1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận phương pháp luận kỹ NĂNG GIẢM LO LẮNG và CĂNG THẲNG (STRESS) TRONG học tập

38 754 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 84,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tên đề tài: “ Kĩ năng giảm lo lắng và căng thẳng (stress) trong học tập của sinh viên đại học Thăng Long.” 2. Tính cấp thiết của đề tài: a. Lí do thực tiễn và lí luận Hiện nay, stress là một hiện tượng diễn ra phổ biến và có tác động phức tạp trong đời sống xã hội. Stress được rất nhiều các nhà khoa học ở nhiều ngành nghề quan tâm và nghiên cứu như: y học, sinh học, tâm lý học… nhằm mục đích đưa ra được những biện pháp tốt nhất để giảm những tác hại của stress. Những nghiên cứu về stress cho thấy: Ở mức độ nào đó stress vừa là trở ngại, vừa là tác nhân buộc con người phải phải vượt qua để tồn tại. Khi ở mức độ nhất định, stress kích thích cơ thể hoạt động, huy động năng lượng dự trữ, tạo thuận lợi cho hành động trong những điều kiện khó khăn, nguy hiểm. Đây chính là mặt có lợi của stress. Tuy nhiên, stress thái quá sẽ làm cho cơ thể kiệt sức, căng thẳng lo âu, kích động, mất ngủ, suy giảm hệ miễn dịch, giảm khả năng lao động trí óc và chân tay … Trong trường hợp cơ thể không tự điều chỉnh được để lấy lại cân bằng tâm sinh lý, stress có thể gây ra bệnh tật ở con người. Đây là mặt có hại của stress cần được nghiên cứu và khắc phục. Không phải chối cãi hay tránh né, chắc chắn stress (căng thẳng) đã trở thành một “yếu tố thời đại”. Stress tồn tại trong mọi nền văn hóa, mọi quốc gia, và mọi mối quan hệ của con người trên thế giới này. Đặc biệt hơn, những người sống tại các thành phố lớn, thành phố công nghiệp nói chung và những người làm việc trong môi trường nhiều cạnh tranh sẽ có nguy cơ đối diện với nhiều vấn đề gây stress hơn. Đặc biệt đối tượng học sinh là những đối tượng cần được quan tâm nhiều nhất vì đó là những thế hệ tương lai của đất nước và cũng là lực lượng nòng cốt chủ yếu trong xã hội. Ngày nay do sự phát triển của công nghệ hiện đại, kỹ thuật tinh vi, nhịp độ sống và làm việc khẩn trương và sôi động, thông tin ngập tràn … đang làm gia tăng sự căng thẳng tâm lý và chấn thương tinh thần ở con người. Stress đang là nguyên nhân của những bệnh như: tim mạch, loét dạ dày, tiểu đường, trầm cảm, tâm thần phân liệt…của con người hiện nay. Xã hội càng hiện đại, nhịp sống ngày càng tăng và gấp gáp. Một mặt, sự phát triển làm cho điều kiện sống ngày càng tốt hơn, mặt khác, là sự kéo theo các tác nhân gây stress với tất cả mọi người. Ai cũng có thể bị stress. Stress có mặt ở mọi biến cố đời người, nó dường như là một phần không thể thiếu trong cuộc sống từ nam tới nữ, từ trẻ em, thanh niên tới người trưởng thành và người già. Tỷ lệ chịu đựng stress đang gia tăng. Stress hiện diện khắp nơi trong cuộc sống với mọi người và mọi lứa tuổi. Trẻ em đi học cũng bị stress vì áp lực bài vở, đầu sách, chương trình học thêm, dạy thêm tràn lan. Trẻ em mất cơ hội chơi để phục hồi sau stress. Stress gặp ở lứa tuổi học sinh vì gánh nặng thì cử, học hành, vấn đáp. Ở Việt Nam rối nhiễu tâm lý học đường (trong đó có stress) đã trở thành vấn đề được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, phụ huynh học sinh quan tâm. Đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề học đường đã nhấn mạnh cách yếu tố như sức ép xã hội, gia đình, chương trình học quá tải, tình trạng dạy thêm học thêm, bệnh thành tích trong thi cử... là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng stress học đường ngày càng tăng cao. Hậu quả stress học đường có ảnh hưởng rất lớn tới sinh hoạt và học tập của sinh viên. Sinh viên trở nên rất khó tập trung trong học tập, học hành sa sút ở tất cả các môn bất chấp mọi nỗ lực cố gắng. Nặng hơn, học sinh có những hành vi bột phát, thiếu kiểm soát như bỏ học, phá rối, bỏ nhà, đánh nhau thậm chí tự sát hoặc trở nên loạn thần. b. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề stress của con người: Ngoài nước: Những nghiên cứu về stress trước thế kỷ XX. Trong lịch sử phát triển khoa học, mặc dù chưa hiểu bản chất của stress và cơ chế của nó, nhưng bằng thực tiễn của cuộc sống, con người đă nhận thấy được những tác hại của nó đối với sức khở và đã đề xuất cách chống stress có hại. Từ thời Xuân thu Chiến Quốc (403221 TCN), các danh y người Trung Quốc với hơn 2000 năm kinh nghiệm, đă đúc kết những nguyên nhơn dẫn đến bệnh tật là do: Nguyên nhân bên ngoài:“lục khí ngũ vận”, (tức là gió rét, nắng ẩm thấp, khô hanh và nóng) Nguyên nhân bên trong:do rối loạn 7 loại cảm xúc, còn gọi là “thất tình” tức là:vui, giận, sầu bi, khoái lạc, yêu, ghét, đam mê. Nguyên nhân do những biến cố trong đời sốngnhư: thiên tai, tai nạn, bị con vật cắn, Sự đóng góp của Hooke bởi thuyết “tương đồng cấu trúc” và tư tưởng “cơ thể như một cỗ máy” đặt nền móng cho hai tư tưởng khác có ảnh hưởng sâu sắc đến khái niệm về stress. Đó là:

Trang 1

PHẦN I: KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI

1 Tên đề tài:

“ Kĩ năng giảm lo lắng và căng thẳng (stress) trong học tập

của sinh viên đại học Thăng Long.”

