hệ thống các chỉ tiêu tài chính của các tác giả mặc dù đã chỉ rõ phương pháp, nội dung, cách tính và ý nghĩa của các chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty nhất định Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa thực sự đi sâu nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các công ty KDBĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như các đặc điểm đặc thù của ngành này ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu phân tích Chính vì vậy, qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, tôi
đã quyết định đi sâu nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của luận án là:
- Làm rõ hơn những vấn đề lý luận về hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các CTCP niêm yết;
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu PTTC trong c á c công ty KDBĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam theo 2 hướng là công bố thông tin theo quy định của pháp luật và phục vụ công tác quản trị tài chính;
- Đề xuất các giải pháp cơ bản để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC dành riêng cho các công ty KDBĐS niêm yết theo hai hướng là: Hệ thống chỉ tiêu
Trang 21PTTC phục vụ công tác quản trị tài chính doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng quản trị tài chính và hệ thống chỉ tiêu PTTC phải công bố công khai theo quy định của pháp luật nhằm trợ giúp cho các nhà đầu tư trên TTCK những thông tin trực quan, dễ hiểu về tình hình tài chính của doanh nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty cổ phần
* Phạm vi nghiên cứu:
+) Về nội dung: Luận án nghiên cứu, đánh giá thực trạng hệ thống chỉ
tiêu PTTC của công ty KDBĐS niêm yết trên các SGDCK của Việt Nam nhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty này phục
vụ công tác quản trị tài chính và cung cấp thông tin ra bên ngoài
+) Về không gian: Các công ty KDBĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam
(Tức là bao gồm 38 công ty KDBĐS niêm yết trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh và 20 công ty KDBĐS niêm yết trên SGDCK Hà Nội)
+) Về thời gian: Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty
KDBĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 đến 2015
5 Phương pháp nghiên cứu của luận án
5.1 Phương thức tiếp cận
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả luận án đã vận dụng kết hợp phương pháp định lượng và phương pháp định tính trong nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu định tính được tác giả luận án sử dụng nhằm mô
tả và phân tích đặc điểm hoạt động kinh doanh của các công ty KDBĐS niêm yết có ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu PTTC Phương pháp định tính được thực hiện thông qua việc thu thập dữ liệu dưới dạng văn bản, quyết định (dữ liệu dạng chữ), từ đó tiếp cận đối tượng nghiên cứu nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng được tiến hành thông qua việc khảo sát, thu thập
dữ liệu dạng con số về hoạt động kinh doanh của 58 công ty KDBĐS niêm yết trên SGDCK HCM và SGDCK HN
Trang 22Một câu hỏi luôn được đặt ra đối với nghiên cứu sinh trong quá trình
khảo sát là cần phải điều tra bao nhiêu đơn vị mẫu để nó đại diện và có thể suy
rộng cho tổng thể, việc phân tích đó có ý nghĩa và kết quả nghiên cứu có giá trị
về mặt khoa học?
Trong khoa học thống kê, trong trường hợp không biết trước kích thước của tổng thể nghiên cứu và có ý định lấy mẫu lớn thì người ta sẽ lấy mẫu kích thước n thoả mãn điều kiện sau:
2 2
zn4
Trong đó: là sai số cho phép trong quá trình lấy mẫu (Thực tế thì người ta thường lấy sai số là 10% hoặc 5%); z là giá trị của phân phối chuẩn tương ứng với độ tin cậy lựa chọn 1 (ví dụ với sai số = 10% thì độ tin cậy của việc lấy mẫu cho phân tích tổng thể là 1 = 90% nên z = 1,65)
Áp dụng kết quả trên, với một tổng thể nghiên cứu là các nhà đầu tư cá nhân trên TTCK không xác định được toàn bộ số phần tử trong tổng thể này thì với sai số cho phép là 10% nhiệm vụ của nghiên cứu sinh sẽ phải tiến lấy phiếu khảo sát số lượng người tối thiểu là:
Trong trường hợp tổng thể nghiên cứu đã biết trước số lượng phần tử và
có kích thước không quá lớn thì khi đó người ta sẽ chọn mẫu kích thước n thoả mãn điều kiện sau:
2
Nn
Trang 23Để chọn ra được tối thiểu 37 công ty KDBĐS niêm yết từ 58 công ty, tác giả xem xét thêm một số tiêu chí sau:
- Các công ty KDBĐS phải được niêm yết trước ngày 1/1/2012
- Các công ty có các dựa án kinh doanh bất động sản tại các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương, Khánh Hoà, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh,
- Mảng doanh thu từ kinh doanh bất động sản là tương đối ổn định
- Các công ty có vốn kinh doanh dưới 500 tỷ đồng chiếm không quá 20%
số lượng công ty trong mẫu điều tra
Các tiêu chí trên không nhằm ngoài mục đính xây dựng bộ dữ liệu một cách thống nhất, đặc thù của ngành KDBĐS và các thông tin được sử dụng là minh bạch, có nguồn gốc rõ ràng, dễ dàng kiểm chứng tính chính xác Từ các
tiêu chí trên, luận án đã lọc và chọn ra được 39 công ty KDBĐS tiêu biểu làm
mẫu nghiên cứu (Phụ lục 1b)
5.2 Quá trình thu thập dữ liệu
