đề xuất giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.- Đinh Quang Ty “Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ THÚY NGA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆPNHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành : Quản lý cơng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỮU HẢI
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” là công trình nghiên cứu của
riêng cá nhân tôi và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và rõ ràng
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2016
Học viên
Lê Thị Thúy Nga
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo sau đại học Cơ sở Học viện Hành chính Khu vực Miền Trung đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn Đảng bộ khối Doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế, Cục Thống kê tỉnh, Sở kế hoạch Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế và các cơ quan trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã hỗ trợ nhiệt tình cho tôi hoàn thành luận văn này.Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới giảng viên PGS.TS Nguyễn Hữu Hải, thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi để Luận văn được hoàn thành một cách tốt nhất
Do thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy Cô và các anh chị học viên
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2016
Học viên
Lê Thị Thúy Nga
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng biểu và biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 7
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 7
1.1 Một số khái niệm 7
1.1.1 Khái niệm Quản lý 7
1.1.2 Khái niệm Quản lý nhà nước 9
1.1.3 Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước 10
1.2 Đặc điểm, vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước đối với phát triển kinh tế 12
1.2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước 12
1.2.2 Vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước đối với phát triển kinh tế 14
1.3 Phân loại doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam 18
1.3.1 Theo mức độ sở hữu 18
1.3.2 Theo mô hình tổ chức hoạt động: 19
1.3.3 Theo phân cấp quản lý 19
1.3.4 Theo các ngành Kinh tế- kỹ thuật 19
1.3.5 Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 19
1.4 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 24
Trang 51.4.1 Mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước 24
1.4.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với DNNN 27
1.4.3 Hình thức và phương pháp quản lý nhà nước đối với DNNN 28
1.4.3.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật QLNN của các cơ quan quản lý nhà nước 28
1.4.3.2 Quản lý nhà nước về kinh tế 29
1.4.3.3 Quản lý vốn trong Doanh nghiệp nhà nước 32
1.4.3.4 Quản lý nhà nước về lao động trong DNNN 34
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với DNNN 36
1.5 Kinh nghiệm quản lý DNNN ở các nước và bài học cho Việt Nam 36
1.5.1 Kinh nghiệm QLNN của Cộng hòa Liên bang Đức 36
1.5.2 Kinh nghiệm QLNN của Hungari 38
1.5.3 Bài học cho Việt Nam về quản lý DNNN 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 42
Chương 2 43
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 43
2.1 Tổng quan về hệ thống DNNN ở tỉnh Thừa Thiên Huế 43
2.1.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế .43 2.1.2 Hệ thống các doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thừa Thiên Huế 46
2.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển DNNN 46
2.1.2.2 Thực trạng phát triển của các DNNN 47
2.1.3 Các loại hình DNNN ở tỉnh Thừa Thiên Huế: 50
2.1.4 Đóng góp của DNNN đối với phát triển kinh tế- xã hội ở tỉnh Thừa Thiên Huế 52
2.1.4.1 Về giá trị sản xuất kinh doanh 53
2.1.4.2 Về đóng góp an sinh xã hội của các DNNN 57
2.2 Tình hình quản lý nhà nước đối với các DNNN ở tỉnh Thừa Thiên Huế .58
2.2.1 Hệ thống thể chế về quản lý các DNNN ở tỉnh Thừa Thiên Huế 58
2.2.2 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với DNNN 60
2.2.3 Công tác QLNN về ĐTBD đội ngũ lãnh đạo, quản lý DNNN 64
2.2.4 Tổ chức cơ quan quản lý Nhà nước đối với các DNNN ở tỉnh Thừa Thiên Huế 65
2.2.5 Hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước cho phát triển các DNNN ở tỉnh Thừa Thiên Huế 66
2.3 Tình hình sắp xếp, đổi mới các DNNN ở tỉnh Thừa Thiên Huế 67
2.4 Đánh giá thực trạng QLNN đối với các DNNN ở Thừa Thiên Huế 70
Trang 62.4.1 Những kết quả đạt được 70
2.4.2 Những hạn chế 70
2.4.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 72
Chương 3: 73
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN 73
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 73
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 73
3.1.1 Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế 73
3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế 74 3.2 Giải pháp tiếp tục đổi mới và tăng cường quản lý nhà nước đối với DNNN 75
3.2.1 Định hướng sắp xếp, phát triển DNNN hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích 75
3.2.1.1 Đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh 75
3.2.1.2 Đối với doanh nghiệp hoạt động công ích 76
3.2.2 Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách 77
3.2.2.1 Đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh .77
3.2.2.2 Đối với doanh nghiệp hoạt động công ích 79
3.2.3 Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công ty nhà nước; hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh 79
3.2.4 Đổi mới cơ cấu, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả 80
Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước 80
3.2.5 Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước 82
3.2.6 Cải cách quản trị DNNN 85
3.2.7 Nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển KTXH định hướng XHCN 85
3.2.8 Xây dựng chiến lược cán bộ quản lý kinh doanh của DNNN, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cao cấp 86
3.2.9 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý DNNN 86
3.2.10 Thực hiện có hiệu quả đề án tái cơ cấu DNNN 88
3.2.11 Đẩy mạnh sắp xếp và thực hiện cổ phần hóa DNNN 89
3.2.11.1 Chủ trương và chính sách cổ phần hóa từ Trung ương đến địa phương 90
3.2.11.2 Giải quyết vấn đề lao động và việc làm 91
3.2.11.3 Chính sách ưu đãi đối với người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa 93
Trang 73.2.11.4 Vai trò của nhà nước trong việc tổ chức, chỉ đạo đối với công
tác cổ phần hóa: 94
3.2.11.5 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa 95
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97
KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 98
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AEC Cộng đồng Kinh tế ASEAN
CPH Cổ phần hóa
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
EVPTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU
QLNN Quản lý nhà nước
TPP Hiệp định đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Kết quả điều tra các DNNN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến
31/12/2014 51
(Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế) .51
Bảng 2.2: Số lượng và hình thức chuyển đổi các DNNN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 1991-2014 68
Bảng 2.3: Số lượng các DNNN được cổ phần hóa từ năm 1998-2014 69
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 69
Biểu đồ 2.1: Số liệu tổng mức đầu tư hằng năm của các DNNN 54
Biểu đồ 2.2: Tổng doanh thu và nộp ngân sách hằng năm của các DNNN 55
Biểu đồ 2.3: Thu nhập bình quân hằng năm của các DNNN 56
Biểu đồ 2.4: Lợi nhuận qua các năm của các DNNN 57
Biểu đồ 2.5: Đóng góp an sinh xã hội của các DNNN 58
Biểu đồ 2.6: Kết quả điều tra về thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác ĐTBD đội ngũ lãnh đạo quản lý các DNNN ở Thừa Thiên Huế năm 2014 63
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Trong lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã khẳng định:
“Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước có nhiều hình thức sở hữu, nhiều vai trò chủ đạo” Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật” Thực tế cho thấy, hơn ba mươi năm phát triển theo đường lối đổi mới này, nền kinh tế nước ta đã có bước chuyển mình rõ nét với tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định Đảng và Nhà nước ta
đã đưa ra nhiều quyết sách và tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp tổ chức, sắp xếp lại và đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước Công việc quan trọng này gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý để doanh nghiệp tự chủ,
tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng hơn Dưới tác động của những chính sách, cơ chế quản lý mới, hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã có những chuyển biến tích cực và thu được những kết quả nhất định cùng với các thành phần kinh tế khác góp phần ổn định kinh tế, chính trị- xã hội của đất nước
Công cuộc đổi mới ở nước ta đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn, diện mạo của đất nước ta trong những năm qua đã có nhiều thay đổi Kinh tế, chính trị, xã hội ổn định; thế và lực của nước ta không ngừng lớn mạnh Đó là những tiền đề quan trọng để nước ta đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 11đất nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Dưới tác động của những chính sách, cơ chế quản lý mới, hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã có những chuyển biến tích cực và thu được những kết quả nhất định.
