1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn sử dụng di sản trong dạy học địa lí lớp 9 phần các vùng kinh tế

20 931 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến 1.1 Do nhu cầu muốn truyền tải kiến thức di sản các vùng miền đến cho học sinh, giúp học sinh hiểu biết về di sản của đất nước từ đó giáo dục học sinh tình

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: “Sử dụng di sản trong dạy học Địa lí lớp 9 phần các vùng kinh tế”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Địa lí 9

3 Tác giả:

Họ và tên: Vũ Thị Thắm Nữ

Ngày tháng năm sinh: 20/ 01/ 1978

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Văn – Địa

Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng tổ Khoa học Xã hội, trường THCS

Cổ Thành

Điện thoại: 01693979747

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS Cổ Thành - xã Cổ Thành thị xã Chí Linh - tỉnh Hải Dương

Điện thoại: 0320 3881031

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Lớp 9A, 9B - Trường THCS Cổ Thành

6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Nhà trường cần trang bị

hệ thống máy chiếu, bản đồ, tranh ảnh, bảng biểu…

7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013- 2014

TÁC GIẢ

Vũ Thị Thắm

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG

SÁNG KIẾN

Trang 2

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

1.1 Do nhu cầu muốn truyền tải kiến thức di sản các vùng miền đến cho học sinh, giúp học sinh hiểu biết về di sản của đất nước từ đó giáo dục học sinh tình yêu quê hương đất nước, yêu di sản của quê hương và tìm hiểu về lịch sử, kiến thức văn hóa của dân tộc, có ý thức bảo vệ di sản

1.2 Qua dự giờ đồng nghiệp bản thân tôi nhận thấy hiện nay việc sử dụng di sản trong quá trình dạy và học địa lí phần lớn ở các nhà trường là rất hời hợt, thậm chí có giáo viên không tích hợp di sản trong quá trình giảng bài của mình mặc dù tiết học đó có thể tích hợp phần dạy học di sản

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng di sản

- Điều kiện áp dụng sáng kiến có thể trong tiết dạy, trên phương tiện trực quan như tranh ảnh, bản đồ, video, hoặc học tập tại thực địa

- Thời gian áp dụng: Nếu tích hợp trong các tiết dạy khoảng từ 3-5 phút, trong trường hợp nhà trường có điều kiện về kinh phí có thể cho học sinh đi học tập tại thực địa thì thời gian từ 1-3 ngày

- Đối tượng áp dụng sáng kiến: học sinh lớp 9

3 Nội dung sáng kiến

- Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến: Sáng kiến đã tích hợp khá triệt

để các di sản tiêu biểu của từng vùng miền vào giảng dạy, không chỉ là giới thiệu tên di sản như trước đây mà qua tiết dạy giáo viên đã hướng dẫn, giúp học sinh hiểu khá rõ về vị trí địa lí, lịch sử hình thành, những đặc điểm chính của từng di sản

- Khả năng áp dụng của sáng kiến là rất cụ thể, thiết thực và có tính khả

thi cao vì không quá khó, quá cầu kỳ đối với giáo viên và học sinh Giáo viên chỉ cần có tài liệu, tranh ảnh về di sản hoặc các đoạn clip giới thiệu về di sản là

có thể tích hợp vào tiết dạy, khi tìm hiểu về di sản từng vùng miền không quá mất thời gian chỉ từ 3-5 phút

Khi dạy học đến từng vùng kinh tế cụ thể, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp vẫn thường sử dụng để tìm hiểu, giới thiệu về di sản

- Phương pháp vấn đáp kết hợp nhóm phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan

+ Sử dụng bản đồ để chỉ vị trí di sản

+ Sử dụng tranh ảnh, video để giới thiệu di sản

Ví dụ: Sau khi xem đoạn clip, tranh ảnh, thông tin phần kênh chữ em hiểu

gì về di sản Cố đô Huế?