2 Tính cấp thiết của đề tài:

a Lí do thực tiễn và lí luận

Hiện nay, stress là một hiện tượng diễn ra phổ biến và có tác động phứctạp trong đời sống xã hội Stress được rất nhiều các nhà khoa học ở nhiều ngànhnghề quan tâm và nghiên cứu như: y học, sinh học, tâm lý học… nhằm mục đíchđưa ra được những biện pháp tốt nhất để giảm những tác hại của stress Nhữngnghiên cứu về stress cho thấy: Ở mức độ nào đó stress vừa là trở ngại, vừa là tácnhân buộc con người phải phải vượt qua để tồn tại

Khi ở mức độ nhất định, stress kích thích cơ thể hoạt động, huy độngnăng lượng dự trữ, tạo thuận lợi cho hành động trong những điều kiện khókhăn, nguy hiểm Đây chính là mặt có lợi của stress Tuy nhiên, stress thái quá sẽlàm cho cơ thể kiệt sức, căng thẳng lo âu, kích động, mất ngủ, suy giảm hệ miễndịch, giảm khả năng lao động trí óc và chân tay … Trong trường hợp cơ thểkhông tự điều chỉnh được để lấy lại cân bằng tâm sinh lý, stress có thể gây rabệnh tật ở con người Đây là mặt có hại của stress cần được nghiên cứu và khắcphục

Không phải chối cãi hay tránh né, chắc chắn stress (căng thẳng) đã trởthành một “yếu tố thời đại” Stress tồn tại trong mọi nền văn hóa, mọi quốc gia,

và mọi mối quan hệ của con người trên thế giới này Đặc biệt hơn, những ngườisống tại các thành phố lớn, thành phố công nghiệp nói chung và những người làmviệc trong môi trường nhiều cạnh tranh sẽ có nguy cơ đối diện với nhiều vấn đềgây stress hơn

Đặc biệt đối tượng học sinh là những đối tượng cần được quan tâm nhiềunhất vì đó là những thế hệ tương lai của đất nước và cũng là lực lượng nòng cốtchủ yếu trong xã hội

Trang 2

Ngày nay do sự phát triển của công nghệ hiện đại, kỹ thuật tinh vi,nhịp độ sống và làm việc khẩn trương và sôi động, thông tin ngập tràn … đanglàm gia tăng sự căng thẳng tâm lý và chấn thương tinh thần ở con người Stressđang là nguyên nhân của những bệnh như: tim mạch, loét dạ dày, tiểu đường,trầm cảm, tâm thần phân liệt…của con người hiện nay.

Xã hội càng hiện đại, nhịp sống ngày càng tăng và gấp gáp Một mặt, sựphát triển làm cho điều kiện sống ngày càng tốt hơn, mặt khác, là sự kéo theo cáctác nhân gây stress với tất cả mọi người Ai cũng có thể bị stress Stress có mặt ởmọi biến cố đời người, nó dường như là một phần không thể thiếu trong cuộcsống từ nam tới nữ, từ trẻ em, thanh niên tới người trưởng thành và người già Tỷ

lệ chịu đựng stress đang gia tăng Stress hiện diện khắp nơi trong cuộc sống vớimọi người và mọi lứa tuổi Trẻ em đi học cũng bị stress vì áp lực bài vở, đầusách, chương trình học thêm, dạy thêm tràn lan Trẻ em mất cơ hội chơi để phụchồi sau stress

Stress gặp ở lứa tuổi học sinh vì gánh nặng thì cử, học hành, vấn đáp

Ở Việt Nam rối nhiễu tâm lý học đường (trong đó có stress) đã trở thànhvấn đề được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, phụ huynh học sinh quantâm Đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề học đường đã nhấn mạnhcách yếu tố như sức ép xã hội, gia đình, chương trình học quá tải, tình trạng dạythêm học thêm, bệnh thành tích trong thi cử là những nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng stress học đường ngày càng tăng cao

Hậu quả stress học đường có ảnh hưởng rất lớn tới sinh hoạt và học tậpcủa sinh viên Sinh viên trở nên rất khó tập trung trong học tập, học hành sa sút ởtất cả các môn bất chấp mọi nỗ lực cố gắng Nặng hơn, học sinh có những hành

vi bột phát, thiếu kiểm soát như bỏ học, phá rối, bỏ nhà, đánh nhau thậm chí tựsát hoặc trở nên loạn thần

b Lịch sử nghiên cứu về vấn đề stress của con người:

Ngoài nước:

- Những nghiên cứu về stress trước thế kỷ XX

Trong lịch sử phát triển khoa học, mặc dù chưa hiểu bản chất của stress và

cơ chế của nó, nhưng bằng thực tiễn của cuộc sống, con người đă nhận thấy được

Trang 3

những tác hại của nó đối với sức khở và đã đề xuất cách chống stress có hại Từthời Xuân thu Chiến Quốc (403-221 TCN), các danh y người Trung Quốc vớihơn 2000 năm kinh nghiệm, đă đúc kết những nguyên nhơn dẫn đến bệnh tật làdo:

Nguyên nhân bên ngoài: “lục khí - ngũ vận”, (tức là gió - rét, nắng - ẩm

thấp, khô hanh và nóng)

Nguyên nhân bên trong: do rối loạn 7 loại cảm xúc, còn gọi là “thất tình”

tức là:vui, giận, sầu bi, khoái lạc, yêu, ghét, đam mê

Nguyên nhân do những biến cố trong đời sống như: thiên tai, tai nạn, bị

con vật cắn,

Sự đóng góp của Hooke bởi thuyết “tương đồng cấu trúc” và tư tưởng

“cơ thể như một cỗ máy” đặt nền móng cho hai tư tưởng khác có ảnh hưởng sâusắc đến khái niệm về stress Đó là:

Thứ nhất, cơ thể được xem như cỗ máy là vật bị hư tổn và bào mòn.Sau

này, năm 1956 H.Selye cũng cho rằng stress tác động làm cơ thể “hư tổn vàbàomòn”

Thứ hai, cỗ máy cần nhiên liệu để hoạt động, cơ thể để hoạt động được

cũng cần năng lượng.Tuỳ thuộc vào năng lượng - sản phẩm của hệ thần kinh, cơthể sẽ hoạt động hiệu quả, kém hiệu quả hoặc thậm chí ngừng hoạt động Các nhàkhoa học nhanh chóng sử dụng những khái niệm “sự cạn kiệt năng lượng thầnkinh” và “những rối loạn thần kinh”

Thế kỷ XVIII, những “cảm xúc mạnh” như: trạng thái tinh thần bị kíchđộng, chứng hysteri, ảo tưởng được xem xét lại như một lời giải thích cho bệnhtật Khi dùng những trạng thái đó để giải thích, nhiều người đă đi tới kết luận “Ítnhất 1/3 căn bệnh đều có nguồn gốc thần kinh” Các nhà khoa học và lý luận phêbình xă hội cùng thời cũng nhận định: “Hệ thần kinh của con người thích nghikém và không thể đương đầu với tính phức tạp đang ngày càng tăng của cuộcsống hiện đại” (Dẫn theo 47, tr.4)