Trong thời gian tới, tình hình kinh tế nước ta tiếp tục hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh gay gắt hơn Việt Nam đã tham gia ký kết hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là Hiệp định đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVPTA), đồng thời Việt Nam cũng đã tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Ngoài những tác động tích cực mang lại, cũng sẽ có không ít những thách thức, khó khăn về quan hệ lao động do có sự cơ cấu lại các ngành nghề; dịch chuyển của lao động trong nước cũng như cạnh tranh về việc làm với lao động nước ngoài với lao động trong nước; sự thay đổi các quy định pháp luật trong nước để phù hợp với các quy định quốc tế Những yếu tố này sẽ gây áp lực đến quan hệ lao động tại các doanh nghiệp
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta vẫn bộc lộ những nhược điểm, tồn tại và thiếu sót Điều đáng chú ý là cho đến nay nhiều doanh nghiệp Nhà nước vẫn chưa thực sự tự chủ trong sản xuất kinh doanh, vẫn trông chờ ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, hoặc còn độc quyền trong kinh doanh dẫn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, không những không giữ được vị trí then chốt trong nền kinh tế mà còn gây ra những “hiệu ứng” rất bất lợi về phương diện chính trị – xã hội Là một tỉnh Bắc Trung Bộ, Thừa Thiên Huế có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế miền Trung và Tây Nguyên Các DNNN ở Thừa Thiên Huế thời gian qua cũng thể hiện được vai trò to lớn trong thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp rơi vào khó khăn trong sản xuất
Trang 12kinh doanh nên việc tiến hành sắp xếp, đổi mới DNNN là một nhu cầu tất yếu hiện nay.
Như vậy, củng cố và phát triển kinh tế khu vực công nói chung, quản lý nhà nước về doanh nghiệp nhà nước nói riêng hiện vẫn đang là vấn đề quan trọng trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta Xuất phát từ ý nghĩa cấp
bách và thực tiễn của doanh nghiệp nhà nước, tôi chọn đề tài nghiên cứu về: “
Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Quản lý công.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Ở nước ta hiện nay, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đặc biệt trong những năm gần đây, những vấn đề liên quan tới DNNN đã được nhiều tác giả nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về DNNN ở nhiều góc độ và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN
Ở đây tác giả xin điểm qua một số công trình mang tính tiêu biểu:
- Nguyễn Phú Trọng (2011): “Các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”,NXB Chính trị
quốc gia, sự thật- Hà Nội;
Đây là công trình đề cập nhiều vấn đề phong phú cả về lý luận và tổng kết thực tiễn, có giá trị tham khảo quý trong việc làm rõ một số mối quan hệ
cơ bản cần nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời gợi mở những nội dung cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tổng kết, cụ thể hóa trên lĩnh vực này
- Vũ Minh Tiến (2014)“Quản lý nhà nước về lao động đối với doanh nghiệp ở Việt Nam”, của Viện Công nhân và Công đoàn, NXB Lao động;
Đây là công trình nêu lên những vấn đề lý luận về vai trò và nội dung của quản lý nhà nước về lao động trong doanh nghiệp, đánh giá thực trạng và
Trang 13đề xuất giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
- Đinh Quang Ty “Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội nhập ở Việt Nam”;
Đây là công trình nghiên cứu nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiên hội nhập
ở Việt Nam, trong đó đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu khác như:
- Vũ Huy Từ (1994) “Doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường
ở Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- “Cải cách doanh nghiệp nhà nước- Thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm thế giới”, tập thể tác giả, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội,1996;
- Phí Văn Chỉ (2000) “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong công ty cổ phần”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Vũ Đình Bách (2001) “Đổi mới, tăng cường thành phần kinh tế nhà nước- lý luận, chính sách và giải pháp” NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Ngô Quang Minh (2001) “Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Ngô Thắng Lợi (2004) “Doanh nghiệp nhà nước trong phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam đến năm 2010”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Các công trình nêu trên đã nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước ở nhiều góc độ và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Nhận thức được tầm quan trọng về vai trò của việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đề ra các chủ trương, chính sách và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của việc quản lý đối với các doanh nghiệp nhà
Trang 14nước Do vậy, đề tài luận văn cũng tập trung nghiên cứu về vai trò của quản
lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng trong bối cảnh hiện nay để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp trên địa bàn ngày càng hiệu quả
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN+ Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với DNNN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay, chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân tương ứng
+ Đề xuất các giải pháp và kiến nghị đổi mới chính sách, cơ chế quản lý nhà nước đối với các DNNN trong bối cảnh hội nhập quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động của các cơ quan nhà nước có chức năng quản lý doanh nghiệp trên địa bàn và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phạm vi nghiên cứu
Về không gian là quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Thời điểm nghiên cứu: từ năm 2011 đến 2014
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mac- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống các quan điểm của Đảng trong việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp logic, các phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê….và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để phân tích những tư liệu phù hợp, thiết thực với nội dung
và mục đích của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn
về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
Làm tư liệu cho các cơ quan nhà nước tham chiếu các giải pháp quản lý nhà nước hiệu quả đối với doanh nghiệp nhà nước
7 Kết cấu của luận văn
Trang 16Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm Quản lý
Quản lý là hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên
Bất kỳ một thể chế xã hội nào cũng cần có sự quản lý Chính vì vậy mà những khái niệm quản lý đã có từ rất lâu Trong quá trình phân tích và ứng dụng người ta đã hiểu quản lý theo nhiều cách, dẫn đến việc đưa ra những định nghĩa khác nhau
Về nội dung thuật ngữ “ quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau Với
ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra, định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định của tổ chức và đúng ý chí của nhà quản lý
Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với các phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
Trang 17Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản
lý khác nhau
Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội
Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định
do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp
Quản lý ra đời là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc Thực chất quản lý con người trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu của
tổ chức với hiệu quả cao khác
Quản lý là một hoạt động rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố đó tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành quản lý Một số yếu tố cơ bản cần chú ý là: yếu tố con người, yếu tố chính trị, yếu tố tổ chức, yếu tố quyền lực, yếu tố thông tin và yếu tố văn hóa.Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau[7]:
Taylor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì
và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "
Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”
Trang 18Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định".
Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H.Fayon (1849-1925) là cha đẻ của thuyết hành chính trong quản lý đã đưa ra định nghĩa “quản lý hành chính
là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”
C.Mác đã viết: “tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quản độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”
1.1.2 Khái niệm Quản lý nhà nước
Theo giáo trình Lý luận hành chính nhà nước do PGS.TS Nguyễn Hữu Hải chủ biên thì Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [12, tr.3]
Chức năng, quản lý nhà nước bao gồm 03 chức năng: thứ nhất, chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện; thứ hai, chức năng hành pháp (hay chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; thứ ba, chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện
Đặc điểm của quản lý nhà nước trước hết, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền, gồm: cơ quan
Trang 19lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia Thứ ba, quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao Thứ
tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội Thứ năm, mục tiêu quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội
1.1.3 Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước
Trong những năm đổi mới (1954-1985), Việt Nam áp dụng mô hình kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó đặc biệt đề cao vai trò của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Tương thích với mô hình đó, có khái niệm các xí nghiệp quốc doanh, nông trường quốc doanh, công ty quốc doanh, mậu dịch quốc doanh được hiểu là những tổ chức kinh tế do Nhà nước trực tiếp đầu tư vốn (100%), quyết định thành lập, quyết định phương hướng hoạt động, quyết định bộ máy quản lý và tuyển dụng người lao động theo chế độ biên chế ổn định Doanh nghiệp quốc doanh thường được đồng nhất với thành phần kinh
tế quốc doanh, bộ phận chủ yếu được coi là vai trò chủ đạo của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, kế hoạch hóa tập trung Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh và các tổ chức khác của Nhà nước đều là những cán
bộ, công nhân viên chức trong biên chế, ít có sự phân biệt về quyền lợi, chế
độ phân phối và đãi ngộ
Trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện Điều này thể hiện
rõ trong các văn bản pháp quy, tiêu biểu như Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995
Trang 20Theo luật doanh nghiệp của Việt Nam năm 1995 thì “ DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao”[12,tr1]
DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi doanh nghiệp quản lý” DNNN là bộ phận chủ yếu của khu vực kinh tế nhà nước, một lực lượng vật chất cơ bản, đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nhà nước
Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 12
năm 2003, Điều 1 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn Điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”[9,tr1]
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp, Luật này có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2006 Tuy nhiên, khái niệm Doanh nghiệp nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh trong Luật doanh nghiệpTheo Luật Doanh nghiệp 2005, khái niệm “Doanh nghiệp nhà nước” đã được sửa đổi lại cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Khái niệm DNNN đã được sửa đổi như sau:
“Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn Điều lệ”[21,tr4]
Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 quy định:
“Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ” [8,tr1]
Trang 21Như vậy, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước trên đây đã không chỉ chú trọng đến hình thức sở hữu của loại hình doanh nghiệp có tính chất công hữu này, mà còn nhấn mạnh đến cả chức năng đặc thù của chúng đó là DNNN không chỉ thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh thông thường giống như tất cả các doanh nghiệp khác mà còn là công cụ Chính phủ sử dụng nhằm đạt được mục tiêu kinh tế, xã hội mà một doanh nghiệp hoạt động đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận không thể thực hiện được Riêng về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong Luật doanh nghiệp (2005) cũng có những nới lỏng và năng động hơn Bên cạnh những doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước, còn có những doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng Trong
hệ thống các DNNN, Nhà nước đã chủ trương thành lập một số tập đoàn kinh
tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước có sự tham gia của các thành phần kinh tế
Thực chất, Doanh nghiệp nhà nước là những cơ sở kinh doanh do Nhà nước sở hữu hoàn toàn hay một phần Quyền sở hữu thuộc về Nhà nước là đặc điểm phân biệt DNNN với các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân, còn hoạt động kinh doanh là đặc điểm để phân biệt chúng với các tổ chức và cơ quan khác của Chính phủ
1.2 Đặc điểm, vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước đối với phát triển kinh tế
1.2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập Doanh nghiệp Nhà nước đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập Doanh nghiệp là cần thiết Việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền
Trang 22kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm đó và chủ trương của Đảng và ngành nghề lĩnh vực đó.
DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận của tài sản Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao.Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao
Nhà nước quản lý doanh nghiệp Nhà nước thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ Bao gồm những nội dung sau:
Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với quy mô của nó
Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp Nhà nước như Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Những quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng quản trị Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao Nếu Nhà nước giao cho doanh nghiệp, Nhà nước nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp Nhà nước đó phải kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp Nhà nước nào được giao thực hiện hoạt động công ích thì doanh nghiệp, Nhà nước đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội Doanh nghiệp
Trang 23Nhà nước là một pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn Nhà nước giao.