Để hoàn thành được mục tiêu của luận án, tác giả luận án đã tiến hành thu thập các dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu mà tác giả tự thu thập được, chưa qua xử
lý và được thu thập thông qua phiếu khảo sát cho các nhà quản lý phụ trách
mảng Tài chính – kế toán của các công ty KDBĐS niêm yết (Phụ lục 4a) và các nhà đầu tư chứng khoán cá nhân tại các công ty chứng khoán (Phụ lục 4b)
Cách thức khảo sát là gửi phiếu khảo sát qua Email hoặc phát phiếu khảo sát trực tiếp hoặc gặp gỡ trao đổi trực tiếp với các nhà đầu tư chứng khoán và nhà quản lý của công ty
Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu đã được xử lý bởi các công ty KDBĐS hay các công ty kinh doanh chứng khoán có báo cáo phân tích ngành kinh doanh bất động sản Dữ liệu thứ cấp mà tác giả luận án thu thập được là hệ thống Báo cáo tài chính (BCTC), Báo cáo thường niên (BCTN), báo cáo quản trị và các báo cáo phân tích ngành bất động sản của các công ty chứng khoán dành cho các nhà đầu tư trên TTCK Những dữ liệu trên có được là do các đơn vị tham gia khảo sát cung cấp hoặc do tác giả luận án lấy trên website của từng công ty KDBĐS niêm yết hay các phương tiện thông tin đại chúng khác như báo, đài, internet Đây là những minh chứng quan trọng và cần thiết, phản ánh một cách trung thực và chính xác thực trạng hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty
Trang 24KDBĐS niêm yết trên các SGDCK của Việt Nam
Đối với các dữ liệu thứ cấp, đây là những thông tin đã được kiểm toán hay được các công ty chứng khoán có uy tín cung cấp nên nó được sử dụng trực tiếp để minh hoạ trong chương 2 và chương 3 của luận án
Nhìn chung, nhận thức về tầm quan trọng của việc PTTC phục vụ công tác quản trị tài chính trong mỗi doanh nghiệp còn nhiều hạn chế Hơn nữa, việc không thể kiểm định được kết quả trả lời của những người tham gia khảo sát vì những câu trả lời này mang tính chủ quan và phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của người trả lời Do đó, số liệu trong khảo sát có thể ảnh hưởng nhất định đến chất lượng của luận án
6 Các kết quả nghiên cứu dự kiến của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp sau:
- Về lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ quan điểm đánh giá về hệ
thống chỉ tiêu PTTC áp dụng trong các CTCP niêm yết nói chung và các công ty KDBĐS niêm yết nói riêng Những đánh giá này sẽ giúp các nhà nghiên cứu; các nhà khoa học tài chính; các cơ quan hành chính hoạch định chính sách; giảng viên, sinh viên kinh tế có nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công việc của mình
- Về phương diện thực tiễn: Luận án đã trình bày khái quát lịch sử hình
thành và phát triển ngành kinh doanh bất động sản tại Việt Nam Luận án sẽ điều tra chọn mẫu để biết được thực trạng hệ thống chỉ tiêu PTTC dùng để công bố công khai trên TTCK và để phục vụ công tác quản trị tài chính của các
Trang 25công ty KDBĐS niêm yết Qua đó, luận án sẽ đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế cũng của hệ thống chỉ tiêu PTTC này
Luận án đã chỉ ra định hướng phát triển các công ty KDBĐS ở Việt Nam
trong các năm tới Các mục tiêu và nguyên tắc để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC cho các doanh nghiệp này
Luận án sẽ đưa ra hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các công ty KDBĐS niêm yết theo theo hai hướng là: Hệ thống chỉ tiêu PTTC công bố công khai trên TTCK và hệ thống chỉ tiêu PTTC phục vụ công tác quản trị tài chính của các công ty KDBĐS niêm yết
Luận án sẽ đề xuất một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước như Bộ Tài chính, UBCKNN, các SGDCK và các công ty KDBĐS niêm yết để thực hiện các giải pháp hoàn thiện trên Những giải pháp này không những giúp cho các nhà đầu tư có căn cứ tin cậy, khoa học để ra quyết định đầu tư; các nhà quản lý dễ dàng đánh giá được thực trạng tài chính các công
ty mình Từ đó góp phần tạo lập cho thị trường bất động sản Việt Nam những doanh nghiệp mạnh ngang tầm khu vực để thực hiện chiến lược phát triển nhà ở đến năm 2030 mà Chính phủ đã đề ra
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung chính của luận án được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận cơ bản về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong
các công ty cổ phần
Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các
công ty kinh doanh bất động sản niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán
của Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các
công ty kinh doanh bất động sản niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam
Trang 26Chương 1:
LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần
Hiện nay, khái niệm về CTCP được các nhà khoa học kinh tế tiếp cận ở những góc độ khác nhau Theo Điều 110, Luật doanh nghiệp năm 2014 do Quốc hội nước Việt Nam ban hành thì: CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
Theo quan điểm của PGS, TS Nguyễn Năng Phúc đến từ Đại học Kinh tế quốc dân thì: Công ty cổ phần là một doanh nghiệp Trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần góp vốn
