Theo đó, trách nhiệm của người vận chuyển đối với tổn thấtchỉ giới hạn ở mức 666.7 SDR một đơn vị hàng hoá, tương đương 2 SDR mộtkilogram hàng hoá bị mất hoặc hư hỏng, mặc dù họ được miễ
Trang 1MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ TBH HÀNG HÓA XUÂT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 5
1.1 Khái quát về Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 5
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 5
1.1.2 Sự cần thiết khách quan 7
1.1.3 Đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển 9
1.2 TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 10
1.2.1 Khái niệm chung về TBH 10
1.2.2 Vai trò của TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 15
a) Đối với công ty nhượng TBH 15
b) Đối với công ty nhận TBH 17
c) Đối với xã hội 17
1.2.3 Hợp đồng TBH 18
1.2.3.1 Định nghĩa: 18
1.2.3.2 Phân loại 19
Hợp đồng TBH tuỳ ý lựa chọn 19
Hợp đồng TBH cố định 21
1.2.3.3 Phương pháp TBH 24
a1) TBH theo Số tiền bảo hiểm 24
TBH số thành 25
Trang 2 TBH kết hợp số thành - mức dôi 26
a2) TBH theo Mức bồi thường 27
TBH vượt mức bồi thường 27
TBH vượt tỷ lệ bồi thường 28
TBH kết hợp 28
1.2.3.4 Những điều khoản cơ bản trong Hợp đồng TBH 30
Hoa hồng TBH 30
Phí TBH hợp đồng phi tỷ lệ (Phí đặt cọc) 33
Điều khoản Tái lập trách nhiệm 34
Phí tạm giữ 35
Bồi thường tạm giữ 36
1.2.3.5 Quản lý Hợp đồng 36
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TBH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN GIAI ĐOẠN 2004-2008 38
2.1 Vài nét về PTI 38
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 38
a) Thành viên sáng lập 38
b) Quan hệ hợp tác 39
c) Phạm vi kinh doanh 39
d) Cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty 40
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian qua 41
2.1.2.1.Kết quả kinh doanh bảo hiểm gốc 41
2.1.2.2 Kết quả kinh doanh TBH 44
a) Hoạt động nhượng TBH 44
b) Hoạt động nhận TBH 46
2.1.2.3 Hoạt động đầu tư 47
Trang 32.1.3 Phương hướng và giải pháp phát triển trong thời gian tới 48
2.2 Tổng quan về Thị trường Bảo hiểm và TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam 49
2.2.1 Tình hình XNK của Việt Nam trong những năm gần đây: 49
2.2.2 Thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam 51
Thực trạng trên là do một số nguyên nhân sau: 52
2.2.3 Thị trường TBH hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển 54
2.3 Những thuận lợi và khó khăn của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện trong hoạt động kinh doanh TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu 56
2.3.1 Thuận lợi 56
a)Từ thị trường bảo hiểm 56
b)Từ Công ty 57
2.3.2 Khó khăn 57
a) Thị trường trong nước cạnh tranh gay gắt 57
b) Chất lượng khai thác Bảo hiểm gốc không được cải thiện 58
2.4 Quy trình TBH tại PTI 60
2.4.1 Sự cần thiết của Quy trình 60
2.4.2 Nội dung Quy trình TBH 61
2.4.2.1 Quy trình nhượng TBH 61
2.4.2.2 Quy trình nhận TBH 67
2.5 Hoạt động kinh doanh Nghiệp vụ TBH Hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại PTI 70
2.5.1 Hoạt động nhượng tái: 70
2.5.2 Hoạt động nhận tái 73
2.6 Đánh giá chung về kết quả hoạt động kinh doanh TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại PTI 76
2.6.1 Hoạt động nhượng TBH 76
Trang 4a)Công tác thu xếp TBH cố định: 76
b) Công tác thu xếp TBH tạm thời 76
2.6.2.Hoạt động nhận tái 77
CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ TBH HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 80
3.1 Dự báo xu hướng của thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian tới 80
3.2 Triển vọng phát triển nghiệp vụ TBH hàng hoá xuât nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 81
3.3 Kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ TBH hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển phù hợp với tình hình thị trường 84
3.3.1 Về phía Nhà nước: 84
3.3.2 Về phía các Công ty Xuất nhập khẩu: 84
3.3.3 Với Hiệp hội Bảo hiểm 85
3.3.4 Về phía Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện 85
a) Hoàn thiện sản phẩm Bảo hiểm Hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 85
b) Lựa chọn phương pháp TBH hợp lý: 86
c) Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ phòng TBH 87
d) Nâng cấp hệ thống thông tin 88
e) Mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế 88
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ I.2.2: Cơ chế chuyển giao rủi ro bảo hiểm và TBH 16
Sơ đồ I.2.3: Hình thức và phương pháp TBH 24
Bảng I.2.3.4: Hoa hồng theo thang luỹ tiến 32
Bảng II.1.2: Cơ cấu doanh thu qua các năm 2007 – 2008 42
Bảng II.2.1: Tình hình xuất nhập khẩu giai đoạn 2004-2008 50
Bảng II.2.1: Tình hình doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển của các công ty năm 2007 52
Bảng II.2.3.1: Thu phí TBH của một số công ty trên thị trường năm 2008 .55
Bảng II.2.3.2: Tỷ lệ bồi thường của một số công ty trên thị trường năm 2008 55
Bảng II.3.1: Tình hình doanh thu bảo hiểm gốc tại PTI 58
Bảng II.3.2: Tình hình khai thác bảo hiểm hàng hóa XNK tại PTI (2005 -2008) 59
Sơ đồ II.4.2.1: Nhượng TBH tạm thời 61
Sơ đồ II,4.2.2: Nhượng TBH cố định 64
Sơ đồ II.4.2.2.1:nhận TBH 69
Bảng II.5.1: Tổng kết doanh thu phí nhượng tái nghiệp vụ TBH hàng hoá .71
Bảng II.5.2: Phân bổ tổn thất theo các hợp đồng nghiệp vụ nhượng TBH hàng hoá ở PTI từ năm 2004-2008 72
Bảng II.5.3: Tình hình tổn thất tính theo doanh thu phí tại công ty PTI 72 Bảng II.5.2.1: Thống kê doanh thu phí nhận tái 73
Bảng II.5.2.2: Phân bổ tổn thất theo các hợp đồng nghiệp vụ nhượng TBH hàng hoá ở PTI từ năm 2004-2008 74
Bảng II.5.5.3: Tỷ lệ tổn thất tính theo doanh thu phí nghiệp vụ nhận TBH hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển tại PTI 75
Trang 6Bảng II.6.2.1: Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu phí nhận TBH 77 Bảng II.6.2.2: Thống kê đơn vị tổn thất nghiệp vụ nhận và nhượng tái 78
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007, sau nhiều năm tham gia đàm phán,Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới WTO, mở ra giaiđoạn phát triển mới cho nền kinh tế nước nhà nói chung và ngành bảo hiểmnói riêng Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt này, cơ hội sẽ chiađều cho mọi thành viên chứ không phải là các công ty nước ngoài chiếm ưuthế.Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường bảo hiểm khi Việt Nam là thành viênchính thức của WTO chính là cơ hội để sàng lọc và chỉ những DN thực sự
“khoẻ” mới đủ sức để trụ vững và phát triển "
Sự hiện diện của nhiều công ty nước ngoài đã giúp thay đổi cáchthức quản lý cũng như tiếp cận thị trường của ngành bảo hiểm Thị trườngđược tái cấu trúc lại theo hướng tốt hơn về mặt pháp luật trở nên minh bạchhơn Điều đặc biệt là các công ty trong nước cũng bắt đầu niêm yết tại cácthị trường chứng khoán nước ngoài để khẳng định vị trí của mình