1.2.2 Vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước đối với phát triển kinh tế
Nhìn lại quá trình lịch sử, chúng ta đi lên từ cơ sở vật chất, kỹ thuật rất nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế mất cân đối trầm trọng, lực lượng thù địch bao vây cấm vận kinh tế triệt để Trong hoàn cảnh đó chúng ta đã xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ bằng biện pháp huy động nguồn lực lớn của đất nước và viện trợ quốc tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân dưới hình thức DNNN làm nòng cốt, cùng với khu vực kinh tế hợp tác xã làm nền tảng đáp ứng những nhu cầu của xã hội Thực tiễn đã chứng minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nếu không phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã để xây dựng hậu phương vững mạnh, giải quyết hậu cần tại chỗ thì không thể huy động tổng lực của dân tộc, chi viện cho tiền tuyến để tiến tới thắng lợi hoàn toàn Sau khi thống nhất đất nước nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi lệnh bao vây cấm vận kinh tế của đế quốc
Mỹ, sự duy trì quá lâu của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trong điều kiện xây dựng hoà bình và sau đó là sự tan rã của hệ thống XHCN Đại hội VI đã
đề ra chủ trương đổi mới và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó đến nay kiên trì với chủ trương này nền kinh tế của nước ta đã phát triển khá cao trong nhiều năm và thoát khỏi khủng hoảng đảm bảo được những cân đối lớn, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị xã hội tạo thế và lực mới để tiếp tục đưa sự nghiệp mới đi lên
Nếu nhìn hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật và những đóng góp của DNNN hiện nay rõ ràng là DNNN đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế nước ta, thể hiện trên những nét chủ yếu sau:
Trang 24Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế có lợi thế hơn
so với các doanh nghiệp thuộc các khu vực khác của nền kinh tế quốc dân Lợi thế của DNNN được thể hiện chủ yếu ở phương diện hiệu quả xã hội Đặc điểm nổi bật của DNNN là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu công cộng nên mục tiêu chính của nó là tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, tức là nhân dân Vì vậy, mục tiêu đặt lên hàng đầu của loại hình này là hiệu quả kinh tế- xã hội Ngược lại, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc quyền sở hữu của tư nhân nên lợi ích tài chính cho chủ sở hữu mới là mục tiêu chính của các doanh nghiệp này Trên thực tế, hàng loạt các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động không quan tâm đến hậu quả về mặt môi trường Do đó, hiệu quả tổng thể kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể không cao
Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước là một nhân tố quan trọng góp phần vào
sự tăng trưởng chung của nền kinh tế Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh:
Rõ nét nhất là DNNN thường được giao cho nhiệm vụ đầu tư vào những công trình kết cấu hạ tầng có quy mô vốn tương đối lớn, thời gian thu hồi vốn lại lâu, kèm nhiều rủi ro trong quá trình đầu tư nên không hấp dẫn các DNTN Thực tế ngay cả những nước phát triển ở trình độ cao trên Thế giới thì nhiều ngành then chốt như bưu chính viễn thông, năng lượng, đường sắt, hóa chất, hàng không, dầu khí vẫn được coi là những ngành gần như "độc quyền đầu tư" của DNNN Bên cạnh đó, những công trình kết cấu hạ tầng chính là tiền đề cho sự phát triển kinh tế DNNN thông qua việc xây dựng các hạ tầng
cơ sở đã trở thành "đối tác và lực lượng hậu thuẫn" cho sự phát triển ở khu vực kinh tế tư nhân Thông qua mối quan hệ này nền kinh tế sẽ tăng trưởng vững mạnh và bền vững hơn
Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước là một công cụ để góp phần khắc phục các khuyết tật của thị trường Trong nền KTTT, việc lưu động, di chuyển, phân phối các yếu tố sản xuất, vốn đều tuân theo nguyên tắc của thị trường
Trang 25tức là chuyển đến nơi mà chúng được sử dụng với hiệu quả cao nhất Chính vì vậy, các DNTN không đầu tư vào sản xuất hàng hóa công cộng Việc này sẽ gây tác động tiêu cực đến việc kinh doanh của họ Tuy nhiên, DNNN đã đi tiên phong trong lĩnh vực cung cấp hàng hóa công cộng nên kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và làm nền kinh tế phát triển năng động hiệu quả hơn Ngoài ra trong nền KTTT, bên cạnh những tác động tiêu cực của độc quyền như bán với giá cao, thu lợi nhuận siêu ngạch, lũng đoạn thị trường còn có những tác động tích cực khác như tăng cường tập trung hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học công nghệ mới, tranh thủ lợi thế kinh tế theo quy mô
Vì thế, Nhà nước có thể tranh thủ lợi ích và hạn chế tác hại của độc quyền bằng việc thành lập các công ty độc quyền nhà nước Tất nhiên, khi sử dụng công cụ này cần hết sức thận trọng
Thứ tư, doanh nghiệp nhà nước góp phần cải thiện tình trạng phúc lợi
xã hội Với hai đặc trưng cơ bản là "kinh doanh" và "công hữu", lợi nhuận của DNNN không bị phân tán cho các hoạt động tiêu dùng và tái đầu tư tư nhân
mà còn được sử dụng tập trung cho khu vực công cộng thông qua Chính phủ Tác dụng tạo công ăn việc làm và thu nhập của các DNNN đặc biệt ở vùng sâu vùng xa cũng có đóng góp không nhỏ góp phần cải thiện tình trạng phúc lợi xã hội
DNNN nắm giữ một số ngành, lĩnh vực then chốt, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng nhất cho công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, nắm toàn bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có tính huyết mạch, hầu hết các doanh nghiệp lớn là các doanh nghiệp trong các ngành xây dựng (về giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp và dân dụng), cơ khí chế tạo máy, luyện kim, xi măng, điện tử, hoá chất, điện dầu khí, thông tin liên lạc, vận tải đường sắt, đường biển, đường không, ô tô , sản xuất hàng công nghệ tiêu dùng,