và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi phần góp vốn của mình [22, tr 8]
Theo quan điểm của tác giả Phạm Thị Quyên đến từ Học viện Tài chính thì cho rằng: CTCP là một doanh nghiệp, do một số thành viên góp vốn theo quy định của pháp luật Vốn góp được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần Người tham gia góp vốn được gọi là cổ đông Các cổ đông cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp của mình Cổ đông
có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình theo quy định của pháp luật [40, tr.16]
Như vậy, từ các nhận định trên Nghiên cứu sinh cho rằng CTCP là một doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Trang 27- Là một tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân, tồn tại riêng biệt và độc lập với chủ sở hữu của nó CTCP được thành lập theo pháp luật, được Nhà nước phê duyệt điều lệ hoạt động, có con dấu riêng, có quyền ký kết các hợp đồng kinh tế với các tổ chức, cá nhân khác trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
- Trong nền kinh tế thị trường, CTCP được tự ấn định mục tiêu và xác định các phương tiện để thực hiện các mục tiêu đó, tự xác định tính chất của sản phẩm mà công ty sản xuất ra, lựa chọn nhà cung cấp nguyên vật liệu và khách hàng, tự thương lượng về giá cả mà công ty sẽ trả hoặc nhận, tự tìm kiếm vốn mà công ty cần huy động… Các CTCP được tự do phát triển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật quy định hoặc đình chỉ một hoạt động nào đó theo ý của công ty mà không phải thao khảo bất cứ một thẩm quyền nào
- Về tài sản (vốn kinh doanh) trong các CTCP được hình thành từ những nguồn mang đặc điểm riêng biệt, bao gồm:
+) Vốn điều lệ: Vốn điều lệ trong các CTCP được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông dùng tiền hoặc tài sản của mình để góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phần, vốn góp cổ phần không phải là một khoản nợ của công ty Công ty được quyền sử dụng vốn góp này Vốn góp cổ phần của các cổ đông là căn cứ để công ty chia lợi nhuận cho mỗi cổ đông Để đảm bảo cho sự hoạt động của công ty, các cổ đông có trách nhiệm góp vốn vào công ty nhưng không được quyền rút vốn khỏi công ty trong thời gian công
ty đang hoạt động Tuy nhiên, các cổ đông có quyền bán lại cổ phiếu của mình cho người khác Mọi hoạt động chuyển nhượng cổ phần này diễn ra với tư cách
là các giao dịch cá nhân nên không ảnh hưởng đến vốn điều lệ và hoạt động của công ty cổ phần
+) Vốn tự có: Đây là phần vốn mà công ty tự tạo ra trong quá trình sản
xuất kinh doanh dưới hình thức lợi nhuận không chia hết cho các cổ đông mà giữ lại trong công ty
+) Vốn vay: Là số vốn của các đơn vị khác mà công ty được quyền sử
dụng trong một thời gian nhất định sau đó phải trả lại cho chủ nợ Công ty không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng và phải trả cho quyền sử dụng
đó một khoản chi phí gọi là chi phí lãi vay
Trang 28- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp Trong trường hợp công ty không đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ cho chủ nợ thì cổ đông không chịu trách nhiệm về các khoản nợ này
- Trong nền kinh tế thị trường, chức năng kinh tế của các CTCP là sản xuất sản phẩm hàng hóa và dịch vụ để bán trên thị trường, bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất, tài chính và nhân sự nhằm mục đích thu lợi nhuận
- Cơ cấu lãnh đạo của CTCP gồm 3 bộ phận:
+) Đại hội cổ đông: Là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của
công ty mà đại biểu bao gồm tất cả các cổ đông
+) Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty được Đại hội cổ đông bầu
ra nhằm thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu mà Đại hội cổ đông đã biểu quyết
+) Ban giám đốc (Ban tổng giám đốc): Hội đồng quản trị sẽ bổ nhiệm
Giám đốc (Tổng giám đốc) và các Phó giám đốc (Phó tổng giám đốc) để điều hành công việc hàng ngày và tuân thủ theo chỉ thị, ý chí của Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị
Căn cứ vào quy mô và khả năng huy động vốn trên thị trường, có thể chia CTCP thành hai loại: CTCP nội bộ và CTCP đại chúng
Công ty cổ phần nội bộ: là CTCP được nắm giữ bởi một nhóm nhỏ các
nhà đầu tư thường là các nhà quản lý công ty và một số người khác cùng chung vốn Nói cách khác, cổ phần của công ty không được mua bán, giao dịch rộng rãi trong công chúng Công ty cổ phần nội bộ là hình thức phổ biến của các CTCP mới thành lập
Công ty cổ phần đại chúng: CTCP tăng trưởng đến một mức độ nào đó
nhu cầu vốn gia tăng, công ty sẽ phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn trên thị trường Khi cổ phiếu của công ty được giao dịch rộng rãi trên thị trường thì
công ty được gọi là công ty cổ phần đại chúng
Căn cứ vào tình hình niêm yết chứng khoán của công ty trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán có thể chia CTCP thành hai loại: CTCP niêm yết và CTCP không niêm yết
Công ty cổ phần không niêm yết là công ty mà chứng khoán của nó
không được giao dịch rộng rãi trên SGDCK hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK)
