Thấy rõ được những khó khăn trên trong việc rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 nên tôi đã quyết định chọn đề tài này với mục đích đưa ra một số biện pháp gópphần tạo hứng thú cho học sinh t
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 1”.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy Tập viết, Luyện viết cho học sinh lớp 1
3 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Yến Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 25 tháng 8 năm 1975
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm
Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn lớp 1
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lê Lợi
Điện thoại: 01699 714 696
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tổ chuyên môn lớp 1, trường Tiểu học Lê Chí Linh- Hải Dương
Lợi-5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Tổ chuyên môn lớp 1, trường Tiểu học
Lê Lợi- Chí Linh- Hải Dương
Địa chỉ: xã Lê Lợi- Chí Linh- Hải Dương Điện thoại: 03203593106
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Mỗi phòng học được trang bị máy tính, máy chiếu phục vụ cho các tiếtdạy giáo án điện tử
- Áp dụng với tất cả giáo viên, học sinh lớp 1 trong các giờ học Tập viết,Luyện viết
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2014-2015.
SÁNG KIẾN
Trang 2TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Học sinh lớp 1 vừa bước ở mẫu giáo lên, các em đang chuyển hoạt động chủđạo từ vui chơi sang hoạt động học tập nên gặp nhiều khó khăn trong việc tậptrung chú ý học tập, đặc biệt là tập viết Hơn nữa, cơ tay các em còn yếu, chóngmệt mỏi, những giờ học viết thường khô khan, đơn điệu, không tạo được sự hấpdẫn với các em
Thấy rõ được những khó khăn trên trong việc rèn chữ viết cho học sinh lớp
1 nên tôi đã quyết định chọn đề tài này với mục đích đưa ra một số biện pháp gópphần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học viết, giúp các em có không khí vui
vẻ, thoải mái, hào hứng học tập Đồng thời, bản thân giáo viên sẽ thích dạy các tiếthọc có liên quan đến tập viết, luyện viết cho học sinh Từ đó sẽ góp phần nâng caohiệu quả, chất lượng chữ viết cho các em
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:
2.2 Thời gian: Thời gian áp dụng trong suốt năm học lớp 1.
2.3 Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 1 nơi trường tôi công tác.
3 Nội dung sáng kiến:
Qua thực tế giảng dạy của bản thân, tôi đã đi sâu tìm hiểu nội dung, chươngtrình, thực trạng dạy và học tập viết, luyện viết của giáo viên và học sinh nơitrường tôi công tác Từ những kinh nghiệm của nhiều năm giảng dạy và thông quanghiên cứu đọc tài liệu về phương pháp dạy học, cách đánh giá học sinh theo thông
tư 30, tôi mạnh dạn đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết chohọc sinh lớp 1
Trang 3- Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
Sáng kiến nhằm khắc phục những hạn chế, khó khăn về tâm lí của học sinhlớp 1 trong giờ học viết chữ Trước đây, những giờ học này thường khô khan, đơnđiệu, học sinh có tâm lí mệt mỏi, viết cho xong bài Tôi đã đưa ra một số biện pháp
để giúp cho giờ học viết trở nên nhẹ nhàng, cuốn hút học sinh Từ đó góp phầnnâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh
- Khả năng áp dụng của sáng kiến
Sáng kiến mang tính khả thi cao do những biện pháp nhằm nâng cao chấtlượng chữ viết cho học sinh lớp 1 mà tôi đưa ra hoàn toàn phù hợp với thực tế,năng lực, trình độ, tâm lí và nét đặc thù của học sinh lớp đầu cấp tiểu học
- Lợi ích thiết thực của sáng kiến
Qua quá trình áp dụng sáng kiến, chất lượng chữ viết của học sinh lớp tôiđược nâng lên rõ rệt, học sinh hào hứng đón chờ giờ học tập viết, các em tích cực,say sưa tập viết Giờ học tập viết, luyện viết trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Sau khi nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượngchữ viết cho học sinh lớp 1, tôi thấy tiết học viết của học sinh lớp tôi trở hào hứng,nhẹ nhàng Các em tích cực luyện tập để phát huy hết khả năng viết chữ của mình.Chữ viết của học sinh đã đúng mẫu, đúng cỡ chữ, đảm bảo khoảng cách và tốc độviết Tất cả học sinh trong lớp cầm bút đúng và ngồi viết đúng tư thế Tôi cảm thấy
an tâm phấn khởi hơn đối với chất lượng chữ viết của học sinh lớp mình
5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến:
- Nhà trường trang bị máy tính, máy chiếu phục vụ cho tiết dạy giáo án điệntử
- Giáo viên phải yêu nghề, tâm huyết với việc rèn chữ cho học sinh, thiết kếđược giáo án điện tử hoặc có phần mềm dạy chữ viết lớp 1
Trang 4và óc thẩm mỹ.
1.2 Điều kiện thực tế:
Tôi đã từng quan sát và nhận thấy: Những ngày đầu của cuộc đời họcsinh tiểu học, việc học viết là cả một kì công với bao nhiêu khó khăn, vất vả đốivới các em Qua những giờ lên lớp, tôi thấy các em phải ra sức, căng mắt đểphân biệt chữ cái rồi vẽ lên từng trang giấy hay mặt bảng con từng con chữ mànhiều khi bản thân tôi cũng cảm thấy chùn bước bởi bắt gặp những ánh mắt và
vẻ mặt mệt mỏi, chán chường ở các em Nhưng rồi, tất cả những khó khăn, mệtmỏi cũng qua đi, thay vào đó là những ánh mắt chờ đợi, khao khát được viếtcùng với gương mặt rạng rỡ, sáng ngời khi tiết học tập viết, luyện viết- đó lànhờ tia sáng của lòng tin, của sự hứng thú
1.3 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Là giáo viên trực tiếp dạy lớp 1, tôi nhận thấy:
- Viết chữ không đơn giản đối với học sinh lớp 1, nó đòi hỏi người họcphải khéo léo, cẩn thận, các cơ quan giác quan phải tập trung cao Điều nàyhoàn toàn mâu thuẫn với sự phát triển tâm lý của các em: Học sinh lớp 1 hiếu
Trang 5động, thích chơi hơn là học, thích hoạt động mà không thích bị gò ép theokhuôn mẫu Hơn nữa, cơ tay các em còn yếu, khả năng tập trung chưa cao,chóng mệt mỏi.
- Những giờ học viết thường khô khan, đơn điệu, không tạo được sự hấpdẫn đối với các em
Thấy rõ được những khó khăn trên trong việc rèn chữ viết cho học sinhlớp 1 nên tôi đã quyết định chọn đề tài này với mục đích đưa ra một số biệnpháp góp phần tạo hứng thú, tạo niềm tin cho các em trong giờ học viết, giúpcác em có không khí giờ học vui vẻ, thoải mái, không còn đơn điệu, mệt mỏi.Đồng thời, bản thân giáo viên sẽ thích dạy các tiết học có liên quan đến tậpviết, luyện viết cho học sinh Từ đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượngchữ viết cho các em
2 Cơ sở lí luận của vấn đề:
2.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1:
Học sinh lớp 1 là lứa tuổi đầu tiên cắp sách tới trường để tham gia nhữnghoạt động học tập theo chương trình giáo dục tiểu học Ở lứa tuổi này, các em
dễ bị cuốn hút bởi những điều mới lạ nhưng đồng thời cũng rất chóng chán.Những vấn đề khó hiểu khiến các em dễ phân tán, mất tập trung Do sự chiphối của đặc điểm tâm sinh lí, học sinh lớp 1 có đặc điểm nhận thức và đặcđiểm về ngôn ngữ thiên về trực quan, cụ thể Các kiến thức trừu tượng sẽ trởnên dễ hiểu, dễ nắm bắt với các em khi nó được diễn đạt một cách trực quanbằng mô hình, vật thật, tranh ảnh đẹp và nhiều màu sắc Các thao tác thực hànhcủa học sinh cũng sẽ trở nên thành thạo nếu các em được quan sát kĩ mẫu, được
sử dụng đồ dùng học tập thích hợp và được chuẩn bị những cơ sở vật chất banđầu thật tốt Hơn nữa, tư duy của học sinh lớp 1 thường là tư duy cụ thể, mangtính hình thức nên bài giảng hấp dẫn, sinh động, mẫu mực, có nhiều hình thức