Trang 26chế biến nông thuỷ, hải sản, nắm giữ một tỉ lệ quan trọng trong những ngành kinh doanh dịch vụ, thương mại nhập khẩu chiếm thị phần áp đảo trong huy động vốn và cho vay
Trọng phần DNNN trong một số ngành như: 80% công nghệ khai thác, trên 60% công nghệ chế biến, trên 90% công nghệ điện, gas, dầu khí,cung cấp nước, trên 82% vận chuyển hàng hoá, 50% vận hành khách, chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong sản xuất phân bón hoá học 99.8%, thuốc trừ sâu 93.6%, axít sunfuric và xút 100%, lốp ô tô 100%, lốp xe đạp 80%, pin 100%, chế tạo động cơ điezel loại nhỏ 100%, 85% năng lực kéo sợi, 50% năng lực dệt thoi, 30% năng lực dệt kim và khoảng dưới 50% năng lực may mặc, giầy dép, chiếm tỷ trọng 70% bán buôn, 20% bán lẻ Hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm tỷ phần áp đảo trong huy động vốn chiếm 80% thị phần và cho vay 74% thị phần đối với nền kinh tế Các DNNN đã góp phần quan trọng vào việc điều tiết quan hệ cung cầu, ổn định giá cả, chống lạm pháp, ổn định tỷ giá, khắc phục mặt trái của nền kinh tế thị trường
DNNN chiếm một phần rất quan trọng trong xuất nhập khẩu, trong đó DNNN giữ tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế xuất khẩu Trong khi nhà nước không đủ vốn ngân sách, cấp vốn lưu động cho kinh doanh của DNNN theo quy định thì nhiều doanh nghiệp đã tiết kiệm, hình thành vốn tự bổ sung, năng động tìm vốn bên ngoài bao gồm vốn vay của tổ chức tín dụng và vay của công nhân viên trong doanh nghiệp Trong lúc các thành phần kinh tế khác chưa vươn lên được thì DNNN là đối tác chính trong liên doanh, liên kết với bên ngoài, đồng thời DNNN cũng thực hiện hạ tầng kỹ thuật cần thiết để thu hút các doanh nghiệp có vốn trong nước và ngoài nước đầu tư
DNNN đã tạo ra điều kiện vật chất, kỹ thuật, là một trong nhân tố có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, hàng hoá, chuyển từ thiếu sang đáp ứng được nhu cầu cơ bản nông sản, thực
Trang 27phẩm chất lượng ngày một cao của nhân dân và có phần xuất khẩu, chủ yếu thông qua việc xây dựng các công trình thuỷ lợi cung cấp điện, xây dựng các đường giao thông huyết mạch, cung cấp giống cây trồng, con, chuyển giao
kỹ thuật và bước đầu phát triển công nghệ chế biến Một số nông, lâm trường đã phát huy được vai trò trung tâm kinh tế, văn hoá, chuyển giao công nghệ trên địa bàn
Hỗ trợ cho sự phát triển các vùng miền núi và các vùng xa, vùng sâu Ở
đó hiệu quả đầu tư kinh doanh thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều rủi ro kinh doanh nhưng lại là vùng có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của quốc gia
và thực hiện các chính sách dân tộc của đảng
Khu vực DNNN nhiều năm qua cũng là nơi tập trung và đào luyện một
bộ phận quan trọng trong đội ngũ giai cấp công nhân và cung cấp nhiều cán
bộ lãnh đạo ưu tú, trung kiên cho đảng nhà nước và quân đội
DNNN cũng thực sự đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương: uống nước nhớ nguồn, xoá đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả của những vùng bị thiên tai, cứu trợ xã hội, tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện, nhường cơm xẻ áo
Tóm lại: nếu chỉ xét về quy mô, tài sản sự đóng góp vào GDP và tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, nguồn thu ngân sách nhà nước thì DNNN vẫn có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế nước ta
1.3 Phân loại doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam
1.3.1 Theo mức độ sở hữu
Loại hình DNNN chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước
Loại hình DNNN có nhiều chủ sở hữu, trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn Điều lệ thông qua cổ phần hoặc góp vốn cho doanh nghiệp và giữ quyền chi phối doanh nghiệp đó
Trang 28Loại hình DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn trong đó phần sở hữu của Nhà nước chiếm từ 50% cổ phần trở xuống
Việc phân chia theo mức độ sở hữu như vậy về cơ bản là hợp lý Thứ nhất, Nhà nước đảm bảo thực hiện được chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, đảm bảo tính định hướng nền kinh tế thông qua hình thức sở hữu Nhà nước do Nhà nước nắm giữ trên 50 % cổ phần Thứ hai, DNNN đảm bảo được chức năng cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường
1.3.2 Theo mô hình tổ chức hoạt động:
DNNN là các Tổng công ty Nhà nước
DNNN độc lập và DNNN thành viên hạch toán độc lập thuộc các tổng công ty Nhà nước
Công ty mẹ, công ty con
1.3.3 Theo phân cấp quản lý
DNNN do các bộ quản lý
DNNN do địa phương quản lý
DNNN do các tổ chức, đoàn thể xã hội quản lý
1.3.4 Theo các ngành Kinh tế- kỹ thuật
DNNN thuộc các ngành sản xuất nông lâm nghiệp
DNNN thuộc các ngành công nghiệp, xây dựng và phục vụ sản xuất công nghiệp
DNNN thuộc các ngành thương mại, dịch vụ, viễn thông, thông tin liên lạc
1.3.5 Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước
Luật DNNN năm 1995
Luật DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995 đã phân chia DNNN theo mục đích và đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Theo cách phân loại này có hai loại sau đây:
DNNN hoạt động kinh doanh là doanh nghiệp hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận
Trang 29DNNN hoạt động công ích là doanh nghiệp hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Điểm khác biệt cơ bản của loại doanh nghiệp này với loại DNNN hoạt động kinh doanh là hoạt động của DNNN hoạt động công ích không vì mục tiêu lợi nhuận.
