Xuất phát từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn, nhất là dạy phần Tập làm văn ở trường THCS hiện nay, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến về vấn đề: “Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập
Trang 1UBND THỊ XÃ CHÍ LINH
TRƯỜNG THCS CHÍ MINH
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 8 THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN TẬP LÀM VĂN
BỘ MÔN: NGỮ VĂN
Năm học 2014- 2015
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học sinh lớp 8 thông qua dạy học phần tập làm văn
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Ngữ văn lớp 8 ở trường THCS
3 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thủy Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 11 tháng 9 năm 1979
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Chí Minh
Điện thoại: 0984 403 224 0320 3585 548
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS Chí Minh- Chí Linh- Hải DươngĐiện thoại: 0320 3585 548
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
Tên đơn vị: THCS Chí Minh
Địa chỉ: Phường Chí Minh - Thị xã Chí Linh- Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0320 3585 548
6 Các điều kiện để áp dụng sáng kiến: Giáo viên và học sinh cấp THCS
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: áp dụng từ tháng 8 năm 2014 đến nay
TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN
Trang 3TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Căn cứ vào hướng dẫn của SGD&ĐT Hải Dương, hướng dẫn của PGD thị xã
Chí Linh về việc viết sáng kiến năm học 2014- 2015
Xuất phát từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn, nhất là dạy phần Tập làm văn
ở trường THCS hiện nay, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến về vấn đề: “Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học sinh lớp 8 thông qua dạy học phần Tập làm văn”
Sáng kiến này đã và đang được bản thân tôi vận dụng trong quá trình giảng dạy từ học kì I năm học 2014- 2015 cho đến nay
Đối tượng: Giáo viên và học sinh lớp 8 cấp THCS
Điều kiện: Để áp dụng có hiệu quả sáng kiến này, người giáo viên phải thực
sự tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm, dành thời gian nhiều Do học sinh phải thựchiện phần bài tập ở nhà nhiều nên giáo viên phải thu vở bài tập về nhà để chấm, sửacho các em
Giáo viên thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi quá trình học sinh làmbài Điều quan trọng là giáo viên biết động viên, khuyến khích, tuyên dương họcsinh đúng lúc, kịp thời Bên cạnh đó, với học sinh điểm số rất quan trọng nên khichấm bài tập hoặc khi các em trình bày thì giáo viên nên cho học sinh điểm số và
có điểm cho tinh thần tự giác
Bên cạnh việc động viên, khuyến khích, giáo viên cũng cần có biện pháp đốivới những học sinh còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại như yêu cầu các em ở lại saubuổi học để làm bài tập, mượn bài của bạn chép lại nhiều lần …
Khi chọn hướng nghiên cứu “Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học sinh lớp 8 thông qua dạy học phần Tập làm văn” với mục đích cung
cấp cho học sinh một con đường nhanh và dễ để tạo lập văn bản trong khi làm bài viết Đồng thời giúp cho bản thân tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề: Tìm hiểu đề, viếtđoạn văn trong văn bản tự sự, liên kết đoạn văn trong văn bản tự sự từ đó hình
Trang 4thành cho mình kĩ năng để góp phần làm tốt bài văn Ngoài ra với mục đích để traođổi với đồng nghiệp để cùng nhau bổ khuyết, xây dựng cho giải pháp càng hoàn thiện hơn trong quá trình áp dụng.
Đối với sáng kiến này tôi nghiên cứu và dừng lại ở các vấn đề:
- Tìm hiểu các năng lực cần phát triển qua môn Ngữ văn như: Năng lực giải quyết văn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lý bản thân, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực thưởng thức văn học, đặc biệt là năng lực tạo lập văn bản…
- Tìm hiểu đề;
- Viết đoạn văn trong văn bản tự sự;
- Liên kết đoạn văn trong văn bản tự sự
Qua việc nghiên cứu này cung cấp cho học sinh những giải pháp giúp các embiết tạo lập một văn bản đúng và hay
Những biện pháp này chỉ áp dụng trong phạm vi văn bản tự sự trong chương
trình Ngữ văn lớp 8
Sáng kiến này đã và đang được bản thân tôi vận dụng trong quá trình giảng dạy
từ học kì I năm học 2014- 2015 cho đến nay và nhận thấy có nhiều tín hiệu khảquan Vì vậy tôi cũng muốn chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp, rất mong được sựgóp ý để sáng kiến hoàn thiện có thể ứng dụng để nâng cao chất lượng môn Ngữvăn
Trang 5MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1 Cơ sở khoa học
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung cách dạy học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực….” Nhận
thức rõ điều đó, giáo dục phổ thông nước ta hiện nay đang thực hiện bước chuyển
từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục
Bên cạnh đó, người giáo viên bao giờ cũng muốn học trò của mình làm đượcnhững bài văn hay nhưng đó không phải là một việc dễ Bài văn hay trước hết phải
là viết đúng (đúng theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường) Hay
và đúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Bài văn hay trước hết phải viết theođúng yêu cầu của đề bài, đúng những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúngquy cách …
Xác định đúng yêu cầu của đề bài là rất cần thiết, bước này giúp học sinh thểhiện đúng chủ đề của bài văn, tránh lạc đề hay lệch đề Xác định đúng yêu cầu của
đề cũng giúp người viết lập được một dàn ý tốt và do đó cũng tránh được bệnh dàidòng, lan man “dây cà ra dây muống”, “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” tạo được
Trang 6sự thống nhất, hài hoà giữa các phần của bài viết Bên cạnh đó việc viết đúng kiếnthức cơ bản cũng vô cùng quan trọng, kiến thức cơ bản là “bột”, “có bột mới gộtnên hồ”.
Hình thức trình bày là sự thể hiện hình thức bố cục của bài văn trên trang giấy.Một bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy, chưa cần đọc đãthấy rõ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài Muốn thế người viết không chỉ phảichú ý đến nội dung mà hình thức cũng phải rõ
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh của mình chưa đáp ứngđược những yêu cầu của một văn bản trong nhà trường Bài văn của các em vẫncòn hiện tượng lạc đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề Đoạn văn trongbài thường sai quy cách Bên cạnh đó là việc giữa các đoạn văn chưa có sự liên kết
Do đó tôi thấy cần phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tốt giúp học sinhlàm tốt bài văn tự sự Qua thời gian tìm tòi và vận dụng, cho đến nay tôi đã tìmđược cho mình một cách làm mang lại hiệu quả cao Trong cách làm đó vấn đề tíchhợp có vai trò rất quan trọng Đó cũng là yêu cầu của dạy học Ngữ văn hiện nay.Cũng chính xuất phát từ đó tôi đã tiến hành tìm tòi nghiên cứu và vận dụng vào
thực tế giảng dạy “Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học sinh lớp 8 thông qua phần tập làm văn”.
2 Cơ sở lí luận của vấn đề
Môn Ngữ văn trong chương trình THCS nói riêng và trong nhà trường nóichung giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực đáp ứng yêu cầu pháttriển của xã hội, thông qua việc rèn luyện và phát triển cho học sinh bốn kĩ năng đólà: “nghe - nói - đọc - viết” Với đặc trưng của môn học, môn Ngữ văn triển khaicác mạch nội dung bao gồm các phân môn: Văn, Tiếng Việt, Làm văn nhằm hướngdẫn học sinh đọc hiểu các văn bản và tạo lập các văn bản theo các kiểu loại khác
Trang 7nhau Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc, môn Ngữ văn giúp học sinhtừng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập môn học, cụ thể là năng lựctiếp nhận văn bản ( gồm kỹ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản ( gồm
kỹ năng nói và viết)
Năng lực tạo lập văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổnghợp kiến thức về các kiểu văn bản, với ý thức và tình yêu tiếng Việt, văn học, vănhóa cùng kỹ năng thực hành tạo lập văn bản theo các phương thức biểu đạt khácnhau theo hình thức trình bày miệng hoặc viết Như vậy, qua tiết Tập làm văn, họcsinh có khả năng xây dựng một văn bản, đó là bài nói, bài viết Nói và viết là nhữnghình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tưduy - chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi ngườihiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống lao động Ngôn ngữ (dưới dạng nói - ngônbản, và dưới dạng viết - văn bản) giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và pháttriển xã hội Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết sứccần thiết Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Ngữvăn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Vấn đề đặt ra là: người giáoviên dạy Tập làm như thế nào để học sinh viết tốt bài văn của mình? Cách thức tổchức, tiến hành tiết dạy Tập làm văn ra sao để đạt hiệu quả như mong muốn?
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khótrong các phân môn của môn Ngữ văn Do đặc trưng phân môn Tập làm văn vớimục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn bản(nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, kể chuyện, biểu cảm, nghịluận, Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập này, học sinh với vốnkiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói, ngại viết
3 Thực trạng của vấn đề
3.1 Về phía người giáo viên, trước đây khi dạy văn tự sự cho các em, tôi mớichỉ giúp các em nắm bắt được những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa Trong
Trang 8quá trình dạy chỉ dạy văn tự sự ở những tiết học về văn tự sự, chưa tận dụng đượcthời gian ở các phân môn khác để tích hợp với phần tập làm văn Đặc biệt chưa chútrọng luyện tập và ra bài tập về nhà cho các em để từ đó hình thành kĩ năng làm bài.3.2 Về phía học sinh, do đời sống còn nhiều khó khăn, đa số các em phải laođộng hàng ngày ở ngoài đồng ruộng nên ít có thời gian để đọc các tài liệu thamkhảo, mở rộng hiểu biết.
Xa trung tâm, nhà trường lại chưa đủ cơ sở vật chất để phục vụ việc dạy họcnên các em không có đủ tài liệu để tham khảo Vì vậy chỉ có thể nắm bắt đượcnhững gì SGK cung cấp
Học văn đòi hỏi viết nhiều (đọc nhiều) nhưng học sinh lại ít có điều kiện cũngnhư thời gian để luyện tập Bên cạnh đó học sinh là con em những gia đình thuầnnông (vốn từ không phong phú do ít giao tiếp với mọi người) kết hợp với nhữngđiều kiện trên làm cho các em nghèo nàn về vốn từ nên khi viết cũng thêm phầnkhó khăn
Thêm vào đó, nhiều học sinh chưa chú ý đến việc học, ý thức chưa cao, về nhàkhông làm bài nên khi làm bài thường vụng về, lúng túng … khi viết văn
3.3 Những thuận lợi và khó khăn
3.3.1 Thuận lợi
Ngữ văn là môn học quan trọng trong chương trình THCS nên rất được sựquan tâm của ngành Hàng năm thường có các đợt tập huấn nhằm củng cố cũngnhư nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên Ngữ văn Trước khi bước vàonăm học 2014- 2015, phòng Giáo dục và đào tạo cũng đã tổ chức tập huấn “Dạyhọc và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực họcsinh” cho các giáo viên Ngữ văn
Ban giám hiệu cũng như tổ chuyên môn thường xuyên quan tâm, tạo điềukiện cho giáo viên môn Ngữ văn dạy tốt, vận dụng các phương pháp và hình thứcdạy học vào công tác giảng dạy để nâng cao hiệu quả dạy dọc
Trang 9Giáo viên trong tổ thường xuyên dự giờ, rút kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trongquá trình công tác Nhờ vậy có thể học hỏi kinh nghiệm của nhau, phát huy điểmtích cực, hạn chế những yếu kém trong dạy học.
Bản thân tôi cũng có nhiều năm dạy môn Ngữ văn, trong quá trình giảng dạytôi cũng cố gắng tìm hiểu, sáng tạo và vận dụng những biện pháp mới cũng nhưhướng dẫn học sinh thực hiện các biện pháp mình đưa ra nhằm nâng cao chất lượngdạy học và phát triển được năng lực của người học
Học sinh đa số có cố gắng trong quá trình tiếp thu bài cũng như hình thành
và rèn luyện kĩ năng cho mình Một số học sinh có khả năng tiếp thu nhanh kiếnthức, có ý thức tốt trong việc học môn Ngữ văn
mà Ngữ văn lại là môn đòi hỏi tính cần cù, nhẫn nại cao
Trong trường, nhìn chung khả năng tiếp thu của học sinh không đồng đều,một số học sinh vốn ngôn ngữ tiếng Việt hạn chế nên đã ảnh hưởng nhiều đến khảnăng tạo lập văn bản của các em
Ý thức học tập của một số em còn hạn chế
3.4 Số liệu thống kê chất lượng bài làm văn của HS khi chưa áp dụng SKKN
*Đối tượng khảo sát:
- Học sinh: 98 học sinh khối 8
- Thời điểm khảo sát: tháng 8/2014
- Thống kê chất lượng bài kiểm tra khảo sát
Trang 105.1 Khảo sát mức độ hứng thú của học sinh
*Đối tượng khảo sát:
- Học sinh: 98 học sinh khối 8
* Thời điểm khảo sát: tháng 8/2014
Câu hỏi 1: “Em có thích học phần Tập làm văn trong môn Ngữ văn không?”