Thế kỷ XIX, George Beard - Bác sĩ thần kinh người Mỹ cho rằng: Cuộcsống với những yêu cầu đầy áp lực là một trong những nguyên nhân dẫn tới sựquá tải của hệ thần kinh - “suy nhược thần kinh” Tình trạng này được biểu hiện

Trang 4

bởi những triệu chứng như: lo âu không lành mạnh, mệt mỏi không rõ lý do, vànhững nỗi lo sợ vô lý - mà nguyên nhân là do hệ thần kinh không có khả năngđáp ứng yêu cầu của cuộc sống hàng ngày G.Beard cũng cho rằng suy nhượcthần kinh là hậu quả của “một loại tổ chức xă hội nào đó”, và “cũng cố gắng làm

rõ vai trò của xă hội trong việc tạo ra những căn bệnh tâm thần” (Dẫn theo 47,tr.5-7), chính ở khía cạnh này, nghiên cứu của ông vẫn còn giá trị cho tới ngàynay

Năm 1859, nhà sinh lý học Pháp, Claude Bernard, đă đưa ra khái niệm

“milieu intộrieur (môi trường bên trong cơ thể), xem cơ thể con người phức tạpnhư một “tập hợp những tồn tại đơn giản, như là những nhân tố giải phẫu” Kháiniệm này mô tả nguyên lý:Chính sự hoà hợp và ổn định của môi trường bên trongđược quyết định bởi môi trường bên ngoài (nhiệt độ, da thú ) là điều kiện để cócuộc sống bình thường, tức là những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ khôngảnh hưởng đến cơ thể, nếu cơ thể bù trừ và làm cân bằng những thay đổi đó Tuynhiên nếu chúng bị xáo trộn quá mức bình thường, con người sẽ đau ốm hoặc cóthể chết.Theo đó, chính hệ thần kinh đảm bảo chức năng điều tiết bằng cách sắpđặt và làm hài hoà hoạt động của cơ thể.Ông nhấn mạnh, chỉ có động vật cao cấpnhất trong sự phát triển chủng loại mới có hệ thần kinh làm được nhiệm vụ này.Dựa vào sự phát hiện của Claude Bernard, các nhà nghiên cứu sau này đă khámphá bản chất của những thay đổi thích ứng mà nhờ đó tình trạng ổn định đượcduy trì

- Những nghiên cứu stress ở thế kỷ

Trang 5

điều chỉnh, cân bằng nội mụi” (“homeostasis”) và khái niệm “chống trả hoặc bỏchạy” (“the fight or fight reaction”) (Dẫn theo 10, tr.7) dễ nhận thấy có mộttrình tự hoạt tính được phát khởi trong các dây thần kinh và các tuyến nội tiếtnhằm chuẩn bị để có thể chiến đấu chống lại hoặc bỏ chạy để bảo toàn tính mạngtrước những đe doạ của ngoại cảnh Con người nhanh chóng nắm được bản chấtcủa kích thích và những hành động bỏ chạy hay chiến đấu với kích thích Thậmchí, nếu không có hành động nào xảy ra, có thể giữ nguyên trong trạng thái thứctỉnh một khoảng thời gian kèm theo là sự cảm nghiệm kích thích hàng loạt phảnứng ở vị trí đầu tiên “Homeostasis” là khuynh hướng của cơ thể trở về trạng tháisinh lý trước khi xảy ra stress (thở, nhịp tim ) Trung tâm của đáp ứng với stress

là vùng dưới đồi, đôi khi được gọi là trung tâm stress là vì nó kiểm soát hệ thầnkinh tự chủ và hoạt hoá tuyến yên Nghiên cứu của Cannon, đặc biệt khái niệm

“chống trả hoặc bỏ chạy” là tiền đề cho các nghiên cứu sau này

Năm 1932, I.P.Pavlov cũng đă nêu ra đặc trưng của khái niệm “Tự điềuchỉnh, cơn bằng nội môi”: “ Cơ thể là một hệ thống tự điều chỉnh, và là một hệthống tự điều chỉnh bản thơn ở mức cao nhất, hệ thống ấy tự duy trì bản thân, tựhiệu chỉnh bản thân, tự cân bằng bản thân và thậm chí hoàn thiện bản thân”

Sau Đại chiến thế giới lần II, W.H.Rivers, một bác sỹ tâm thần, cũng lànhà nhân chủng học làm việc ở Anh, đă đặt ra những tiền đề cho các nhà nghiêncứu khoa học ngày nay về tình trạng được gọi là rối loạn stress sau sang chấn

Năm 1936, Hans Selye, nhà nội tiết học người Canada đă mở rộng nghiên cứucủa Cannon và là người đầu tiên theo phương pháp hiện đại nghiên cứu các ảnhhưởng của stress nặng tác động liên tục lên cơ thể Ông mô tả stress theo thuậtngữ “Hội chứng thích nghi chung” (GAS: General Adaptation Syndrome) qua 3giai đoạn (báo động, kháng cự và kiệt sức)

Giai đoạn thứ nhất (báo động và huy động sức lực): xảy ra khi người ta ý

thức sự hiện diện của tác nhân gây stress Về mặt tâm lý, phân hệ thần kinh giaocảm được kích thích trong suốt giai đoạn báo động và động viên này Sự kéo dàitình trạng phát động hệ thần kinh này có thể dẫn đến các rối loạn trong hệ tuầnhoàn máu hoặc bệnh loét dạ dày và cơ thể dễ mắc nhiều thứ bệnh khác

Trang 6

Giai đoạn thứ hai (kiệt sức): Trong giai đoạn này, khả năng thích ứng với

tác nhân gây stress của con người sút giảm xuống đến mức các hậu quả tệ hại củastress xuất hiện: bệnh cơ thể, các triệu chứng tâm lý dưới dạng mất khả năng tậptrung tinh thần, dễ cáu giận hoặc trong vài trường hợp bị mất định hướng và mấtkhả năng tiếp xúc với thực tại Theo một ý nghĩa nào đó người ta hoàn toàn kiệtsức Nếu stress chấm dứt, giai đoạn ba sẽ dẫn đến sự chết đi của một cơ quan nào

đó Nghiên cứu của H Selye giúp chúng ta hiểu tác động ngắn hạn của những sựkiện gây stress đồng bộ