Luật DNNN năm 2003
Luật DNNN năm 2003 đã bỏ cách phân loại trên nhằm định hướng cho các DNNN hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường Dựa theo phần vốn góp của nhà nước trong doanh nghiệp và luật điều chỉnh, Luật DNNN 2003 đã chia DNNN thành ba loại như sau:
Công ty nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn, thành lập, tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật DNNN.Công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một (hoặc hai) thành viên do nhà nước sở hữu 100% vốn, hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
Doanh nghiệp có cổ phần vốn góp chi phối của nhà nước là doanh nghiệp
mà cổ phần hoặc vốn góp của nhà nưốc chiếm trên 50% vốn và nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp dó, hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư nước ngoài
Cũng theo Luật DNNN 2003, DNNN còn được phân chia theo tiêu chí
tổ chức quản lý Theo cách chia này có hai loại sau:
DNNN có hội đồng quản trị là các tổng công ty nhà nước và công ty nhà nước hoạt động độc lập có cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy giúp việc, Điều 28, Luật DNNN 2003
Trang 30DNNN không có hội đồng quản trị là các công ty nhà nước mà cơ cấu quản lý gồm giám đốc, các phó giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy giúp việc, Điều 22, Luật DNNN 2003
Theo Quyết định 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 của Thủ tướng
Chính phủ,
Doanh nghiệp Nhà nước bao gồm:
Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh:
Những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực độc quyền Nhà nước: sản xuất, cung ứng vật liệu nổ; sản xuất, cung ứng hóa chất độc; sản xuất, cung ứng chất phóng xạ; Hệ thống truyền tải điện quốc gia; Mạng trực thông tin quốc gia và quốc tế; sản xuất thuốc lá điếu
Những DNNN hoạt động kinh doanh đáp ứng đủ điều kiện sau: vốn Nhà nước từ 20 tỷ đồng trở lên, mức thu nộp ngân sách Nhà nước bình quân của 3 năm trước liền kề từ 3 tỷ đồng trở lên, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao, góp phần quan trọng trong ngành, lĩnh vực sau: sản xuất điện, khai thác các khoáng sản quan trọng: Dầu thô và khí tự nhiên; Than
bô xít; Quặng đồng, Quặng thiếc; Quang có chất phóng xạ; Vàng, đá quý…Những DNNN hoạt động kinh doanh bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào nông thôn, đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa…
Những DNNN hoạt động kinh doanh có tính chất đặc thù: các nhà xuất bản (trừ xuất bản sách giáo khoa, sách báo chính trị, sách báo cho thiếu nhi, sách tiếng dân tộc); Một số doanh nghiệp hoạt động trong những ngành quan trọng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Những doanh nghiệp hoạt động công ích trong các lĩnh vực: in bạc và
chứng chỉ có giá, điều hành bay, bảo đảm hàng hải, kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến điện, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị chuyên dùng cho
Trang 31quốc phòng, an ninh; Các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ thực hiện nhiệm
vụ quốc phòng, anh ninh đặc biệt và các doanh nghiệp đóng tại các địa bàn chiến lược quan trọng kết hợp kinh tế quốc phòng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ…
Những DNNN tiến hành đa dạng hóa sở hữu dưới hình thức: CPH, giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động hoặc bán doanh nghiệp
Những doanh nghiệp khi cổ phần hóa, Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng
số cổ phần của doanh nghiệp
DNNN hoạt động kinh doanh
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có vốn Nhà nước
từ 10 tỷ đồng trở lên, mức thu nộp ngân sách bình quân của 3 năm trước liền
kề từ 1 tỷ đồng trở lên
Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh khác: sản xuất đường, sữa, dầu ăn thực vật, kiểm định hàng hóa, in các loại (trừ in nhãn mác, bao bì), dịch vụ hợp tác lao động, kinh doanh mặt bằng hội chợ triển lãm.DNNN hoạt động kinh doanh khác: sản xuất giống cây trồng, vật nuôi; Dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ, kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới, quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ, đường thủy, quản lý, bảo trì bến tầu, bến xe quan trọng, quản lý, khai thác các công trình thủy nông
Những DNNN hoạt động trong một số lĩnh vực quan trọng, khi tiến hành CPH, Nhà nước không năm giữ trên 50% tổng số cổ phần của doanh nghiệp, nhưng sẽ nắm giữ cổ phần đặc biệt để quyết định một số vấn đề quan trọng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Những DNNN không khác trên đây, khi tiến hành CPH, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ điều kiện cụ thể của doanh nghiệp quyết định Nhà nước giữ cổ phần ở mức thấp hoặc không giữ cổ phần
Trang 32Những DNNN có vốn Nhà nước từ 5 tỷ đồng trở xuống, không CPH được thì thực hiện chuyển đổi sở hữu dưới hình thức giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động hoặc bán doanh nghiệp.
Theo Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18/6/2014 của Thủ tướng
Chính phủ, Doanh nghiệp Nhà nước bao gồm:
Nhà nước nắm giữ 100% vốn Điều lệ đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực:Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ Sản xuất, cung ứng vật liệu nổ công nghiệp.Sản xuất, cung ứng hóa chất độc Truyền tải, điều độ hệ thống điện quốc gia; thủy điện đa mục tiêu và điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh Quản lý, khai thác
hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đô thị; điều hành giao thông vận tải đường sắt quốc gia, đô thị Quản lý khai thác các cảng hàng không, sân bay có vai trò, vị trí quan trọng đối với quốc phòng, an ninh; dịch vụ bảo đảm hoạt động bay Bảo đảm hàng hải Cung ứng dịch vụ bưu chính công ích Xổ
số kiến thiết Xuất bản (không bao gồm lĩnh vực in và phát hành xuất bản phẩm) In, đúc tiền Đo đạc bản đồ phục vụ quốc phòng, an ninh Quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện, kè đá lấn biển Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Tín dụng chính sách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Những doanh nghiệp thành viên có vai trò chủ yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, nắm giữ các bí quyết kinh doanh, công nghệ mà tập đoàn, tổng công ty nhà nước cần thiết phải nắm giữ 100% vốn để thực hiện các nhiệm
vụ, ngành nghề kinh doanh chính được giao
Những Doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa Nhà nước nắm giữ
từ 75% bao gồm: Quản lý, khai thác, bảo trì cảng hàng không, sân bay Quản
lý, khai thác cảng biển tổng hợp quốc gia, cửa ngõ quốc tế Quản lý, bảo trì hệ
Trang 33thống đường bộ, đường thủy nội địa Bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia Cung cấp cơ sở hạ tầng viễn thông Khai thác khoáng sản quy
mô lớn Khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên
Những doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa nhà nước nắm giữ
