1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách giáo dục của anh tại myanmar (1854 – 1948) và malaysia (1824 – 1941)

75 729 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 654,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song song với quá trình xâm nhập của mìnhthực dân Anh đã nhanh chóng thiết lập được phạm vi ảnh hưởng bằng nhiều chínhsách có tác động to lớn đến các nước thuộc địa thông qua việc xây dự

Trang 1

Lời cảm ơn

Với tình cảm chân thành và lòng quý trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư - Tiến sĩ Đặng Văn Chương - người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận.

Xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Huế, khoa Lịch sử - trường Đại học Sư phạm Huế, Quý thầy cô giáo đã quan tâm, tận tình giảng dạy.

Dù rất cố gắng, song khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý Thầy cô vui lòng góp ý, chỉ dẫn để tôi có thể tiếp tục hoàn thiện đề tài trong quá trình nghiên cứu sau này.

Xin chân thành cám ơn!

Huế, tháng 5 năm 2016 Dương Thị Bảo Ngọc

Trang 3

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

- EIC: The English East India Company Công Ty Đông Ấn Anh

- SS: Straits Settlements Khu định cư Eo biển

- FMS: Federated Malay States: Liên bang Malay

- UMS: Unfederated Malay States: Xứ bảo hộ ngoài Liên bang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của khóa luận 8

7 Bố cục của khóa luận 8

CHƯƠNG 1: GIÁO DỤC MYANMAR THỜI THUỘC ANH 9

(1854 – 1948) 9

1.1 Giáo dục Myanmar thời thuộc Anh (1854 – 1948) 9

1.1.1 Thực dân Anh hoàn thành xâm lược Myanmar (1852 - 1885) 9

1.2 Tình hình giáo dục Myanmar trước năm 1854 10

1.3 Tình hình giáo dục Myanmar thời thuộc Anh (1854 - 1948) 14

1.3.1 Giáo dục nhà chùa ở Myanmar thời thuộc Anh 14

1.3.2 Quá trình thành lập hệ thống giáo dục theo mô hình phương Tây của chính quyền thuộc địa Anh ở Myanmar 15

1.3.2.1 Giai đoạn 1854 - 1898 15

1.3.2.2 Giai đoạn 1898 - 1942 18

1.3.2.3 Giai đoạn 1945 - 1948 19

CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC MALAYSIA DƯỚI THỜI THUỘC ANH 21

(1824 – 1941) 21

2.1 Malaysia trở thành thuộc địa của Anh (1786 – 1941) 21

2.2 Giáo dục ở Malaysia trước thời điểm thực dân Anh đặt nền thống trị 23

2.3 Giáo dục Malaysia theo mô hình phương Tây của chính quyền thuộc địa Anh từ 1824 đến 1941 29

2.3.1 Giáo dục Hồi giáo dưới thời thuộc địa Anh 30

2.3.2 Các giai đoạn phát triển của giáo dục Malaysia theo mô hình phương Tây dưới thời thuộc địa Anh từ 1824 đến 1941 32

Trang 5

2.3.2.1.Giai đoạn 1824 – 1867 32

2.3.2.2 Giai đoạn 1867 – 1900 35

2.3.2.3 Giai đoạn 1900 – 1941 37

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA ANH Ở MYANMAR (1854 – 1948) VÀ MALAYSIA (1824 – 1941) 42

DƯỚI THỜI THUỘC ĐỊA 42

3.1 Nét tương đồng và khác biệt trong chính sách giáo dục của thực dân Anh thực hiện ở Myanmar (1854 – 1948) và Malaysia (1824 – 1941) 42

3.1.1 Nét tương đồng trong chính sách giáo dục của thực dân Anh thực hiện ở Myanmar (1854 – 1948) và Malaysia (1824 – 1941) 42

3.1.1.1 Duy trì nền giáo dục tôn giáo truyền thống ở Myanmar và Malaysia 42

3.1.1.2 Du nhập và phát triển nền giáo dục thế tục ở Myanmar và Malaysia 44

3.1.1.3 Từ nền giáo dục Ấn Độ thuộc Anh đến giáo dục Anh ở Myanmar và Malaysia 45

3.2 Nét khác biệt trong chính sách giáo dục của thực dân Anh áp dụng giữa Myanmar (1854 – 1948) và Malaysia (1824 – 1941) 47

3.3 Tác động của tình hình giáo dục ở Myanmar (1854 - 1948) và Malaysia (1824 - 1941) thời thuộc Anh 50

3.3.1 Tác động tích cực 50

3.3.2 Tác động tiêu cực 53

KẾT LUẬN 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nói đến nước Anh, đặc biệt vào cuối thế kỷ XVIII, mặc dù cuộc cáchmạng công nghiệp chỉ mới là bước khởi đầu song nó đã góp phần rất lớn trong sựphát triển của nền kinh tế Anh Khối lượng hàng hóa do máy móc chế tạo đã tănglên rõ rệt Trong vòng quay sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, dưới những tác độngcủa cuộc cách mạng công nghiệp, nhu cầu tìm kiếm về nguyên liệu, thị trường cũngnhư thuộc địa của người Anh ngày càng trở nên cấp thiết Đặc biệt, trong giai đoạnnày, với sự mở rộng của các hoạt động thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ,

chính là những yếu tố cơ bản đã thúc đẩy Anh “bày tỏ” sự quan tâm sâu sắc của

mình đến vấn đề thị trường và thuộc địa qua đó cũng giành nhiều sự chú ý trở lạiđối với khu vực Đông Nam Á

Myanmar - một quốc gia nằm ở phía Tây của khu vực Đông Nam Á lục địa,

và Malaysia - một quốc gia giàu có bật nhất trong khu vực, cũng không nằm ngoài

“mối quan tâm” của người Anh Với vị trí chiến lược quan trọng của những đất

nước này, Myanmar được xem như là một “chiếc cầu trên bộ” nối Ấn Độ với khu

vực Đông Nam Á, là cửa ngõ để xâm nhập vào vùng Tây Nam Trung Quốc CònMalaysia lại nằm trên tuyến đường giao thương có vai trò phục vụ cho thương mại,cộng thêm có vị trí then chốt – nằm trên tuyến đường biển từ Ấn Độ đến TrungQuốc, đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của chính quyền Anh Không chỉ dừnglại ở đó, sự giàu có về lúa gạo và tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là gỗ tếch, các mỏkim loại và dầu lửa, đồng hay vàng…) của Myanmar và Malaysia càng thôi thúchơn nữa dã tâm xâm lược của thực dân Anh

Sau quá trình giao tranh quyết liệt Anh đã xây dựng được cho mình một hệthống thuộc địa rộng lớn trong đó Myanmar và Malaysia đóng vai trò là những mắtxích quan trọng trong hệ thống này Song song với quá trình xâm nhập của mìnhthực dân Anh đã nhanh chóng thiết lập được phạm vi ảnh hưởng bằng nhiều chínhsách có tác động to lớn đến các nước thuộc địa thông qua việc xây dựng các mối

quan hệ về kinh tế, chính trị - quân sự, văn hóa - giáo dục trong đó những “quan

tâm” về mặt giáo dục được thể hiện rất rõ vì giáo dục được xem là “vũ khí cơ bản”

để thực dân Anh có thể thực hiện ý đồ của mình một cách thuận lợi và dễ dàng

Trang 7

Trên cơ sở đó, người Anh có thể duy trì được sự hiện diện của mình một cách lâudài, thu được nhiều lợi ích nhất và để lại nhiều dấu ấn nhất.

Một điểm khác biệt trong việc thực hiện chính sách giáo dục của Anh ở cácnước thuộc địa là nền giáo dục của người Anh đã sớm thoát khỏi hệ thống giáo dụcthần quyền nên những chính sách giáo dục cũng đã mang lại những tác động tíchcực đối với các nước thuộc địa Tuy nhiên, để thực hiện ý đồ trên thực dân Anh

cũng đã gặp phải rất nhiều “vật cản đường”, Myanmar vốn có một nền giáo dục tồn

tại qua nhiều thế kỷ - giáo dục nhà chùa Còn ở Malaysia lại tồn tại một nền giáodục Hồi giáo có vai trò to lớn trong đời sống văn hóa nơi đây Chính sự tồn tại củanhững yếu tố truyền thống này đã khiến cho chính sách giáo dục của thực dân Anhphải nỗ lực tích cực hòa nhập với các yếu tố truyền thống trên chứ không thể dẹp bỏ

đi được Bên cạnh đó, sự xuất hiện của một nền giáo dục mới theo mô hình phươngTây đã tạo nên những màu sắc đầy mới mẻ cho bức tranh tình hình giáo dục của cảMyanmar và Malaysia thời thuộc Anh

Trong bối cảnh chung, các nước Đông Nam Á đang cùng nhau xúc tiến choviệc hình thành cộng đồng các nước ASEAN với ba trụ cột chính là An ninh –Chính trị, Kinh tế, Văn hóa – Xã hội cùng với các quốc gia Đông Nam Á khác, ViệtNam và Myanmar, Malaysia đều là thành viên của Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN) Trong xu thế toàn cầu hóa, việc mở rộng quan hệ hợp tác với cácnước, trước hết với các nước trong khu vực là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọngtrong bối cảnh thời sự hiện nay Nên việc nghiên cứu về các nước ASEAN và cụ thể

là Myanmar và Malaysia là một động thái cần thiết và có tác động tích cực giúp nhànước ta đưa ra những chính sách ngoại giao phù hợp Do đó, đề tài nghiên cứu

Chính sách giáo dục của Anh tại Myanmar (1854 – 1948) và Malaysia (1824 – 1941) có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.

* Về mặt khoa học:

Thông qua việc nghiên cứu đề tài giúp chúng ta hiểu được những nét cơ bản

về tình hình giáo dục truyền thống ở Myanmar và Malaysia trước khi bị thực dânAnh xâm lược, quá trình hoàn thành xâm lược các nước Đông Nam Á của thực dânAnh và cụ thể với hai nước là Myanmar và Malaysia, hiểu được một cách tương đốiđầy đủ về những biến đổi sâu sắc của tình hình giáo dục ở cả Myanmar và

Trang 8

Malaysia Từ đó, có thể hiểu rõ hơn vai trò của chính quyền thuộc địa đối với nhữngbiến đổi trong tình hình giáo dục ở Myanmar và Malaysia từ giữa thế kỷ XIX đếnnửa đầu thế kỷ XX cũng như tác động hai chiều trong chính sách cai trị của thựcdân Anh ở Myanmar và Malaysia, đặc biệt là trên lĩnh vực giáo dục Đồng thời, đềtài sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về một giai đoạn trong lịch sử cận đại củaMyanmar và Malaysia.

* Về mặt thực tiễn:

Việt Nam và Myanmar và kể cả Malaysia đều là các quốc gia cùng nằm ởkhu vực Đông Nam Á lục địa Chính sự gần gũi về vị trí địa lý trên đây đã tạo nênnhững nét tương đồng về lịch sử và văn hóa giữa ba nước Đồng thời Việt Nam,Myanmar và Malaysia đều là thành viên của tổ chức ASEAN Do đó, với kết quảnghiên cứu, những nhận xét của đề tài sẽ góp phần tăng cường hơn nữa sự hiểu biếtlẫn nhau giữa Việt Nam và Myanmar và Malaysia dựa trên sự tương đồng về mặtlịch sử - văn hóa Đó là một trong những yếu tố tiên quyết, thúc đẩy mối quan hệhợp tác giữa các nước trên khu vực Trên cơ sở đó, tạo điều kiện thuận lợi cho quátrình hợp tác và xây dựng một cộng đồng ASEAN hòa bình, hữu nghị, hợp tác vàphát triển

Với những ý nghĩa về khoa học và thực tiễn trên đây, tôi chọn vấn đề

“Chính sách giáo dục của Anh tại Myanmar (1854 – 1948) và Malaysia (1824 – 1941)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về Myanmar:

Nhìn chung, có nhiều tác giả đã từng đề cập vấn đề nghiên cứu liên quan đếnMyanmar Trong số các công trình khoa học nghiên cứu đó không thể không kể đến

luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Quý Đức: “Tình hình giáo dục ở Miến Điện thời

thuộc Anh (1854 - 1948)” đã trình bày một cách hết sức cụ thể và chi tiết đầy đủ về

giáo dục ở Miến Điện dưới thời thuộc địa và cụ thể là giai đoạn 1854 -1948 Trongquá trình nghiên cứu của mình, tác giả khóa luận đã tiến hành kế thừa có chọn lọccông trình luận văn của tác giả Lê Thị Quý Đức về mảng nghiên cứu Myanmar