H Selye đă đóng góp ba thuật ngữ quan trọng là: eustress (stress tích cực), neustress (stress hữu ích), distress (stress tiêu cực) Năm 1970, ông phân làm bốn loại: eustress(stress hữu ích), distress (stress tiêu cực), hyperstress (overstress: stress quá mức), và hypostress (understress: stress dưới

mức) Theo H Selye, không phải tất cả các loại stress đều xấu, nhưng khi nói vềstress là người ta nghĩ đến stress tiêu cực (distress) H.Selye đă có hơn 1500 công

bố khoa học, và 30 cuốn sách chuyên khảo.Công tŕnh của ông cũn được tiếp tụctại Đại học Selye - Toffler để xem xét những vấn đề thách thức của xă hội hiệnđại là căng thẳng thần kinh về thể xác, sự thay đổi và tương lai Tuy nhiên đánhgiá về mô hình GAS chúng ta thấy mô hình hoàn toàn căn cứ vào các nhân tốsinh lý nên không quan tâm đến các nguyên nhân tâm lý Dù vậy mô hình vẫn đề

ra cơ sở cho việc tìm hiểu stress

Năm 1972 Viện sĩ V.V.Parin đă nhận xét: “Khái niệm stress của H.Selye

đă thay đổi phần lớn quy tắc chữa trị và phòng ngừa hàng loạt bệnh Quan điểmcủa ông lúc đầu gặp không ít sự phản đối, bây giờ đă nhận được sự phổ biến rộngkhắp Nói một cách tổng quát, học thuyết của nhà bác học Canada nổi tiếng này

có thể được coi là hệ thống luận điểm cơ bản, đặt nền móng cho sự phát triển của

Không quên công lao đóng góp và tiếp tục công tŕnh của ông, kể từ hội nghị quốc

tế tại Montreux (1988) đến nay đó cú gần 20 hội nghị về stress được tổ chức Cáchội nghị là nơi quy tụ nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới nhằm loại bỏ đinhững rào cản đối với sự tiến bộ trong phương pháp nghiên cứu stress, đồng thờitrao giải thưởng “Hans Selye” cho những người có nhiều đóng góp cho việcnghiên cứu Các nhà nghiên cứu đă tŕnh bày về nhiều vấn đề khác nhau như: ảnh

Trang 7

hưởng của stress và cảm xúc đến sức khoẻ (Charles Spielberger); Nghiên cứustress trong bối cảnh thế giới thứ 3 (Nicola Malan); Tự nhận thức và sức khoẻ -Tầm quan trọng của thái độ về sức khoẻ và bệnh tật (Daniel Goleman).

Nếu như trước đây, những tài liệu khoa học đă công bố về stress phần lớnthuộc lĩnh vực sinh lý học và y học, ít đề cập đến khía cạnh tâm lý học của stressthì trong những năm gần đây ngày càng có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề tâm

lý học của stress

Những khái niệm: “Các biến cố quan trọng của cuộc sống” và “sự khủnghoảng” đă gợi lên nhiều định hướng lý thuyết khác nhau trong nghiên cứu tâm lýhọc

Gương mặt tiêu biểu là Adolf Meyer, người đứng đầu chuyên khoa Tâm

lý lâm sàng của Bệnh viện Johns Hopkins (Hoa Kỳ), đă đề xuất ra biểu đồ người(life chart) làm công cụ chẩn đoán y khoa (50) Nghiên cứu của ông đă địnhhướng cho sự phát triển một dụng cụ đo lường những biến cố đời sống vàstress(47)

Năm 1940, A.Meyer đă thiết lập một thư mục các biến cố của đời sống như: chuyển nhà, thành công, thất bại, sinh tử trong gia đình Ông là người đầu tiên đưa ra giả thuyết về sự liên hệ giữa các biến cố đời sống và bệnh tật Kế thừa kết quả nghiên cứu của A.Meyer, để ước lượng tỷ lệ tiêu hao sức khoẻ do stress gơy nên, hai nhà nghiên cứu Hoa Kỳ là T.H.Holmes và R.H.Rahe cùng

cộng sự (1967) đă xây dựng “Thang sự kiện cuộc sống” (Life Events Sacle) gồm

43 biến cố của đời sống thuộc về gia đ́ nh, cá nhân, việc làm, và tài chính Mỗi sựviệc đều được ấn định một số điểm cố định, tiêu biểu cho số lượng đơn vị thay đổi đời sống (L.C.Us = Life Change Units ) Cao điểm nhất là 100 điểm (LCUs) cho biến có qua đời của người phối ngẫu.Trung b́ nh là 500 điểm (LCUs) cho việchôn nhơn Thấp nhất là 11 điểm (LCUs) cho lỗi vi phạm nhỏ về pháp luật Sau khi áp dụng cho hàng ngàn người trong cuộc thí nghiệm, Homes và Rahe nhận thấy tổng số điểm (LCUs) của những sự việc xảy ra cho một người, trong một năm, đều có liên hệ trực tiếp và tỉ lệ thuận với tiêu hao sức khoẻ của người đó, trong ṿ̣ng hai năm sau Điều này có nghĩa là tổng số điểm (LCUs) trong năm càng cao, cơ hội sinh bệnh tiêu hao sức khoẻ càng trầm trọng trong ṿ̣ng hai năm

Trang 8

sắp tới Để tìm ra đáp số trong ước lượng này, Holmes và Rahe đă lập ra tiêuchuẩn chỉ dẫn và bảng liệt kê:

0-150 điểm sẽ có bệnh làm tiêu hao 10% sức khoẻ trong vòng hai năm tới

150-300 điểm sẽ có bệnh làm tiêu hao 50% sức khoẻ trong vòng hai năm tới

300 điểm trở lên sẽ có bệnh nguy hiểm, tiêu hao 90% sức khoẻ trong hai năm tới

Nghiên cứu này đă được thực hiện với mẫu 394 người từ nhiều dơn tộc,văn hoá khác nhau, chia làm 15 cặp của các phơn nhúm đối nghịch nhau về: kinh

tế, xă hội, tôn giáo Tiếp tục theo dõi các biến cố và sức khoẻ của 88 người trong