từ 65 % đến dưới 75% tổng số cổ phần bao gồm: Chế biến dầu mỏ và khí tự nhiên Sản xuất thuốc lá điếu Những doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Trồng và chế biến cao su, cà phê, trồng và quản lý rừng trồng tại các địa bàn chiến lược, miền núi, vùng sâu, vùng xa gắn với quốc phòng, an ninh Những doanh nghiệp có vai trò đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, bình ổn thị trường, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sau: Bán buôn thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; Bán buôn lương thực; Bán buôn xăng dầu Tài chính, ngân hàng (không bao gồm bảo hiểm, chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính).Vận chuyển hàng không, phân phối điện
Những doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 65 % tổng số cổ phần bao gồm:Thoát nước đô thị Vệ sinh môi trường Chiếu sáng đô thị Khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch đô thị Điều tra cơ bản về địa chất, khí tượng thủy văn; khảo sát, thăm dò, điều tra về tài nguyên đất, nước, khoáng sản và các loại tài nguyên thiên nhiên Sản xuất, lưu giữ giống gốc cây trồng vật nuôi và tinh đông; sản xuất vắcxin sinh phẩm y tế, vắcxin thú y Sản xuất hóa chất cơ bản, phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật
1.4 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
1.4.1 Mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước
Nhà nước có vai trò rất to lớn, quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Nhà nước ta, một mặt là bộ máy hành chính, phải quản
Trang 34lý toàn diện tất cả mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Mặt khác, còn là đại diện cho toàn dân thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản công, trong đó có DNNN, lúc này Nhà nước đóng vai trò như chủ sở hữu, chủ đầu tư,…
Ở nước ta Nhà nước được toàn dân ủy quyền thực hiện quyền chủ sở hữu đối với tài sản công, không có tài sản nào thuần túy thuộc sở hữu riêng của Nhà nước, mà đều thuộc sở hữu của toàn dân, nhưng do Nhà nước đại diện quản lý và cũng không có tài sản nào của toàn dân mà không ủy quyền cho Nhà nước quản lý Nhà nước của ta là một bộ máy đồ sộ, nhiều cấp, với rất nhiều cán bộ, công chức, do vậy nên Nhà nước lại phải tiếp tục ủy quyền cho các tổ chức, các cá nhân đại diện cho Nhà nước quản lý tài sản của toàn dân, vì vậy không phải không có nguy cơ Nhà nước hành động tách rời khỏi lợi ích toàn dân
Mối quan hệ giữa hai mặt này rất phức tạp, rất dễ chồng chéo nhau, với
cơ chế ủy quyền nhiều tầng, nhiều cấp như vậy có thể trở thành nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng lãng phí, “vô chủ” tài sản công Thực tế ở một số tập đoàn kinh tế nhà nước cũng đã cho thấy rõ điều đó Hiện nay mối quan hệ
về chế độ sở hữu giữa toàn dân với Nhà nước và mối quan hệ giữa Nhà nước với DNNN đều chưa rõ Trách nhiệm của Nhà nước trước toàn dân trong việc quản lý, sử dụng tài sản công không được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật Mặt khác, làm sao để toàn dân kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh được người đại diện mình là Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng tài sản công cũng chưa rõ, chưa được thực hiện trên thực tế Trong quan hệ với DNNN, lúc nào Nhà nước đóng vai trò là cơ quan hành chính, lúc nào là đại diện chủ
sở hữu, chủ đầu tư đều chưa rõ ràng
Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế bằng nhiều cách Ngoài việc ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống luật pháp, Nhà nước còn trực tiếp sử dụng
Trang 35công cụ, thực lực kinh tế, trong đó sử dụng các DNNN như công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường Để nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với DNNN, cần phải:
Để điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài các chính sách, luật pháp Nhà nước cần thiết phải sử dụng các DNNN như một công cụ, một thực lực kinh tế mạnh, nhưng Nhà nước lại tiếp tục ủy quyền cho các tổ chức, cá nhân thay mặt Nhà nước quản lý, sử dụng các tài sản đó, trong đó có DNNN, trong khi trách nhiệm trước nhân dân không rõ, những quy định pháp lý về trách nhiệm này lại chưa có hoặc chưa rõ, cơ chế kiểm soát không rõ ràng, dẫn đến nhiều tiêu cực
Không nên nhấn mạnh vai trò là công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường của các DNNN; rằng đã là doanh nghiệp thì phải kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận; những hàng hóa, dịch vụ phục vụ công ích thì Nhà nước phải mua của các doanh nghiệp theo giá cạnh tranh trên thị trường Các nước trên thế giới không sử dụng DNNN làm công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường mà vẫn điều tiết và định hướng tốt nền kinh tế theo mục tiêu của họ và sự yếu kém, hiệu quả hoạt động thấp của DNNN ở nước ta những năm qua có nguyên nhân chính từ lợi dụng vai trò này
Qua hơn 30 năm đổi mới, đến nay có thể thấy rõ những thành tựu mà nước ta đã đạt được là rất lớn, trên hầu hết các mặt, các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội, nhưng trong quản lý nhà nước cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Nổi cộm nhất trong quản lý nhà nước không phải ở khía cạnh là
bộ máy hành chính, cai trị (mặc dù khía cạnh này cũng không ít những hạn chế, thậm chí yếu kém) mà chủ yếu ở khía cạnh là đại diện sở hữu toàn dân, nói cách khác là nhà đầu tư, quản lý, sử dụng tài sản công chưa hiệu quả, trong đó quản lý DNNN bộc lộ quá nhiều hạn chế, yếu kém, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế
Trang 361.4.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với DNNN
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước là phương thức tác động của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, các quy định, cách thức, phương tiện để doanh nghiệp nhà nước hoạt động, thực hiện theo các mục tiêu kinh tế xã hội mà nhà nước đề ra
Các phương thức tác động của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước: Nhà nước tác động trực tiếp thông qua hình thức đầu tư, quản lý nhân
sự, các chiến lược phát triển
Nhà nước tác động gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, các định hướng phát triển chung của nền kinh tế.Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp 2005 bao gồm những nội dung sau:
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển công ty nhà nước theo định hướng, mục tiêu chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, lãnh thổ
Tổ chức đăng ký kinh doanh đối với công ty nhà nước; xây dựng và lưu giữ các thông tin cơ bản về công ty nhà nước; theo dõi và giám sát hoạt động kinh doanh của công ty nhà nước sau đăng ký; bảo đảm cho công ty nhà nước hoạt động theo đúng các điều kiện quy định tại quyết định thành lập và đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Xây dựng quy hoạch và tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao phẩm chất đạo đức kinh doanh cho người quản lý công ty nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý nhà nước đối với công ty nhà nước; đào tạo và xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề
Trang 37Ban hành danh mục sản phẩm, phương thức quản lý tài chính và chính sách ưu đãi đối với sản phẩm, dịch vụ công ích trong từng thời kỳ.