- Phương pháp thuyết trình về di sản:

Ví dụ: Sau khi học sinh phát biểu giáo viên có thể yêu cầu học sinh thuyết trình về di sản sau đó giáo viên thuyết trình hoặc ngược lại

- Phương pháp học tập tại thực địa

Giáo viên có thể lên kế hoạch, dự kiến kinh phí, kế hoạch học tập tại thực địa như thế nào? Học sinh cần chuẩn bị những gì? Đến học tập tại thực địa học sinh nắm được những kiến thức nào? Tiến hành học tập tại thực địa ra sao?

Trang 3

- Lợi ích thiết thực của sáng kiến: Việc sử dụng sáng kiến nhằm tạo

hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong các tiết học Địa lí, cụ thể:

+ Tập trung sự chú ý của học sinh

+ Giúp học sinh định hướng tốt hơn

+ Làm thông tin trở nên dễ tiếp thu hơn

+ Làm rõ ràng, cụ thể hơn những điều cơ bản

+ Mở rộng và bổ sung những điều đã nói

+ Phát huy khả năng sáng tạo không giới hạn của các em học sinh

4 Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến: Áp dụng sáng kiến giúp học

sinh hứng thú học tập hơn, tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn, đặc biệt học sinh có kiến thức và hiểu biết sâu sắc về di sản tiêu biểu của từng vùng miền từ

đó học sinh có tình yêu di sản, thêm yêu quê hương đất nước, có ý thức bảo vệ

di sản, bảo vệ danh lam thắng cảnh của địa phương của đất nước,cũng qua đó học sinh giới thệu với bạn bè trong và ngoài nước về các di sản của địa phương mình, góp phần phát triển du lịch, phát triển kinh tế của từng địa phương, nâng cao đời sống người dân, góp phần phát triển kinh tế đất nước

5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện sáng kiến

- Đối với nhà trường: Trang bị tài liệu di sản, phương tiện dạy học như bản

đồ, tranh ảnh, video, máy chiếu, máy tính, loa đài, tạo điều kiện cho học sinh

đi học tập tại thực địa

- Đối với Phòng giáo dục và Sở giáo dục: Mở các lớp chuyên đề tập huấn về

sử dụng di sản, cung cấp tài liệu có kiến thức về di sản đến từng giáo viên

Trang 4

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

1.1 Do nhu cầu muốn truyền tải kiến thức di sản các vùng miền đến cho học sinh, giúp học sinh hiểu biết về di sản của đất nước từ đó giáo dục học sinh tình yêu quê hương đất nước, yêu di sản của quê hương và tìm hiểu về lịch sử, kiến thức văn hóa của dân tộc, có ý thức bảo vệ di sản, phát triển kinh tế địa phương thông qua hoạt động du lịch quảng bá về di sản

1.2 Qua dự giờ đồng nghiệp bản thân tôi nhận thấy hiện nay việc sử dụng di sản trong quá trình dạy và học địa lí phần lớn ở các nhà trường là rất hời hợt, thậm chí có giáo viên không tích hợp di sản trong quá trình giảng bài của mình mặc dù tiết học đó có thể tích hợp phần dạy học di sản

2 Thực trạng của vấn đề

2.1 Thuận lợi

Bộ môn Địa lí là một trong những bộ môn khoa học cơ bản được giảng dạy trong trường phổ thông hiện nay và giữ vị trí rất quan trọng trong chương trình giáo dục, góp phần giúp cho học sinh có được những kiến thức phổ thông

cơ bản về tự nhiên và kinh tế xã hội

Sử dụng di sản trong dạy học gây hứng thú trong tiết dạy, đa số học sinh mong muốn được giáo viên tích hợp dạy học di sản vào bài giảng

2.2 Khó khăn

Hiện nay giáo viên không có đầy đủ kiến thức chính thống về các di sản

mà phần lớn dạy học di sản dựa vào nguồn tư liệu từ intenet vì vậy mà tính chính xác còn hạn chế

Phương tiện để sử dụng dạy học di sản còn hạn chế như máy chiếu, máy tính còn chưa rõ nét, tranh ảnh, bản đồ về di sản còn hạn chế