Trang 9

Nghiên cứu về Malaysia:

Liên quan đến vấn đề nghiên cứu này, hiện nay đã có một số công trìnhnghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước đề cập đến, trong đó có thể kể đếnmột số công trình sau:

Trong số các công trình đó, có một số công trình đã được dịch sang tiếng

Việt như “Lịch sử Đông Nam Á” của D G E Hall (Bùi Thanh Sơn, Nguyễn Thái

Yên Hương, Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Vũ Tùng, Đoàn Thắng dịch), ấn hành năm

1997 Công trình này đã nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các quốcgia ở khu vực Đông Nam Á từ thời cổ đại cho đến giữa thế kỷ XX Trong tác phẩmnày, D G E Hall đã dành một phần nội dung để làm rõ về sự khởi đầu của Anh ở

Mã Lai và bối cảnh về Singapore, về sự hình thành của Khu định cư eo biển và tácgiả đã khái quát được toàn bộ quá trình người Anh xâm nhập vào các tiểu quốcMalaya từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX

Về tình hình nghiên cứu trong nước: Có thể khái quát về tình hình nghiên cứu

Malaysia và tình hình nghiên cứu vấn đề liên quan đến đề tài như sau:

Tác phẩm “Lịch sử Đông Nam Á” (tập IV) do Trần Khánh chủ biên, xuất bản

năm 2012 đã đề cập đến lịch sử các quốc gia ở Đông Nam Á, trong đó có Myanmar

từ thế kỷ XVI đến năm 1945 và cũng đề cập đến thực dân Anh đã dùng một hệthống giáo dục kép tại Malaysia Lịch sử Malaysia còn được đề cập trong một sốcông trình nghiên cứu các vấn đề rộng lớn hơn Có thể kể đến một số tác phẩm như:

“Lịch sử Đông Nam Á” của Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh xuất bản

năm 2008

Tác phẩm “Malaixia trên đường phát triển” của Phạm Đức Thành (1993) là

tác phẩm ghi lại một cách khái quát về vùng đất Malaysia qua các thời kỳ trên nhiềulĩnh vực đời sống

Luận án tiến sĩ của tác giải Lí Tường Vân (2014) – “Con đường đấu tranh

giành độc lập dân tộc của Malaya từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1957” đã đưa ra nhận

định giáo dục dưới thời thuộc địa đã tạo nên những chuyển biến quan trọng về chínhtrị, tác động to lớn đến phong trào giải phóng dân tộc

Về các tạp chí nghiên cứu: Trong tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số

5/2011, với bài “Chính sách giáo dục của Anh đối với cộng đồng người Malay bản

Trang 10

địa (từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX)” của tác giả Lí Tường Vân phân tích

một cách sâu sắc sự đối lập trong chính sách giáo dục của người Anh dành cho tầnglớp tinh hoa quý tộc và những người nông dân, ngư dân bản địa Malay

Ngoài ra, liên quan đến các vấn đề thuộc phạm vi đề tài khóa luận vớinhững mức độ khác nhau, có một số công trình công bố trong những năm gần đây

Năm 2005, Đỗ Thanh Bình, Trịnh Nam Giang có viết bài “Chính sách “chia để

trị” của thực dân phương Tây ở Đông Dương, Mã Lai và Miến Điện” (Tạp chí

Nghiên cứu Châu Âu, số 6)

Về tình hình nghiên cứu nước ngoài: các công trình nước ngoài viết bằng

tiếng Anh nghiên cứu về tình hình Malaysia nói chung và giai đoạn từ nửa cuối thế

kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX nói riêng là khá phong phú

Chuyên khảo của William R.Rof (1967), “The Origins of Malay Nationalism(Nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc ở Mã Lai)” – University Malaya Press, KualaLumpur, có thể được coi là nghiên cứu chuẩn mực về sự hình thành và phát triểnchủ nghĩa dân tộc của người Malay trong những năm 1930 Trong đó, ông đã đề cậpđến nguồn gốc xuất thân và nền giáo dục mà các nhóm trí thức được hưởng

Philip Loh F.S (1975) với tác phẩm “Cultivatiors and Administrators: Britisheducational policy towards the Malays, 1875 - 1906 (Những người nông dân và cácnhà cầm quyền: chính sách giáo dục của Anh dành cho người Malay, 1875 - 1906 )”tiếp tục nghiên cứu chính sách giáo dục của thực dân Anh và hệ quả xã hội của nó

Các công trình của Rex Stevenson, Philip Loh F.S, William R Roff đượcđánh giá cao trở thành những tài liệu được trích dẫn nhiều nhất trong các nghiêncứu về giáo dục thực dân ở Malaya

Hai chuyên khảo của Khasnor Johan: “The Emergence of the modern Malayadministrative elite (Tình trạng khẩn cấp của các nhà cầm quyền mới ngườiMalay)” – Oxford University Press, Singapore, 1984 và “Educating the Malay elite:the Malay College Kuala Kangsar”, 1905 – 1941

Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu có nhiều giá trị như về nhóm tácgiả Francis H.K Wong và Gwee Yee Hean là “Offcial Reports on Education: StraitsSettlements and the Federated Malay States, 1870 – 1939 (Báo cáo chính thức vềgiáo dục ở Khu định cư Eo biển và Liên bang các bang Malay)” Tác phẩm có nhiều

Trang 11

tư liệu gốc quý.

Có một số tác phẩm tuy không đề cập đến trực tiếp giáo dục ở Malaysia nhưtác phẩm “A History of Malaysia” (Lịch sử Malaysia) của Andaya, Leonard Y andBarbara Watson Andaya (1982) Hay tác phẩm “British Malay” cũng có đề cập đếngiáo dục truyền thống Malaysia

Bên cạnh đó, tôi cũng đã tìm hiểu các nguồn tài liệu tiếng Anh và tiếng

Việt trên mạng Internet phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài như: asiatours.net,

en.wikipedia.org để nghiên cứu về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,

giáo dục của Malaysia

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Chính sách giáo dục của Anh tại

Myanmar (1854 – 1948) và Malaysia (1824 – 1941).

- Về sử dụng thuật ngữ: Đề tài sử dụng Malaysia theo đúng tên gọi của

nước Malaysia trong bối cảnh hiện đại ngày nay cũng là tên gọi phổ biến chính thứccủa Malaysia Ngoài ra trong đề tài của mình tôi còn sử dụng các tên gọi khác như

Mã lai, Malaya, Malay – là những tên gọi trước kia của Malaysia trong các thời kìlịch sử để phù hợp với nội dung tài liệu tiếp cận

Còn đối với Malaysia, tôi tiến hành chọn mốc bắt đầu nghiên cứu là từ năm

1824 Đây là mốc thời gian mà người Anh đã bắt đầu có những quan tâm và vạch

ra những chính sách đầu tiên về giáo dục bản địa của thuộc địa Malaysia nhằm

mục đích “chia để trị” đối với các quốc gia đa dân tộc này Đồng thời chính năm

1824, với những toan tính đã nuôi dưỡng từ trước, Hiệp định Anh – Hà Lan vềhoạch định khu vực ảnh hưởng ở Đông Nam Á được kí tại London ngày 17/3 Từ

Trang 12

thời điểm này Malaysia chính thức tồn tại dưới cái tên “Malaya thuộc Anh”

-“British Malaya” Với mốc kết thúc, tôi chọn năm 1941 làm mốc kết thúc trong

khoảng thời gian nghiên cứu về Malaysia dưới thời thuộc Anh Với mốc thời giannăm 1941- trong Chiến tranh thế giới thứ hai kể từ khi Nhật Bản xâm chiếmMalaysia cũng là mốc chấm dứt quyền thống trị của Anh Quốc Sau khoảng thờigian này đến năm 1946 thực dân Anh lấy lại quyền kiểm soát đối với Malaysiatrong khoảng thời gian 1946 - 1956 cho đến khi Malaysia được trao trả độc lập,tuy nhiên trong giai đoạn cầm quyền này những chính sách giáo dục của người

Anh không còn mấy “mặn mà” như trước.

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là xây dựng một bức tranh tương đối đầy đủ về tình hìnhgiáo dục ở Myanmar và Malaysia thời thuộc Anh Trên cơ sở đó, tác giả rút ta một

số nhận xét về tình hình giáo dục ở Myanmar và Malaysia trong giai đoạn trên

Để thực hiện mục tiêu trên, tôi tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

- Trình bày về tình hình giáo dục của Myanmar dưới thời thuộc Anh (1854 - 1948)

- Trình bày quá trình hoàn thành xâm lược Malaysia của thực dân Anh

- Tìm hiểu về tình hình giáo dục ở Malaysia trước khi trở thành thuộc địa của Anh

- Trình bày một cách có hệ thống và tương đối đầy đủ về tình hình giáo dục

ở Malaysia giai đoạn 1824 - 1941

- Rút ra một số nhận xét và so sánh giữa tình hình giáo dục ở Myanmar giai đoạn

1854 - 1948 và Malaysia giai đoạn 1824 - 1941

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Về phương pháp luận: trong quá trình thực hiện đề tài, tôi quán triệt

phương pháp luận Sử học mác-xít về mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện,nhằm đảm bảo tính chân thực, khách quan của lịch sử

- Về phương pháp nghiên cứu: để đảm bảo tính khách quan và khoa học

trong quá trình nghiên cứu, tôi kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử vàphương pháp logic Ngoài ra, tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu kháctrong khoa học Lịch sử như: phương pháp phân tích, chọn lọc, phân loại, tổng hợp,

so sánh, đối chiếu nhằm xử lý nguồn tư liệu, và phương pháp nghiên cứu liênngành dân tộc học và ngôn ngữ học cũng được vận dụng để phân tích về thành

Trang 13

phần, tình trạng tộc người và ngôn ngữ của các dân tộc.

6 Đóng góp của khóa luận

Về mặt khoa học: theo tôi, đề tài có thể sẽ có những đóng góp sau:

- Đề tài góp phần nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về lịch sửMyanmar và Malaysia từ giữa thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX Qua việc thựchiện đề tài sẽ bước đầu xác lập một hệ thống tư liệu tương đối đầy đủ (ở mức độ chophép) liên quan đến đề tài, đến lịch sử Myanmar và Malaysia

- Trình bày một cách có hệ thống tình hình giáo dục ở Myanmar và Malaysiatrước khi trở thành thuộc địa của Anh và tình hình giáo dục ở cả Myanmar (1854 -1948) và Malaysia thời thuộc Anh (1824 - 1941) - tái hiện bức tranh đa dạng, đanxen giữa giáo dục truyền thống của Myanmar và Malaysia với nền giáo dục theo môhình phương Tây của chính quyền thuộc địa

- Rút ra một số nhận xét về đặc điểm hệ quả của nền giáo dục thuộc Anh đối vớicác nước thuộc địa và so sánh giữa tình hình giáo dục ở Myanmar giai đoạn 1854 - 1948

và Malaysia giai đoạn 1824 - 1941

Về mặt thực tiễn: khóa luận là công trình tập hợp nhiều nguồn tư liệu khá

phong phú về tình hình giáo dục ở Myanmar (1854 1948) và Malaysia (1824 1941) thời kỳ thuộc Anh Cùng với những đóng góp nói trên, khóa luận sẽ là tài liệutham khảo bổ ích, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử Myanmar và Malaysia nóiriêng và lịch sử Đông Nam Á nói chung, đặc biệt trên lĩnh vực giáo dục

-7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung khóa luậnđược chia làm 3 chương:

Chương 1: Giáo dục Myanmar dưới thời thuộc Anh (1854 - 1948)

Chương 2: Giáo dục Malaysia dưới thời thuộc Anh (1824 - 1941)

Chương 3: Một số nhận xét về chính sách giáo dục của Anh ở Myanmar(1854 – 1948) và Malaysia (1824 – 1941) dưới thời thuộc địa

Trang 14

CHƯƠNG 1: GIÁO DỤC MYANMAR THỜI THUỘC ANH

(1854 – 1948) 1.1 Giáo dục Myanmar thời thuộc Anh (1854 – 1948)