Đối với dịch vụ bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, tỷ trọng hànghoá xuất nhập khẩu mua bảo hiểm còn quá khiêm tốn so với tổng kim ngạchxuất nhập khẩu của Việt Nam Các cam kết về dịch vụ bảo hiểm của ViệtNam cũng chưa có tác động đáng kể đối với dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuấtnhập khẩu"
Việc trở thành thành viên của WTO không chỉ tạo ra những thayđổi to lớn đối với mỗi doanh nghiệp bảo hiểm, mà riêng đối với nghiệp vụbảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển, điều này cũng khiếnthị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam có những biến động nhất định
Song song với việc thực hiện các cam kết về thuế, chúng ta cũng triếnkhai một loạt các cam kết liên quan khác Về quyền kinh doanh xuất nhậpkhẩu: Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp nước ngoài được quyền xuất nhập
Trang 8khẩu hàng hóa như doanh nghiệp Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ các mặthàng thuộc danh mục "thương mại nhà nước"
Có thể khẳng định, sau 2 năm gia nhập WTO, mặc dù còn nhiều khókhăn trước mắt, nhưng nền kinh tế Việt nam đã vượt qua được những tháchthức, rút ra được những bài học bổ ích để từng bước phát triển bền vững Vớixuất phát điểm là một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, ở trình độthấp và có quy mô nhỏ so với kinh tế thế giới, các biến động phức tạp và khólường trước của nền kinh tế thế giới thời gian qua đã có tác động không nhỏtới nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, so với nhiều nước trong khu vực, chúng
ta vẫn đạt được những chỉ tiêu kinh tế đáng khích lệ Hoạt động xuất nhậpkhẩu vẫn tiếp tục khởi sắc, duy trì tăng trưởng cao, năm 2008 dự kiến xuấtkhẩu xấp xỉ 63 tỉ USD, tăng trên 29,5% so với 2007, nhập khẩu ước đạt 79,9
tỉ USD, tăng 27,5% so với 2007 10 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có kimngạch trên 1 tỉ USD như: Dệt may, cà phê, cao su, thủy sản, dầu thô, giầy dép,điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí, tiếp tụcđược giữ vững; đồng thời mặt hàng dây điện và cáp điện cũng có khả năng trởthành thành viên của “câu lạc bộ 1 tỉ USD” này
Môi trường kinh doanh được cải thiện một cách rõ rệt, minh bạch hơnnhờ thực thi các cam kết về minh bạch hóa chính sách, không phân biệt đối
xử, giảm bớt rào cản trong tiếp cận thị trường và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.Nhận thức của người dân và các doanh nghiệp về việc tham gia WTO đã có
sự chuyển biến tích cực
Việt Nam trở thành nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào một sốngành như điện tử, tin học, dệt may, luyện và cán thép, ngân hàng, tài chínhbảo hiểm, bất động sản Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chínhtiền tệ toàn cầu năm 2008, nhưng GDP vẫn đạt mức tăng trưởng khoảng
Trang 96,5%, tuy có giảm hơn so với năm 2007, thu hút đầu tư nước ngoài tăng rấtmạnh trong năm 2007, năm 2008, số vốn đăng kí đạt gần 64 tỉ USD.
Tất cả những thay đổi trên đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp bảo hiểm
Là một công ty dù đã được thành lập hơn 10 năm, nhưng so với cáccông ty lâu năm trên thị trưởng như Bảo Việt, PJICO…và các công ty nướcngoài, khả năng tài chính của Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện hết sứcquan tâm và đã thực hiện nghiệp vụ TBH để đảm bảo ổn định kinh doanh.Trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều vần đề cần nghiên cứu và làm rõ đểgiải quyết vướng mắc ở các khâu nghiệp vụ
Với vốn kiến thức còn hạn chế của một sinh viên sắp ra trường và niềmyêu thích với nghiệp vụ TBH, trong thời gian thực tập ở Công ty cổ phần Bảohiểm Bưu điện, em xin mạnh dạn đề xuất đề tài:
“Phát triển nghiệp vụ TBH hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)”.
Chuyên đề được chia thành ba chương:
CHƯƠNG I: Lý luận chung về nghiệp vụ TBH hàng hóa xuât nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
CHƯƠNG II: Hoạt động kinh doanh nghiệp vụ TBH Bảo hiểm Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện trong giai đoạn 2004-2008.
CHƯƠNG III Một số kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ TBH hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
Trang 10Mặc dù hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn bài viết không thể tránh khỏinhững thiếu sót nhất định Kính mong sự đóng góp ý kiến, nhận xét của thầy
cô giáo, các cán bộ và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Ths BùiQuỳnh Anh và ban lãnh đạo và tập thể các cán bộ công ty PTI, đặc biệt là cáccán bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ phòng TBH đã giúp đỡ em hoàn thànhbài viết này
Trang 11CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ TBH HÀNG HÓA XUÂT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG
bị chìm do quá tải, hoặc bị mọt ăn thủng Những người tham gia đầu tư vàonhững chuyến như kể trên cảm thấy cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi rotránh tình trạng một số nhà đầu tư mất trắng toàn bộ chuyến hàng do một hiệntượng khá phổ biến: tàu bị mất tích Có 2 hình thức hay được sử dụng là:
Cách thứ nhất là Hình thức cổ phần, theo đó các chủ hàng tập
hợp lại, cùng sở hữu cổ phần của chuyến hàng Khi tổn thất xảy ra tất cả cùngphải gánh chịu
Cách thứ hai là Bảo hiểm, một hệ thống theo đó chủ tàu hay chủ hàng
(có thể là một cá nhân hay một công ty) trả một số tiền mặt cho công ty bảohiểm nếu họ thoả thuận sẽ bồi thường khi con tàu đã nêu trên không hoàn
Trang 12thành một chuyến đi cụ thể nào đó Những công ty bảo hiểm này đã tạo lậpmột quỹ chung dùng để thanh toán cho người được bảo hiểm khi xảy ra tổnthất.
Có thể nói, bảo hiểm hàng hải là loại hình bảo hiểm lâu đời nhất Mộttrong những đơn bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà người ta tìm thấy là đơn bảohiểm cấp vào năm 1347 tại Genoa (Italia) cho tàu Santaclara đi đến quần đảoMagioca thuộc Tây Ban Nha Người ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời bắtđầu từ những người cho vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia Những ngườinày thường cho chủ tàu vay nợ với điều kiện là nếu tàu đi trót lọt thì chủ tàuphải trả một khoản lãi rất nặng Ngược lại, nếu tàu bị đắm, mất hết thì đượcxoá nợ Lối cho vay này gọi là vay “được ăn cả ngã về không” hay cho vaykiêm bảo hiểm
Bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm những rủi ro trên biển hoặc những rủi
ro trên bộ, trên sông liên quan đến hành trình đường biển, gây tổn thất cho các đối tượng bảo hiểm chuyên chở trên biển.
Bảo hiểm sau đó phát triển sang Anh Nước Anh là nước có nền ngoạithương phát triển nên bảo hiểm cũng phát triển sớm và đầy đủ hơn Ngay từthế kỷ 17 Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloyd’s SG Form) vẫnđược áp dụng cho đến ngày nay Ở Mỹ công ty bảo hiểm hàng hải đầutiên là the Insurance Company of North American, được thành lập vào năm
1792, bảo hiểm cho các tàu (clipper) và hàng hoá chuyên chở của Mỹ
Theo thời gian, bảo hiểm hàng hải phát triển thành một hỗn hợp cácđơn bảo hiểm tài sản mở rộng đối với các rủi ro trên đất liền (bảo hiểm hàngnội địa) và rủi ro trên biển (bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển)
Bảo hiểm hàng hải được chia thành 3 loại chính là:
Bảo hiểm thân tàu: Bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm những thiệt hạivật chất xảy ra đốí với vỏ tàu, máy móc và các thiết bị trên tàu đồng thời bảo
Trang 13hiểm cước phí, các chi phí hoạt động của tàu và một phần trách nhiệm mà chủtàu phải chịu trong trường hợp hai tàu đâm va nhau.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu: là bảo hiểm những thiệt hạiphát sinh từ trách nhiệm của chủ tàu trong quá trình sở hữu, kinh doanh khaithác tàu biển gây ra đối với hàng hoá họ chịu trách nhiệm trông coi; tử vonghay bị thương của hành khách, thuỷ thủ và người bốc dỡ; thiệt hại đối với đêchắn sóng, cầu, cảng, cáp ngầm dưới biển; và gần đây nhất là cả những tổnthất gây ra do ô nhiễm
Bảo hiểm hàng hoá: được các chủ hàng sử dụng khi vận chuyển hàngtheo đường biển hoặc đường hàng không trong thương mại quốc tế
1.1.2 Sự cần thiết khách quan
Vận chuyển bằng đường biển là phương thức vận chuyển lâu đời nhấtcủa loài người Mặc dù vai trò lịch sử của vận chuyển hàng hoá bằng đườngbiển ở một mức độ nào đó đã suy giảm do sự ra đời của các phương tiện vậnchuyển hữu hiệu khác như ôtô hay máy bay, nhưng nó vẫn đóng vai trò hếtsức quan trọng do có những ưu thế vượt trội như:
Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hoá như các loại hànghoá siêu trường, siêu trọng (nguyên liệu thô: than đá, dầu, … hoặc cácphương tiện vận tải, máy móc…) với khối lượng lớn, mà các phương tiện vậntải khác như: đường bộ, đường hàng không… không thể đảm nhận được
Các tuyến vận chuyển đường biển rộng lớn nên trên một tuyến có thể tổchức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều
Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa trên cơ sở lợi dụngđiều kiện thiên nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn, nguyên,vật liệu, sức lao động Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giáthành vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác
Trang 14 Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh tếvới các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước; góp phầntăng thu ngoại tệ…
Tuy nhiên, vận chuyển đường biển cũng có một số nhược điểm cố hữusau:
Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều yếu tố rủi ro Các rủi ro này
có thể do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kỹ thuật hay yếu tố xã hội, con người
Do yếu tố tự nhiên: Vận chuyển bằng đường biển phụ thuộc rất nhiều
vào điều kiện tự nhiên Thời tiết, khí hậu trên biển đều ảnh hưởng trực tiếpđến quá trình vận chuyển bằng đường biển Nhửng rủi ro do thiên tai bất ngờnhư bão, sóng thần, lốc… có thể xảy ra bất cứ lúc nào Yếu tố tự nhiên diễn rakhông theo một quy luật nhất định nào Vì vậy, mặc dù khoa học kỹ thuậtngày càng phát triển và có thể dự báo thời tiết, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra
Do yếu tố kỹ thuật: Trong hoạt động của mình, con người ngày càng
sử dụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại Nhưng dùmáy móc hiện đại chính xác đến đâu cũng không tránh khỏi trục trặc về kỹthuật, đó là trục trặc của chính con tàu, kỹ thuật dự báo thời tiết, các tín hiệuđiều khiển từ đất liền… từ đó gây ra đổ vỡ, mất mát hàng hoá trong quá trìnhXNK
Do yếu tố xã hội, con người: Hàng hoá có thể bị mất trộm, mất cắp, bị
cướp, hoặc bị thiệt hại do chiến tranh…
Tốc độ của tàu biển còn chậm, hành trình trên biển có thời gian dài, nênxác suất rủi ro tai nạn trên biển càng cao nhưng việc ứng cứu rủi ro, tai nạn rấtkhó khăn
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thường có giá trịrất lớn bao gồm giá trị tàu và hàng hoá chở trên tàu Vì vậy, nếu rủi ro xảy ra
sẽ gây tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người
Trang 15 Trong quá trình vận chuyển, hàng hoá được chủ phương tiện chịu tráchnhiệm chính Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi vàmức độ tuỳ theo điều kiện giao hàng và vận chuyển Từ năm 1921, Dự thảoluật có tên Hague đã được soạn thảo nhằm điều chỉnh các hoạt động vậnchuyển trên biển Bộ luật này chính thức được áp dụng vào năm 1924 sau khiđược nhiều nước thông qua tại Hội nghị Brussel (Bỉ) cũng trong năm này.Năm 1968, Uỷ ban Hàng hải Quốc tế đã sửa đổi Bộ luật này và lấy tên mới làHague -Visby Theo đó, trách nhiệm của người vận chuyển đối với tổn thấtchỉ giới hạn ở mức 666.7 SDR một đơn vị hàng hoá, tương đương 2 SDR mộtkilogram hàng hoá bị mất hoặc hư hỏng, mặc dù họ được miễn trách nhiệmtrong trường hợp hiểm hoạ tự nhiên, trộm cắp.
Trong thực tế, đòi bồi thường từ các công ty vận chuyển rất phứctạp và tốn chi phí Trong hầu hết các trường hợp, các các công ty này đều đến
từ nước ngoài, thậm chí từ châu lục khác, do vậy, tư vấn về luật hàng hải từcác chuyên gia là điều cần thiết
Tất cả những phân tích nêu trên cho thấy, bảo hiểm là rất cầnthiết cho vận chuyển hàng hoá bằng đường biển
1.1.3 Đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển
a) Quá trình xuất nhập khẩu (XNK) hàng hoá có nhiều bên liên quan,được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
Hợp đồng mua bán: giữa người mua và người bán trong đó thể hiện sựchuyển giao quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua
Hợp đồng vận chuyển
Hợp đồng bảo hiểm
Hai loại hợp đồng sau cùng tuỳ theo điều kiện giao hàng được ápdụng là FOB hay CIF mà xác định các bên liên quan Nếu sử dụng điều kiện
Trang 16FOB, dịch vụ vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá do người mua đảmnhận với người vận chuyển và công ty bảo hiểm Còn trong điều kiện CIF,các dịch vụ này sẽ do người bán đảm nhận.
b) Hàng hoá XNK thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, chịu
sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch… theo quy định của từng nước và phảiđược mua bảo hiểm theo tập quán thương mại quốc tế
c) Hàng hoá XNK thường được vận chuyển bằng nhiều loại phương tiệnkhác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện
1.2 TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
1.2.1 Khái niệm chung về TBH
Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế Đặc trưng của nó là việc thànhlập mang tính chất tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận dụng cácquy luật thống kê và nguyên tắc cân đối cũng như việc phân phối mang tínhchất riêng rẽ quỹ đó để đáp ứng những nhu cầu có thể dự đoán được trongtương lai phát sinh ra từ những sự cố bất ngờ gây thiệt hại hay xảy ra
Như vậy khái niệm bảo hiểm chứa đựng hai yếu tố cơ bảnsau:
Tính tập thể của việc thành lập quỹ dự trữ, có nghĩa là mỗi thành viêntham gia bảo hiểm đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định (Phí bảohiểm) Phí này được tính dựa trên quy luật thống kê (bao gồm thống kê tổnthất và mức độ trung bình của các tổn thất, thống kê các đơn vị rủi ro) vànguyên tắc cân đối (có nghĩa là tổng số phí thu được phải bằng tổng số tiềnchi trả bồi thường)
Tính riêng rẽ của việc phân phối quỹ dự trữ, có nghĩa là chỉ phân phốiquỹ cho những thành viên khi có rủi ro bất ngờ gây thiệt hại thuộc phạm vibảo hiểm xảy ra Những rủi ro bất ngờ này về tổng thể phải dự đoán được vàhay xảy ra
Trang 17Trên đây cũng là những yếu tố cơ bản cần phải chú ý khi tiếnhành việc lập, quản lý và phân phối quỹ tiền tệ thông qua hình thức bảo hiểm.Dựa theo các rủi ro được bảo hiểm, các ngành kinh tế khác nhau và các quátrình tiến hành bảo hiểm được chia thành nhiều loại và được tổ chức thànhmột hệ thống độc lập của nền kinh tế quốc dân (ở nhiều nước nó còn được gọi
là ngành kinh tế bảo hiểm) Một trong những loại hình đó là TBH (TBH)
Thay mặt công ty bảo hiểm, khai thác viên bảo hiểm phải bảo vệquỹ chung tránh nguy cơ có hại và đảm bảo rằng sẽ thu được lợi nhuận hợp lýbằng việc chấp nhận rủi ro Khi đã chấp nhận rủi ro, công ty bảo hiểm thực sự
ở vị trí của người được bảo hiểm với hàng loạt những điều không chắc chắn
có liên quan đến rủi ro Liệu sẽ có tổn thất hay không? Nếu cố tổn thất, họcũng không thể dự đoán một cách chính xác giá trị Công ty bảo hiểm có đượcmột sự bảo vệ vì công ty đã nhận một số lượng lớn các rủi ro tương tự và biếtrằng không phải rủi ro nào cũng dẫn đến khiếu nại Tuy nhiên ngay cả đối vớicông ty bảo hiểm cũng không loại trừ khả năng các tổn thấ xảy ra nhiều hơn
so với dự kiến hoặc số lượng tổn thất lớn hơn dự định Họ phải thu phí vàođầu năm bảo hiểm, không lường trước được sự việc xảy ra sau khi đã thu phí,
và phải chịu mức phí như vậy bất luận hậu quả thực ra sao Như vậy, muaTBH không chỉ giúp công ty bảo hiểm giảm bớt lo âu về sự không chắc chắncủa tổn thất; tránh sự biến động trong các khoản chi bồi thường, đặc biệt khixảy ra thảm hoạ lớn làm ảnh hưởng đến khả năng tài chính; tăng năng lực củacông ty bảo hiểm để chấp nhận dịch vụ; mà trong một mức độ nào đó, muaTBH giúp các công ty bảo hiểm dàn trải chi phí rủi ro trong toàn thị trườngbảo hiểm thế giới Rất nhiều các công ty bảo hiểm hàng đầu các nước như:Đức, Thuỵ Sĩ, Scandinavia, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Anh Bằng việc TBH chocác công ty này và một số công ty khác, rủi ro sẽ không chỉ tác động vào mộtnền kinh tế
Trang 18Theo tài liệu Đào tạo nghiệp vụ của VinaRe, TBH là một hìnhthức bảo hiểm lại những rủi ro đã được bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm(công ty bảo hiểm gốc) tại một hay nhiều công ty bảo hiểm khác nhau (công
ty TBH) Nói cách khác, TBH là bảo hiểm cho người bảo hiểm
Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 năm 2000 củaQuốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, TBH là hoạt động củadoanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảohiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để camkết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm
Tổng kết nhiều định nghĩa từng được sử dụng, trường Đại học Kinh tếquốc dân đã đưa ra định nghĩa như sau: TBH là sự chuyển giao lẫn nhau giữacác nhà bảo hiểm và nhà bảo hiểm với các nhà TBH Sự chuyển giao này cóthể là trực tiếp hoặc gián tiếp qua các nhà môi giới bảo hiểm
Đối với các nước có nền kinh tế tập trung như Việt Nam, TBH làmột lĩnh vực đặc biệt của hệ thống bảo hiểm nhà nước và đồng thời cũng làmột bộ phận của ngành kinh tế đối ngoại, mà chủ yếu là các quan hệ tài chínhđối ngoại Cũng như đối với các loại hình bảo hiểm khác, việc tiến hànhnghiệp vụ TBH đòi hỏi phải có các điều kiện sau:
Số lượng rủi ro phải đủ lớn để quy luật số đông phát huy được tác dụngqua đó, yếu tố ngẫu nhiên được loại trừ
Mức độ tổn thất có thể xảy ra từ các rủi ro được bảo hiểm không đượcphép chênh lệch quá lớn, cũng như không được phép có nhiều tổn thất quálớn xảy ra trong số hợp đồng bảo hiểm (Tình trạng này dẫn đến sự khôngđồng nhất trong hợp đồng bảo hiểm)
Khả năng thường xuyên xảy ra tổn thất (Nếu không có điều kiện này thìkhông phát sinh nhu cầu bảo hiểm)
Trang 19Nhiệm vụ chủ yếu của TBH là phân chia các rủi ro đã được bảohiểm của các công ty bảo hiểm gốc cho một tập thể những công ty TBH vàthông quá đó sẽ tận dụng được một cách tối ưu các quy luật thống kê Vớinhiệm vụ trên, TBH ổn định kinh doanh cho các công ty bảo hiểm gốc và tạođiều kiện cho các công ty này có thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro vượtquá khả năng tài chính của mình Ví dụ sau đây sẽ minh họa cho điều đó:
Một công ty bảo hiểm A chỉ có khả năng thanh toán tiền bồithường tối đa là $1 triệu, muốn bảo hiểm cho một chiêc tàu chở một khốilượng hàng hóa lớn trị giá $10 triệu Nếu giả sử không có TBH thì công ty Akhông thể ký hợp đồng bảo hiểm với chủ tàu đó được, vì khi không may cótổn thất toàn bộ xảy ra thì công ty A sẽ bị phá sản Nhưng do có hình thứcTBH nên công ty bảo hiểm A vẫn ký được hợp đồng bảo hiểm với chủ tàubảo hiểm cho con tàu trị giá $10 triệu đó Sau khi ký hợp đồng, công ty bảohiểm A dùng phương pháp TBH phân tán bớt mức trách nhiệm mà mình phảigánh chịu Trong trường hợp này, công ty bảo hiểm A chỉ giữ lại 10%, còn90% của $10 triệu công ty bảo hiểm A chuyển cho các công ty TBH khác, ví
dụ như 50% cho công ty TBH B và 40% cho công ty TBH C
Ở đây cần phải phân biệt sự khác nhau của TBH và Đồng bảohiểm Mặc dù có điểm giống nhau giữa TBH và đồng bảo hiểm là cùng cónhiều công ty bảo hiểm tham gia bảo hiểm cho cùng một đơn vị rủi ro, nhưnggiữa chúng có nhiều điểm khác nhau Đó là:
Ký hợp đồng: - Trong TBH: Công ty bảo hiểm gốc đứng ra ký hợp đồng
bảo hiểm với người tham gia và sau đó phân chia tráchnhiệm cho các công ty TBH theo sự thỏa thuận giữa họ
và các công ty TBH
- Trong đồng bảo hiểm: Việc ký hợp đồng do nhiều công
ty bảo hiểm tiến hành, mỗi một công ty tham gia đồng
Trang 20bảo hiểm đều phải ký tên vào giấy chứng nhận bảohiểm.
Trả tiền bồi thường: - Trong TBH: Khi tổn thất xảy ra, trước hết công ty
bảo hiểm gốc phải đứng ra bồi thường cho ngườiđược bảo hiểm, sau đó mới đòi lại công ty TBH
Ở đây người được không có quan hệ trực tiếp vớicông ty TBH
- Trong đồng bảo hiểm: Khi tổn thất xảy ra cáccông ty tham gia đồng bảo hiểm có trách nhiệmtrả tiền bồi thường trực tiếp cho người được bảohiểm theo tỷ lệ mà mình tham gia
Tùy theo góc độ quan sát của công ty bảo hiểm gốc haycông ty TBH mà người ta phân chia TBH ra thành 2 phần riêng biệt Đó làchuyển TBH và nhận TBH:
a) Chuyển TBH hay còn gọi là TBH đi: có nghĩa là một công ty bảo hiểmgốc phân tán rủi ro cho các công ty TBH Trong trường hợp này, công
ty bảo hiểm gốc phải chuyển phí cho các công ty TBH và nhận được từ
họ yếu tố đảm bảo và ổn định kinh doanh của mình
b) Nhận TBH hay còn gọi là TBH nhận: là một công ty TBH nhận mộtphần rủi ro đã được bảo hiểm từ một công ty bảo hiểm gốc khác Trongtrường hợp này, công ty TBH được hưởng số phí từ công ty bảo hiểmgốc nhằm mục đích kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm
Theo ví dụ đã nêu thì quá trình phân tán rủi ro của công ty bảohiểm A cho các công ty TBH B và C được gọi là TBH đi, nếu đứng ở góc độcủa công ty bảo hiểm A; nhưng được gọi là TBH nhận, nếu đứng ở góc độcủa các công ty bảo hiểm B và C
Trang 21Ngoài ra, TBH còn bao gồm cả hình thức TBH tiếp hay còn gọi
là chuyển nhượng TBH, có nghĩa là một công ty TBH phân chia tiếp phầntrách nhiệm của minh đã nhận từ một công ty bảo hiểm gốc cho các công tyTBH khác
1.2.2 Vai trò của TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
a) Đối với công ty nhượng TBH
Nói chung, TBH không làm thay đổi bản chất vốn có củaphạm vi bảo hiểm Trong dài hạn, nó không thể khiến công việc kinh doanhxấu trở thành tốt, nhưng nó thực sự cung cấp những sự trợ giúp đắc lực chonhà nhượng tái
Nhận bảo hiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng giữ lại – bảo hiểmhàng không, bảo hiểm dầu khí…Sau khi thu xếp TBH, công ty nhượng có thểnhận những hợp đồng có giới hạn bảo hiểm lớn hơn những vẫn duy trì đượcnhững độ rủi ro trong phạm vi quản lý được Bằng cách tái đi một phần củamọi hợp đồng hoặc chỉ tái đi những hợp đồng lớn, mức tổn thất giữ lại ròngtính theo từng đơn bảo hiểm hay toàn bộ số đơn có thể được tính toán phùhợp với thặng dư vốn của công ty bảo hiểm
Trang 22Sơ đồ I.2.2: Cơ chế chuyển giao rủi ro bảo hiểm và TBH
Tạo ra sự ổn định trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Theo thờigian, TBH giúp ổn định kết quả tài chính và hoạt động khai thác của công tynhượng TBH Đồng thời bảo vệ nguồn vốn thặng dư trước các cú sốc gây ra
do các tổn thất lớn không được dự đoán trước TBH cũng được thu xếp nhằmgiữ lại các các tổn thất nhỏ, dễ dự đoán và chia sẻ những tổn thất lớn, bất ngờcho các công ty bảo hiểm và TBH trên toàn thị trường Ngoài ra, TBH còngiúp bảo vệ công ty khỏi các rủi ro tích tụ lớn hơn dự đoán cũng từ một haynhiều thảm hoạ Nhờ vậy, hiệu quả khai thác và hiệu quả tài chính của các tổnthất lớn hoặc của số lớn các tổn thất có thể được phân bổ qua nhiều năm Điềunày làm giảm khả năng kết quả tài chính của công ty bảo hiểm gốc bị ảnhhưởng
Tăng cường khả năng tài chính: Khả năng tài chính của công ty Bảohiểm trước trách nhiệm bảo hiểm công ty đảm nhận được đánh giá qua khảnăng chi trả bồi thường
Trong quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các quốc gia đều kiểmsoát khả năng chi trả bồi thường của các công ty bảo hiểm thông qua quy định
TBH Bảo hiểm
Giữ lại
$2 tr.
Chuyển nhượng
Chấp nhận USD 48 tr.
Một phần rủi ro chuyển cho
Rủi ro chuyển cho
Người được
bảo hiểm
Công ty TBH
Công ty bảo hiểm
RỦI RO
$ 50 tr.
Trang 23biên khả năng thành toán không được phép thấp hơn một tỷ lệ nào đó Tỷ lệnày gọi là “Biên khả năng thanh toán tối thiểu”.
Tiếp cận kinh nghiệm và dịch vụ của các công ty TBH, đặc biệt tronglĩnh vực phát triển, định giá và khai thác sản phẩm cũng như trong việc quản
lý tổn thất Rất nhiều nhà TBH chuyên nghiệp có những hiểu biết sâu rộng vàkhả năng cung cấp các dịch vụ tài chính cho các công ty nhượng Những dịch
vụ này bao gồm các trợ giúp và tư vấn về khai thác, tiếp thị, định giá, ngănngừa tổn thất, giải quyết tổn thất, dự phòng, định phí, đầu tư và các vấn đềkhác về nhân sự Để bảo vệ lợi ích của chính họ, các công ty nhận tái buộcphải xem xét một cách rất thận trọng các hoạt động kinh doanh của công tynhượng tái, từ đó đưa ra những tư vấn nhất định nào đó Thông thường, công
ty nhận tái có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc đánh giá các hợp đồng cómức trách nhiệm lớn và giải quyết các tổn thất lớn hoặc ít gặp Ngoài ra, nhờ
có quan hệ với số lượng lớn các công ty nhượng tái tương đối đồng đều, công
ty nhận tái có khả năng đưa ra cái nhìn tổng thể về một số các vấn đề tổngquát cũng như các xu hướng chung trên thị trường Ngoài các công ty nhận táithì các trung gian TBH cũng cung cấp những dịch vụ tương tự cho kháchhàng của mình
b) Đối với công ty nhận TBH
Thông qua các nghiệp vụ TBH, công ty nhận thiết lập mối quan hệvững chắc với các bạn hàng nhằm tăng doanh thu, đặc biệt là doanh thu vềngoại tệ Đồng thời, xét trong mối quan hệ tổng thể với bảo hiểm gốc thì TBHthực chất là sự phân tán rủi ro đối với các công ty nhận TBH
c) Đối với xã hội
Đảm bảo tính ổn định và sự chắc chắn cho quá trình kinh doanh và sản
xuất của các đơn vị kinh tế Đảm bảo kinh doanh cho công ty bảo hiểm có
Trang 24nghĩa là đảm bảo được sự kinh doanh và sản xuất của các đơn vị kinh tế, từ đótạo điều kiện tốt cho họ phát triển kinh doanh
Đảm bảo tính ổn định của ngân sách ngoại tệ nhà nước Đối với nghiệp
vụ TBH nhận, công ty bảo hiểm xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm nhằm ổn địnhkinh doanh cho các công ty bảo hiểm khác Vì vậy chức năng của TBH nhậngiống với chức năng của bảo hiểm đối ngoại là kinh doanh dịch vụ bảo hiểmnhằm tăng thu ngoại tệ
Tăng thu nhập quốc dân Nhờ có TBH, hoạt động sản xuất kinh doanhđược mở rộng, tạo việc làm, từ đó, nâng cao đời sống của nhân dân
1.2.3 Hợp đồng TBH
1.2.3.1 Định nghĩa:
Hợp đồng TBH là một thoả ước được ký kết giữa công ty nhận và nhượngTBH, quy định rõ ràng trách nhiệm của từng bên, trên cơ sở cân nhắc các điềukiện, điều khoản mà công ty nhượng đưa ra dựa trên cơ sở luật pháp chung vàđặc thù của từng công ty, cũng như tình hình tổn thất và kết quả kinh doanhnghiệp vụ của công ty nhượng Sau khi hợp đồng được ký kết, mỗi bên vẫnphải tiếp tục theo dõi tình hình chi trả phí cũng như thực hiện thanh toán khi
có tổn thất xảy ra
Theo Quyết định số 100/QĐ – BTC ban hành ngày 28/12/2005 của Bộtrưởng Bộ Tài chính, Hợp đồng TBH là Hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệpnhận TBH phát hành để bồi thường cho doanh nghiệp nhượng tái đối vớinhững tổn thất của một hay nhiều Hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệpnhượng tái phát hành
Theo định nghĩa trên, hợp đồng TBH có ba đặc điểm là:
Nhà TBH cam kết bồi thường cho công ty nhượng mà bản thân công tynhượng là một thành viên của hợp đồng bảo hiểm
Trang 25 TBH có thể cung cấp một sự bồi thường toàn bộ hoặc chỉ một phần đốivới những trách nhiệm mà công ty nhượng có thể phải gánh chịu theo hợpđồng bảo hiểm
Hợp đồng TBH là một hợp đồng riêng biệt giữa nhà TBH và công tynhượng mà trong đó Người được bảo hiểm không phải là một bên tham giacủa hợp đồng
1.2.3.2 Phân loại
Hợp đồng TBH tuỳ ý lựa chọn
Đây là một hình thức TBH cơ bản và cổ điển nhất Danh từ “Tuỳ
ý lựa chọn” có liên quan đến ý niệm là trong loại TBH này, công ty nhượng
có toàn quyền lựa chọn rủi ro cần phải TBH và ngược lại, nhà TBH có quyềnnhận hay từ chối rủi ro đó Mỗi dịch vụ đem nhượng theo cơ sở tuỳ ý lựachọn là một hợp đồng TBH tách biệt bao gồm toàn bộ hay một phần rủi ro màcông ty nhượng muốn nhượng cho thị trường TBH
Vào thời điểm khi kết thúc một thoả thuận thương mại nào đó thìcác bên tham gia vào thoả thuận đó thường quan tâm đến việc quy định thậtchính xác các chi tiết cần thiết của thoả thuận lần tới, các mục đích, nghĩa vụcủa các bên đối với nhau và đặt ra các điều kiện cần thiết để ràng buộc nhữngnghĩa vụ và quyền lợi ấy và như vậy, chỉ có hình thức TBH tuỳ ý lựa chọn làphù hợp nhất, vì nó có thể cho phép nhà TBH có được một ý niệm đúng vềnhững rủi ro mà mình phải gánh chịu trước khi tham gia hợp đồng
Thủ tục tiến hành:
Trước hết công ty nhượng thông báo TBH một dịch vụ dưới hìnhthức một phiếu đề nghị trong đó có ghi các đặc điểm chính của rủi ro đượcTBH như: Tên và địa chỉ của người được bảo hiểm, Tính chất của rủi ro đượcbảo hiểm, Ngày bắt đầu và chấm dứt thời gian bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm,phí bảo hểm, phần giữ lại của công ty nhượng, Tỷ lệ thủ tục phí TBH…
Trang 26Sau khi nhận phiếu đề nghị, nhà tái bảo hiểm có thể yêu cầuthêm những chi tiết khác để đánh giá rủi ro mà mình sẽ nhận để có ý kiếnnhận toàn bộ hay một phần nào đó hay bằng một số tiền cố định hoặc khước
từ Để đảm bảo tính thời gian, việc xác nhận có thể thực hiện qua điện thoạihay email, nhưng sau đó vẫn phải xác nhận bằng văn bản để đảm bảo tínhpháp lý của hợp đồng.Tại thời điểm hợp đồng gốc hết hiệu lực, dịch vụ TBHnày cũng tự động chấm dứt Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm gốc đượctái tục thì nhà tái bảo hiểm có quyền tiếp tục nhận hay từ chối không thamgia nữa Mặt khác, bất kỳ thay đổi về nội dung, điều kiện hay giá phí so vớithoả thuận ban đầu, đều phải được thông báo và chấp nhận của nhà TBH
Ưu điểm:
Giúp công ty nhượng, nhất là các công ty bảo hiểm của các quốc giađang phát triển còn non trẻ và ít kinh nghiệm hoàn thành việc nhận bảo hiểmcho những đơn vị rủi ro ở địa phương mà có giá trị bảo hiểm lớn, vượt khảnăng tài chính thông thường của mình bằng việc sử dụng chuyên môn và khảnăng của thị trường bảo hiểm quốc tế
Giúp công ty nhượng có điều kiện lựa chọn để duy trì kim ngạch bảohiểm của mình được cân đối, tức là giúp cho công ty nhượng có thể loại bỏđược những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà một khi tổn thất thuộc đơn
vị rủi ro này xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của mìnhtrong năm kế hoạch ở một nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt
Giúp công ty nhượng chủ động trong việc chấp nhận những rủi ro màkhông được chấp nhận trong các hợp đồng TBH bắt buộc truyền thống củamình như: rủi ro về động đất, ngập lụt, đình công, chiến tranh hoặc những rủi
ro tương tự khác…
Tạo điều kiện cho công ty nhượng có thể nhờ vào hình thức TBH tuỳ ýlựa chọn trước khi tận dụng khả năng các hợp đồng TBH bắt buộc của họ, tức
Trang 27là có điều kiện để cải thiện sự thăng bằng của các hình thức TBH bắt buộc,cải thiện vận may rủi trong việc đạt được những lợi ích tối đa theo các điềukiện quy định trong các hợp đồng TBH đó của họ (ví dụ: điều kiện về chia lãi,thủ tục phí TBH tính theo thang luỹ tiến, thủ tục phí TBH theo lãi…).
Nhược điểm:
Công ty nhượng phải thông báo đầy đủ chi tiết của nghiệp vụ bảo hiểmgốc; có nghĩa là khi áp dụng hình thức này nhiều lần thì nhà TBH thườngxuyên tiếp xúc và biết được ý đồ của công ty nhượng dẫn đến có thể lộ nhữngthông tin có lợi cho sự cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm gốc
Không đảm bảo thời gian tính trong việc phân tán rủi ro TBH, tức làcông ty nhượng khi nhận bảo hiểm cho một rủi ro nào đó thường không có sựđảm bảo chắc chắn của thị trường TBH, dẫn đến mất cơ hội khai thác hoặcmất uy tín do chậm trễ trả lời người được bảo hiểm
Chi phí hành chính, thủ tục giấy tờ tốn kém làm giảm thu nhập kinhdoanh
Thường xuyên phải đàm phán tái tục hợp đồng TBH trước khi ký kếtbảo hiểm gốc với khách hàng
Trong trường hợp khi khả năng tiêế nhận rủi ro của thị trường TBHquốc tế đã gần tới mức tối đa, hoặc khi phí bảo hiểm gốc quá thấp so với phítrung bình của thị trường thì hình thức này chỉ có thể thực hiện được với mứcphí cao hơn phí bảo hiểm gốc hoặc giảm bớt thủ tục phí TBH Trong trườnghợp này, mức sai biệt sẽ do công ty nhượng gánh chịu hoặc giảm bớt tráchnhiệm cam kết trong bảo hiểm gốc
Hợp đồng TBH cố định
Đây là sự thoả thuận giữa công ty nhượng và nhà TBH mà trong
đó công ty nhượng tự bắt buộc phải nhượng đi tất cả các đơn vị rủi ro bảohiểm gốc mà hai bên đã quy định trước trong hợp đồng cho tới một hạn mức
Trang 28trách nhiệm ngang với số tiền hạn mức tối đa đã được thoả thuận từ trước.Ngược lại, nhà TBH cũng tự bắt buộc phải chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi
ro đó
Thủ tục tiến hành
Theo hình thức này, công ty nhượng và các nhà TBH đầu năm nghiệp vụ phải thoả thuận trước về đơn vị rủi ro, các nghiệp vụ cần tái, đặc biệtthoả thuận hạn mức trách nhiệm của các bên
Ký kết Hợp đồng TBH và liên tục theo dõi quá trình thực hiệnHợp đồng Nếu có vấn đề vướng mắc hoặc không rõ hoặc bổ sung thêmnhững vấn đề cần thiét để thực hiện Hợp đòng thì các bên lại phải tiến hànhthoả thuận lại
Ưu điểm:
Công ty nhượng chủ động hơn trong khai thác bảo hiểm gốc, tức là cótoàn quyền chấp nhận và định giá phí bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro màngười đượ bảo hiểm yêu cầu mà không phải tham khảo ý kiến của nhà TBH
Nhà TBH sẽ hoàn toàn chia sẻ những may rủi với công ty nhượng vàchấp nhận thanh toán cho tổn thất thuộc phạm vi hợp đồng đã thoả thuận NhàTBH cũng sẽ không bị ràng buộc bởi những hành động sơ xuất của công tynhượng đi ngược lại với quyền lợi của họ
Với loại hợp đồng này, nhà TBH có điều kiện thu được số phí lớn nhất,phù hợp với nguyên tắc “Quy luật số đông” giúp cho nhà TBH thực hiện tốtvai trò kinh tế quốc dân của họ về đẩy mạnh những tiến bộ kỹ thuật của ngànhbảo hiểm bằng việc chấp nhận những rủi ro mới và các dạng bảo hiểm mới
Nhược điểm:
Nếu công ty nhượng chủ quan trong quá trình đánh giá, quản lý rủi rohoạt động bh gốc sẽ ảnh hưởng lớn đến việc xác định phí bh thì về lâu dàicũng sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ với các nhà TBH
Trang 29 Công ty nhượng buộc phải tái đi những nghiệp vụ đã thoả thuận tronghợp đồng, ngay cả nếu đó là nghiệp vụ công ty có lợi thế nhất định, có thể giữlại nhiều hơn.
Hợp đồng TBH lựa chọn bắt buộc
Trong hình thức TBH này, công ty nhượng không bắt buộc phảinhượng tất cả những dịch vụ mà mình nhận bh, nhừng nhà TBH lại buộc phảichấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thoả thuận này với điềukiện là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản đã quy ướccủa Hợp đồng TBH thoả thuận
Trong hình thức TBH lựa chọn bắt buộc vẫn có điều kiện đượcđặt ra là nội dung của hình thức TBH này không có nghĩa chỉ có những rủi ro
có khả năng dễ xảy ra tổn thất nhất thì đưa vào hợp đồng Do vậy, công tynhượng không thể lợi dụng hình thức TBH này để lựa chọn rủi ro nhằm đẩyphần bất lợi cho nhà TBH Để phòng ngừa trường hợp này, nhà TBH phảinắm vững ý đồ của công ty nhượng, xem xét kỹ các rủi ro mà công ty nhượngđem TBH và thường xuyên theo dõi diễn biến những Hợp đồng mà mình đã
Nhược điểm:
Để chào tái phần vượt quá như nói ở trên, công ty nhượng chỉ có thểthực hiện bằng cách chào cho các nhà TBH có tiềm lực thật lớn vì họ lànhững nhà TBH có khả năng nhận các rủi ro có giá trị bảo hiểm cao
Trang 30 Trường hợp công ty nhượng có nhiều đơn vị rủi ro cần phải đem TBHthì chi phí hành chính cho việc áp dụng hình thức TBH này sẽ rất tốn kém vìnhững rủi ro cần TBH đó thường đòi hỏi các điều kiện TBH khác nhau, côngtác tính toán phí và sổ sách kế toán sẽ phức tạp và khó khăn hơn.