10 năm, họ nhận thấy 93% bệnh tật gắn liền với biến cố trong đời sống xảy ratrong vòng 2 năm Sau đó, công tŕnh này đă được thử nghiệm với nhiều cáchthức khác nhau bởi Wyler, Masuda và Holmes (1974) và đi đến kết luận: cácbiến cố cuộc sống liên quan đến nguyên nhơn xảy ra bệnh tật, thời điểm xuấthiện và mức độ trầm trọng của nó Tuy nhiên, thang đo này vẫn cũn một vàinhược điểm như: khó thích hợp với một nhóm cư dơn đặc biệt và không kể đến

sự khác biệt nhân cách trong ứng phó với stress

Năm 1979, Kosaba xem xét lại thang đo này và đưa ra giả thuyết: nhâncách có lẽ là một biến cố điều hòa giữa các biến cố đời sống và sự xuất hiệnbệnh Để chứng minh giả thuyết, Kosaba đă nghiên cứu trên mẫu gồm nhiềunhững cán bộ trung và cao cấp, nam giới, tuổi từ 40 - 49 Tất cả đều có chỉ sốđơn vị thay đổi đời sống rất cao theo thang đo của Wyler, Masuda và Holmes.Ông đưa thêm vào 6 biến cố liên quan đến nhơn cách: 3 biến cố liên quan đến sự

tự chủ, 1 biến cố đo lường sự rối trí (alienation) và 2 biến cố đo lường sự thách

đố Kết quả cho thấy những cá nhơn khoẻ mạnh nghĩ rằng họ làm chủ được môitrường xung quanh họ, cảm thấy ít bị rối trí và thích thách đố hơn

Năm 1977, nhà nghiên cứu Caroline Bedell Thomas đă công bố kết quảnghiên cứu từ năm 1946 đến năm 1977 cho thấy: những người thường kỡm nộncảm xúc, che giấu các t́ nh cảm mạnh, cả tiêu cực lẫn tích cực - trước những t́ nhhuống khó - dễ bị ung thư Những nghiên cứu khoa học khác của Rogentine, Fos,van Krammen, Rosenblatt, và cộng sự (1978); Jemmott và Locke (1984); LeShan (1966) đều có chung một nhận định: Stress không gây ra ung thư, nhưngảnh hưởng đến diễn biến của căn bệnh, bằng cách làm cạn kiệt sức mạnh của hệthống miễn dịch O’Leary (1990) nghiên cứu psychoneuro-immunology (Tâm

Trang 9

thần kinh- Miễn dịch học) cho đến nay xác định rằng stress ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống miễn dịch.

Tại website http://www.google.com.vn tìm kiếm bởi từ khoá “psychology

of stress”, xuất hiện 200.000.000 kết quả, và 25.000.000 hình ảnh chostress.Nhiều trường Đại học trên thế giới đă có chương trình giảng dạy, nghiêncứu với những phương pháp khoa học cụ thể, tin cậy Các vấn đề tâm lý họcstress được nghiên cứu là:

Những nhân tố ảnh hưởng tới đối phó stress: mô tả và phân biệt giữa

stress và tác nhân gây stress; ảnh hưởng của nhận thức cá nhân với việc thích ứngvới tác nhân gây stress; những nhân tố bên trong và bên ngoài làm giảm nhẹ tácdụng thích ứng stress; cơ chế đối phó làm giảm stress

Các chức năng đáp ứng sinh lý với stress: mô tả sự thích ứng stress trên

hệ thống cơ thể (thần kinh, hệ nội tiết ) mối liên hệ giữa những nhân tố làm giảmstress và thích ứng sinh lý, sự khác biệt hệ thống miễn dịch giữa người lớn và trẻem

Thích ứng tâm lý với stress: nhận biết nguyên nhân gây stress; nguyên

nhân và các tính chất của stress hậu sang chấn; tương quan giữa kiểu nhân cách

và sự thích ứng stress; phân tích các loại kế hoạch đối phó, lựa chọn hệ thốngphòng thủ, những hành vi thích ứng không hiệu quả

Những năm gần đây, qua kinh nghiệm điều trị, bác sỹ Petre Ceterine Whitney nhận thấy có mối quan hệ giữa nhóm máu và stress Theo ông,những người nhóm máu A và B thường rất dễ bị stress kể cả khi có những nhân

D’sdamo-tố nhỏ nhất và thường có hàm lượng cortisol trong máu cao ; ngược lại nhữngngười nhóm máu O và AB ít bị stress và khi bị stress th́ hàm lượng cortisol vàadrenalin trong máu của người nhóm máu O và AB thấp

Pakers năm 1997 chú ý tới lĩnh vực mới gọi là: Psychoneuroimmunology(PIN), nghiên cứu mối liên hệ giữa năo bộ, hệ thống miễn dịch của cơ thể và cácyếu tố tâm lý, đă phát hiện thấy stress gây ra nhiều tác động khác nhau Trước hết

là sự biến đổi các tiết tố trong cơ thể, ảnh hưởng hoạt động tuyến thượng trongmáu Trong một số trường hợp, những ảnh hưởng này là có ích, vỡ nó tác độnglên hệ thần kinh giao cảm (the sympathetie nervour system) giúp cho con người

Trang 10

có thể chống đỡ một cách tốt hơn với những tình huống bất ngờ, nguy hiểm trongcuộc sống

Trong nước

Bắt đầu từ thập niên 60, một số nhà nghiên cứu đă quan tâm đến stressnhưng chủ yếu là các nhà khoa học thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học Ngườiđầu tiên nghiên cứu stress dưới góc độ sinh lý và y học là giáo sư Tô Như Khuê.Những công tŕnh của ông và cộng sự trong thời chiến tranh (1967-1975) chủ yếuphục vụ cho việc tuyển dụng, huấn luyện và nơng cao sức chiến đấu cho bộ đội

và cac binh chủng đặc biệt của Quân đội nhơn dơn ViệtNam Sau năm 1975 đếnnay, những nghiên cứu của ông về stress và cách chống stress đă được công bố

trong một đề tài cấp Nhà nước “Tìm hiểu tác dụng dưỡng sinh của võ thuật”.

Sau ông, tác giả Nguyễn Văn Nhận và cộng sự, các bác sỹ Phạm NgọcRao và Nguyễn Hữu Nghiêm với tác phẩm “Stress trong thời đại văn minh” cảnhbáo với mọi người đang sống trong xă hội văn minh về nguy cơ stress và hậu quảghê gớm của nó

Đặc biệt, các tác giả Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện cũng bắttay vào nghiên cứu lư thuyết stress Tuy nhiên, hai ông chỉ tập trung chủ yếu đếnvấn đề stress ở trẻ em.Nhiều bài viết của hai ụng đó được tập hợp trong các bàigiảng tại Trung tâm nghiên cứu trẻ em (N-T) Một số tác phẩm sau này của ĐặngPhương Kiệt chủ yếu tổng hợp và chuyển dịch từ các tác phẩm nước ngoài

như: Tâm lý và sức khoẻ, Cơ sở tâm lư học ứng dụng, Bách khoa y học phổ thông, Chung sống với stress, Stress và đời sống, Stress và sức khoẻ, Tâm lý học chuyên sâu, Những vấn đề tâm lý và văn hóa hiện đại Những công trình của các

ông đă góp phần làm cơ sở lý luận để nghiên cứu stress tại Việt Nam

Luận văn thạc sỹ tâm lý học của Phạm Thị Thanh Hương với đề tài:

“Stress trong học tập của sinh viên” (2003)

Đề tài nghiên cứu: “Căng thẳng và bệnh tim” (2006) của Phạm Mạnh

Hùng - Trường Đại học Y Hà Nội

Trang 11

Luận văn thạc sỹ tâm lý của tác giả Phạm Thị Hồng Định với đề

tài: “Nghiên cứu stress ở những trẻ em vị thành niên qua đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em 18001567” (2007).

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu kỹ năng giảm lo lắng và căng thẳng của sinh viênThăng Long nhằm đánh giá mức độ căng thẳng của sinh viên khi tham gia họctập, sinh hoạt tại trường đại học Thăng Long và nhằm đưa ra những giải pháphiệu quả nhất nhằm tối thiểu hóa mức độ stress cho sinh viên

4 Nhiệm vụ

- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu lí luận ( Tổng quan về đề tài, định nghĩa khái niệm liên quan)

- Nhiệm vụ 2: khảo sát thực tiễn, thu thâp thông tin

- Nhiệm vụ 3: đề xuất giải pháp xử lí vấn đề

5 Đối tượng nghiên cứu

Kỹ năng giảm stress trong học tập của sinh viên Đại học Thăng Long

6 Khách thể nghiên cứu

- Sinh viên Thăng Long

- Giảng viên thăng long

- Một số cha mẹ của sinh viên

- Bác sĩ tâm lí một số bệnh viện lớn trên địa bàn Hà Nội

7 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu trong 1 kì học (3 THÁNG)

- Số lương: 1000 sinh viên, 100 giảng viên 100 phụ huynh

8 Giả thuyết nghiên cứu:

Trang 12

Sinh viên Thăng Long phải sinh hoạt và học tập trong một môi trường áplực tuơng đối lớn Hầu hết là do vấn đề học tập và thi cử gây nên Tuy nhiên, hầuhết các sinh viên đều thích nghi rất tốt và có kỹ năng để tối thiểu hóa stress.

Luận cứ: Sinh viên Thăng Long có một chương trình học yêu cầu sinhviên cần phát triển cho mình rất nhiều kiến thức và kĩ năng trong trung binh từ 3đến 5 năm học tại trường vì thế sinh viên luôn phải cố gắng học tập nếu muốnđạt kết quả cao

Nhờ có cơ sở vật chất tuyệt vời của nhà trường, sự giảng dạy nhiệt tìnhcủa thầy cô, cộng với sự năng động của bản thân, sinh viên thăng Long có thểtrang bị cho mình kỹ năng giảm stress để đạt hiệu quả cao trong học tập màkhông ảnh hưởng tới sức khỏe, tinh thần

Trang 14

PHẦN 3: CẤU TRÚC ĐỀ TÀICHƯƠNG 1 NHữNG VấN Đề LÍ LUậN CÓ LIÊN QUAN ĐếN Đề TÀI :

Kỹ NĂNG GIảM STRESS TRONG HọC TậP CủA SINH VIÊN ĐạI HọC THĂNG LONG

1 Các khái niệm có liên quan đến đề tài

Kỹ năng

Kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thựctiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hànhđộng nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng

Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thụcmột hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinhnghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi

nghĩa:

Stress

Theo Encarta và một số từ điển tâm lý học của Mỹ, danh từ stress có hai

Thứ nhất, đó là “lực kháng lại được hình thành trong cơ thể chống lại tácđộng bên ngoài” hoặc “một tình trạng gây khó chịu hoặc gây những ảnh hưởngtrái ngược bên ngoài có thể ảnh hưởng tới sức khỏe thể lực, dễ nhận thấy qua dấuhiệu: nhịp tim tăng, huyết áp cao, cơ năng, cảm giác khó chịu, và ưu phiền”(Dẫn theo 10, tr.20)

Thứ hai, “stress là một kích thích thể lư hoặc tâm lư có thể gây ra sự căng thẳng tinh thần hoặc các phản ứng sinh lý - những phản ứng có thể dẫn đến các bệnh”; c ̣ n động từ stress chỉ việc “chịu áp lực, căng thẳng về thể lực và tinh thần” (Dẫn theo 10, tr.20)

Trong từ điển tâm lý học của Nga, theo V.P.Dintrenko vàB.G.Mesiriakova, “Stress - trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở ngườitrong quá trình hoạt động ở những điều kiện phức tạp, khó khăn của đời sốnghàng ngày, cũng như trong những điều kiện đặc biệt” (Dẫn theo 22, tr.18)

Trang 15

Dictionary of Psychology của Andrew M Colman, Oxford (2003) có cáinhìn tổng quát hơn: “stress là căng thẳng thể lực và tâm lý phát sinh do nhữngtình huống, sự kiện, trải nghiệm, khó có thể chịu đựng được hoặc vượt qua, nhưnhững biến cố nghề nghiệp, kinh tế, xă hội, cảm xúc hoặc thể lực”.

Theo từ điển Y học Anh-Việt (2007) NXB Khoa học: “Bất kỳ nhân tố nào

đe doạ đến sức khoẻ cơ thể hay có tác động phương hại đến các chức năng cơthể, như tổn thương, bệnh tật hay tâm trạng lo âu đều gọi là stress”

Bác sỹ Eric Albert, nhà tâm lý học, sáng lập viên Viện nghiên cứustress định nghĩa: “Stress là sự nỗ lực của cơ thể để thích nghi với những đổithay”

Khái niệm stress lần đầu tiên được nhà sinh lý học Canada Hans Selye sửdụng để mô tả hội chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật Vào thậpniên 80, L.A.Kitaepxmưx đã nêu các quan điểm khác nhau về stress: Stress lànhững tác động mạnh ảnh hưởng không tốt và tiêu cực đến cơ thể, quan điểm nàytồn tại một thời gian dài, nhưng nó lạt trùng với khái niệm về tác nhân gây stress.Stress là những phản ứng mạnh không tốt của cơ thể về sinh lý hoặc tâm lý đốivới tác động của tác nhân gây stress, cách hiểu này ngày nay khá phổ biến Stress

là những phản ứng mạnh đủ loại, không tốt hoặc tốt đối với cơ thể Hai cách hiểunày đều khẳng định stress là những phản ứng mạnh của cơ thể trước các tác độngkhác nhau của môi trường Nhưng trong thực tế không phải phản ứng mạnh nàocủa cơ thể cũng đều là stress và không phải chỉ có phản ứng mạnh mới là biểuhiện stress

Tác giả Tô Như Khuê quan niệm :

“Stress chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cáchchung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà conngười chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủyếu do các tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó”

Theo Nguyễn Thành Khải

“Dưới góc độ tâm lý học, có thể hiểu stress là trạng thái căng thẳng

về tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như trongcuộc sống” Dưới góc nhìn nhận từ góc độ tâm lý học, stress được hiểu

Trang 16

như sau: “Stress là trạng thái căng thẳng về mặt tâm lý, xuất hiện ở ngườitrong quá trình hoạt động gặp phải những biến cố, những khó khăn trong cuộcsống hàng ngày, dễ nhận thấy qua các dấu hiệu: nhịp tim tăng, huyết áp cao, cơnăng, cảm giác mệt mỏi khó chịu, hoặc ưu phiền chán nản có thể dẫn đếnnhững hậu quả nhiều mặt tuỳ theo khả năng ứng phó của mỗi người”.

Stress trong học tậ p

Stress trong học tậ p là phản ứng tâm- sinh lý của sinh viên trước tác động

của môi trường học tậ p ( gia đinh, bạn bè, nhà trường…) có ảnh hưởng tới sựcân bằng của cơ thế

2 Một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

a Biểu hiện chung khi bị stress

Stress có thể hoành hành theo nhiều cách, gây ra các hậu quả về mặt tâm

lư và sinh lý Nếu tiếp cận thường xuyên với stress, toàn bộ chức năng sinh họccủa cơ thể sẽ bị giảm sút bởi các loại hormon liên quan đến stress tiết ra khôngngừng Nếu bị stress lâu ngày, cỏc mụ cơ thể, như mạch máu và bộ phận tim cóthể bị thoỏi hoỏ thực sự Không kể đến các triệu chứng nghiêm trọng, rất nhiềucơn đau lặt vặt bao gồm: nhức đầu, đau lưng, ban ngứa ở da (skin rashes) khótiêu, mệt mỏi và táo bón gây ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống

Ngoài ra , stress cũng có thể dẫn đến một nhóm rối loạn bệnh lý gọi là các rối loạn cơ thể tâm thần (Psychosomatic disorders) Các dạng rối loạn bệnh

lư này phát sinh do sự tương tác giữa các rối loạn tâm lư , t́ nh cảm và cơ thể gây ra Các rối loạn cơ thể tâm thần thường thấy nhất là loét bao tử (ulcer), hen suyễn, viêm khớp (arthritis), áp huyết cao và chàm (eczema)

Về lâm sàng, phản ứng stress cấp tính làm người bệnh hưng phấn quámức về tâm lư lẫn cơ thể, với các biểu hiện: tăng trương lực cơ làm cho nét mặtcăng thẳng, cử chỉ cứng nhắc, có cảm giác đau bên trong cơ thể; rối loạn thầnkinh thực vật như nhịp tim tăng nhanh, có cơn đau vùng trước tim, huyết áptăng, khó thở, ngất xỉu, vă mồ hôi, nhức đầu, đau nhiều nơi, nhất là đau các cơbắp Bệnh nhân bị tăng cảm giác (giảm ngưỡng kích thích của các giác quan ),nhất là thính giác , làm cho tiếng động b́ nh thường cũng trở nên khó chịu Họcũn cú biểu hiện rối loạn hoạt động trí tuệ (khó tập trung suy nghĩ do nhớ lại

Trang 17

các t́ nh huống stress ), dễ nổi cáu, kích động, bất an, rối loạn hành vi và khókhăn khi giao tiếp với người khác; lo âu, sợ hăi, mơ hồ, trầm cảm, ý thức thuhẹp.

Như vậy, stress ảnh hưởng đến cơ thể theo nhiều cách, có thể tăng nguy

cơ bị các bệnh tật cơ thể, cũng có thể là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh, hoặccũng có thể làm cho khả năng phục hồi cơ thể làm giảm khả năng đương đầuvới stress trong tương lai

b Phân loại stress

Có thể phân loại khác nhau về stress, nếu dựa vào những cơ sở khácnhau và cách phân loại này đều có ý nghĩa nhất định:

* Dựa vào tác nhân gây stress: người ta có thể phân ra stress vật lý,

stress thoỏi hoỏ, stress tâm lý, stress sinh lý

* Dựa vào thời điểm của yếu tố tác động gây ra stress có thể có:

Stress quá khứ (khi nhớ về quá khứ tốt đẹp hoặc không tốt đẹp người ta

có thể bị stress trở lại, ví dụ như vô tình gặp lại những người quen trong quá

khứ, những kỷ niệm với người đó lại hiện về có thể kỷ niệm tốt đẹp làm chochúng ta cứ luyến tiếc, hoặc những kỷ niệm là đau buồn làm cho chúng ta buồnrầu, đó chính là yếu tố gây stress

Stress hiện tại: yếu tố gây stress đang tác động và phát huy tác dụngtrong hiện tại gặp nhiều những biến cố không mong muốn và không chờ đợikhiến cho cơ thể không chuẩn bị sự đáp ứng, thích nghi dẫn đến stress

Stress tương lai: cá nhân bị stress khi nghĩ về tương lai (ví dụ: nhữngsinh viên năm cuối nghĩ về tương lai không biết mình ra trường đi đâu, về đâu,làm gì cũng có thể bị stress)

* Căn cứ vào cấp độ của stress: có thể phân ra stress sơ cấp và stress

*Dựa vào mức độ, theo H.Selye phân ra stress tích cực (eustress) và

stress tiêu cực (distress)

Stress tích cực(eustress):

Trang 18

Trong một tình huống stress bình thường, cơ thể phản ứng lại với các tácđộng của môi trường bằng giai đoạn báo động và giai đoạn chống đỡ.