1.1.1 Thực dân Anh hoàn thành xâm lược Myanmar (1852 - 1885)

Trong quá trình tìm kiếm thị trường, thuộc địa, thực dân Anh đã tìm thấy ởMiến Điện1 (Myanmar hiện nay) những thứ mà người Anh đang khao khát nhất Từcuối thế kỷ XVIII, hoạt động giao thương buôn bán cùng với các đợt truyền đạo tạiMiến Điện đã được thực dân Anh tiến hành Đứng trước nguy cơ bị Pháp thôn tínhmảnh đất màu mỡ này khi Pháp giúp đỡ người Mon đánh chiếm kinh đô của ngườiMiến, thực dân Anh càng quyết tâm thực hiện dã tâm của mình Để hoàn thành việcthôn tính Miến Điện hay Myanmar hiện nay, trong lịch sử giữa Anh và Miến Điệnvào thời gian ấy đã trải qua các cuộc chiến tranh kéo dài và cụ thể hơn là trải qua balần cuộc chiến tranh Anh - Miến và sau hơn 60 năm chinh phục Khi ấy thực dânAnh mới thực sự hoàn thành xâm lược Miến Điện

Cuộc chiến tranh Anh - Miến lần thứ nhất kéo dài gần hai năm (1824 - 1826)

đã kết thúc bằng việc hai bên tham chiến cùng ký kết hiệp ước Yandabo (24 2 1826) Có thể nói, hiệp ước Yandabo là hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên của triềuđình Konbaung Miến Điện ký với thực dân Anh

-Vào cuối những năm 40 của thế kỷ XIX, ở Miến Điện tình hình trong nước

có những biến động theo chiều hướng xấu đi Sự tan vỡ quyền kiểm soát nhà nướccủa chính quyền trung ương Miến Điện đã trở thành chất xúc tác quan trọng cho ý

đồ tiếp tục chiến tranh của Anh với quốc gia Đông Nam Á này

* Cuộc chiến tranh Anh - Miến lần thứ hai (1852 - 1853):

Chiến tranh Anh Miến lần thứ hai chính thức bắt đầu Vào ngày 18 2

-1852, Toàn quyền Dalhousie đã gửi tối hậu thư cho triều đình Miến Điện Nhưng đếnngày 1 - 4 - 1852, bản tối hậu thư hết hạn mà người Anh vẫn không nhận đượctín hiệu gì từ triều đình Miến Điện Vì vậy, ngay lập tức, quân Anh được lệnhđánh chiếm Martaban, Rangoon và sau đó là Bassein, Pegu, Prôm Sau khi người

em trai cùng cha khác mẹ của Pagan Min là Mindon Min đã lên ngôi vua ở Miến

1 Miến Điện: tên gọi trước kia của nước Myanmar trong các thời kì lịch sử, tác giả khóa luận sử dụng tên gọi Miến Điện để phù hợp với nội dung tài liệu tiếp cận

Trang 15

Điện (1853 - 1878) Vua Mindon đã ra lệnh cho quân đội ngừng chiến sự Do đó,Toàn quyền Dalhousie cũng tuyên bố chính thức chấm dứt chiến tranh Như vậy,cuộc đàm phán Anh - Miến đã rung hồi kết thúc cuộc chiến lần thứ hai 1852 - 1853.

* Cuộc chiến tranh Anh - Miến lần thứ ba (1885): Sau hai cuộc chiến tranh

đầu tiên với người Anh (1824 - 1826, 1852 - 1853), Miến Điện đã mất đi tất cả cáccảng, nhiều thành phố, phần lớn dân cư và những khu vực đất đai màu mỡ Cácthuộc địa của Anh đã bao bọc phần còn lại của Miến Điện từ phía Tây và phía Nam

- gọi là xứ Miến Điện thuộc Anh (British Burma)

Anh đã bắt vua Mindon phải ký hiệp ước nô dịch mới tại Mandalay ngày 20

- 10 - 1862 Yêu cầu quốc vương Miến Điện trao cho Anh kiểm soát những quan hệđối ngoại của Miến Điện Điều này đồng nghĩa với việc Miến Điện phải từ bỏ nềnđộc lập

Anh tiến hành tuyên chiến với Miến Điện Ngày 5 - 11 - 1885, quân Anhvượt qua biên giới Ấn Độ - Miến Điện Ngày 28 - 11 - 1885, ba lữ đoàn Anh đổ bộchiếm Mandalay Ngày 29 - 11 - 1886, Toàn quyền Dufferin tuyên bố sáp nhậpMiến Điện vào lãnh thổ Ấn Độ thuộc Anh

Như vậy, sau hơn 60 năm chinh phục, xâm lược Miến Điện (1824 - 1886),thực dân Anh đã biến nước này thành thuộc địa của mình Myanmar từ một nướcphong kiến độc lập, từng một thời là vương quốc hùng mạnh ở Đông Nam Á, đã trởthành thuộc địa của đế quốc Anh trong gần một thế kỷ

1.2 Tình hình giáo dục Myanmar trước năm 1854

Trước khi người Anh thực hiện chính sách giáo dục ở Myanmar thì giáo dụccủa đất nước này được thực hiện dưới hai hình thức: giáo dục trong nhà chùa - đóngvai trò chủ đạo trong nền học vấn truyền thống của Myanmar, và giáo dục tại nhà.Trong đó, nam giới được giáo dục trong các nhà chùa, còn nữ giới - chỉ được phépđến các đền miếu trong những dịp đặc biệt - được giáo dục tại tư gia [4, tr 35]

Hệ thống giáo dục nhà chùa ở Myanmar tập trung trong các kyaung - trường học tăng viện Học sinh trong các kyaung được gọi là kyaung-tha Nói cách khác, kyaung

đảm nhận hai vai trò, vừa là trường học vừa là các ngôi chùa Vì vậy, nó thu hút sự thamgia học tập của cả những đứa trẻ không hoặc chưa có ý định trở thành nhà sư

Ở Myanmar, trong mỗi làng bản hay thành thị đều có trường học nhà chùa

Trang 16

(kyaung), độc lập với sự kiểm soát của chính quyền trung ương Vì vậy, chươngtrình giáo dục cũng như chất lượng của nội dung kiến thức được truyền dạy ở đây làkhông hoàn toàn đồng nhất Bởi trong các kyaung, hoạt động giảng dạy được tiếnhành mà không có bất cứ một giáo trình giảng dạy hay một hình thức kiểm tra đánh

giá tập trung nào Tất cả đều nằm trong tay các sư trụ trì (abbot) cũng đồng thời là

hiệu trưởng của trường học nhà chùa

Về độ tuổi đến trường: Theo truyền thống, độ tuổi đi học của trẻ em Myanmar

là từ 8 tuổi và kết thúc lúc 20 tuổi - khi người học hoàn thành chương trình giáo dục

cơ bản Sau đó, họ có thể lựa chọn một trong hai con đường: một là, trở về cuộc sống bình thường của người dân; hai là, tiếp tục cuộc sống tu học tại chùa với tư cách là

một nhà sư thực sự

Về hệ thống giáo dục: Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo

dục nhà chùa ở Myanmar Sau khi hoàn thành chương trình tiểu học ở các kyaungvới những bước chuẩn bị ban đầu cho cuộc sống tu hành, người học sẽ chuyển lên

giai đoạn trung học (ko-yin) [4, tr 37] Cả hai bậc tiểu học và trung học đều được

tiến hành đồng thời ở thành thị và nông thôn Myanmar

Về nội dung giáo dục: giáo dục truyền thống ở Myanmar đồng nghĩa với

việc nghiên cứu về đạo đức, giáo lý Phật giáo, về đặc điểm, sự phát triển của đạođức và tinh thần Do đó, trong nền giáo dục Phật giáo (nhà chùa), nội dung chủ

yếu là “nghiệp” (kamma), răn dạy về những gì xảy ra sau hành động của con

người Các môn học liên quan đến Phật giáo thường được giảng dạy ở bậc tiểu họcbao gồm:

1 Những bài thơ mô tả về chiến thắng của Đức Phật đối với Mara “ma quỷ”.

2 Kinh Mangala-sutta (Kinh Điềm lành - Phước đức - Hạnh phúc)

3 Kinh Singalovada-sutta: là lời khuyên của Đức Phật dành cho nhữngngười đàn ông trẻ

4 Lokaniti: đề cập đến những quy tắc và nguyên tắc đạo đức người tu hành

5 Shin kyint wut: đề cập đến những quy tắc, quy định đối với một Samabera

- người mới tu.

6 Parritta: là một tập hợp các bài diễn thuyết được lựa chọn trong kinh điển Pali

Để việc tìm hiểu, học tập, tiếp thu những nội dung của các văn bản Phật giáo

Trang 17

trên được diễn ra thuận lợi, các kyaung-tha sau khi vào học ở kyaung, đầu tiên, họ

sẽ được dạy đọc và viết chữ Myanmar hay là chữ Miến Điện khi đó

Một điều đáng lưu ý là do các trường chùa mở ra cho tất cả nam giới

Myanmar Ở bậc tiểu học, môn số học được đưa vào giảng dạy Vì vậy, ngoài

những văn bản liên quan đến Phật giáo, các môn học thế tục cơ bản của kyaung ở

bậc tiểu học được thể hiện trong công thức 3 R (read, write, arithmetic - đọc,

viết, số học).

Đến bậc trung học, người học sẽ có cơ hội được tìm hiểu những văn bản

quan trọng của Phật giáo bao gồm: ngữ pháp Kaccayana, Abhidhamma

tthassangaha và Patimokkha Chương trình giảng dạy này cung cấp cho người học

những điều kiện cần thiết trong việc tiếp tục học ở bậc cao hơn Nhiều môn học thếtục được đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc trung học, ngoài 3 R còn có các

môn: thiên văn học (astrology), y học (medicine), toán học (mathematics), phép thuật (magic) và pháp luật (law) Nhưng số lượng kyaung cung cấp những môn học

này ở Myanmar là rất hạn chế (chỉ có trường Lokuttara ở Toungoo và trườngBagaya ở Amarapuran) [4, tr 40]

Đối với những người có kế hoạch ở lại lâu dài trong các kyaung sẽ đượccung cấp một chương trình học mang tính chuyên biệt, tập trung chủ yếu vào giáo

pháp (Dhamma) và giới luật (Vinaya) Thiên văn học và y khoa vẫn tiếp tục được

nhấn mạnh trong chương trình giảng dạy ở bậc học này Ngoài các kiến thức trên,

các trường học ở thành thị còn cung cấp những kiến thức về lễ nghi hoàng gia, xây

dựng và các hoạt động sản xuất khác Đây được xem là những môn học rất cần thiết

trong cuộc đời của một nhà sư Myanmar Một ngày học của học sinh trong cáckyaung diễn ra một cách khoa học và cụ thể (Xem phụ lục 1)

Về phương pháp học tập - đánh giá: học sinh thường học một văn bản nhiều lần

dưới sự hướng dẫn của một hoặc nhiều giáo viên khác nhau cho đến khi nắm vững nó

Sau quá trình “đào xới” và nắm vững các văn bản đó, người học được gọi là

Kyangyipauk Một trong những đặc trưng của phương pháp nghiên cứu văn bản không

chính thức trong nền giáo dục truyền thống ở Myanmar là việc không có hình thứckiểm tra, đánh giá chính thức nào được áp dụng cho các trường chùa trong toàn quốc

Về cách thức quản lý: Giáo dục nhà chùa ở Myanmar luôn nhận được sự

Trang 18

bảo trợ của hoàng gia Myanmar Nhưng các sư trụ trì - hiệu trưởng các kyaungvẫn hoàn toàn có quyền kiểm soát về cả hoạt động hành chính lẫn công tác giáodục trong các cơ sở giáo dục.

Về giáo dục nghề nghiệp: Các kyaung nhận thấy rằng không cần thiết để đưa giáo

dục nghề nghiệp vào nội dung giảng dạy chính thức ở các trường học Thay vào đó,người học sẽ tự tìm hiểu thông qua việc học nghề ngay tại các cơ sở nghề khác nhau

Về giáo dục thể chất: Trước thế kỷ XIX, cuộc sống cộng đồng trong xã hội

Myanmar đã cung cấp những điều kiện thích hợp để thanh niên Myanmar có thể rènluyện về thể chất Hầu như mọi thanh niên Myanmar lúc bấy giờ đều thành thạo cácmôn bơi lội, cưỡi ngựa, đấu kiếm, đấu vật, đấm bốc kiểu Miến…

Về giáo dục cho nữ giới: Ở Myanmar người Miến đề cao một người phụ nữ

chu toàn việc nội trợ hơn là một người phụ nữ biết đọc viết Vì vậy, ở Myanmar, tỷ lệ

về trình độ văn hóa của phụ nữ là rất thấp

Đến thế kỷ XVII, giáo dục truyền thống Myanmar chứng kiến một sự thay

đổi mang tính bước ngoặt Đó là sự chuyển đổi từ phương pháp nghiên cứu không

chính thức (như đã đề cập ở trên) sang phương pháp đánh giá chính thức với các

giáo trình chung và các kỳ thi tập trung Dưới thời cai trị của Thalun, nhà vua đãphải ra lệnh áp dụng các kỳ thi - kiểm tra chính thức nhằm loại khỏi Sangha – cộngđồng Phật giáo, những thành viên không đủ trình độ, qua đó, bổ sung nguồn nhânlực đáp ứng nhu cầu của đất nước lúc bấy giờ

Đến thời trị vì của vua Bodawpaya (1782 - 1819), một lần nữa, việc áp dụngcác kỳ thi chính thức được nhà vua đưa ra với hoàn cảnh và mục đích tương tự như

dưới thời vua Thalun Thí sinh tham dự kỳ thi được gọi là Pathamasar taw pyan

-“thí sinh tuyệt vời của kỳ thi hoàng gia” Đồng thời, vua Miến còn ra lệnh khen

thưởng cho các thí sinh tham gia kỳ thi cả về vật chất lẫn địa vị xã hội

Như vậy, từ thế kỷ XVII cho đến trước khi Anh kiểm soát hoàn toànMyanmar, hình thức giáo dục truyền thống trong các tăng viện vẫn được duy trìkhá mạnh, song song với sự phát triển hạn chế của hình thức giáo dục do nhà nướckiểm soát Tóm lại, trong suốt thời gian dài trước khi Myanmar bị Anh sáp nhập,giáo dục truyền thống Myanmar đã được hình thành Nền giáo dục ấy phù hợp vớicuộc sống xã hội Myanmar ngày đó Nói cách khác, cuộc sống khi ấy là giáo dục

Trang 19

đồng thời là nền tảng cho những đứa trẻ bước vào cuộc sống sau này

1.3 Tình hình giáo dục Myanmar thời thuộc Anh (1854 - 1948)

1.3.1 Giáo dục nhà chùa ở Myanmar thời thuộc Anh

Nếu trong thời kỳ từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, việc áp dụngcác kỳ thi chính thức trong nền giáo dục nhà chùa ở Myanmar luôn vấp phải sựphản đối của Sangha, thì cục diện đó đã hoàn toàn thay đổi trong thời gian cầmquyền của vua Mindon (1853 - 1878)

Mindon không chú trọng thay đổi về giáo trình của kỳ thi mà chủ yếu tập

trung vào hình thức của nó Từ hai cấp độ: Laung Pazin cho nhà sư và Laung

Slzin cho người mới tu dưới thời Bodawpaya, Mindon đã chuyển thành bốn cấp

độ: Pathanagne (cơ bản), Pathamalat (trung bình), Pathamagyi (nâng cao) và mức cao nhất, Pathamakyaw Trong đó, Pathamakyaw không có giáo trình riêng biệt.

Đây là danh hiệu được trao cho người vượt qua và giành được điểm cao nhất trong

kỳ thi cấp Pathamagyi Các giáo trình của kỳ thi Pathamapyan được thiết kế đểhọc sinh hoàn thành bậc tiểu học có được một nền tảng vững chắc về tiếng Pali và

Abhidamma-pitaka (Vi diệu pháp tạng) Trong kỳ thi Pathamapyan diễn ra vào

năm 1874, có gần một nghìn thí sinh tham dự

Đến thời Thibaw (1878 - 1885), các kỳ thi Pathamapyan tiếp tục được tổchức Và lần đầu tiên, Thibaw áp dụng thêm hình thức kiểm tra viết bên cạnh hìnhthức đọc thuộc lòng và vấn đáp trước đây, tuy nhiên các kỳ thi này chỉ tồn tại đếnnăm 1884

Trong giai đoạn đầu thôn tính được Myanmar người Anh đã bỏ đi kì thiPathamapyan nhưng đến năm 1895, chính quyền Anh đã cho khôi phục lại kỳ thiPathamapyan vì nhận thấy tầm quan trọng của Phật giáo trong hệ thống giáo dụcbản địa

Trong thời kỳ Myanmar thuộc Anh vào năm 1905, số lượng thí sinh là hơn

400 người, đến năm 1912 là 1200 người Trong những năm 1930, số lượng thísinh tham gia vào kỳ thi Pathamapyan là khoảng 3500 người mỗi năm Trong số

đó có 1/4 đến 1/3 thí sinh vượt qua kỳ thi này

Hình thức của kỳ thi Pathamapyan thời thuộc Anh vẫn giữ nguyên nhưtrong triều đại của Mindon và Thibaw với bốn cấp độ Người đạt được danh

Trang 20

hiệu Pathamakyaw sẽ được trao bằng chứng nhận có chữ ký của Phó Toànquyền, và các quan chức thực dân cao nhất ở Miến Điện Bên cạnh đó còn cóphần thưởng bằng tiền: 50; 75; 100 và 150 rupi tương ứng cho thí sinh vượt quatừng cấp độ trong kỳ thi Pathamapyan.

Không chỉ dừng lại ở việc khôi phục kỳ thi Pathamapyan, chính quyền thuộcđịa còn muốn thành lập một viện đại học hiện đại phục vụ cho việc học tập, nghiêncứu của các nhà sư Myanmar vào thời gian ấy Điểm đáng lưu ý là người Anh khôngnhững không cản trở việc dạy và học chữ Pali, mà còn khuyến khích chúng Ngoài

ý nghĩa duy trì nền học vấn chữ Pali và những giá trị văn hóa của nó, người Anhmuốn người Miến theo học chữ Pali để họ gắn bó hơn với văn hóa Ấn Độ Đâychính là mục đích sâu xa trong chính sách mà chính quyền thực dân thực hiện tạiMyanmar

Như vậy, ở Miến Điện hay Myanmar thời thuộc Anh, nền giáo dục nhà chùavẫn tiếp tục tồn tại và có những thay đổi quan trọng khi toàn bộ lãnh thổ trở thànhthuộc địa của Anh, với những toan tính của chính quyền thực dân, nền giáo dục nhàchùa vẫn tiếp tục được duy trì và thậm chí còn đạt được những kết quả lớn hơn sovới thời kỳ trước đó

1.3.2 Quá trình thành lập hệ thống giáo dục theo mô hình phương Tây của chính quyền thuộc địa Anh ở Myanmar

1.3.2.1 Giai đoạn 1854 - 1898

Trước cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai (1852 - 1853), người Anh đã

thực hiện chính sách không can thiệp (laissez - faire) trong lĩnh vực giáo dục ở

Myanmar Nhưng từ năm 1854, khi đã làm chủ được khu vực Hạ Miến, lần đầutiên, nhà cầm quyền Anh tìm cách mở rộng ảnh hưởng của họ đối với hệ thốnggiáo dục ở Myanmar Đây chính là sự thay đổi cơ bản đánh dấu việc từ bỏ chínhsách không can thiệp đối với giáo dục trước đây

Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của các kyaung đối với giáo dụcMyanmar, thực dân Anh sau khi chiếm được Hạ Miến Điện năm 1854 đã không vộivàng xóa bỏ hệ thống giáo dục nhà chùa (kyaung) Thay vào đó, họ sử dụng chúngnhư một công cụ để truyền bá kiến thức xây dựng nền giáo dục theo phong cáchphương Tây ngay trong các kyaung, trong đó, có việc thế tục hóa những kiến thức

Trang 21

khoa học tự nhiên và luật pháp phương Tây.

Đến năm 1866, chính sách giáo dục của Anh ở Myanmar có một số thayđổi Theo đó, sẽ tiến hành kết hợp học các môn học thế tục ở bậc tiểu học vớiviệc giảng dạy và rèn luyện đạo đức, kỷ luật - những trụ cột của giáo dục kyaung

ở Myanmar Phayre - Ủy viên trưởng của Miến Điện thuộc Anh đã cung cấp giáo

trình của các môn học thế tục như số học, bảng chữ cái, ngữ pháp cơ bản cho

các nhà sư để thêm vào chương trình giảng dạy ở các kyaung Để thuận lợi hơncho các nhà sư, Phayre còn sử dụng các giáo sĩ truyền giáo dòng Baptist của Mỹdịch những giáo trình trên sang tiếng Miến Đồng thời, nhà nước còn cung cấptiền, thiết bị để xây dựng trường sở

Tuy nhiên rất ít nhà chùa ở Myanmar chấp nhận sự trợ giúp này hoặc đồng ýđưa các môn học thế tục vào chương trình giảng dạy của họ Mãi đến năm 1871mới chỉ có 46 kyaung thông qua kế hoạch của Phayre Sau thất bại này Anh đãcho thành lập các trường công và trường tư tồn tại độc lập, song song với trườngchùa Các môn học trong hệ thống giáo dục mới này cũng bao gồm 3 R, và đặc biệtkhông cung cấp những giáo trình về đạo đức và kỷ luật Trước sức ép công việctrong tình hình mới, ngày càng có nhiều con em người Miến theo học các trườngphổ thông với nền giáo dục thế tục công lập

Hệ thống trường học thế tục tiếp tục được hoàn thiện năm 1880 với những nỗ

lực của Ban Giáo dục Ấn Độ (Educational Department of the Indian Government) Theo đó, hệ thống trường học được tổ chức theo chín tiêu chuẩn (nine standards) và chia thành hai bậc: tiểu học và trung học.

Bậc tiểu học, từ tiêu chuẩn I đến tiêu chuẩn IV, dành cho trẻ em từ 6 đến 10tuổi Các trường tiểu học được thành lập với hai nhiệm vụ: 1 tiến hành giảng dạy

các môn đọc, viết, số học và đo đạc đất đai - những môn học dạy người nông dân

những kỹ năng để họ có thể tiến hành hoạt động sản xuất nông nghiệp thuận lợihơn; 2 cung cấp cho người học các cơ hội và phương tiện để tiếp tục tham gia vàonhững bậc học cao hơn trong bậc thang giáo dục

Bậc trung học được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn 1, từ tiêu chuẩn V đến tiêu chuẩn VII, dành cho trẻ em từ 10 đến 13 tuổi và giai đoạn 2, từ tiêu chuẩn

VIII đến tiêu chuẩn IX, dành cho trẻ em từ 13 đến 15 tuổi Ở các trường này, ngoài

Trang 22

3 R, trong nội dung giảng dạy còn giới thiệu các môn học về lịch sử nước Anh và nghiên cứu hiến pháp Anh [4, tr 52].

Ngoài nội dung giảng dạy thì sự khác biệt giữa bậc tiểu học và bậc trung họccòn ở ngôn ngữ và giáo viên giảng dạy Ở bậc tiểu học, các môn học được giảng dạybằng tiếng Miến Tiếng Anh được dạy như một môn học đặc biệt dành cho nhữngngười có kế hoạch tiếp tục theo đuổi việc học ở bậc trung học Những người Anh bảnđịa được giao nhiệm vụ giảng dạy tiếng Anh Trong khi, tất cả các tài liệu giảng dạy

ở bậc trung học đều bằng tiếng Anh Những giáo viên người Miến chỉ được dạy ở bậctiểu học, còn bậc trung học, giáo viên là người Anh hoặc người Ấn Độ

Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhu cầu phát triển thịtrường việc làm và lao động làm cho chính phủ thuộc địa quan tâm nhiều hơn vào giáodục và đào tạo, trong đó có việc mở rộng trường dạy song ngữ Anh - Miến Trườngsong ngữ kiểu này đầu tiên được chính phủ thành lập ở Rangoon vào năm 1873

Từ đó, ở Myanmar tồn tại ba loại hình trường học do chính quyền thuộc địaxây dựng:

1 Trường bản ngữ, trong đó ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Miến

2 Trường song ngữ Anh - Miến, trong đó ngôn ngữ được sử dụng tronggiảng dạy là tiếng Anh và tiếng Miến

3 Trường Anh ngữ, trong đó ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Anh, còn tiếngMiến là ngôn ngữ thứ hai

Ngoài hệ thống trường học do chính phủ cung cấp, còn có các trường học củacác phái bộ truyền giáo như nhà thờ Công giáo La mã, hội truyền bá kinh Phúc âm được thành lập Việc vào học ở các trường này cũng dành cho cả nam và nữ Tỷ lệ nữgiới tham gia vào các trường học truyền giáo trên ít nhất là ngang bằng với tỷ lệ nữgiới ở các trường thế tục của Anh là 5,36% Tất cả các trường học này, ở mức độngày càng nhiều, đã đào tạo được nhiều học sinh giỏi để dự thi các kỳ thi tốt nghiệpcấp III ở Calcutta Từ những năm 1880, các kỳ thi cấp tỉnh đã được tổ chức hàngnăm Do đó, dẫn đến sự sa sút đáng kể của hệ thống giáo dục tăng viện

Hệ thống giáo dục trên đây của chính quyền thuộc địa tiếp tục được duytrì cho đến năm 1898 Nó được xem là xương sống của nền giáo dục phương Tây

ở Myanmar

Một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống giáo dục mới của Anh ở

Trang 23

Myanmar là giáo dục đại học Các biện pháp nhằm cải tổ giáo dục, được Hội đồngthanh tra thuộc Ban Giáo dục của chính phủ Anh tại Ấn Độ ban hành năm 1880.Cùng với việc tổ chức hệ thống giáo dục ở Myanmar thành chín tiêu chuẩn, Hộiđồng đã quyết định tạo điều kiện để phát triển trường trung học chính phủ Rangoon

thành một “khoa Đại học” Đến năm 1884, khoa này phát triển lên trở thành trường cao đẳng công lập đầu tiên ở Rangoon với tên gọi trường Cao đẳng Rangoon.

Nội dung giảng dạy của trường Cao đẳng Rangoon bao gồm các môn học về

nghệ thuật tự do (liberal arts), luật pháp, và tiếng Anh Đến năm 1918, tức là 34

năm sau khi trường được thành lập, chỉ có 400 sinh viên từ Myanmar trúng tuyểnvào trường Đại học Calcutta Trong số đó, có nhiều sinh viên là người Ấn Độ hoặcnhững người lai hai dòng máu Ấn - Anh sinh sống ở Myanmar

1.3.2.2 Giai đoạn 1898 - 1942

Trải qua gần nửa thế kỷ tồn tại, đến năm 1898, hệ thống giáo dục của Anh ởMyanmar đã có sự thay đổi Chính sách giáo dục do G Curzon ban hành nhằm mụcđích tăng cường cơ sở hạ tầng cho giáo dục cũng như mở rộng sự quan tâm củachính phủ đối với giáo dục nghề nghiệp Kết quả của những biện pháp đó là sự giatăng trở lại số lượng của học sinh, cũng như các trường thế tục vào đầu thế kỷ XX.Trong đó, số lượng trường học đã tăng từ 4250 trường lên 5316 trường, số lượnghọc sinh tăng từ 127.066 em lên 280.990 em trong giai đoạn 1901 -1911

Đến năm 1900, chính quyền thuộc địa đã thành lập được mười trường dạynghề và kỹ thuật, trong đó có năm trường đào tạo giáo viên, hai trường khảo sát trắcđịa thuộc Cục quản lý đất đai và nông nghiệp, một trường lâm nghiệp, một trườngđào tạo nữ hộ sinh và trường kỹ sư Năm 1907, một trường y khoa đã được thànhlập ở Rangoon Đến năm 1924, trường dạy nông nghiệp đầu tiên của Miến Điện mớiđược thành lập Và đến đầu thế kỷ XX, các nhà chức trách Anh đã thành lập cáctrường học khác phục vụ cho giáo dục đại học, và theo đó các trường đào tạo giáoviên, kỹ sư, lâm nghiệp viên, nữ hộ sinh được thành lập Các nhà truyền giáo dòng

Baptist cũng mở một trường cao đẳng nhỏ cho người Karen - trường Cao đẳng

dòng American Baptist, ở Rangoon.

Chính quyền thuộc địa đã ban hành Đạo luật Đại học Rangoon năm 1920 Sự

ra đời của đạo luật năm 1920 mang lại nhiều ý nghĩa to lớn Chương trình giảng dạy

Trang 24

ở trường đại học Rangoon bao gồm những những môn học về nghệ thuật, khoa học,pháp luật, lâm nghiệp, kỹ thuật và y khoa Năm 1924, trường bổ sung thêm chươngtrình giảng dạy về nông nghiệp Cũng trong năm này, chính quyền Anh đã thức tỉnh

họ thông qua giáo dục, chính quyền thuộc địa đã phải thông qua Đạo luật đại học bổ

sung Sự thành công của đại học Rangoon, một mặt được thể hiện thông qua số lượng

sinh viên vào học, mặt khác lại thể hiện qua số lượng bằng cấp được trao Đến năm

1926, Đại học Rangoon đã cấp 103 bằng, trong đó có 85 bằng đại học Nghệ thuật vàKhoa học, và 18 bằng đại học Luật

Ngoài ra, chính sánh giáo dục của Curzon cũng có những tác động tích cựcđối với giáo dục dành cho nữ giới Trình độ đọc viết của nữ sinh Myanmar dù thấphơn so với nam giới nhưng đã có bước tiến đáng kể Nếu như giữa nhiệm kỳ của G.Curzon, tỷ lệ nữ giới biết chữ ở Miến Điện là 44/1000 người thì đến năm 1941, con

số này đã tăng lên 61/1000 người

Từ năm 1942, Myanmar bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng, người Anh đãquay trở lại, đưa đến một số thay đổi trong tình hình giáo dục ở Myanmar trong giaiđoạn sau

1.3.2.3 Giai đoạn 1945 - 1948

Ngay sau khi Chính phủ Anh quay trở lại Myanmar tháng 7 - 1945, Bộ Giáodục đã được thành lập để thực hiện Đề án Simla, nhằm khôi phục lại nền giáo dục ởMyanmar Theo Đề án này, 42 trường trung học và 2.060 trường tiểu học được mở

ra Năm 1947, Ủy ban tái thiết giáo dục dưới sự chủ trì của Htoon Aung Gyaw đãbáo cáo về hệ thống giáo dục mới ở Myanmar

Hệ thống trường học được tổ chức lại theo đề án Simla với các bậc học như sau:

• Trường tiểu học (Từ tiêu chuẩn I đến V) dành cho trẻ em từ 6 - 11 tuổi;

• Trường trung học (Từ tiêu chuẩn VI đến IX) dành cho trẻ em từ 11 - 15 tuổi;

• Trường dự bị đại học (Từ tiêu chuẩn X để XII) dành cho trẻ em từ 15 - 18 tuổi.Giáo dục ở các bậc tiểu học và trung học hoàn toàn miễn phí và học lớp dự

bị đại học được trợ cấp [4, tr 60] Chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dụcmới này cung cấp những kiến thức thực tế liên quan đến cuộc sống và nghề nghiệp.Các môn học cơ bản trong các trường tiểu học và trung học giai đoạn này là nhữngmôn như kiến thức tôn giáo, số học, lịch sử, giáo dục thể chất … (Xem phụ lục 2)

Trang 25

Một điểm khác biệt trong chính sách giáo dục của chính quyền thuộc địa giaiđoạn 1945 - 1948 so với những giai đoạn trước là trong các trường tiểu học và trunghọc, cả tiếng Anh và tiếng Miến đều có vai trò quan trọng ngang nhau và được giảngdạy chuyên sâu từ tiêu chuẩn I (từ 6 tuổi) Trong giai đoạn dự bị đại học và đại học,tiếng Anh tiếp tục là ngôn ngữ chính dùng trong giảng dạy, các ngôn ngữ bản địangoài tiếng Miến cũng đã được đưa vào giảng dạy trong các trường tiểu học.

Như vậy, qua gần một thế kỷ thực hiện chính sách giáo dục ở Myanmar,chính quyền thuộc địa đã có những sự bổ sung, hoàn thiện cho nền giáo dục mớitheo mô hình phương Tây ở đất nước này, từ hệ thống bậc học, đội ngũ giáo viên,đến giáo trình giảng dạy Những sự thay đổi đó nhằm phù hợp với lợi ích của ngườiAnh cũng như đáp ứng với những thay đổi của xã hội Myanmar Từ đó, hệ thốnggiáo dục mới này đã góp phần làm cho tình hình giáo dục ở Myanmar thời thuộcAnh (1854 - 1948) có những biến chuyển sâu sắc

Trang 26

CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC MALAYSIA DƯỚI THỜI THUỘC ANH

(1824 – 1941) 2.1 Malaysia trở thành thuộc địa của Anh (1786 – 1941)

Từ xưa đến nay, trong lịch sử phát triển của mình, Malaysia luôn đóng mộtvai trò quan trọng, với eo Malacca nắm giữ vị trí địa chiến lược trên con đườnghàng hải từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, vương quốc Malacca nhanhchóng được hình thành và phát triển thành một trung tâm thương mại xuất nhậpkhẩu hàng đầu thế giới với các nguồn thương phẩm đặc biệt hấp dẫn Tuy nhiên,

chính sự hấp dẫn đó lại là lý do khiến cho bán đảo Malaya được ví như một “cánh

cửa quay” của những cuộc “đến” rồi “đi” của nhiều thực dân trong suốt hơn 4 thế

kỉ Các quốc gia phương Tây trên con đường tìm kiếm những vùng đất mới, những

vùng nguyên liệu mới luôn “để mắt” đến vùng đất này Chính vì thế mà ngay từ thế

kỉ XVI và sớm hơn thế nữa Malacca - cửa ngõ then chốt ra vào vùng biển ĐôngNam Á - được Bồ Đào Nha coi là địa bàn chiến lược quan trọng nhất cả về quân sự,chính trị lẫn kinh tế Đến năm 1511, quân đội của Bồ Đào Nha đã đánh chiếmMalacca

Sức mạnh hàng hải và thuộc địa của Anh đã được khẳng định từ cuối thế kỉXVI Những nhu cầu mãnh liệt về ngoại thương cùng với thị trường và thuộc địa đãtrở thành động lực cho sự thành lập Công ty Đông Ấn Anh (British East IndiaCompany - EIC) vào năm 1600 Quá trình xác lập quyền cai trị của thực dân Anhđược bắt đầu tính từ năm 1786, khi Công ty Đông Ấn Anh (East Indian Company –EIC) ký với vương quốc Kedah một hiệp ước liên quan đến vấn đề chuyển nhượngđảo Penang vào ngày 11/8/1786 [13, tr 12]

Trong bối cảnh, đảo Singapo nằm ở cực Nam của bán đảo được xem là địađiểm lý tưởng có thể trở thành một thương cảng của thế giới, nó cũng có thể là mộtpháo đài lớn ở vùng biển Đông Nam Á EIC đã chiếm đảo Singapo bằng một Thỏathuận với Quốc vương Johore vào ngày 6/2/1819 Và sau đó, là hai bản hiệp ướcvào năm 1823 và 1824

Từ những căn cứ được xác lập ở Penang và Singapo, Anh tiến lên kí với HàLan Hiệp ước Anh - Hà Lan ngày 17/3/1824 Theo đó, chính phủ Hà Lan công nhậnSingapo và phần lãnh thổ phía Bắc của nó là khu vực ảnh hưởng của Anh, đổi lại

Trang 27

chính phủ Anh cũng thừa nhận vùng phía Nam của eo biển Singapo thuộc ảnhhưởng của Hà Lan Hà Lan đồng ý trao Malacca ở bán đảo Malaya cho Anh để đổilấy Bencoolen - một cảng nhỏ ở phía Tây Nam đảo Sumatra, và tất cả các lãnh thổ ởSumatra Trên cơ sở, hiệp định Anh - Hà Lan được kí vào năm 1824, Anh chínhthức nắm được toàn quyền kiểm soát Malacca và Singapore Từ đây Malaya là

vùng đất thuộc Anh, tồn tại dưới tên gọi “British Malay”.