Câu hỏi 2: “ Em có thấy tự tin, hứng thú khi tạo lập văn bản trong môn Ngữ vănkhông ?” Nếu em thích vì nhiều lí do, vui lòng điền đủ các thông tin
Số học sinh khảo
sát (em)
Em thấy tự tin,hứng thú
Em không thấy tự tin, hứng thú
Ý kiến khác
4 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học sinh
4.1 Các năng lực cần phát triển qua môn Ngữ văn
Trang 11Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực
thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố ( phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động các nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó
Trong định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông sau 2015, mônNgữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó các năng lực mà môn Ngữ văn hướng đến được thể hiện cụ thể như sau:
4.1.1.Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giả quyết vấn đề là một năng lực chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việc nhân thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp đểgiải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu
Trong môn Ngữ văn, năng lực này thể hiện ở việc: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện các quan điểm của của cá nhân khi đánh giá các hiện tượng văn học… Quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giải quyết vấn đề theo quy trình đã xác định
4.1.2 Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được giải pháp mới một cách thiết thực hiệu quả để thực hiện ý tưởng
Trong môn Ngữ văn năng lực sáng tạo được thể hiện trong việc xác định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt là những ý tưởng được gửi gắm trong các
Trang 12văn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày suy nghĩ và cảm xúc của học sinh trước một
vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống
4.1.4 Năng lực tự quản bản thân
Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi người trong việc kiểm soát cảm xúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc biết lập kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều chỉnh hành vi của
cá nhân trong các bối cảnh khác nhau
Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn cũng cần hướng đến việc rèn luyện và phát triển ở học sinh năng lực tự quản bản thân Trong các bài học, học sinh cần biết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh
kế hoạch để đạt được mục tiêu đề ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng của các nhân để khai thác, phát huy những tích cực, hạn chế tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần thiết trong những tình huống của cuộc sống
4.1.5 Năng lực giao tiếp tiếng Việt
Trang 13Năng lực giao tiếp là khả năng sử dụng những quy tắc cảu hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội…, nhăm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những côn người với nhau trong xã hội.
Trong môn Ngữ văn, thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, học sinh được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, học sinh được luyện tập các tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp… các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để học sinh được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt, văn hóa, văn học
4.1.6 Năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mĩ
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp, cái thiện
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ được thể hiện ở một số nội dung:
- Nhận thức được các cảm xúc của bản thân
- Làm chủ các cảm xúc của bản thân
- Nhận biết các cảm xúc của người khác và những biểu hiện của cuộc sống
từ phương diện thẩm mĩ
- Làm chủ những liên hệ, những giá trị của con người và cuộc sống
Đây là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học…Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, học sinh sẽ biết rung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận racái xấu và phê phán những hình tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn
Trang 14Như vậy, dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện vàphát triển các kỹ năng nghe, nói đọc viết Với đực trưng của môn học, môn Ngữ văn triển khai các mạch nội dungbao gồm ba phân môn Văn, Tiếng Việt, làm văn nhằm hướng đãn học sinh đọc hiểu các văn bản và tạo lập được các văn bản theo các kiểu loại khác nhau Khi dạy học sinh tiếp cận với văn bản, môn Ngữ văn học sinh từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp cận văn bản và năng lực tạo lập văn bản Năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh thẻ hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức về tiếng Việt, về các loại hình văn bản và ký năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập các thông tin, cảm thụ cái đẹp và giá trị của các tác phẩm văn chương nghệ thuật Năng lực tạo lập văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức về các kiểu văn bản, với ý thức và tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa cùng kỹ năng thực hành tạo lập văn bản theo các phương thức biểu đạt khác nhau theo hình thức trình bày miệng hoặc viết Thông qua các năng lực học tập của bộ môn để hướng tới các năng lực chung và những năng lực đặc thù của các môn học.
4.2.1 Các biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập văn bản cho học sinh
4.2.1.1 Tìm hiểu đề (hay còn gọi là phân tích đề):
Để có một bài văn hoàn chỉnh người viết phải trải qua năm bước (Tìm hiểu đề,
tìm ý, lập dàn ý, viết bài văn, đọc và sửa bài), trong đó tìm hiểu đề là bước thứ nhất.
Kĩ năng tìm hiểu đề là kĩ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một bài
tập làm văn Tuy vậy đa số học sinh thường không chú ý đến bước này Vì vậytrong quá trình làm bài các em thường lạc đề hoặc lệnh đề nên bài văn thườngkhông có điểm cao
Cũng chính vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bước này sẽ giúp học sinh tránhđược việc lạc đề, lệch đề Từ đó bào văn sẽ tốt hơn