Trang 29Các CTCP phát triển đến một mức độ nhất định, sau khi đã hội tụ đầy đủ những điều kiện nhất định, tùy theo quy định của từng quốc gia, cổ phiếu của CTCP được đưa vào giao dịch tại SGDCK hoặc TTGDCK lúc này công ty
được gọi là công ty cổ phần niêm yết
Như vậy công ty cổ phần niêm yết là các công ty cổ phần mà chứng
khoán của công ty đó có đủ điều kiện được đưa vào SGDCK hoặc TTGDCK
So với CTCP không niêm yết thì CTCP niêm yết có nhiều lợi thế hơn đặc biệt trong vấn đề huy đông vốn Tuy nhiên để được niêm yết chứng khoán trên SGDCK hoặc TTGDCK thì các công ty phải đạt được những điều kiện nhất định Những điều kiện này ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhưng thông thường các công ty niêm yết phải có đủ các điều kiện sau:
Quy mô vốn điều lệ đạt mức quy định tối thiểu nhất định
Tình hình tài chính lành mạnh
Hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong một số năm trước khi niêm yết
Bắt buộc công khai thông tin
Báo cáo tài chính của công ty phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập
Nộp báo cáo theo yêu cầu Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán
Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ
Trả cổ tức ổn định trong một số năm trước khi niêm yết
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của phân tích tài chính CTCP
1.1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính
Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự phân chia, chia nhỏ các sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các bộ phận cấu thành của sự vật và hiện tượng đó Trên cơ sở đó, nhận thức được bản chất, tính chất và hình thức phát triển của các sự vật và hiện tượng đang nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các sự vật và hiện tượng
Hiện nay, có nhiều cách diễn giải về khái niệm phân tích tài chính
Theo quan điểm các tác giả trong cuốn sách “Giáo trình phân tích tài
chính doanh nghiệp” của Học viện Tài chính: “Phân tích tài chính là tổng thể
các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, dự
Trang 30đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định quản lý hợp lý, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm”.[19, tr.08]
Theo quan điểm của Josette Peyrard: “Phân tích tài chính có thể được
định nghĩa như một tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính quá khứ và hiện tại, giúp cho việc ra quyết định quản trị và đánh giá doanh nghiệp một cách chính xác” [16, tr.12]
Nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng: “Phân tích tình hình tài chính là
một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh” [20],[21],[22]
Các quan điểm trên mặc dù có những điểm khác biệt trong cách diễn giải nhưng đều có sự thống nhất với nhau, đó là: Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin về tài chính cho các đối tượng có quan tâm sử dụng
Từ những phân tích ở trên, Nghiên cứu sinh cho rằng PTTC trong các công ty cổ phần là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học
để đánh giá tình hình tài chính của CTCP, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của công ty, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như rủi ro tài chính mà công ty có thể gặp phải; qua đó đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của
họ Tùy theo từng đối tượng sử dụng mà thông tin do phân tích tài chính cung cấp cũng được quan tâm ở khía cạnh khác nhau
1.1.2.2 Mục tiêu của phân tích tài chính trong các công ty cổ phần
Mỗi chủ thể quan tâm đến tình hình tài chính CTCP dưới góc độ khác nhau Thông qua phân tích tài chính CTCP sẽ giúp cho các chủ thể thấy rõ bức tranh toàn cảnh về thực trạng tài chính CTCP: Kết quả kinh doanh, biến động
về tài chính, các nhân tố và nguyên nhân ảnh hưởng đến tài chính CTCP, dự đoán về tài chính CTCP Mỗi chủ thể lựa chọn cho mình những thông tin cần thiết, phù hợp Trên cơ sở đó, họ có thể đưa ra những quyết định đúng đắn để bảo toàn và gia tăng lợi ích của họ gắn với hoạt động của CTCP Do đó, để trở thành một công cụ đắc lực giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp cũng như
Trang 31các đối tượng khác quan tâm đến hoạt động của CTCP thì phân tích tài chính CTCP cần đạt được các mục tiêu sau: [19],[29]
- Đối với nhà quản trị CTCP: Nhà quản trị là những người trực tiếp điều
hành, quản lý và đưa ra các quyết định đảm bảo sự tồn tại và phát triển của CTCP Vì vậy, các nhà quản trị phải là những người hiểu rõ tình hình tài chính của CTCP nhất và nhu cầu thông tin về tình hình tài chính của công ty là một nhu cầu tất yếu Thông qua PTTC của đơn vị mình quản lý, các nhà quản trị nắm bắt được tình hình công nợ, tình hình đầu tư, cân đối dòng tiền, khả năng sinh lời, rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính và dự báo tình hình tài chính trong tương lai để từ đó xác định được giá trị kinh tế, các mặt mạnh mặt yếu, đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn, kịp thời để CTCP phát triển bền vững
- Đối với các nhà đầu tư vào CTCP: Mục tiêu của các nhà đầu tư vào
CTCP là để kiếm lợi nhuận nên các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến tình hình tài chính, đến khả năng sinh lời và phân phối lợi nhuận của CTCP Phân tích tình hình tài chính giúp họ biết được khả năng tài chính, khả năng thanh toán nợ cũng như hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, các rủi ro liên quan đến khoản đầu tư của họ để từ đó các nhà đầu tư này đưa ra hướng đi phù hợp cho vốn đầu tư của mình nhằm đạt hiệu quả tối đa có thể
- Đối với các nhà cho vay: Các ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng cho
các CTCP vay vốn để đáp ứng hoạt động sản xuất kinh doanh Khi cho vay, họ phải biết chắc chắn được khả năng hoàn trả tiền vay và lãi suất vay vốn của đối tượng đi vay như thế nào Do đó, phân tích tình hình tài chính đối với các nhà cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng làm căn cứ quyết định có cho vay hay không Các ngân hàng hay tổ chức cung cấp tín dụng còn quan tâm đến vốn chủ sở hữu của CTCP và coi như là nguồn đảm bảo cho ngân hàng thu hồi nợ khi CTCP thu lỗ hoặc phá sản Ngân hàng sẽ hạn chế cho các CTCP vay vốn khi phân tích tài chính chỉ ra công ty đang có dấu hiệu không thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn
- Đối với người lao động trong CTCP: Người lao động đó là những
người được hưởng tiền lương, thu nhập do công ty mình đang làm việc chi trả Bên cạnh đó, người lao động còn góp vốn vào chính CTCP nên họ còn được hưởng cổ tức trên số vốn họ góp Do vậy, người lao động quan tâm đến các thông tin về tình hình tài chính hiện tại và triển vọng trong tương lai của CTCP mình đang gắn bó
Trang 32- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Phân tích tình hình tài chính CTCP
giúp cho việc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế Dựa vào báo cáo tài chính của các CTCP, các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ phân tích, đánh giá, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh để xem các công ty này có thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước hay không,
có tuân thủ pháp luật hay không
Tóm lại phân tích tài chính của các CTCP là một công việc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp Nó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân công ty mà còn cần thiết cho các chủ thể khác có liên quan đến CTCP Phân tích tài chính CTCP sẽ giúp cho các nhà quản trị công ty khắc phục được những thiếu sót, phát huy những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triển của công ty trong tương lai Trên cơ sở đó, các nhà quản lý của công ty đề ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn quyết định phương án tối ưu cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mình
1.1.3 Cơ sở dữ liệu phục vụ phân tích tài chính công ty cổ phần
Phân tích tài chính trong các CTCP có mục tiêu đánh giá tình hình tài chính của công ty, đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc ra quyết định và giúp cho việc dự báo kết quả tương lai của mỗi công ty Để có thể tiến hành phân tích tài chính yêu cầu phải có một cơ sở dữ liệu cần thiết, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và phù hợp Thông tin phục vụ cho phân tích tài chính có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau nhưng về cơ bản sở sở dữ liệu để phân tích tài chính bao gồm hai nguồn cơ bản là thông tin từ nội bộ CTCP và thông tin bên ngoài CTCP
* Thông tin từ nội bộ của CTCP
Thông tin từ nội bộ của CTCP bao gồm hệ thống báo cáo tài chính và một số tài liệu sổ sách kế toán như báo cáo chi tiết về chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố, báo cáo chi tiết về kết quả sản xuất kinh doanh, báo cáo chi tiết về tình hình tăng giảm tài sản cố định, tăng giảm vốn chủ sở hữu, các khoản phải thu và nợ phải trả…
Theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Thông tư số 200, ban hành ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính), hệ thống Báo cáo tài chính áp dụng cho tất
cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế ở Việt Nam bao gồm các loại biểu mẫu sau:
Trang 331 Báo cáo tài chính năm gồm:
- Bảng cân đối kế toán, Mẫu số B01 - DN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Mẫu số B02 - DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Mẫu số B03 - DN
- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính, Mẫu số B09 - DN
2 Báo cáo tài chính giữa niên độ:
a) Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ, gồm:
- Bảng cân đối kế toán giữa niên độ, Mẫu số B01a - DN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ, Mẫu số B02a - DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ, Mẫu số B03a - DN
- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính chọn lọc, Mẫu số B09a - DN
b) Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược, gồm:
- Bảng cân đối kế toán giữa niên độ, Mẫu số B01b - DN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ, Mẫu B02b – DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ, Mẫu B03b - DN
- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính chọn lọc, Mẫu B09b- DN
Việc lập và trình bày Báo cáo tài chính phải tuân thủ các quy định tại Chuẩn mực kế toán “Trình bày Báo cáo tài chính” và các chuẩn mực kế toán khác có liên quan Các thông tin trọng yếu phải được giải trình để giúp người đọc hiểu đúng thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
Thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực, hợp
lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin tài chính phải thích hợp để giúp người sử dụng Báo cáo tài chính dự đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế Thông tin tài chính phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ kế toán; So sánh được giữa các doanh nghiệp với nhau
3 Báo cáo quản trị công ty
Các báo cáo về tình hình quản trị công ty của Hội đồng quản trị, Ban
giám đốc, các giao dịch cổ phiếu của các cổ đông lớn theo từng quý hoặc năm
* Thông tin bên ngoài CTCP
Nguồn thông tin này giúp cho các kết luận trong phân tích tài chính có tính thuyết phục cao Các thông tin này được chia thành 2 nhóm: thông tin chung về tình hình kinh tế, thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp:
Trang 34- Thông tin chung về tình hình kinh tế: Các thông tin phản ánh tình hình
chung về kinh tế tại một thời kỳ nhất định có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty là những thông tin quan trọng cần xem xét Hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều yếu tố thuộc môi trường
vĩ mô nên phân tích tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của kinh tế trong nước và khu vực Trên cơ sở kết hợp những thông tin này sẽ tạo điều kiện đánh giá đầy đủ hơn tình hình tài chính và đồng thời có thể dự báo những nguy cơ,
cơ hội đối với hoạt động của công ty Những thông tin cần quan tâm thường bao gồm:
+ Thông tin về tăng trưởng hay suy thoái kinh tế, đặc biệt với phạm vi trong nước và khu vực
+ Các chính sách kinh tế lớn của Nhà nước: chính sách chính trị, ngoại giao, pháp luật, chế độ tài chính, kế toán…có liên quan
+ Thông tin về tỷ lệ lạm phát
+ Thông tin về lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ
- Thông tin về ngành nghề kinh doanh: Trong phạm vi ngành cần xem
xét sự phát triển của công ty trong mối liên hệ với các hoạt động và đặc điểm chung của ngành kinh doanh Những thông tin liên quan đến ngành cần chú trọng quan tâm thường bao gồm:
+ Nhịp độ và xu hướng vận động của ngành
+ Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành
+ Quy mô của thị trường và triển vọng phát triển
+ Tính chất cạnh tranh của thị trường, mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng
+ Nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Các vấn đề trên sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính của công ty như khả năng sinh lãi, tốc độ luân chuyển vốn, cơ cấu nguồn vốn… Do vậy thông tin về ngành kinh doanh là rất quan trọng Chẳng hạn, khi tiến hành phân tích tình hình tài chính của một công ty kinh doanh bất động sản thì cần phải biết bối cảnh của thị trường bất động sản trong nước cũng như quốc tế, các đặc điểm của ngành xây dựng – bất động sản, mức độ cạnh tranh của ngành, các chính sách của Nhà nước đối với riêng ngành kinh doanh bất động sản có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành như chính sách thuế, chính sách hỗ trợ lãi
vay, chính sách phát triển nhà dành cho người thu nhập thấp…
Trang 35Ngoài cách phân loại như trên, thông tin phục vụ cho phân tích tài chính còn có thể được phân loại theo các tiêu thức khác như nguồn thông tin, thời điểm ghi nhận thông tin, mức độ quan trọng và độ chính xác của thông tin, chu
kỳ xuất hiện và tần số sử dụng thông tin
Theo nguồn thông tin thì bao gồm các thông tin từ cơ quan quản lý cấp trên (ví dụ như thông tin về cơ chế chính sách của Nhà nước, chủ trương, đường lối, luật, các chỉ thị văn bản của các cấp chính quyền), thông tin từ các
bộ phận cấp dưới, thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng…
Theo thời điểm ghi nhận, thông tin được chia thành thông tin quá khứ, thông tin thực tại và thông tin dự báo Thông tin quá khứ là thông tin phát sinh trong các kỳ trước, thông tin thực tại là thông tin phát sinh trong kỳ báo cáo còn thông tin dự báo là những thông tin dự tính sẽ xảy ra trong kỳ tương lai
Theo mức độ quan trọng và độ chính xác của thông tin thì có thông tin chính thức mang tính pháp lệnh, thông tin hướng dẫn, thông tin tham khảo…
Theo chu kỳ xuất hiện và tần số sử dụng của thông tin thì có thông tin hàng ngày, thông tin hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm…
Tùy theo yêu cầu phân tích mà sẽ có những yêu cầu khác nhau về thông tin phục vụ cho phân tích Việc nắm vững các cách phân loại thông tin sẽ là cơ
sở để lựa chọn thông tin phù hợp với mục đích, yêu cầu phân tích tài chính
1.1.4 Các phương pháp phân tích tài chính công ty cổ phần
“Phương pháp phân tích là tổng hợp các cách thức, thủ pháp, công thức,
mô hình… được sử dụng trong quá trình phân tích để nghiên cứu bản chất và quy luật vận động của các hiện tượng kinh tế” [16, tr 36] Trong phân tích tài chính, các phương pháp được vận dụng để nghiên cứu các chỉ tiêu, ý nghĩa, các mối quan hệ và sự thay đổi của chúng, từ đó phản ánh thực trạng tài chính và hiệu quả hoạt động của công ty Phân tích tài chính có nhiều phương pháp, trong quá trình phân tích, cần dựa vào loại hình doanh nghiệp, đặc điểm sản xuất kinh doanh, nguồn tài liệu, mục đích phân tích… để lựa chọn phương pháp phù hợp [19], [29]
1.1.4.1 Phương pháp đánh giá
Đánh giá là việc đưa ra các ý kiến (trình bày quan điểm) của cá nhân hay tập thể về một hay một số đối tượng nghiên cứu phục vụ cho quá trình ra quyết
Trang 36định của chủ thể quản lý liên quan đến đối tượng đó Như vậy, đánh giá trên bất
cứ phương diện nào đều khó tránh khỏi những ý chí chủ quan của chủ thể đánh giá đối với đối tượng được đánh giá Để giảm thiểu những tác động tiêu cực bởi
ý chí chủ quan của chủ thể đánh giá thì đòi hỏi chủ thể đánh giá khi đưa ra các
ý kiến phải dựa trên các nguyên tắc phổ biến như: trung lập, trách nhiệm và dựa vào các thông tin định lượng đã được kiểm định Dựa trên nguyên tắc cơ bản trên, phương pháp đánh giá luôn được sử dụng trong phân tích tài chính Thông thường, để đánh giá thì người ta sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
a) Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính Người sử dụng phương pháp này cần nắm chắc các vấn đề sau:
- Thứ nhất, là lựa chọn tiêu chuẩn so sánh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu
được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, hay còn được gọi là gốc so sánh Tùy theo mục đích phân tích mà gốc so sánh được lựa chọn cho phù hợp Các gốc
- Thứ hai, là điều kiện so sánh được Điều kiện quan trọng để đảm bảo
phép so sánh có ý nghĩa là các chỉ tiêu đem so sánh phải đảm bảo tính đồng nhất, tức là phải đảm bảo phản ánh cùng một nội dung kinh tế, cùng một phương pháp tính toán, sử dụng cùng một đơn vị đo lường, ngoài ra các công ty cần có quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau
- Thứ ba, Kỹ thuật so sánh: Các kỹ thuật so sánh thường được sử dụng là
so sánh bằng số tuyệt đối và so sánh bằng số tương đối
So sánh tuyệt đối: là kết quả chênh lệch giữa số liệu của kỳ phân tích với
số liệu gốc Kết quả so sánh tuyệt đối phản ánh sự biến động về quy mô của đối tượng phân tích
Trang 37So sánh tương đối: thể hiện bằng tỷ lệ giữa số liệu của kỳ phân tích với
số liệu gốc tăng hay giảm bao nhiêu % Kết quả so sánh tương đối thường phản ánh tốc độ phát triển của đối tượng phân tích
b) Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp phân tích tỷ lệ sử dụng số tương đối để nghiên cứu các chỉ tiêu trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác Bản chất của phương pháp này là thông qua quan hệ tỷ lệ để đánh giá Để phản ánh chính xác tình hình tài chính
và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nếu chỉ so sánh các thông tin có sẵn trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp thì chưa đủ, mà cần thông qua phân tích các tỷ số tài chính Các tỷ số tài chính bao gồm các tỷ lệ phản ánh khả năng thanh toán, khả năng hoạt động, khả năng sinh lãi, hiệu quả sử dụng tài sản, tốc độ luân chuyển vốn…Các tỷ lệ này cho thấy các mối quan hệ giữa các khoản mục khác nhau trong các báo cáo tài chính Phương pháp này thường được sử dụng kết hợp với phương pháp so sánh nhằm phản ánh sự biến động của các tỷ số tài chính qua nhiều giai đoạn và so sánh với doanh nghiệp khác trong cùng ngành
c) Phương pháp liên hệ đối chiếu
Đây là phương pháp đánh giá đối tượng nghiên cứu dựa trên mối liên hệ kinh tế, tài chính của các hiện tượng, quá trình và kết quả hoạt động tài chính của công ty cổ phần với các bên có liên quan
Nội dung của phương pháo liên hệ đối chiếu bao gồm:
- Thiết lập được mối liên hệ giữa các hoạt động tài chính của CTCP với nhau dưới dạng định lượng hoặc định tính phù hợp với mục tiêu phân tích
- Xác định được tính chất của mối liên hệ đó: độc lập hay phụ thuộc, liên
hệ cùng chiều hay ngược chiều, hình thức hay bản chất… nhằm đánh giá các quan hệ tài chính, kinh tế của CTCP với các bên liên quan, tình hình tài chính,
xu hướng biến động của các quan hệ đó thông qua mối liên hệ đã xác định để cung cấp thông tin cho chủ thể quản lý về đối tượng phân tích
d) Phương pháp đồ thị, biểu đồ hình ảnh
Phương pháp đồ thị, biểu đồ hình ảnh được sử dụng để phản ánh trực quan các số liệu phân tích bằng biểu đồ, đồ thị, qua đó mô tả xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu nghiên cứu hay thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ
Trang 38phận trong một tổng thể Phương pháp này có ưu điểm thể hiện rõ ràng, trực quan sự biến động tăng giảm hay mối liên hệ giữa các chỉ tiêu Phương pháp đồ thị gồm nhiều dạng như đồ thị hình cột, đồ thị hình tròn được sử dụng để phân tích những nội dung kinh tế thích hợp Chẳng hạn, đồ thị hình cột thường được sử dụng để mô tả xu hướng biến động của chỉ tiêu nghiên cứu hoặc so sánh chỉ tiêu giữa các đơn vị, đồ thị hình tròn thường được sử dụng để phản ánh kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể như kết cấu nguồn vốn, kết cấu tài sản
Chính vì ý nghĩa đó mà phương pháp đồ thị ngày nay đã được vận dụng khá phổ biến trong các công ty nhằm biểu hiện tính đa dạng và phức tạp của nội dung phân tích
1.1.4.2 Phương pháp phân tích nhân tố