Chưa có đủ kinh phí để dạy học tại thực địa nơi có di sản của từng vùng miền

3.Các giải pháp, biện pháp thực hiện

3.1 Đặt vấn đề

Bộ môn Địa lí là một trong những bộ môn khoa học cơ bản được giảng dạy trong trường phổ thông hiện nay và giữ vị trí rất quan trọng trong chương trình giáo dục, góp phần giúp cho học sinh có được những kiến thức phổ thông

cơ bản về tự nhiên và kinh tế xã hội

Do đặc điểm của môn Địa lí: không gian nghiên cứu rộng, không thể trực tiếp quan sát sự việc xảy ra, bên cạnh đó việc dạy và học bộ môn Địa lí không chỉ là cung cấp, nắm bắt kiến thức mà còn giúp các em hiểu biết sâu rộng hơn về di sản của đất nước mình, dân tộc mình…nên việc phải sử dụng những phương pháp dạy học di sản là điều cần thiết

Để tạo ra hứng thú trong quá trình dạy học và nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm, tình yêu quê hương đất nước cũng như ý thức giữ gìn di sản trong mỗi học sinh đòi hỏi giáo viên cần tích hợp dạy học di sản trong quá trình dạy học

Trang 5

Trong khuôn khổ của đề tài, tôi xin trình bày một phần trong việc tích

hợp di sản vào giảng dạy, đó là: “Sử dụng di sản trong dạy học Địa lí lớp 9

phần các vùng kinh tế”

3.2 Vai trò của sử dụng di sản trong dạy học Địa lí lớp 9

3.2.1 Khái niệm về di sản

Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể (bao gồm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên) là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế

hệ này qua thế hệ khác

3.2.2 Ý nghĩa của di sản đối với hoạt động dạy học

Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

Sử dụng di sản trong quá trình dạy học giúp cho quá trình học tập của học sinh trở nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh Ý nghĩa, vai trò của các di sản văn hóa có thể được phân tích dưới các góc độ sau:

Vai trò: Di sản là một nguồn nhận thức, một phương tiện trực quan quý

giá trong dạy học nói riêng, giáo dục nói chung Vì vậy, sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa sau:

- Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức cho học sinh

- Giúp học sinh phát triển kĩ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức

- Phát triển trí tuệ học sinh

- Giáo dục nhân cách học sinh

- Góp phần phát triển một số kĩ năng sống ở học sinh

- Tạo điều kiện tổ chức quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh một cách hợp lí

3.3 Thực trạng việc sử dụng di sản trong dạy học Địa lí hiện nay

Đối với môn Địa lí, việc sử dụng di sản tích hợp vào việc dạy học có ý nghĩa quan trọng Trong thực tế giảng dạy Địa lí hiện nay có thể thấy việc sử dụng di sản trong dạy học ngày càng phổ biến và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh Đây là một phương tiện dạy học tích cực, nó không chỉ có chức năng là minh hoạ cho bài giảng mà còn góp phần là nguồn cung cấp kiến thức mới sinh động, hấp dẫn và hiệu quả Sử dụng di sản còn giúp cho giáo viên thuận lợi và tiết kiệm thời gian trong quá trình giảng dạy địa lí

Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng di sản địa lí hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế

Trang 6

3.3.1 Về phía giáo viên:

Thứ nhất: Một số giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của việc

sử dụng di sản, cho rằng di sản không phải là kiến thức quan trọng nên việc sử dụng di sản chỉ mang tính chất minh hoạ cho kênh chữ

Thứ hai: Phương pháp dạy học di sản của giáo viên chưa thật sự phù hợp

với yêu cầu chung hiện nay Cách dạy học cũ không tích hợp di sản vẫn còn tồn tại, trong khi giáo viên chưa làm chủ hoàn toàn phương pháp dạy học sử dụng di sản mới

Thứ ba: Việc sử dụng di sản trong dạy học đối với giáo viên còn mang

tính chất hình thức hoặc sử dụng di sản nhưng không hiệu quả, hình ảnh còn mờ

3.3.2.Về phía học sinh:

Có thể khẳng định ở một số ít trường hợp sau khi được học, giáo viên giới thiệu về di sản, hầu hết các em hứng thú và thích học môn Địa lí, thái độ học tập của các em thay đổi theo chiều hướng tích cực Các em có kĩ năng khai thác kiến thức từ kênh hình khá hiệu quả Tuy nhiên, đa số hiện nay học sinh học tập môn Địa lí không nghiêm túc, mang tính chống đối và ít khi duy trì được hứng thú lâu dài với môn học Thực trạng đó do nhiều nguyên nhân như:

Thứ nhất: Nhiều học sinh cho rằng việc học môn địa lí là không quan

trọng, cho đây là môn phụ, cốt sao chỉ đủ điểm là được

Thứ hai: Học sinh chưa có hứng thú với kiến thức về di sản do giáo viên

chưa chủ động sử dụng di sản trong giảng dạy mà đa số giáo viên mô tả di sản bằng ngôn ngữ vì vậy mà học sinh học cảm thấy nhàm chán… Chính vì

thế nên các em không tích cực, chủ động học tập và nghiên cứu tìm hiểu về di sản trong quá trình học môn địa lí

Từ thực tế trên chúng ta cần phải đề ra giải pháp làm thế nào để nâng cao hiệu quả khai thác kiến thức địa lí từ việc sử dụng di sản, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn địa lí

3.4 Một số biện pháp “Dạy học sử dụng di sản trong dạy học môn Địa lí

lớp 9 phần Sự phân hóa lãnh thổ

3.4.1 Những lưu ý chung khi sử dụng dạy học di sản:

Đối với môn Địa lí lớp 9 phạm vi nghiên cứu các di sản trong từng vùng kinh tế, mỗi vùng đều có giới thiệu tên di sản nhưng không phải vùng nào cũng

có tranh ảnh về di sản đó vì vậy để khai thác kênh hình có hiệu quả, đòi hỏi cả thày và trò phải có sự chuẩn bị tốt cho các tiết học, cụ thể:

3.4.2 Đối với giáo viên:

- Phải căn cứ vào mục tiêu của bài học để lựa chọn di sản tương quan thích hợp Một số vùng kinh tế hệ thống di sản cho mỗi bài học khá phong phú, ngoài hệ thống kênh hình tranh ảnh có sẵn trong sách giáo khoa, thì giáo viên khi soạn bài có thể sưu tầm thêm di sản từ nhiều nguồn khác nhau đặc biệt qua in-ter-net Do đó đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu tìm tòi, lựa chọn những hình ảnh di sản phù hợp nhất với nội dung bài học, tránh việc sử dụng

Trang 7

tràn lan không hiệu quả, thậm chí sai di sản hoặc nhầm di sản ở các vùng khác Giáo viên cần lựa chọn danh mục di sản từng vùng cho chính xác, thậm chí giáo viên chọn một vài di sản đặc trưng của vùng đó để dạy cho phù hợp

- Trước khi hướng dẫn học sinh sử dụng, khai thác di sản, giáo viên phải hiểu một cách đầy đủ và chính xác nhất nội dung kiến thức phản ánh trong di sản đó là gì, tức là phải hiểu hết bản chất của di sản

- Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi dạng di sản Giáo viên có thể kết hợp một cách khoa học các phương pháp giảng dạy như: đàm thoại gợi mở, thảo luận nhóm, đặt vấn đề, giới thiệu di sản qua tranh ảnh hoặc các đoạn clip…

- Khi soạn giáo án, giáo viên phải xác định được thời điểm, thời gian hợp lí để sử dụng di sản vào bài dạy Trong tiết dạy việc sử dung di sản phải thật sự linh hoạt, ngoài việc sử dụng di sản trong phần nội dung chính của bài học, giáo viên có thể sử dụng di sản để mở bài hoặc khi củng cố, đánh giá bài học

- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi khai thác một cách hợp lí và hệ thống câu hỏi này phải có tác dụng phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập Hệ thống câu hỏi phải theo trật tự logic

- Phát huy tính tích cực của học sinh khi sử dụng di sản theo quan điểm mới: lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người tổ chức thiết kế, nhằm phát triển năng lực cho học sinh

- Giáo viên cần xây dựng thêm một số yêu cầu đối với học sinh

Ví dụ học sinh có thêm hiểu biết về sự ra đời của di sản, về cấu trúc, hình thức, nguyên nhân của sự tạo thành cấu trúc đó, về ý nghĩa của di sản đối với đời sống tinh thần, vật chất của người dân địa phương có di sản…Từ đó có thái độ tôn trọng di sản, có hành vi giữ gìn và chăm sóc di sản

- Xác đinh nội dung và các bước chuẩn bị chu đáo

Dù tiến hành dạy học tại địa điểm có di sản hay dạy học trong lớp học có sử dụng hình ảnh di sản, GV cần chuẩn bị kĩ nội dung và các điều kiện thực hiện

4.1.3 Đối với học sinh:

- Việc sử dụng di sản trong quá trình dạy và học môn địa lí không chỉ để minh họa mà thông qua hướng dẫn của giáo viên, học sinh phải chủ động tìm tòi kiến thức, hình thành các khái niệm, nhận thức được bản chất và nội dung của di sản

- Khi học sinh được học về các di sản, học sinh phải nắm được giá trị của di sản, địa điểm, thời gian hình thành di sản, kiến trúc, địa chất …của di sản Từ đó thêm yêu quý giá trị của di sản và có hành động tìm hiểu, tuyên truyền, quảng bá và bảo vệ di sản

3.5 Những di sản thường được sử dụng trong dạy học môn Địa lí lớp 9

Phần sự phân hóa lãnh thổ

Tính đến năm 2012, Việt Nam được UNESCO công nhận:

- 7 di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới:

Quần thể di tích Cố đô Huế; phố cổ Hội An tỉnh Quảng Nam; khu dich tích Mỹ Sơn – Quảng Nam; Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội; Thành Nhà Hồ

Trang 8

-Thanh Hóa; vịnh Hạ Long – Quang Ninh; vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng – Quảng Bình

- 7 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại: Nhã nhạc cung đình Huế; không gian văn hóa Cồng Chiêng – Tây Nguyên; Dân ca quan họ Bắc Ninh; Hát ca trù của người Việt; Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng; Hát Xoan; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương – Phú Thọ

- 3 di sản thông tin tư liệu thế giới: Mộc bản Triều Nguyễn; 82 bia đá ở Văn Miếu Quốc Tử Giám; Mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm – Bắc Ninh

- 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới: rừng ngập mặn Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh; đảo Cát Bà – Hải Phòng; khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang; khu dự trữ sinh quyển đồng bằng châu thổ sông Hồng; khu dự trữ sinh quyển mũi Cà Mau; khu dự trữ sinh quyển Cù lao Chàm- Quảng Nam; khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai

- Cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang, là di sản thiên nhiên thuộc mạng lưới công viên địa chất toàn cầu

Ngoài ra còn có trên 3000 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia

3.6 Một số phương pháp dạy học với di sản của từng vùng kinh tế cụ thể

Khi dạy học đến từng vùng kinh tế cụ thể, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để tìm hiểu, giới thiệu về di sản

- Phương pháp vấn đáp kết hợp nhóm phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan

+ Sử dụng bản đồ để chỉ vị trí di sản

+ Sử dụng tranh ảnh,video để giới thiệu di sản

Ví dụ: Sau khi xem đoạn clip, tranh ảnh, thông tin phần kênh chữ em hiểu

gì về di sản Cố đô Huế?

- Phương pháp thuyết trình về di sản:

Ví dụ: Sau khi học sinh phát biểu giáo viên có thể cho học sinh thuyết trình

về di sản sau đó giáo viên thuyết trình hoặc ngược lại

- Phương pháp thảo luận nhóm

- Phương pháp nghiên cứu theo bàn, theo cặp

- Phương pháp học tập tại thực địa

Giáo viên có thể lên kế hoạch, dự kiến kinh phí, kế hoạch học tập tại thực địa như thế nào? Học sinh cần chuẩn bị những gì? Đến học tập tại thực đia học sinh nắm được những kiến thức nào? Tiến hành học tập tại thực địa ra sao?

Mỗi vùng kinh tế có rất nhiều di sản khác nhau, giáo viên có thể cho học sinh liệt kê các di sản của từng vùng sau đó đi sâu tìm hiểu một số di sản đặc trưng của vùng đó Khi giới thiệu, tìm hiểu về di sản giáo viên có thể sử dụng các phương pháp trên kết hợp kiến thức về di sản để giới thiệu về từng

di sản như sau:

3.7 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu một số di sản văn hóa tiêu biểu ở từng vùng kinh tế.

3.7.1 Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ:

Giáo viên có thể đặt câu hỏi để tìm hiểu sự hiểu biết của học sinh

Ví dụ: ? Em hãy kể tên các di sản của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ?

Trang 9

- Học sinh sẽ liệt kê toàn bộ tên di sản của vùng

- Giáo viên có thể giới thiệu tranh ảnh hoặc đoạn clip tiêu biểu về di sản Vịnh Hạ Long ở Quảng Ninh, sau khi học sinh xem xong giáo viên đặt câu hỏi:

Ví dụ: Em hiểu gì về di sản Vịnh Hạ Long? Em có việc làm gì để góp phần bảo vệ di sản?

Ảnh Vịnh Hạ Long – Quảng Ninh

Vịnh Hạ Long – được Unesco nhiều lần công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới với hàng nghìn hòn đảo được làm nên bởi tạo hoá kỳ vĩ và sống động Vịnh Hạ Long có phong cảnh tuyệt đẹp nên nơi đây là một điểm du lịch rất hấp dẫn với du khách trong nước và quốc tế

Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo bởi địa danh này chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng, với nhiều hang động kỳ thú quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình cùng với hàng nghìn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng Nơi đây còn gắn liền với những giá trị văn hóa – lịch sử hào hùng của dân tộc

Vịnh Hạ Long nổi bật với hệ thống đảo đá và hang động tuyệt đẹp Đảo

ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam vịnh Hạ Long Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 – 280 triệu năm, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển Quá trình Carxto bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới…

3.7.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu di sản ở vùng đồng bằng sông Hồng:

- GV có thể yêu cầu học sinh thảo luận nhóm:

Trang 10

Ví dụ câu hỏi: ? Em hãy nêu tên các di sản của vùng đồng bằng sông Hồng và

em hiểu biết gì về di sản Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội?

Ảnh khu di sản Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội

Vị trí địa lý

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội có tổng diện tích 18.395ha, bao gồm: khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và các di tích còn sót lại trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như cột cờ Hà Nội, Đoan Môn, điện Kính Thiên, nhà D67, Hậu Lâu, Bắc Môn, tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn Cụm di tích này nằm ở quận Ba Đình và được giới hạn bởi phía bắc là đường Phan Đình Phùng; phía nam là đường Bắc Sơn và nhà Quốc hội; phía tây là đường Hoàng Diệu, đường Độc Lập và nhà Quốc hội; phía tây nam là đường Điện Biên Phủ và phía đông là đường Nguyễn Tri Phương

Lịch sử

Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lý Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua công bố thiên đô chiếu (chiếu dời đô) để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La Ngay sau khi dời đô, Lý Công Uẩn đã cho gấp rút xây dựng Kinh thành Thăng Long, đến đầu năm 1011 thì hoàn thành Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay Kinh thành, bao quanh toàn bộ kinh đô và men theo nước của 3 con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu Kinh thành là nơi ở và sinh sống của dân cư Vòng thành thứ hai (ở giữa) là Hoàng thành, là khu triều chính, nơi ở

và làm việc của các quan lại trong triều Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm thành, nơi chỉ dành cho vua, hoàng hậu và số ít cung tần mỹ nữ Nhà Trần sau khi lên ngôi đã tiếp quản Kinh thành Thăng Long rồi tiếp tục tu bổ, xây dựng các công trình mới Sang đến đời nhà Lê sơ, Hoàng thành cũng như Kinh thành được xây đắp, mở rộng thêm ra Trong thời gian từ năm 1516 đến năm

1788 thời nhà Mạc và Lê trung hưng, Kinh thành Thăng Long bị tàn phá nhiều lần Đầu năm 1789, vua Quang Trung dời đô về Phú Xuân, Thăng Long chỉ còn là Bắc thành Thời Nguyễn, những gì còn sót lại của Hoàng thành Thăng Long lần lượt bị các đời vua chuyển vào Phú Xuân phục vụ cho việc xây dựng kinh thành mới

Ngày đăng: 26/07/2016, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w