Việc loại bỏ Hà Lan ra khỏi Malacca đã mang lại mối lợi lớn cho Anh Saukhi hợp pháp hóa các quyền về chính trị, ngay trong năm 1826 Anh thực hiện sápnhập 3 khu định cư ở Penang, Malacca và Singapo thành một đơn vị hành chính

chung lấy tên là “Khu định cư Eo biển” (Straits Settlements - SS) với Penang là

trung tâm Tuy nhiên, kể từ năm 1832, vai trò này được chuyển sang cho Singapo

Năm 1871, đúng vào lúc chính quyền Anh thông qua chính sách can thiệpvào các tiểu quốc Malay thì cơ hội cũng đến khi Perak thỉnh cầu sự giúp đỡ củangười Anh, đổi lại Quốc vương Perak đã phải kí với Anh Hiệp ước Perak (còn được

gọi là Hiệp ước Pangkor) vào ngày 20/1/1874 Perak chính thức chấp nhận “sự bảo

hộ của Anh” Với Hiệp định Pangkor được ký kết, dọn đường cho sự xâm nhập của

Anh vào các bang Malaya thông qua thiết chế Công sứ

Năm 1893, Đề án thành lập Liên bang được thông qua Đến năm 1895, Namtước Frederick Weld đã trình bày kế hoạch liên bang lên Bộ thuộc địa Hiệp địnhLiên bang được kí tháng 7/1895, nhưng phải một năm sau FMS mới chính thứcđược thành lập Vào ngày 1-7-1896, Liên Bang Malay (Federated Malay States –FMS) chính thức ra đời Sau Hiệp định Liên bang, các tiểu quốc (Sultanate) trướckia giờ được gọi là các bang (State)

Đến năm 1909, bốn bang Malay là Trenganu, Kelantan, Kedah và Perlis vẫnnằm ngoài sự kiểm soát của Anh Phải đến 7-1909, thông qua hiệp định Anh -Xiêm, bốn bang này mới thuộc quyền kiểm soát của người Anh Các bang này cũnghợp thành các bang Malay ngoài Liên bang (Un-Federated Malay States - UMS) vàtrở thành xứ bảo hộ của Anh Đứng đầu Liên bang là Tổng Thống sứ (đến 1909 đổithành Tổng thư kí) [6, tr 32] Thực dân Anh đã kiểm soát toàn bộ bán đảo từ năm

1909, riêng ở Johore thì phải đến năm 1914 mới chấp nhận sự hiện diện của Cố vấn

Trang 28

Anh Năm 1914, cũng là năm hoàn thành quá trình bành trướng của Anh trên toànbán đảo Malaya.

Quá trình củng cố chế độ cai trị trên thực tế đã được Anh tiến hành ngay saukhi thành lập FMS, nhưng chỉ được đẩy mạnh từ năm 1909 Dưới thời CecilClementi (Thống đốc kiêm Cao ủy, 1930-1934) cầm quyền, ông tiến hành các cuộccải cách thúc đẩy theo hướng hợp nhất toàn Malaya bao gồm SS, FMS và UMS kể

cả vùng Borneo thành một thực thể chính trị và kinh tế nhằm giải quyết những khókhăn của đế chế sau khủng hoảng Tiến trình này tiếp tục được Thomas Shenton,người kế nhiệm từ năm 1934, triển khai một cách nhỏ giọt cho đến trước khi NhậtBản xâm chiếm Malaya (những năm 1940 – 1941)

Như vậy, cho đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Anh đã từngbước thiết lập được sự kiểm soát chung đối với toàn bộ lãnh thổ của Malay và tiếnhành củng cố chế độ cai trị với hai mảng rất đặc trưng Một mảng là Khu định cư

Eo biển gồm Singapore, Malacca và Penang do Anh cai trị trực tiếp trên tư cách làthuộc địa Ở một mảng khác, Anh thực hiện chế độ cai trị gián tiếp thông qua việc

kí các hiệp định bảo hộ riêng biệt với từng bang Malay Trong đó, hệ thống chínhquyền truyền thống về cơ bản vẫn được giữ nguyên nhưng việc cai trị thực tế doAnh đảm nhiệm và các tiểu vương mỗi bang trao các vấn đề thuộc chính sách chocông sứ hoặc cố vấn Anh giải quyết Cuối cùng thì cơ cấu phức tạp đó đều được đặt

dưới quyền của một cơ quan chỉ đạo cao nhất đặt tại Singapore là Hội đồng Liên bang do Cao ủy Anh (High Commissioner) làm chủ tịch [13, tr 13].

2.2 Giáo dục ở Malaysia trước thời điểm thực dân Anh đặt nền thống trị

Trước thời điểm thực dân Anh chính thức xâm lược Malaysia, nền giáo dục ởđây tồn tại dưới hình thức giáo dục không chính thức và chỉ giới hạn thu nhận các

kỹ năng quan trọng để tồn tại, như câu cá và chăn nuôi đối với con trai, hay nấu ăn

và dệt vải dành cho con gái [38] Tuy nhiên, lúc này ở Malaysia, cũng có một hìnhthức giáo dục khá phát đó là giáo dục tôn giáo

Bên cạnh những tín ngưỡng cổ xưa như đa thần giáo, thờ cúng tổ tiên, đạoHồi là tôn giáo chính thống của người Mã lai [10, tr 21] Trong quá trình xâm nhập

và phát triển của tôn giáo này ở Malaysia, Hồi giáo bên cạnh mang đến một tôn giáomới nó còn mang đến cho quốc gia này một nền giáo dục, đó là nền giáo dục Hồi

Trang 29

giáo mà lúc đầu là những ngôi trường đơn lẻ được đặt ở các vùng thôn quê haytrong các thánh đường Hồi giáo.

Mục tiêu giáo dục của hệ thống này là đào tạo những tín đồ Hồi giáo trẻ tuổi

có một tinh thần kỉ luật mạnh mẽ và tiếp thu kiến thức khoa học cùng với đó là sựhoàn thiện nhân cách Hai mục tiêu về kiến thức và đạo đức luôn được đặt làm tiêuchí giảng dạy Trên thực tế, người Hồi giáo vẫn xem trọng kiến thức tôn giáo hơn, bởi

vì theo họ chỉ bằng con đường hiểu biết về giáo lý và các tập tục truyền thống tôngiáo, họ mới duy trì được tôn giáo và dân tộc Với tín đồ Hồi giáo, kiến thức bao gồmhai loại Loại thứ nhất là kiến thức về khoa học, kỹ thuật được truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác Loại thứ hai là những giá trị bất biến về đạo đức được thể hiệntrong thánh kinh Koran và các truyền thống Hồi giáo Chính vì vậy, trong khi ở châu

Âu, phong trào đấu tranh “tách nhà thờ ra khỏi trường học” được ráo riết thực hiện

để đưa châu Âu thoát khỏi “đêm trường trung cổ” thì ở những nơi mà Hồi giáo đặt

chân đến, giáo dục tôn giáo và tri thức khoa học lại gắn bó chặt chẽ với nhau

Từ thế kỷ XV, sau khi đạo Hồi xâm nhập, ở Malaysia đã hình thành nền giáodục Hồi giáo Các vua Hồi như Sultan Mansur Syah (trị vị trong giai đoạn 1460 -1476) và Mahmud Syah (trị vị trong giai đoạn 1488 - 1511) đã biết phát triển mộtthiên hướng về Hồi giáo và dành sự tôn trọng tuyệt vời dành cho các Ulama (học giảhồi giáo hay là các giáo viên hồi giáo), nhà vua đã thường xuyên hỏi ý kiến, thôngqua đại sứ hoặc trực tiếp đến thăm nhà của các Ulama [15, tr 13] Ngoài ra các vuaHồi cũng đã cho phép mở nhiều trường học, đưa kinh Koran vào chương trình giảngdạy và học tập, việc này được diễn ra một cách thường xuyên và liên tục

Trong mỗi làng bản Malay, đều có sự hiện diện của các ngôi trường Hồigiáo Do các lớp học thường được đặt ngay trong thánh đường, nên những ngườitrông coi thánh đường cũng chính là giáo viên tôn giáo Vì vậy, chương trình giáodục cũng như chất lượng của nội dung kiến thức được truyền dạy ở đây chủ yếu dựatrên nền tảng các giáo lý cơ bản của đạo Hồi

Về hệ thống giáo dục: Lịch sử phát triển của hệ thống giáo dục Hồi ở Malaysia

lần lượt trải qua ba hoặc bốn giai đoạn (thời kì) Giai đoạn đầu tiên, người học tậptrung học xung quanh ngôi nhà của các giáo viên Đến giai đoạn thứ hai, người học sẽhọc xung quanh các nhà thờ Hồi giáo – thành đường, suraus và madrasahs Giai đoạn

Trang 30

thứ ba, người học sẽ học xung quanh các tổ chức tôn giáo được gọi là “Pondok”

(nghĩa đen - trường Hut2) Và đến giai đoạn thứ tư, người học sẽ học xung quanh tổchức tôn giáo được gọi là trường học “Madrasah” [19, tr 7]

Ở giai đoạn đầu tiên, việc học được thực hiện một cách không chính thứcnhưng phù hợp với bối cảnh tại thời điểm đó, học sinh tập trung xung quanh ngôinhà của các giáo viên (rumah-rumah guru) Họ đến đây để tham gia các lớp học đọcKinh Koran và Fardhu Ain (giáo lý Hồi giáo cơ bản) Do số lượng sinh viên đổ xôđến nhà của các giáo viên ngày càng tăng nên nhà của các giáo viên không thể đápứng tất cả nhu cầu trong số họ, từ đó xuất hiện những ý tưởng về giáo dục Hồi giáođược tập trung học tập xung quanh nhà thờ Hồi giáo, suraus hay madrasah Giáoviên sử dụng phương pháp giảng dạy là ngồi với học sinh của mình trong một vòngtròn Vai trò của các Ulama3 khi đó không phải chỉ dừng lại với chức năng của mộtgiáo viên mà còn đảm nhận vai trò cố vấn cho các gia đình trong làng xã và cộngđồng Từ những cơ sở trên, các Ulama dễ dàng nhận được sự thừa nhận và kínhtrọng từ xã hội thậm chí đôi khi họ còn được mời đến cung điện để dạy cho nhà vuangười cai trị đất nước và các con em hoàng gia

Sau khi tốt nghiệp, những sinh viên này có hai con đường chủ yếu để lựachọn: một là họ sẽ quay trở lại chính quê hương của họ; hai là tiếp tục theo đuổi cácnghiên cứu của mình ở tại các nước Trung Đông hoặc thường xuyên mở nhữngvòng tròn nghiên cứu - halaqah4 riêng của họ Họ cũng tạo được một liên kết trongchuỗi liên kết giữa một Ulama và các Ulama khác [19, tr 7]

Chuyển sang giai đoạn tiếp theo, người học sẽ tập trung nghiên cứu ở các tổchức tôn giáo được gọi là “Pondok5” - có nghĩ “Nhà ở”, nhà nghỉ hoặc kháchsạn Nó cũng có nghĩa là sự bố trí theo hình thức một ngôi nhà nhỏ từ 3 cho đến 4sinh viên cư trú [29, tr 1239] Với chức năng ban đầu là một địa điểm nghiên cứu

2 Hut: ở đây có nghĩa là liều trại, nơi để các tín đồ Hồi giáo đến cư trú tạm thời nhằm mục tiêu nghiên cứu và học tập về Đạo Hồi

3 Ulama - Giáo viên hay những học giả Hồi giáo

4 Halaqah: Halaqah có nghĩa là "vòng tròn" theo tiếng Ả Rập Thường thì một halaqah, là một tập hợp nghiên cứu tôn giáo theo một vòng tròn nghiên cứu

5 Pondok: là một từ có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập, cụ thể là “findûk” có nghĩa là nơi ăn nghỉ (Berarti Tempat

Penginapan) Theo Kamus Dewan (một quyển từ điển Malay) Pondok có nghĩa là “Madrasah” (đi học) và

asrama (ký túc xá) có nghĩa là một nơi để trích dẫn và nghiên cứu tôn giáo

Trang 31

chuyên sâu về kiến thức tôn giáo, bảo tồn các giá trị truyền thống tôn giáo và đàotạo những học giả Hồi giáo.

Khác với một nền giáo dục trước khi Hồi giáo đặt chân đến đây, nền giáodục ở Malaysia ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Ấn Độ giáo và Phật giáo Nó được đặctrưng bởi một hệ thống độc quyền, trong đó giáo dục được ưu tiên cho những tầnglớp xã hội cao cấp, đặc biệt là con cháu của hoàng gia Còn những ngôi trường Hồi

giáo lại thu nhận tất cả những “tín đồ bình dân” vào học và nó được đón nhận mạnh

mẽ ở các vùng nông thôn [1, tr 90]

Sinh viên tự dựng các túp lều được cung cấp để tiến hành nghiên cứu, họctập ở Madrasah thuộc phạm vi sở hữu của các Tok Guru6 Nếu học sinh đến ở nộitrú thì mang theo tiền và lương thực dự trữ Tuy nhiên, nếu thiếu họ có thể đi làmthêm hoặc dựa bố thí [1, tr 92]

Sau nhiều năm “đào xới” họ được coi là “Alim” hay được biết đến như

“guru”, những sinh viên này sẽ trở lại làng của mình để thực hiên công việc giảng

dạy và một số sẽ tiếp tục du học ở các nước như Makkah, Cairo, Pakistan hay Ấn

Độ Khi những sinh viên này đi đến học ở Đại học Al Azhar và các nước TrungĐông khác, họ sẽ được giảng dạy - đào tạo với các chương trình của các địa điểmnghiên cứu cụ thể và điều hiển nhiên khi ấy họ sẽ dễ dàng bị ảnh hưởng bởi nhữngchương trình này Vì vậy, khi họ trở về quê hương của mình, họ thường tham giacác Pondok hiện có hoặc thành lập nên những Pondok mới Họ sẽ lên kế hoạch vàthực hiện một trong hai hoặc chỉ một phần trong chương trình họ đã tu tập đượctrong những ngày đầu khi họ là sinh viên Không phải ngạc nhiên khi thấy rằng

nhiều pondok hoặc madrasahs với các chương trình giảng dạy là những “carbon –

Copy” – là “những bản sao tối màu” của Al- Azhar và các nước Trung Đông khác.

Tình hình này vẫn tiếp tục cho đến bây giờ, kể từ khi kết quả học tập hoặc chứngchỉ nhất định được cấp bởi những Pondok và madrasah nói chung không được chấpnhận bởi các trường đại học chính thống, do đó nhiều người trong số các sinh viênphải tiếp tục “tu tập” tại các địa điểm như Pakistan, Ai Cập và các nước TrungĐông khác [19, tr 9]

6 Tok guru: là tên gọi của một giáo viên hoặc là một nhà lãnh đạo tôn giáo đối với Hồi giáo

Trang 32

Về nội dung các môn học: đa số các Pondok đều dựa trên chương trình giảng

dạy Al-ran tại các nhà thờ Hồi giáo Tất cả Pondok thường giảng dạy bao gồm cácmôn cơ bản như Tauhid, Al-Qur’an (kinh Koran7), Fiqh (luật học), Hadith8 (sáchtruyền thống), Nahu, Sarf, Tasawwuf và Akhlaq, ngôn ngữ Ả Rập, Jawi và một sốtiểu thuyết cổ điển được gọi là Hikayat liên quan đến lịch sử và văn học Nhữngmôn học này được ghi nhận từ các dữ liệu có trong các báo cáo giáo dục thuộc địa,

mà không có sự cập nhật nào về các môn như: số học, địa lý, hoặc các chủ đề tương

tự [28, tr 140-141]

Về việc giảng dạy và phương pháp giảng dạy: việc giảng dạy không giới hạn

chỉ dành cho nam giới mà còn dành cho một số ít phụ nữ, ngoài ra chương trình dạyhọc không chỉ dừng lại với các giáo lý cơ bản của Hồi giáo như Kinh Koran, màcòn có ngôn ngữ Malay và một số văn bản từ bản thảo tiếng Malay cho các em gái

và em trai trong các làng ở Malacca Các lớp học tôn giáo cũng có sự phân loại vềpondok tại nhà thờ hồi giáo hay các trường pondok Đối với các pondok tại các nhàthờ Hồi giáo việc giảng dạy được phân loại thành các lớp học tôn giáo được thực

hiện bởi nhóm khác nhau, các lớp Aqidah được quy định cụ thể với các giáo viên hướng dẫn hàng tuần, còn các lớp Fardhu Ain, Fardhu Kifayah, thì được giảng dạy

với các chương trình tôn giáo khác [16, tr 192]

Phương pháp giảng dạy: Các trường sử dụng phương pháp giảng dạy với

phương thức truyền thống và thường được tiến hành trong một vòng tròn học tậphoặc halaqah dưới sự hướng dẫn của Kitab Kuning hay Haji, hoặc sẽ tiến hànhnghiên cứu những cuốn sách cổ như sách văn bản [16, tr 189]

Khi học kinh Koran, thầy giáo sẽ bắt các học trò của mình phải học thuộctừng câu, từng chữ cho đến cả dấu chấm, dấu phẩy nhưng ít khi giải thích nhữngkiến thức trong các cuốn kinh này Những người học thuộc hết toàn bộ kinh Koran

sẽ được gọi là Hafiz Ngoài ra, một số giáo viên khác chuyên về tôn giáo như Imam,Bilal và Khatib sẽ tiến hành giảng giải kỹ về kinh Koran, 5 nghĩa vụ của tín đồ, tínhduy nhất của Thượng đế….cho học trò, từ đó đào tạo một đội ngũ các ulama sẵnsàng kế nghiệp họ trong tương lai [39] Một trong những đặc trưng của phương

7 Kinh Koran - toàn bộ triết thuyết của đạo Hồi đều được ghi lại trong Kinh Koran

8 Hadith (sách truyền thống) - là các tập quán cổ truyền, những lời nói, cử chỉ và hành động của giáo chủ Môhammet

Trang 33

pháp nghiên cứu văn bản không chính thức trong nền giáo dục truyền thống ởMalaysia là việc không có hình thức kiểm tra, đánh giá chính thức nào được ápdụng cho các trường tôn giáo trên toàn quốc.

Về cách thức quản lý: Các lớp học thường được đặt ngay trong thánh đường,

những người trông coi thánh đường cũng chính là giáo viên tôn giáo vì vậy họ hoàntoàn có quyền kiểm soát về cả hoạt động hành chính lẫn công tác giáo dục trongcác cơ sở giáo dục của họ như: lựa chọn học sinh, thiết kế giáo trình

Về độ tuổi đến trường và thời gian học tập: Theo truyền thống, độ tuổi đi

học của trẻ em Malaysia là từ khoảng tám đến mười tuổi, một cậu bé sẽ bắt đầuđược dạy đọc và viết, và học kinh Koran Và điều hiển nhiên, tất cả chúng đềukhông thể hiểu được kinh Koran, bởi vì loại kinh này lại được viết bằng tiếng ẢRập [20, tr 135] Tuy nhiên không phải là điều ngoại lệ khi một cậu bé từ năm lênsáu tuổi cũng đã có thể tham gia các lớp học kinh Koran

Thời gian dành cho hoạt động giáo dục Hồi giáo cơ bản được kéo dài đếnkhoảng 10 năm hoặc thậm chí còn lâu hơn thế [15, tr 14] Thời gian học trongmột ngày của lớp học Pondok thường được quy định một cách cụ thể và hợp lý.(Xem phụ lục 6)

Các văn bản cổ trở thành nguồn phổ biến nhất trong việc giảng dạy Nhữnggiáo viên hướng dẫn là những người có khả năng và làm chủ tốt được việc đọc vàhiểu tác phẩm Jawi và tiếng Ả Rập, văn bản và các cú pháp [16, tr 192 - 193]

Việc giáo dục cho phụ nữ: Phụ nữ, và trẻ em gái cũng có thể tham gia các lớp

học Hồi giáo song việc làm này cũng không mấy được khuyến khích để tránh phụ

nữ và trẻ em gái thoát khỏi “bổn phận” và “nghĩa vụ” của họ đối với gia đình của

họ Vì vậy mà hình thức giáo dục tại gia cho phụ nữ vẫn phổ biến hơn ở Malaysia

Có thể nhận thấy các tổ chức Pondok là di sản đầu tiên và có ảnh hưởng nhấttrong giáo dục Hồi giáo ở Malaysia, được tiến hành song song đối với cả vùng nôngthôn lẫn thành thị hay trong cung điện hoàng gia Giáo dục Hồi giáo là phương thức

để duy trì trật tự xã hội ở Malaysia lúc bấy giờ Chất lượng giáo dục tôn giáo dầndần được cải thiện phù hợp với việc Hồi giáo hoá của xã hội Malay Các lớp họckinh Koran được xem là nền tảng của giáo dục tôn giáo và cũng là nền tảng củahoạt động giáo dục thế tục người Malay Giá trị mà giáo dục tôn giáo đem lại chính

Trang 34

là những giá trị về đạo đức và văn hóa Nhờ có đội ngũ ulama này mà kiến thức Hồigiáo được truyền liên tục và không bị mất đi Không những thế, việc có mặt của cácUlama còn tạo điều kiện cho một loại chữ viết mới ra đời thay thế chữ viết nguyênthủy, đó là chữ Jawi [39].

2.3 Giáo dục Malaysia theo mô hình phương Tây của chính quyền thuộc địa Anh từ 1824 đến 1941

Sau khi xác lập được quyền thống trị ở Malay, thực dân Anh đã thi hànhnhiều chính sách như kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội Trong đó, chính sáchgiáo dục, một nội dung của chính sách văn hóa - xã hội được coi là phần trọng tâmcủa chính sách cai trị ở Malaysia Quan điểm giáo dục của thực dân Anh đối với

Malaya là: “Thích ứng với từng nhóm dân tộc và thích ứng với vai trò chính trị

cũng như địa vị kinh tế của từng nhóm trong cơ cấu xã hội thuộc địa” [14, tr 46].

Chính sách giáo dục của Anh hướng đến việc nhấn mạnh sự khác biệt và tínhthích ứng về lịch sử và văn hóa sắc tộc, tức là thích ứng với từng nhóm dân tộctrong cơ cấu xã hội thuộc địa, khi mà liên bang Malaysia là một quốc gia đa tộc và

có ba tộc người chính: người bản địa - chủ yếu là người Mã Lai9, người Hoa vàngười Ấn [10, tr 10], chính sách giáo dục này đồng nghĩa với tấm thẻ căn cước xácđịnh anh thuộc nhóm nào trong xã hội sẽ nói lên loại hình trường tương ứng mà anhđược phép tiếp cận, qua đó nhằm duy trì khác biệt trong giáo dục truyền thống giữacác nhóm dân tộc mà kèm theo đó còn phân chia đẳng cấp xã hội trong giáo dục

Hệ thống giáo dục kép đã được thi hành ở Malaysia với một chương trình

giáo dục “tinh hoa” dành cho tầng lớp quý tộc (với đầy đủ các cấp học từ cơ sở, trung học đến cao đẳng, đại học) và một chương trình giáo dục “thiên về nông

thôn” dành cho số đông dân chúng còn lại [14, tr 47] Tiếng Anh chỉ được dạy cho

quý tộc và trẻ em của các dân tộc khác nhau chỉ có thể nghiên cứu cùng nhau trongcác trường dạy tiếng Anh, còn người nghèo thì được học miễn phí tiếng Melayu,tiếng Tamil và chỉ giới hạn trong giáo dục tiểu học Để thực hiện chương trình giáodục này, chính quyền Anh đã tạo nên một hệ thống giáo dục công lập bằng tiếngAnh từ cấp tiểu học cho đến đại học [7, tr 252]

9 Mã Lai là tên gọi trước đây của Malaysia Trong khóa luận tác giả đang xen sử dụng các danh từ được sử dụng để chỉ tên đất nước Malaysia

Trang 35

Để xúc tiến thực hiện những mục đích đã hoạch định trên chính quyền thựcdân đã tích cực phối hợp với các giáo hội truyền giáo thực hiện những chính sáchgiáo dục Sự tồn tại của các cộng đồng truyền giáo được coi như một hệ thống nhằm

hỗ trợ sự chuyển dịch cơ cấu của hệ thống văn hóa - xã hội thuộc địa, ngoài mụctiêu chính là để có thể chuyển đổi những người bản địa đi theo Kitô giáo Ngôitrường đầu tiên và cũng là trường lâu đời nhất được thực dân Anh xây dựng làtrường học truyền giáo dùng để dạy tiếng Anh (trường Penang (1816) do ĐứcCha Robert Sparke Hutchings thành lập)

2.3.1 Giáo dục Hồi giáo dưới thời thuộc địa Anh

Trong quá trình thực hiện những chính sách về giáo dục thuộc địa của mình,thực dân Anh đã ý thực được vai trò và sức mạnh to lớn của Hồi giáo nói chung và

hệ thống giáo dục Hồi giáo nói riêng tồn tại “ăn sâu bám rễ” trong đời sống cư dân

bản địa từ tầng lớp quý tộc vương giả cho đến những người bình dân nơi đây Chính

vì vậy mà trong nổ lực cho sự phát triển nền giáo dục thế tục, thực dân Anh đãkhông đưa ra những chính sách ngăn cấm triệt để việc phát triển giáo dục đạo Hồi

mà ngược lại còn tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển giáo dục tôn giáosong hành với nền giáo dục phương Tây, các trường tôn giáo cách tân được xemnhư là một phương tiện hiệu quả để truyền bá văn minh phương Tây

Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, yêu cầu về sử dụnglao động có trình độ cao để đáp ứng với tình hình thực tại của đất nước thì hệ thốnggiáo dục Hồi giáo đã có bước chuyển mình để thích nghi và tồn tại được Thay vì cứgiữ nguyên nội dung và hình thức dạy học trước đây, những trường Hồi giáo đãcách tân trong phương pháp và nội dung dạy học Ngoài những kiến thức về tôngiáo, những môn học thực tế như tiếng Anh, Toán, các môn học về kinh tế được dạyphổ biến [1, tr 92] Những trường học Hồi giáo cách tân như thế này người ta gọi làtrường Madrasa Chính sự thay đổi này mà các ngôi trường Hồi giáo trong quá khứchỉ tồn tại được ở vùng nông thôn thì nay đã có sự hiện diện ở những thành phố, và

đã thu hút những gia đình Hồi giáo và thậm chí không phải Hồi giáo cũng gửi con

em của họ đến học tập

Sekolah Agama Madrasah - trường tôn giáo Hồi giáo đã được thành lập đểtạo ra sức mạnh lan tỏa có thể cạnh tranh với các trường tiếng Anh và trường tiếng

Trang 36

Malay bởi những nhân vật Hồi giáo nổi tiếng như Sheikh Tahir Jalaluddin và SayidSyeikh Ahmad Al-Hadi Những trường học có cơ sở hạ tầng tốt hơn, có tổ chức hơn

và có hệ thống so với Sekolah Pondok (lớp tôn giáo không chính thức của các cánhân quản lý) Trường Sekolah Agama Madrasah Madrasah Al-Iqbal ở Singapore(1907), Sekolah Al-Hadi ở Malacca (1917) và Madrasah Al-Mashoor ở PulauPenang (1919) là những ngôi trường tôn giáo tiên phong đầu tiên [35, tr 5]

Nhiều trường đã được thành lập nhanh chóng giữa những năm 1920 - 1940

Cụ thể hơn vào những thập niên 1920, 1930, nhiều làng xã khác ở các bang trên bánđảo đã nhân rộng mô hình đào tạo này và thu hút được đông đảo học sinh Malaytham gia Việc thành lập các trường tôn giáo cũng tạo một cảm giác an toàn giữanhững người Mã Lai củng cố rằng vị trí của đạo Hồi đã được bảo đảm bất chấp ảnhhưởng của các tôn giáo khác và những thay đổi trong cuộc sống được tạo nên bởinhững trường tiếng Anh và trường bản xứ [35, tr 5]

Bước vào đầu thế kỉ XX, chương trình học đối với các ngôi trường Hồi giáođược tổ chức khoa học hơn, đặc biệt có sự kết hợp với đào tạo nghề, Sekolah AlDiniah là trường tiêu biểu nhất Năm 1924 trường chỉ có 16 người theo học nhưngđến năm 1941 có khoảng 500 học sinh và có ít nhất 8 chi nhánh của trường được

mở ở các làng khác ở Perak

Mặc dù vẫn là trường tôn giáo nhưng nó rất phổ biến ở các thành phố vàđược tổ chức, thiết kế chương trình giảng dạy như các trường thế tục hiện đại.Ngoài những kiến thức về tôn giáo, những môn học thực tế như tiếng Anh, Toán,các môn học về kinh tế được dạy phổ biến Trong số các trường cách tân Hồi giáo,trường Madrasah-ul Al Hamidah ở Kedah (1906) hay Madrasah Muhamadiah ởKelantan (1917) là những trường đầy đủ các yếu tố để có thể so sánh với bất cứtrường thế tục nào về cơ cấu tổ chức, thậm chí vượt xa một số trường Malay củachính phủ về chương trình giảng dạy và cả số lượng người theo học Điều này rất có

ý nghĩa đối với sự hình thành ngày càng đông đảo đội ngũ trí thức người Malay Từchính những trường cách tân này, rất nhiều con em Malay đã sang các nước TrungĐông để học đại học hoặc cũng có một số học sinh đã rất xuất sắc đã nhận được họcbổng của chính phủ theo học các trường đại học ở Anh Tuy nhiên, với mục tiêu xây

dựng một xã hội Hồi giáo hiện đại, hợp lý và tiến bộ những người lãnh đạo “tôn

Trang 37

giáo cách tân” đã không nhận ra là các chương trình giảng dạy thiếu đi sự nhấn

mạnh về toán, khoa học và tiếng Anh, được coi là những đối tượng cần thiết để thúcđẩy tính di động giữa một xã hội Hồi giáo hiện đại

Như vậy, người Anh đã ý thức được những gì mà nền giáo dục tôn giáo làmđược ở Malaysia, đồng thời người bản địa Malay bắt đầu từ sự chấp nhận hệ thốnggiáo dục thế tục ngoài giáo dục tôn giáo truyền thống, ý thức được sự cần thiết vàtầm quan trọng của giáo dục là yếu tố rất có ý nghĩa đối với sự phát triển chính trị,

kế hoạch xây dựng một hệ thống giáo dục theo mô hình phương Tây ở đất nước này

Nhưng kể từ khi người Anh bắt đầu giành được quyền kiểm soát ở Malaysia thìcác nhà cầm quyền Anh đã tìm cách mở rộng ảnh hưởng của họ đối với lĩnh vực giáodục bằng cách phân chia các loại hình giáo dục tương ứng các nhóm dân tộc riêng biệtvới bốn loại trường chủ đạo: trường Trung Hoa – chủ yếu dành cho những người nhập

cư gốc Hoa (trong đó ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Hoa), trường Tamil – chủ yếu dànhcho những người nhập cư gốc Ấn Độ (trong đó ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Tamil),trường tiếng Anh – với thành phần tham gia học tập có xuất thân đa dân tộc, nhưng chủyếu dành cho thành phần dân chúng tương đối khá giả như những người Châu Âu cùngvới một số ít quý tộc Malay, những người Hoa (trong đó ngôn ngữ giảng dạy là tiếngAnh), và trường Malay bản địa (trong đó ngôn ngữ giảng dạy chủ yếu là tiếng Malaybản địa) dành cho một số quý tộc và đa số tầng lớp bình dân phía dưới, cùng với cáctrường tôn giáo đã tồn tại từ trước đó

Trong thời gian đầu, nắm bắt được tâm lý “ngoại kiều” của người Hoa vàngười Ấn (Tamil) ở Malaysia các nhà cầm quyền Anh hầu như không can thiệp vàohoạt động giáo dục ngoài kiều Các trường học của người Hoa và người Ấn (Tamil)

Ngày đăng: 26/07/2016, 15:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Trường An (2015), Quá trình xâm nhập của Hồi Giáo vào Indonesia và Malaysia thế kỷ XIII – XVII, Luận văn thạc sĩ, Đại Học Sư Phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình xâm nhập của Hồi Giáo vào Indonesia vàMalaysia thế kỷ XIII – XVII
Tác giả: Lê Văn Trường An
Năm: 2015
2. Trần Vĩnh Bảo biên dịch (2005), Một vòng quanh các nước Malaysia, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vòng quanh các nước Malaysia
Tác giả: Trần Vĩnh Bảo biên dịch
Nhà XB: NXBVăn hóa Thông tin
Năm: 2005
3. Đỗ Thanh Bình, Trịnh Nam Giang (2005), “Chính sách “chia để trị” của thực dân phương Tây ở Đông Dương, Mã Lai và Miến Điện”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số (6), tr. 22 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách “chia để trị” của thựcdân phương Tây ở Đông Dương, Mã Lai và Miến Điện”, "Tạp chí Nghiên cứuChâu Âu
Tác giả: Đỗ Thanh Bình, Trịnh Nam Giang
Năm: 2005
4. Lê Thị Quý Đức (2013), Tình hình giáo dục ở Miến Điện thời thuộc Anh (1854 - 1948), Luận văn thạc sĩ, Đại Học Sư Phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình giáo dục ở Miến Điện thời thuộc Anh (1854- 1948)
Tác giả: Lê Thị Quý Đức
Năm: 2013
5. D.G.E. Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, (bản dịch của Bùi Thanh Sơn, Nguyễn Thái Yên Hương, Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Vũ Tùng, Đoàn Thắng), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Tác giả: D.G.E. Hall
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
6. Trịnh Thị Hoa (2014), Quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của Liên Bang Malaysia từ năm 1957 đến 1990, Luận án tiến sĩ, Học viện hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của Liên Bang Malaysia từ năm 1957 đến 1990
Tác giả: Trịnh Thị Hoa
Nhà XB: Học viện hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2014
7. Trần Khánh (2012), Lịch sử Đông Nam Á (tập IV); Đông Nam Á trong thời kỳ thuộc địa và phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thế kỉ XVI đến năm 1945, NXB Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Tác giả: Trần Khánh
Nhà XB: NXB Khoa học
Năm: 2012
9. Lương Ninh (chủ biên) (2008), Lịch sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Tác giả: Lương Ninh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
10. Phạm Đức Thành (1993), Malaixia trên đường phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Malaixia trên đường phát triển
Tác giả: Phạm Đức Thành
Nhà XB: NXB Chính trị quốcgia
Năm: 1993
11. Nguyễn Thị Vân (2009), “Tiếng Anh ở Malaysia và mối quan hệ với ngôn ngữ quốc gia”, Tạp chí Ngoại ngữ với đời sống, số 11 (169), tr. 13 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Anh ở Malaysia và mối quan hệ với ngôn ngữquốc gia”, "Tạp chí Ngoại ngữ với đời sống
Tác giả: Nguyễn Thị Vân
Năm: 2009
12. Trần Thị Thanh Vân (2009), “Các công ty Đông Ấn Anh từ thế kỉ XVII, XVIII”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, (6), tr. 41 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công ty Đông Ấn Anh từ thế kỉ XVII,XVIII”, "Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu
Tác giả: Trần Thị Thanh Vân
Năm: 2009
13. Lí Tường Vân (2011), “Chính sách giáo dục của Anh đối với cộng đồng người Malay bản địa (từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX)”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số (5), tr. 11 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách giáo dục của Anh đối với cộng đồng ngườiMalay bản địa (từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX)”", Tạp chí nghiên cứuĐông Nam Á
Tác giả: Lí Tường Vân
Năm: 2011
14. Lí Tường Vân (2014) , Con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1957, Luận án tiến sĩ, Học viện hàn lâm khoa học Xã Hội, Hà Nội.B. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1957
Tác giả: Lí Tường Vân
Nhà XB: Học viện hàn lâm khoa học Xã Hội
Năm: 2014
15. Ahmad Fauzi Abdul Hamid (2010), Islam Education in Malaysia, Reis Monograph No 18, S. Rajaratnam school of International Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Islam Education in Malaysia
Tác giả: Ahmad Fauzi Abdul Hamid
Nhà XB: S. Rajaratnam school of International Studies
Năm: 2010
16. Asyraf Hj Ab Rahman - Wan Ibrahim Wan Ahmad - Hammadah Hj Ab Rahman (2015), “Non-Formal Religious Education in Malay Muslim Community in Terengganu, Malaysia”, Mediterranean Journal of Social Sciences, MCSER Publishing, Rome-Italy, Vol. 6 No. 3 S2, May, p. 189 - 194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non-Formal Religious Education in Malay Muslim Community inTerengganu, Malaysia”, "Mediterranean Journal of Social Sciences
Tác giả: Asyraf Hj Ab Rahman - Wan Ibrahim Wan Ahmad - Hammadah Hj Ab Rahman
Năm: 2015
17. Basu. A (1982), Essays in the history of Indian education, New Dehli: Concept Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essays in the history of Indian education
Tác giả: Basu. A
Năm: 1982
18. Barbara Ingham - Colin Simmons (1987), Development studies and colonial, Deptartment of Economics, University of Salford, Frank Cass Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development studies and colonial
Tác giả: Barbara Ingham, Colin Simmons
Nhà XB: Frank Cass
Năm: 1987
19. Che Noraini Hashim & Hasan Langgulung (2008), “Islamic Religious Curriculum in Muslim Countries: The Experiences of Indonesia and Malaysia”, Bulletin of Education & Research, Vol. 30, No. 1, June, p. 1 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Islamic ReligiousCurriculum in Muslim Countries: The Experiences of Indonesia and Malaysia”,"Bulletin of Education & Research
Tác giả: Che Noraini Hashim & Hasan Langgulung
Năm: 2008
20. Frank Swettenham, KCMG (1907), British Malaya, London: Jone Lane Sách, tạp chí
Tiêu đề: British Malaya
Tác giả: Frank Swettenham, KCMG
Năm: 1907
21. Hazri Jamil and Santhiram R. Raman (2012), “Malaysian education policy for national integration: Contested terrain of multiple aspiration in a multicultural nation”, Journal of Language and Culture, Vol. 3(1), January, p. 20 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Malaysian education policy fornational integration: Contested terrain of multiple aspiration in a multiculturalnation”, "Journal of Language and Culture
Tác giả: Hazri Jamil and Santhiram R. Raman
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w