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ của Nhà nước tại các công ty nhà nước; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
1.4.3 Hình thức và phương pháp quản lý nhà nước đối với DNNN
1.4.3.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật QLNN của các cơ quan quản lý nhà nước
Các văn bản quy phạm pháp luật là một trong những phương tiện quan trọng của hoạt động quản lý; là hành lang pháp lý để chủ thể, khách thể quản
lý thực hiện chức năng của mình trong những mối quan hệ đã được quy định, được gọi là thể chế
Các quy định của pháp luật là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, có tác động đa chiều đến công tác QLNN đối với các DNNN
Trong những năm qua đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác QLNN trong các DNNN:
Luật Doanh nghiệp năm 2003
Luật Doanh nghiệp năm 2005
Luật Doanh nghiệp năm 2014
Nghị định 66/2011/NĐ-CP: Quy định việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với chức danh lãnh đạo, quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước
Thông tư 03/2012/TT-BNV: Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và người
Trang 38được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước
Nghị định 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn Điều lệ
Nghị định số 71/2013/NĐ-CP ngày 11/7/2013 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp
1.4.3.2 Quản lý nhà nước về kinh tế
Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, để đạt các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
* Vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế:
Vai trò quản lý nhà nước về kinh tế bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp hoạt động chung và do tính chất của xã hội hóa quy định Lực lượng sản xuất càng phát triển, trình độ xã hội hóa của sản xuất càng cao thì phạm vi thực hiện vai trò đó ngày càng cần thiết và mức độ đòi hỏi của nó càng chặt chẽ và nghiêm ngặt Trong nền kinh tế thị trường, cơ sở khách quan sâu xa của vai trò quản lý nhà nước được thể hiện ở những mặt sau:
-Thứ nhất, trong nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường, mỗi chủ thể kinh doanh, mỗi ngành, mỗi địa phương đều có lợi ích riêng của mình, họ đều tìm mọi biện pháp để tối ưu hóa lợi ích đó Khi thực hiện các hoạt động nhằm tối ưu hóa lợi ích, mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành, mỗi vùng
có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy sự vi phạm đến lợi ích của người khác,
cơ sở khác, ngành, vùng, khác và do đó, tất yếu nảy sinh hiện tượng lợi ích của cá nhân, của bộ phần này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích cá nhân của bộ phận khác trong xã hội, xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểu
Trang 39hiện về mặt xã hội của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo, cản trở hoặc tiêu diệt lẫn nhau, các quan hệ kinh tế quốc dân bị phá vỡ, sự phân
bổ các nguồn lực không hợp lý, cơ cấu kinh tế bị đảo lộn, các vấn đề xã hội, chính trị phát sinh
Muốn khắc phục nhược điểm này, cần có một bộ phận điều hành vĩ mô bằng việc hoạch định chương trình, chiến lược và kế hoạch phát triển với các mục tiêu về quy mô, về cơ cấu, về nhịp độ và tốc độ tăng trưởng của từng ngành, từng vùng và các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân Các mục tiêu vĩ mô này là những định hướng không thể thiếu cho hoạt động kinh tế của từng cá nhân, từng doanh nghiệp, từng ngành, từng vùng trong nước Bộ phận điều hành vĩ mô không ai khác là nhà nước, chủ thể kinh tế của mỗi quốc gia Như vậy nếu không có vai trò của Nhà nước
sẽ không có việc phân bố sản xuất và lao động giữa các ngành và vùng để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, tối ưu, sẽ không có sự phát triển của những ngành có ý nghĩa thúc đẩy sự tiến bộ khoa học và công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nếu không có Nhà nước cũng sẽ không có nguồn tích lũy tập trung quy mô lớn để tạo ra những bước nhảy vọt trong sự phát triển kinh tế- xã hội và giải quyết những mục tiêu kinh tế vĩ mô khác mà bản thân
cơ chế thị trường ít có khả năng hoặc không thể thực hiện được, đặc biệt là các vấn đề về kết cầu hạ tầng xã hội
Thứ hai, trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hành vi giao dịch đều tiến hành thông qua thị trường và tuân theo các quy luật của thị trường Song đối với các hoạt động tạo ra những hàng hóa và dịch vụ công là những hàng hóa và dịch vụ mà chi phí bỏ ra đem lại lợi ích cho nhiều người nhưng lại không được thanh toán
và bồi hoàn đầy đủ về mặt giá trị tiền tệ Hoặc những hoạt động trong sản xuất và tiêu dùng gây ra những ảnh hưởng hướng ngoại tiêu cực lan tràn trên
Trang 40thị trường không được tính toán khi tính toán hay lựa chọn các quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của cá nhân hay đơn vị kinh tế gây ra một khoản tồn phí lớn của xã hội Khi không thể tối ưu hóa được lợi ích xét trên phạm vi toàn xã hội thì tư nhân không thể cung cấp sản phẩm được, vì rằng tư nhân không chi phối được giá cả và thu hồi chi phí đã bỏ ra Do vậy, nhà nước với
tư cách là chủ thể nền kinh tế quốc dân, với mục tiêu kinh tế vĩ mô cần thiết phải nắm và đảm bảo cho xã hội những loại hàng hóa và dịch vụ công cũng như những hàng hóa mà nếu nắm giữ trong tay tư nhân sẽ làm thiệt hại đến lợi ích toàn xã hội
Thứ ba, nền kinh tế hàng hóa và vận động theo cơ chế thị trường không thể tách rời với môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại Khi môi trường không ổn định, thường xuyên có sự đụng độ và xung đột giữa các giai cấp tầng lớp trong xã hội, các quan hệ giao dịch mua bán trên thị trường không lành mạnh, mang tính chất lừa đảo, bạo lực thì kinh tế không thể phát triển, cơ chế thị trường- cơ chế điều chỉnh hành vi của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng theo các quy luật của thị trường sẽ dẫn tới sai lệch nhược điểm và khuyết tật của cơ chế thị trường sẽ khó có thể khắc phục và đẩy môi trường từ kinh tế, xã hội, đối ngoại và tình trạng rối loạn và khủng hoảng Cơ chế thị trường rất cần có môi trường ổn định và lành mạnh để hoạt động song những nhược điểm và khuyết tật của cơ chế này lại đẻ ra những xu hướng phủ định chính những điều kiện hoạt động của bản thân nó như chạy theo lợi nhuận cục bộ sẽ dẫn đến sự phân bổ và sử dụng các nguồn lực không hợp lý ,
vì lợi ích kinh tế cá nhân, cục bộ mà chà đạp lên lợi ích chung, phá hoại môi sinh, gây ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo ngày một lớn, bất công trong xã hội ngày một tăng
* Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế: