1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn ra đề theo hướng đánh giá năng lực của học sinh môn ngữ văn lớp 9

22 434 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 267,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên sáng kiến: Ra đề theo hướng đánh giá năng lực của học sinh môn Ngữ văn lớp 9.. Như vậy, nếu việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành tốt nó sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho học sinh phá

Trang 1

Phần 1 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Ra đề theo hướng đánh giá năng lực của học sinh môn Ngữ văn lớp 9.

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn

3 Tác giả:

Họ và tên: Lê Văn Thức Nam

Sinh ngày 24 tháng 11 năm 1978

Trình độ chuyên môn: Đại học

Chức vụ, đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng THCS Chí Minh

Điện thoại: 0904 921 536

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Lê Văn Thức

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:

Tên đơn vị: THCS Chí Minh

Địa chỉ: Phường Chí Minh - Thị xã Chí Linh- Tỉnh Hải Dương

6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Ban giám hiệu tích cực kiểm tra các hoạt động chuyên môn của giáoviên theo hướng đổi mới

- Có máy tính với các phần mềm ứng dụng

- Có sự đầu tư nghiên cứu chuyên môn

8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 8 năm 2014 đến nay.

VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Trang 2

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.

Kiểm tra đánh giá trong hoạt động dạy học là một khâu cực kì quantrọng Nó là việc kiểm tra kết quả của một quá trình dạy, học Việc kiểm trađánh giá có nhiều tác dụng Trước hết nó là thước đo xem xét quá trình tiếpthu của học sinh Đồng thời nó cũng là quá trình để người dạy điều chỉnhphương pháp giảng dạy cho phù hợp

Như vậy, nếu việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành tốt nó sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạtvận dụng kiến thức đã học giải quyết những tình huống thực tế Việc kiểm trađánh giá tốt sẽ là cơ sở để người dạy bổ sung vào phương pháp kiểm tra đánhgiá của mình ngày hoàn thiện hơn

Thông qua kiểm tra đánh giá còn hình thành nhu cầu, thói quen tự kiểmtra, đánh giá, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập và ý chí vươn lên

và khắc phục tư tưởng đối phó với thi cử; nâng cao ý thức kỷ luật tự giác,không có thái độ và hành động sai trái với thi cử

Nhận thức điều này, hưởng ứng phong trào sáng tạo trong giảng dạynăm 2015, tôi mạnh dạn viết sáng kiến: Ra đề theo hướng đánh giá năng lực của học sinh môn Ngữ văn lớp 9.

Sáng kiến này tập trung vào việc đưa ra những cách làm đơn giản trong việc lựa chọn cách hỏi, thiết kế đáp án mở, khai thác tối đa năng lực tiềm ẩn trong học sinh qua các hình thức kiểm tra.

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:

2.1 Điều kiện áp dụng sáng kiến:

-Sự đổi mới đồng thuận của giáo viên

- Sự tích cực vào cuộc của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn

2.2 Thời gian áp dụng sáng kiến:

Tháng 8 năm 2014 đến nay

2.3 Đối tượng áp dụng sáng kiến:

- Học sinh trường THCS ( khối lớp 9)

3 Nội dung sáng kiến:

+Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:

- Đưa việc kiểm tra trở thành một nội dung đánh giá năng lực của họcsinh

+ Khả năng áp dụng của sáng kiến:

Trang 3

Có khả năng áp dụng ở nhiều khối học sinh khác nhau ở bậc THCS.Đồng thời có thể mở rộng ở cấp THPT.

+ Lợi ích thiết thực của sáng kiến:

Tăng tính hiệu quả của nội dung kiểm tra đánh giá Thúc đẩy sự tìm tòi,ứng dụng các phương pháp đổi mới trong dạy học của giáo viên Tạo cơ sởcho việc tổ chức đánh giá ngoài

Tạo động lực học tập cho học sinh Phát huy tính sáng tạo và hìnhthành các năng lực cho học sinh

Giúp cơ quan quản lí giáo dục đánh giá chính xác chất lượng học sinh

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

Sáng kiến này đã và đang được bản thân tôi vận dụng trong quá trìnhgiảng dạy từ học kì I năm học 2014- 2015 cho đến nay và nhận thấy có nhiềutín hiệu khả quan Vì vậy tôi cũng muốn chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp,rất mong được sự góp ý để sáng kiến hoàn thiện có thể ứng dụng để nâng caochất lượng môn Ngữ văn

5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.

- Cơ quan quản lí giáo dục cần coi việc đánh giá ngoài là yếu tố thenchốt trong quá trình dạy học

- Giáo viên cần chủ động sáng tạo đổi mới các cách ra đề và đánh giácông bằng đối với người học Phát huy tính sáng tạo của học sinh, tôn trọng

sự sáng tạo của học sinh

Trang 4

Điều quan trọng là những giá trị của văn chương trong buổi đầu vớimỗi con người thường đi qua con đường giáo dục từ các nhà trường Củng cốkhả năng thẩm thấu, đánh giá được sự thẩm thấu của học sinh để mà từ đóphát hiện bồi dưỡng những năng lực khác nhau của người học là nhiệm vụcủa người dạy.

1.2 Cơ sở thực tiễn.

Xưa nay việc dạy văn nói chung, việc ra đề ngữ văn nói riêng còn khánhiều bất cập Sau mỗi kì thi những nhìn nhận đánh giá về đề thi vẫn cónhững ý kiến trái chiều nhau Cùng một đề, người cho là hay, người bảo là dở,người bảo vừa sức, người cho quá nặng Để tìm được tiếng nói chung vẫn cònphải bàn

Những năm gần đây, cấu trúc đề bài kiểm tra Ngữ văn bậc học phổthông không còn là dạng đề truyền thống có tính chất mệnh lệnh hay áp đặt

mà có sự thay đổi cả về nội dung và cấu trúc Cụ thể là trong đề bài kiểm tra

có phần câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi tự luận Tuy nhiên một điều đángbuồn là nhiều thầy cô, đặc biệt là các thầy cô dạy lớp 9 (lớp thi vào THPT)chủ yếu dạy theo hình thức đoán cấu trúc đề, rập khuôn theo kiểu đề đã đượcthi các năm trước Do đó thi chỉ là thi, thi xong học sinh chẳng cần giữ lại kĩnăng làm bào nào cả cũng chẳng biết mình đã hình thành được những nănglực gì

2 Cơ sở lý luận của vấn đề.

Dạy văn là dạy làm người Văn học là nhân học Điều này đã đượckhẳng định trong nhiều văn bản Nhưng ra đề thế nào để chúng ta có thể cóđược sản phẩm con người qua đào tạo từ môn Ngữ văn một cách hoàn chỉnhđúng đắn không phải là chuyện đơn giản

Ra đề môn Ngữ văn để kiểm tra đánh tra đánh giá năng lực của họcsinh, phát triển các năng lực của học sinh là nhiệm vụ của người giáo viên dạymôn Ngữ văn Để làm được điều này đòi hỏi người thầy ngoài việc kiểm tranăng lực của học sinh theo hướng tryền thống còn phait biết sáng tạo tìm tòinhững cánh kiểm tra đánh giá mới để tìm đến tận gốc những năng lực mà họcsinh có, khơi gợi được những tiềm năng này của hoc sinh

3 Thực trạng của vấn đề.

Bộ môn Ngữ văn được xây dựng trên cơ sở hợp nhất của ba phân mônVăn học- Tiếng việt- Tập làm văn Nói như vậy nhưng thực chất lâu nay trongquan niệm giảng dạy, xây dựng bài của giáo viên thì vẫn ngầm chia ra ba hình

Trang 5

thức khá độc lập ( Cũng có một số giáo viên sử dụng ngữ liệu từ môn văn cho việc khai thác tìm kiến thức trong các phân môn còn lại.Tuy nhiên việc khai thác này chủ yếu theo định hướng của sách giáo viên, ngữ liệu sẵn có trong sách giáo khoa của học sinh)

Việc kiểm tra của giáo viên đối với việc tiếp nhận kiến thức của học

sinh vẫn theo hướng truyền thống Theo kiểu “ dạy gì kiểm tra đó” Rất ít các

nhà trường có được việc tổ chức kiểm tra đánh giá ngoài Hơn nữa trongPPCT mà Bộ giáo dục ban hành thì số bài kiểm tra một tiết trở lên được quyđịnh cụ thể cho từng phân môn Ngoại trừ bài kiểm tra học kì có tính chấtthổng hợp còn lại là các bài kiểm tra có tính độc lập về kiến thức rất cao Thénên tính đồng tâm không phát huy trong khi kiểm tra đánh giá nó chỉ có tínhliên kết trong khi dạy

Việc học sinh, giáo viên không hứng thú với việc đổi mới kiểm trađánh giá, có nhiều nguyên nhân

Thứ nhất, tâm lí ngại Ngại ở đây là ngại phải nghĩ, ngại phải làm cáimới Mà làm cái mới tức là bỏ hoặc thay thế cái cũ sẽ mất công

Thứ hai, nhiều giáo viên có tuổi ứng dụng CNTT khó khăn nên muốnnhư cũ để có cái cũ mà dùng

Thứ ba, chương trình sách giáo khoa năm này qua năm khác vẫn lànhững tác phẩm cũ Tất nhiên chúng ta không thể phủ nhận được tính văn caotrong các tác phẩm được lựa chọn trong chương trình Nhưng nhiều văn bảnnhật dụng thì đã khá xa với thực tiễn đời sống hiện nay

Thứ tư, việc cấu trúc đề thi ở các kì thi giống nhau nên người dạythường bám vào dạy theo kiểu đề đã có

Thứ năm, sự mặn mà với môn Ngữ văn của học sinh, của phụ huynhkhông cao nếu không muốn nói là nhạt nhẽo Điều này cũng khiến cho ngườidạy không tích cực tư duy đổi mới trong các dạy, cách ra đề

3.1 Thống kê chất lượng bài kiểm tra 45 phút đầu năm.

Thống kê chất lượng bài kiểm tra ( đầu học kì 1, tháng 8 năm học 2014 2015)

3.2 Khảo sát chất lượng, mức độ hứng thú của học sinh, thầy cô trong ra

đề và làm bài kiểm tra:

Đứng trước thực trạng trên với mong muốn đưa ra một cái nhìn mới mẻvới môn Ngữ văn ở góc độ đề kiểm tra Với mong muốn thay đôỉ nhận thứccủa giáo viên trong vịêc ra đề chấm bài kiểm tra môn Ngữ văn Với mongmuốn giúp học sinh nhận biết những năng lực cuả bản thân, hình thành vàcủng cố năng lực của học sinh sau mỗi tiết kiểm tra

3.2.1 *Đối tượng khảo sát:

Trang 6

- Học sinh: 98 học sinh khối 9

- Giáo viên: 6 giáo viên dạy Ngữ văn tại nhà trường

9 giáo viên dạy Ngữ văn lớp 9 tại các trường THCS khác

* Thời điểm khảo sát: tháng 8/2014

3.2.2 Thu thập, phân tích dữ liệu:

3.2.2.1 Thu thập, phân tích dữ liệu từ các câu hỏi dành cho học sinh:

Câu hỏi 1: “Em có thích học môn Ngữ văn không?”

Câu hỏi 2: “ Em thấy các đề Ngữ văn mình đã làm từ lớp 6 đến lớp 8

có sự giống nhau về cách hỏi không?”

Số học sinh

khảo sát (em)

Giống hệt, chỉthay tên tácphẩm, nhậnvật, khái niệm

Khác nhau ởcâu hỏi nhỏ,không cuốnhút

Câu hỏi 3: “ Em thấy các đề Ngữ văn mình đã làm có gợi mở được sáng tạo của mình không?”

Em có thể sángtạo theo ý mình

3.2.2.2 Thu thập, phân tích dữ liệu từ các câu hỏi dành cho giáo viên:

Trang 7

Câu hỏi 1, Đồng chí có cho rằng việc đổi mới cách ra đề theo hướng phát hiện năng lực của học sinh là cần thiết không?

Số giáo viên khảo

sát

Cần thiết Không cần

thiết

Không có câu trảlời

Qua khảo sát, nhìn vào kết quả, chúng ta thấy có đến 53,3 % câu trả lời

là không cần thiêt Điều này cho thấy tâm lí ngại thay đổi đã ăn sâu vào ngườidạy Cũng có một lí giải khác Có thể cách thi hiện chưa thúc đẩy, chưa đòicần có sự đổi mới

Câu hỏi 2, Theo đồng chí, làm thế nào để học sinh hứng thú hơn trong làm bài kiểm tra môn Ngữ văn?

Số giáo viên khảo

Câu hỏi 3, Đợt tập huấn hè vừa qua, với sự truyền đạt của báo cáo viên, đồng chí

đã hiểu chính xác thế nào là ra đề theo hướng phát triển năng lực học sinh?

Số giáo viên khảo

sát

Hiểu sâu sắc,

có thể áp dụng

Chỉ hiểu vàinét chưa ápdụng được

4 Các giải pháp, biện pháp thực hiện.

Từ việc khảo sát thực trạng, tham vấn ý kiến của học sinh, giáo viêntrực tiếp đứng lớp, tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:

4.1 Xác định đối tượng thuộc nhóm có thể phát triển được những năng lực nào.

Năng lực được hiểu một cách khái quát là “ khả năng cá nhân đáp ứngcác yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh

cụ thể” là “sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nộidung trong những tình huống cho trứơc để giải quyết các vấn đề do những

Trang 8

tình huống này đặt ra” Theo đó năng lực được xem như điểm hội tụ của cácyếu tố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, tinh thần sẵn sàng hành động,trách nhiệm đạo đức của mỗi con người được bộc lộ khi đối mặt với nhữngvấn đề của cuộc sống

Năng lực ngữ văn có thể được hiểu là khả năng chiếm lĩnh khoa học vềtiếng Việt và văn học, khả năng tư duy, diễn đạt và trình bày hiểu biết của bảnthân về nhữung gì HS lĩnh hội được qua môn học Việc xác định năng lựcNgữ văn của học sinh dựa trên hai yêu cầu cơ bản của việc dạy học Ngữ văn:tiếp nhận văn bản (năng lực đọc-hiểu, giải mã văn bản được cung cấp và cácvăn bản cùng loại) và tạo lập văn bản (năng lực sản sinh ra các kiểu văn bảntheo những yêu cầu cụ thể) Ngoài ra có thể là năng lực tiếp nhận thông tin đachiều của cuộc sống; năng lực thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn;năng lực tham gia vào các hoạt động giao tiếp ứng xử có văn hóa; năng lực tựhọc, tự đánh giá và phê phán

Thông thường chúng thường chia lớp thành bốn đối tượng ( giỏi, khá,trung bình, yếu) Tương đương với bốn đối tượng học sinh này ta sẽ bốnnhóm năng lực có thể hình thành cho học sinh

Nhóm 1: Năng lực thưởng thức, cảm thụ rung động trước cái đẹp, cáithiện

Năng lực này trong câu hỏi thường bắt đầu bằng các từ: Cảm nhận, suy nghĩ, thái độ

Nhóm 2: Năng lực sử dụng CNTT, khai thác dữ liệu trên mạng InternetXuất hiện trong đề yêu cầu tìm kiếm thông tin để giải quyết một vấn đề( thuyết minh )

Nhóm 3: Năng lực giao tiếp tiếng Việt: biết sử dụng ngôn ngữ tiếngViệt để đưa ra, diễn giải, truyền đạt ý kiến, lựa chọn ngôn từ để hiệu quả tăng

cao.Năng lực này thể hiện ở 4 kĩ năng cơ bản: ( Nghe, nói, đọc, viết theo trí

nhớ- ghi lại câu thơ)

Nhóm 4: Năng lực sáng tạo: thể hiện những suy nghĩ tìm tòi của cánhân, đưa ra những ý tưởng mới mẻ trong so sánh, bình luận, phân tích, dựbáo kết luận…

Câu hỏi để khai thác nhóm năng lực này thường bắt đầu bằng các từ,

cụm từ: Nếu là, thử tưởng tưởng, Kết thúc đó đã hợp lí chưa…

( Để phù hợp với việc triển khai đề tài sáng kiến, người viết xin đưa đáp án kèm ngay sau câu hỏi)

4.2 Ra đề kiểm tra miệng.

Không nên quan niệm rằng kiểm tra miệng là kiểm tra đầu giờ học,kiểm tra kiến thức cũ Mà cần mở rộng khái niệm của việc kiểm tra miệng là yêu cầu họcsinh tái hiện kiến thức bài cũ Nhưng đồng thời có thể là phát hiện, củng cố, mở rộng… kiến thức bài mới Bài mà giáo viên đang dạy.

Kiểm tra miệng truyền thống Kiểm tra miệng theo hướng phát hiện,

Trang 9

Ví dụ các câu kiểm tra miệng:

* Kiểm tra bài đã học: - Thuyết minh những thông tin cơ bản về bài thơ

Đánh giá theo chuẩn KTKN Đánh giá theo Năng lực của học sinh

ĐG mức độ đạt chuẩn ĐG mức độ năng lực của HS

Xác định nội dung KT, KN cần đạt

(theo chủ đề, phân môn,…)

Xác định các năng lực cụ thể; các tiêuchí, chỉ số

Xác định các cấp độ của chuẩn theo

các nội dung tương ứng

Mô tả các mức độ NL theo quá trìnhphát triển

Chú ý đến KQ đạt được Chú ý đến quá trình đi đến KQ

Câu hỏi thiên về nội dung KT, KN cụ

Ở bài kiểm tra 15 phút Cần chú ý thời gian làm bài ngắn Do vậy yêucầu về năng lực với học sinh cũng ở mức độ vừa phải Việc ra đề với yêu cầu

về hướng phát triển năng lực phải thể hiện rõ ở mực tiêu của đề kiểm tra Cụthể trong hướng dẫn chấm Chúng ta có thể lựa chọn một số năng lực cơ bảnsau:

Những năng lực được giáo viên kiểm tra thường bắt đầu trong hệ thốngcâu hỏi với những từ ngữ sau:

Trang 10

Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:

-Có

Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:

-À, thầy hỏi con nhé Thế con ủng hộ ai?

Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:

-Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má Ông nói thủ thỉ:

-Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ

a Đoạn văn trên nằm trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?

b Đoạn truyện kể lại sự việc gì? Phân tích ngắn gọn tâm trạng của nhân vậtqua đoạn truyện trên?

Đáp án:

Mức tối đa:

- Về phương diện nội dung (9.0 điểm): Hướng vào các ý theo yêu cầu

Bài làm cần trình bày được các ý sau:

a Đoạn văn trên nằm trong tác phẩm Làng; tác giả: Kim Lân.(1.0 điểm)

( Học sinh phải thể hiện được năng lực tái hiện, ghi nhớ)

b Đoạn truyện kể lại sự việc ông Hai trò chuyện với đứa con út (2.0 điểm)

- Đoạn truyện bộc lộ cảm động tâm trạng nhân vật ông Hai Bị cách li

về chính trị, trong tâm trạng bị dồn nén, ông Hai chỉ còn biết trút nôi lòng củamình và những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con (2.0 điểm)

- Ông Hai hỏi con về nơi chôn ra cắt rốn, về thái độ với kháng chiến,tình cảm với cụ Hồ Nói với con cũng là tự nhủ với lòng mình, giãi bày nỗilòng mình Ông xúc động, ôm khít đứa con nhỏ vào lòng, nước mắt giàn ra,chảy ròng ròng (2.0 điểm)

- Tác giả miêu tả nội tâm nhân vật qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, diễn

tả tình yêu sâu nặng với làng chợ Dầu của ông Hai, tấm lòng thủy chung vớikháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là cụ Hồ Đó là tình cảm sâu nặng,bền chặt mà thiêng liêng (2.0 điểm)

Học sinh phải thể hiện được năng lực suy luận, phân tích, tổng hợp

- Về phương diện hình thức (1.0 điểm): Nội dung điểm hướng vào cách hành

văn của học sinh, chính tả và cách trình bày

Mức chưa tối đa: Chỉ đảm bảo được một trong các nội dung về nội dung và

Trang 11

a Hãy chép tiếp các câu còn lại để hoàn chỉnh khổ thơ?

b Đoạn thơ vừa chép có trong tác phẩm nào? của ai?

c Hình ảnh vầng trăng trong đoạn có ý nghĩa gì? Từ đó em hiểu gì về chủ đềcủa bài thơ?

Đáp án:

Mức tối đa:

- Về phương diện nội dung (9.0 điểm):

Bài làm cần trình bày được các ý sau:

a Chép chính xác đoạn thơ: (1.0 điểm)

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tìnhÁnh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình

b.Tên bài thơ: Ánh trăng; tên tác giả bài thơ: Nguyễn Duy (1.0 điểm)

c Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều ý nghĩa:

- Trăng tượng trưng cho quá khứ vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, cho

vẻ đẹp bình dị, vĩnh hằng của đời sống, cho nhân dân, đất nước, cho nhữngngười đã khuất, là người bạn, là nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắcnhở nhà thơ và mỗi chúng ta Con người có thể vô tình, có thể lãng quênnhưng thiên nhiên và nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.(4.0 điểm)

- Bài thơ là lời nhắc nhở thắm thía về thái độ, tình cảm với những nămtháng quá khứ gian lao, tình nghĩa…Bài thơ nằm trong mạch cảm xúc ''Uốngnước, nhớ nguồn'' đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta.(3.0 điểm)

Học sinh thể hiện năng lực cảm thụ cái đẹp trong ngôn từ, thể hiện năng lực tự chủ cảm xúc của bản thân

- Về phương diện hình thức (1.0 điểm): Nội dung điểm hướng vào cách hành

văn của học sinh, chính tả và cách trình bày

Mức chưa tối đa: Chỉ đảm bảo được một trong các nội dung về nội dung và

hình thức trên

Mức không đạt: Không làm bài hoặc lạc đề.

4.3.1.3.Ví dụ 3:

Trong truyện ngắn "Làng" Kim Lân có viết:

"Đến cả mụ chủ nhà là người ông lão yên trí nghe tin này thế nào mặt

mụ cũng sa sầm xuống mà nói tức, nói xóc, thì trái lại, mụ lại tỏ vẻ rất vuisướng Mụ giương tròn cả hai mắt lên mà reo:

- A, thế chứ! Thế mà tớ cứ tưởng dưới nhà đi Việt gian thật, tớ ghét ghêấy Thôi bây giờ thì ông bà cứ ở tự nhiên ai bảo sao Ăn hết nhiều chứ ở hết

là bao nhiêu

Mụ cười khì khì:

- Này, rồi cũng phải nuôi lấy con lợn mà ăn mừng đấy! "

Qua nhân vật mụ chủ nhà và một số nhân vật phụ trong truyện, tác giả muốn khẳng định điều gì ở người nông dân lúc bấy giờ Điều đó có ý nghĩa gì trong hoàn cảnh đương thời của đất nước?

Ngày đăng: 26/07/2016, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w