Phương pháp phân tích nhân tố là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và xác định tính chất ảnh hưởng của nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Trên cơ sở phương trình xác định chỉ tiêu phân tích để lựa chọn một phương pháp hay kết hợp các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố
Phương pháp phân tích nhân tố bao gồm các phương pháp phân tích cụ thể sau đây:
a) Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng khi chỉ tiêu phân tích có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng thể hiện dưới dạng phương trình tích hay thương Nếu là phương trình tích thì các nhân tố được sắp xếp theo trình tự: Các nhân tố số lượng đứng trước nhân tố chất lượng, trường hợp có nhiều nhân
tố số lượng thì nhân tố chủ yếu đứng trước nhân tố thứ yếu Khi đó để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, ta tiến hành thực hiện thay thế liên hoàn gồm các bước như sau:
Bước một, xác định đối tượng phân tích là mức chênh lệch chỉ tiêu kỳ
phân tích so với số liệu gốc
Bước hai, thiết lập phương trình phản ánh mối quan hệ của các nhân tố
với chỉ tiêu phân tích và sắp xếp các nhân tố theo trình tự nhất định
Bước ba, lần lượt thay thế các nhân tố kỳ phân tích vào kỳ gốc theo trình
tự sắp xếp ở bước hai
Trang 39Bước bốn, xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân
tích bằng cách lấy kết quả thay thế lần sau so với kết quả thay thế lần trước
b) Phương pháp cân đối
Trong các chỉ tiêu tài chính của công ty có nhiều chỉ tiêu có liên hệ với nhau bằng những mối liên hệ mang tính chất cân đối, ví dụ như cân đối giữa tổng tài sản và tổng nguồn vốn, cân đối giữa nhu cầu với khả năng thanh toán, cân đối thu chi tiền mặt, cân đối giữa xuất, nhập và tồn kho nguyên vật liệu…
Trên cơ sở các mối liên hệ mang tính cân đối trên, nếu có sự thay đổi một chỉ tiêu sẽ dẫn đến sự thay đổi của chỉ tiêu khác Do đó, khi phân tích một chỉ tiêu kinh tế có liên hệ với các chỉ tiêu khác bằng mối liên hệ cân đối cần phải lập công thức cân đối, thu thập số liệu để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Hơn nữa, nội dung phân tích cân đối không chỉ thể hiện ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu phân tích mà còn thể hiện tính chính xác của quá trình hạch toán
Phương pháp cân đối thường được sử dụng trong trường hợp mối quan
hệ giữa các chỉ tiêu là mối quan hệ “tổng số”
c) Phương pháp phân tích tính chất của các nhân tố
Sau khi xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, để có đánh giá và dự đoán hợp lý, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định và cách thức thực hiện các quyết đinh đó cần phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố Việc phân tích này được chỉ rõ và giải quyết các vấn đề như: Chỉ rõ mức độ ảnh hưởng, xác định tính chất chủ quan và khách quan của từng nhân tố ảnh hưởng, cách đánh giá và dự đoán cụ thể Đồng thời xác định ý nghĩa của các nhân tố
tác động đến chỉ tiêu nghiên cứu, xem xét
d) Phương pháp phân tích dựa vào mô hình Dupont
Phương pháp Dupont hay mô hình Dupont xây dựng một chỉ tiêu tổng hợp ban đầu thành một phương trình gồm nhiều chỉ tiêu có quan hệ với nhau dưới dạng tích số tùy vào mục đích tìm hiểu Phương pháp này xây dựng dựa trên mối quan hệ qua lại giữa những chỉ tiêu tài chính để từ đó biến đổi một chỉ tiêu ban đầu thành một hàm số của nhiều hệ số (hay biến số) khác nhau và có quan hệ mật thiết với nhau Phương pháp Dupont giúp phân tích một chỉ tiêu chịu ảnh hưởng như thế nào khi các chỉ tiêu tài chính khác trong mô hình thay
Trang 40đổi Phương pháp Dupont sử dụng chỉ tiêu “Tỷ suất sinh lời của tài sản” (ROA) được tính toán bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế (LNST) chia cho tổng tài sản bình quân (TSBQ) Chỉ tiêu này xem xét việc đầu tư vào một đồng tài sản trong
kỳ sẽ đem lại bao nhiêu đồng LNST Từ chỉ tiêu ROA ban đầu này được tách thành hai chỉ tiêu đó là:
- Tỷ suất lợi nhuận so với doanh thu (hay sức sinh lời của doanh thu), chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng LNST
- Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (số vòng quay của tổng tài sản) Hệ
số này cho biết một đồng tài sản trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu
có biện pháp nâng cao doanh thu hay sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài sản
Phương pháp Dupont đã khắc phục được nhược điểm của phương pháp phân tích tỷ lệ vì đã kết nối được các lĩnh vực khác nhau về loại tài sản và chi phí trong công ty: TSNH, TSDH, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi vay trong việc tạo ra doanh thu cũng như lợi nhuận Đây chính là những yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra trong hoạt động của công ty Qua mô hình này có thể thấy được những nguồn lực của công ty
đã vận động như thế nào trong việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận sau một kỳ hoạt động Nói các khác, vì đánh giá được những nhân tố liên quan đến hiệu quả kinh doanh của công ty một cách khách quan và toàn diện nên sẽ đưa ra những biện pháp phù hợp và kịp thời giúp cho công ty đẩy mạnh công tác quản
lý, sử dụng và khai thác các nguồn lực nhằm đem lại hiệu quả tốt hơn cho những kỳ kinh doanh tiếp theo