Giai đoạn báo động: bị chi phối bởi sự cảnh tỉnh cao độ, kích thích các

quá tŕnh tâm lư, đặc biệt là quá tŕnh tập trung chú ư, ghi nhớ, phán đoán, trong

cơ thể triển khai những phản ứng đến trước đối với một tác động có thể xảy rathể hiện bằng việc tăng nhịp tim, tăng huyết áp, tăng nhịp thở, tăng lực cơ bắp.Các thay đổi tâm sinh lư này góp phần vào việc đánh giá tình huống stress đốivới chính bản thân người đó, cũng như đối với môi trường xung quanh

Giai đoạn chống đỡ: Đặc trưng bởi việc huy động các đáp ứng thích hợp

nhằm giúp cơ thể làm chủ được t́ nh huống stress và có được một cân bằng mới đối với chính bản thân người đó Tuy nhiên, cường độ của stress có thể khác nhau, và động cơ cá nhân cũng có thể thay đổi Như vậy, một hoàn cảnh gây stress b́ nh thường có thể chuyển sang distress khi có sự thay đổi về một trongcác cực của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể và môi trường

Stress tiêu cực (distress):

Phản ứng stress trở thành distress khi t́ nh huống bất ngờ , quá dữ dội,hoặc ngược lại, quen thuộc nhưng lặp đi lặp lại, vượt quá khả năng thích ứngcủa chủ thể Distress là stress có cả giai đoạn tiếp sau giai đoạn báo động vàchống đỡ.Đó là giai đoạn kiệt sức Trong distress, các rối loạn tâm lư ở cơ thể

có thể xuất hiện ở cấp tớnh, tạm thời hoặc nhẹ hơn hoặc kéo dài

Stress cấp tính: Các biểu hiện của stress này thường gặp trong các tính

huống không lường trước, có tính chất dữ dội, như lúc bị tấn công, gặp thảm hoạ, hoặc khi thân chủ biết ḿ́nh hay người thân bị bệnh nặng nguy hiểm, khó cứu chữa (AIDS, ung thư) Trong stress bệnh lý cấp tính, các phản ứng xúc cảmcấp diễn, tức thì, trạng thái cấp tính của stress được đặc trưng bởi những cử chỉ cứng nhắc, không linh hoạt, kèm theo cảm giác đau do căng thẳng bên trong; có

sự rối loạn thần kinh thực vật như: tim đập nhanh, cơn đau tim, cao huyết áp, khó thở, ngất xỉu, chóng mặt, ra mồ hôi, nhức đầu, đau ở nhiều nơi, nhất là ở cơbắp; phản ứng giác quan quá mức, nhất là tai có cảm giác khó chịu trước những tiếng động thường ngày Distress cấp tính dẫn đến các rối loạn trí tuệ thể hiện ở việc khó tập trung suy nghĩ , kèm theo tư duy bị nhiễu do nhớ lại các t́ nh huốnggây stress Những biểu hiện khác thường thấy là dễ cáu gắt, trên cơ sở cảm giác bất an có thể đưa đến những rối loạn trong hành vi, nhất là trạng thái kích động nhẹ kèm theo khó khăn trong quan hệ với những người xung quanh Chủ thể ở trạng thái lo âu lan rộng, kèm theo sợ hăi mơ hồ Phản ứng distress cấp tính thường kéo dài từ vài phút đến vài giờ, rồi mờ nhạt đi Sự có mặt của những

Trang 19

người xung quanh, nhất là người thân sẽ làm cho chủ thể distress yên tâm hơn

và khuây khoả ít nhiều tuỳ theo tính chất và tiến triển của stress

Khi có những phản ứng cảm xúc cấp tính th́ các rối loạn tâm sinh lư đều xảy ra chậm, chủ thể có vẻ chịu đựng và chống đỡ được với t́ nh huống gây stress Nhưng thực tế , các biểu tượng của t́ nh huống gây stress vẫn tiếp tục phát huy tác dụng và từng bước xâm chiếm chủ thể Giai đoạn chống đỡ của chủ thể tiếp diễn, nhưng chỉ tạo ra một sự cân bằng rất tạm thời, không bền vững, và chỉ kéodài trong vài giờ hoặc vài ngày , sau đó đột nhiên xuất hiện một phản ứng distress cấp tính xảy ra chậm , có biểu hiện và tiến triển giống như phản ứng cấp, thức th́ Chứng tỏ về mặt tâm lư chủ thể không c̣ n khả năng dàn xếp được t́ nh huống stress nữa Chủ thể bị suy sụp và mất khả năng bù trừ một cách chậmchạp

Distress kéo dài: thường gặp nhất trong các t́ nh huống stress quen thuộc

lặp đi lặp lại như xung đột, bất toại, phiền nhiễu trong cuộc sống hàng ngày Nó

có thể xảy ra tiếp theo như một phản ứng cấp ban đầu và không thoỏi lùi hoàn toàn, hoặc sau một loạt nhiều phản ứng cấp trung nhưng không mạnh Nhưng

dù cho nó cú nguồn gốc nào, những biểu hiện của stress kéo dài cũng rất đa dạng thay đổi tuỳ theo ưu thế của các biểu hiện tâm lư, thể chất và có sự pha trộn của nhiều hiện tượng khác nhau Con người khi bị stress kéo dài thường phản ứng quá mức với hoàn cảnh xung quanh và đây là biểu hiện nổi trội nhất

Nó kèm theo với sự cáu giận, cảm giác khó chịu, căng thẳng tâm lư, mệt mỏi vềtrí tuệ không thể thư giăn được Ngoài ra, cũn cú biểu hiện về rối loạn giấc ngủ,như khó ngủ, giấc ngủ chập chờn , hay thức giấc, về cảm giác không thấy phục hồi sau khi ngủ Những rối loạn này tuỳ theo bối cảnh , tính chất cũng như mức

độ lặp đi lặp lại của t́ nh h uống stress, có thể tiến triển thành trạng thái bi quan kéo dài, tính dễ cáu giận và sự căng thẳng nội tâm Chủ thể thậm chí có biểu hiện lo âu, ám ảnh sợ khi gặp lại những nơi đă gây nên t́ nh huống distress , hoặc nhớ lại tình huống này

Khi bị stress kéo dài, cơ thể thường có những rối loạn thực vật ở mức độ vừaphải, chúng chỉ tăng lên khi hồi tưởng về các tình huống stress, hay khi phảiđương đầu với những tình huống đó Con người thường xuất hiện cùng với cácrối loạn tâm lý và biểu lộ trong những lời than phiền của chủ thể về các rối loạnchức năng cơ thể Đó là những than phiền về:

 Trạng thái suy nhược kéodài

 Căng thẳng cơ bắp với cảm giác bị chuột rút

 Chứng run và đổ mồ hôi

Ngày đăng: 27/07/2016, 08:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w