1.2.3.3 Phương pháp TBH
Trong mỗi loại hợp đồng TBH này có 2 phương pháp TBH cơ bảnđược áp dụng là: - TBH theo Số tiền bảo hiểm (TBH tỷ lệ)
- TBH theo Mức bồi thường (TBH phi tỷ lệ)
Sơ đồ I.2.3: Hình thức và phương pháp TBH
a1) TBH theo Số tiền bảo hiểm
TBH mức dôi
TBH mức dôi là phương pháp TBH trong đó, mức giữ lại (MGL)được ấn định theo số tuyệt đối và mức TBH là mức chênh lệch giữa giá trịbảo hiểm và MGL của công ty nhượng và được giới hạn bằng một số tiền tối
đa do hai bên thoả thuận
Trường hợp áp dụng: TBH mức dôi là dạng TBH tỷ lệ cổ xưa và phổ
biến nhất, thường được sử dụng khi khối lượng dịch vụ gồm nhiều rủi ro có
TBH
Cố định
Vượt mức bồi thường
Trang 31những số tiền rất chênh lệch được bảo hiểm; do đó, thường được áp dụng đốivới các nghiệp vụ bảo hiểm cháy, tai nạn thân thể và nhân thọ, bảo hiểm vậnchuyển, trộm cắp, tín dụng…
Trường hợp áp dụng: Khi mới bắt đầu triển khai một nghiệp vụ mới
mà họ chưa có kinh nghiệm và thiếu tư liệu thống kê, phân tích khả năng tiếntriển của loại nghiệp vụ đó Phương pháp TBH này có thể giảm nhẹ khả năngnguy hiểm của công ty nhượng đối với các hợp có sự tích luỹ của một số lớncác vụ bồi thường tổn thất nhỏ hoặc trung bình mà gây ra bởi cùng một sự cố
Do đó, phương pháp này được dùng nhiều hơn cả trong các nghiệp vụ bảohiểm về trách nhiệm dân sự, xe ôtô, mưa đá, giông bão và bảo hiểm vậnchuyển
Trang 32Ưu điểm:
Là dạng TBH giản đơn, dễ xử lý, chi phí hành chính và quản lý đơngiản, ít tốn kém
Đối với nhà TBH, dạng TBH này có tính cân đối và dễ chấp nhận hơn
so với dạng TBH mức dôi, có khả năng phân tán rủi ro tốt hơn so với các loạiTBH khác Nhà TBH có điều kiện tham gia vào mọi đơn vị rủi ro mà công tynhượng nhận bảo hiểm; đồng thời công ty nhượng có thể yên tâm nhận mọirủi ro mà có giá trị nằm trong phạm vi hạn mức khống chế tối đa đã quy ước
vì mọi rủi ro này đều được chia sẻ cho nhà TBH cùng hưởng và chịu chungvận may rủi của công ty nhượng
Thủ tục phí TBH của dạng này cao nhất, ngoài ra điều kiện về tạm giữphí TBH cũng có tỷ lệ cao, nhờ vậy, công ty nhượng có điều kiện sử dụngvốn nhàn rỗi để đầu tư vào các việc khác
Nhược điểm:
Công ty nhượng phải đem TBH toàn bộ các đơn vị rủi ro bảo hiểm gốctheo một tỷ lệ định trước, kể cả những rủi ro rất nhỏ mà bản thân công tynhượng đủ khả năng và điều kiện tự giữ lại được
Mặc dù với dạng TBH số thành, công ty nhượng có thuận lợi hơn so vớidạng TBH mức dôi trong việc thực hiện bảo hiểm với khả năng phân tán rủi
ro tốt và linh hoạt, nhưng công ty nhượng không chủ động trong việc khốngchế tỷ lệ bồi thường đối với MGL của mình, đồng thời không có khả năng đểgiảm hệ số biến thiên của phần lớn tổn thất thuộc MGL
TBH kết hợp số thành - mức dôi
Trường hợp áp dụng: Đối với những công ty mới thành lập, phươngpháp này rất phù hợp và thường được áp dụng Bởi vì những ở công ty nàykhối lượng dịch vụ chưa đủ ổn định để tránh trường hợp rủi ro lớn xảy ra
Trang 33Ngoài ra, công ty mới thành lập chưa thể có đủ số tiền dự trữ để đương đầuvới những biến thiên về tổn thất theo các chu kỳ khác nhau.
Ưu điểm:
Công ty nhượng đảm bảo khả năng gia tăng về nhận trách nhiệm bảohiểm một cách tự động mà không ảnh hưởng đến MGL của bản thân công ty(không phải gia tăng MGL)
Hợp đồng cơ sở (số thành) ổn định hơn và phân tán TBH dễ dàng hơn
a2) TBH theo Mức bồi thường
TBH vượt mức bồi thường
Là hình thức TBH trong đó công ty nhượng TBH lựa chọn một số tiền
cố định để giữ lại trên một rủi ro riêng biệt hoặc cho một loại hình nghiệp vụ
Trường hợp áp dụng: Thu xếp TBH với công ty nhận TBH đối với bất
kỳ khiếu nại nào có thể vượt quá MGL theo số tiền cố định đó lên tới một sốtiền đã được xác định trước
Ưu điểm:
Theo dõi, lưu trữ hồ sơ đơn giản; do đó, chi phí hành chính ít tốn kém
Công ty nhượng TBH kiểm soát được lượng phí TBH
Trang 34 Thích hợp cho những rủi ro có số tiền bảo hiểm lớn hoặc tỷ lệ tổn thấtxấu, điều kiện điều khoản quá cạnh tranh (như trong bảo hiểm hàng hải, hàngkhông…) mà không được bảo vệ theo hợp đồng cố định.
Bảo vệ kết quả của hợp đồng cố định
Phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường (sự phát triển của công
ty bảo hiểm nội bộ)
Nhược điểm:
Phụ thuộc vào nhà nhận TBH (tỷ lệ phí)
Chịu rủi ro cao (nếu các tổn thất nhỏ lẻ thuộc MGL xảy ra với tần suấtcao
Khó cạnh tranh với dạng hợp đồng cố định phi tỷ lệ
TBH vượt tỷ lệ bồi thường
Đây là dạng TBH phi tỷ lệ mà nhà TBH chỉ có trách nhiệm bồithường trong trường hợp khi kết quả toàn bộ nghiệp vụ của công ty nhượng
có một tỷ lệ bồi thường vượt quá một tỷ lệ hoặc một mức tiền ấn định trước
Trường hợp áp dụng: Chủ yếu được thu xếp để bảo vệ cho những loại
nghiệp vụ có tính chất tổn thất bất thường do thiên tai gây ra như: chấy, mưa
đá, bão tuyết trong bảo hiểm nông nghiệp… và dùng để bổ sung cho các dạngTBH tỷ lệ của công ty nhượng
Ưu điểm: Giúp công ty nhượng tự bảo vệ khỏi một sự gia tăng đột
biến của tỷ lệ bồi thường trong một ngành bảo hiểm hay một dạng dịch vụbảo hiểm nhất định nào đó trong một khoảng thời gian quy định, bất luận tìnhtrạng đó do nguyên nhân nào gây ra
Nhược điểm: Trong thực tiễn, dạng TBH này ít thông dụng vì việc
tính toán phí TBH rất phức tạp và thiếu chính xác
TBH kết hợp
Trang 35Hình thức TBH phi tỷ lệ có thể được ứng dụng ở nhiều dạng khácnhau, thường được sử dụng kết hợp với các dạng TBH tỷ lệ để xây dựngchương trình TBH của công ty nhượng Những hình thức áp dụng chủ yếu là:
TBH kết hợp mức dôi và vượt mức bồi thường: Là hình thức khá phổ
biến, nhằm bảo vệ chung cho quyền lợi của công ty nhượng và nhà TBH củahợp đồng TBH theo tỷ lệ
Sơ đồ:
Hợp đồng TBH vượt mức bồi thường bảo vệ cho
quyền lợi chung Mức tự bồi thường của công
ty nhượng theo hợp đồng số thành
Mức tự bồi thường của nhà TBH theo hợp đồng số thành
Theo hình thức này, trách nhiệm hợp đồng số thành TBH sẽ được phânđịnh theo tỷ lệ phần trăm nhất định giữa công ty nhượng và công ty TBH, từ
đó tình toán mức tự bồi thường của từng công ty Ngoài ra, một hợp đồngTBH vượt mức bồi thường sẽ được thu xếp chung giữa hai công ty với mộtnhà TBH khác để bảo hiểm cho những tổn thất có giá trị vượt quá mức tự bồithường của cả hai công ty trên
TBH kết hợp mức dôi và vượt mức bồi thường:
Bảo vệ cho quyền lợi của công ty nhượng
Sơ đồ:
Hợp đồng TBH vượt mức bồi thường bảo vệ cho công ty
theo tỷ lệ Mức tự bồi thường của công
ty nhượng
Trang 36Theo hình thức này, Hợp đồng TBH tỷ lệ ban đầu xác định mức tự bồithường tương ứng theo trách nhiệm của công ty nhượng Một hợp đồng TBHvượt mức bồi thường sẽ bảo vệ cho công ty nhượng trong trường hợp tổn thấtxảy ra lớn vượt quá cả mức bồi thường của nhà TBH, khi đó trách nhiệm sẽquay trở về công ty nhượng.
Bảo vệ cho quyền lợi của nhà TBH
Sơ đồ:
Mức giữ lại của
công ty nhượng
Hợp đồng TBH vượt mức bồi thường bảo
vệ quyền lợi của nhà TBH thuộc hợp đồng TBH tỷ lệ
Mức tự bồi thường của nhà TBH theo hợp đồng TBH tỷ lệ
Theo hình thức này, Hợp đồng TBH tỷ lệ được thu xếp giữacông ty nhượng và nhận TBH Phí và tổn thất được phân bổ theo tỷ lệ phầntrăm trách nhiệm giữa hai bên Ngoài ra, một hợp đồng TBH vượt mức bồithường được sử dụng để bảo vệ cho công ty nhận TBH trong trường hợp tổnthất xảy ra có giá trị vượt quá trách nhiệm của nó
1.2.3.4 Những điều khoản cơ bản trong Hợp đồng TBH
Hoa hồng TBH
Là một khoản tiền, được biểu thị bằng một tỷ lệ phần trăm của số phíđem TBH, mà nhà TBH trả cho tông ty nhượng khi nhà TBH tham gia nhậnhợp đồng TBH của công ty nhượng
Đặc điểm:
Thủ tục phí TBH chỉ áp dụng đối với dạng TBH theo số tiền bảo hiểm
Đây là khoản để chi phí cho việc điều hành dịch vụ của công tynhượng, được điều chỉnh trên cơ sở tính toán tỷ lệ bồi thường ước tính củadịch vụ, và/hoặc tổng phí thu
Trang 37 Hoa hồng TBH phụ thuộc nhiều vào kết quả hợp đồng, tỷ lệ bồithường…
Các điều khoản thoả thuận giảm giá đặc biệt trong phí bảo hiểm gốc
Chi phí hành chính và quản lý của công ty nhượng nhiều hay ít
Thông kê kết quả bồi thường hàng năm
Phí nhàn rỗi được công ty nhượng sử dụng để đầu tư ra sao?
Hoa hồng TBH có 3 loại chính:
Hoa hồng cố định:
Là một khoản tiền nhà TBH trả cho công ty nhượng được biểu thịbằng một tỷ lệ phần trăm cố định của số phí TBH
Hoa hồng theo thang luỹ tiến.
Dựa trên sự thoả thuận của hai bên, hoa hồng được điều chỉnh tănggiảm theo thang luỹ tiến Cơ sở để tính là lấy mức hoa hồng cố định làmchuẩn; từ đó, quy định mức tăng giảm theo tỷ lệ bồi thường
Thang luỹ tiến được khống chế ở mức tối đa và tối thiểu Kết quả bồithường càng thấp thì hoa hồng TBH càng cao và ngược lại
Các bước cơ bản để tính hoa hồng theo thang luỹ tiến:
Đưa ra một mức hoa hồng ước tính: Mức hoa hồng thực tế sẽ khôngthể xác định được ngay cho đến khi tỷ lệ tổn thất được tính vào cuối năm.Công ty nhận TBH sẽ đồng ý trả một khoản hoa hồng tạm thời ở mức tốithiêu để đảm bảo cho các chi phí khai thác dịch vụ của công ty nhượng tái
Xác định tỷ lệ bồi thường:
Trang 38Tỷ lệ bồi thường =
Trong đó:
Tổn thất phải trả = Tổn thất + Chi phí liên quan mà nhà TBH phải trả trong
năm kế hoạch (+lỗ/lãi của năm trước chuyển sang-nếu có)(+) Khoản dự phòng cho những tổn thất chưa giải quyết tính ởcuối năm kế hoạch (dư cuối kỳ)
(-) Khoản dự phòng cho những tổn thất chưa giải quyết tính ởđầu năm kế hoạch (dư đầu kỳ)
Phí thực thu = Số phí thu trong năm kế hoạch
(+) Phí dự trữ cho những rủi ro còn phải đảm bảo tính ở thời điểmđầu năm kế hoạch (dư đầu kỳ)
(-) Phí dự trữ cho những rủi ro còn phải đảm bảo tính ở thời điểmcuối năm kế hoạch (dư cuối kỳ)
Bảng I.2.3.4: Hoa hồng theo thang luỹ tiến
Trang 39 Hoa hồng TBH theo lãi:
Trong năm nghiệp vụ nếu hợp đồng TBH có lãi thì công ty nhận tái sẽphải chi trả cho công ty gốc một mức hoa hồng lãi như được quy định tronghợp đồng Mức hoa hồng này được xác định dựa trên sự thoả thuận giữa haicông ty và dựa trên kết quả lãi lỗ của hợp đồng mà công ty nhượng tái thống
kê vào cuối năm nghiệp vụ như sau:
Thu: - Khoản dự trữ cho những rủi ro còn phải đảm bảo từ năm tài chính
trước chuyển sang
- Phần dự trữ cho những vụ tổn thất đang còn chờ giải quyết từ năm tàichính trước mang sang
- Phí TBH thu nhập trong năm hiện tại
Chi: - Khoản dự trữ cho những rủi ro còn phải đảm bảo vào cuối năm tài
Trang 40Khoản phí ấy thường được quy định bằng một tỷ lệ của Phí bảo hiểm gốcthực tế (GNPI)của các dịch vụ được bảo vệ.
Do Phí bảo hiểm gốc thực tế chỉ là số ước nên đầu năm các bên tạmtính phí TBH tối thiểu để đặt cọc
Phí đặt cọc tối thiểu thường được đóng làm nhiều lần trong năm (4lần) do công ty nhượng TBH chưa thu được phí BH gốc
Tỷ lệ điều chỉnh: là tỷ lệ phí TBH phải đóng cho nhà nhận TBH tínhtrên Phí bảo hiểm gốc thực tế của các dịch vụ được bảo vệ
Cuối thời hạn của hợp đồng, công ty nhượng TBH phải xác định vàthông báo cho nhà nhận TBH tổng doanh thu phí thu được cho các dịch vụ đãđược bảo vệ bằng hợp đồng được thu xếp
Nhà nhận TBH sẽ tính toán Phí TBH điều chỉnh và yêu cầu Phí đóngthêm nếu Phí TBH thực tế cao hơn Phí TBH đặt cọc tối thiểu Khi đó:
Phí đóng thêm = GNPI * Tỷ lệ phí điều chỉnh – Phí đặt cọc tối thiểu.
Điều khoản Tái lập trách nhiệm
Mặc dù là hợp đồng TBH bảo vệ nhưng nhà nhận TBH sẽ không bảo
vệ cho nhà nhượng TBH một cách vô hạn Một số lần trách nhiệm sẽ được ấnđịnh mà hợp đồng này sẽ bảo vệ (gọi là số lần tái lập trách nhiệm) bằng điềukhoản “Tái lập trách nhiệm hợp đồng”
Điều khoản này quy định số lần tái lập trách nhiệm (TLTN) và phí táilập trách nhiệm được tính toán như thế nào
Số lần tái lập trách nhiệm: là số lần tổng mức trách nhiệm của hợpđồng sẽ gánh chịu nếu có tổn thất lớn xảy ra Tổng trách nhiệm tối đa của nhànhận TBH sẽ tương đương:
Giới hạn trách nhiệm của hợp đồng * (Số lần Tái lập trách nhiệm + 1)
Phí tái lập trách nhiệm được tính bằng:
Số tiền cần được tái lập Thời gian còn lại của HĐ