tổ chức trong tiết học sẽ dễ thu hút sự tập trung chú ý của các em Khi tổ chứcdạy học, giáo viên nên sử dụng đồ dùng trực quan, bài mẫu, hình ảnh sinh động
để kích thích tư duy học sinh, giúp các em ôn tập, củng cố, hình thành kiếnthức mới một cách dễ dàng
Trang 62.2 Nội dung, chương trình tập viết, luyện viết lớp 1:
Chữ viết của học sinh lớp 1 chủ yếu được hình thành trong phân mônHọc vần - Tập viết và Luyện viết (với mỗi tiết là 35 phút)
Ở giai đoạn Học vần (từ tuần 1 đến tuần 24), vở tập viết lớp 1 được bốtrí: cứ sau mỗi bài học vần lại có một bài tập viết để học sinh rèn luyện cáchviết các âm, vần vừa học Và khoảng sau hai tuần lại có hai tiết tập viết nhằmgiúp học sinh ôn cách viết các âm, vần đã học trước đó
Ở giai đoạn Luyện tập tổng hợp (từ tuần 25) thì mỗi tuần có một tiết tậpviết giúp học sinh làm quen với chữ viết hoa và củng cố lại cách viết các vần đãhọc
Ngoài vở Tập viết, học sinh còn được luyện thêm trong vở Luyện viết(do Sở GD-ĐT Hải Dương phát hành) Ở vở luyện viết, mỗi tuần có hai tiết,giúp học sinh rèn luyện cách viết các âm, vần và từ ứng dụng
2.3 Yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng viết chữ đối với học sinh lớp 1:
- Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết ban đầu về đường
kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi của các nét chữ, cấu tạo chữ cái,khoảng cách giữa các nét chữ, các chữ cái, chữ ghi tiếng, dấu thanh và chữ số
- Kĩ năng: Học sinh phải viết được chữ ghi âm (chữ ghi vần), tiếng, từ vàcâu ứng dụng đảm bảo các yêu cầu: đúng quy trình các nét, chữ cái, liên kết cácchữ cái tạo thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch Viết thẳng hàng, đúngdòng kẻ Ngoài ra, học sinh còn được rèn thêm những kĩ năng như: tư thế ngồiviết, cách cầm bút, để vở hay di chuyển tay, vở như thế nào cho hợp lý khi viếtbài
3 Thực trạng của vấn đề:
3.1 Về phía giáo viên:
Nhiều năm gần đây, việc dạy chữ viết cho học sinh đã được coi trọng vàđược quan tâm đúng mức Mỗi năm học, hầu hết các nhà trường đều tổ chứcchấm vở sạch chữ đẹp nhằm đánh giá chất lượng chữ viết của học sinh Đã cónhững nhà giáo tâm huyết với việc rèn chữ cho học sinh Bên cạnh đó vẫn còn
có một số ít giáo viên còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu dạy tập
Trang 7viết, luyện viết: viết chưa đúng mẫu, việc chuẩn bị đồ dùng dạy học qua loa,chiếu lệ Khi lên lớp, giáo viên truyền thụ một cách máy móc, không linh hoạt,sáng tạo, chưa tạo hứng thú cho học sinh khi học viết, chưa chú ý giúp đỡ, uốnnắn kịp thời cho học sinh, nhận xét bài viết của học sinh chưa chú ý tới độngviên, khích lệ làm cho giờ học viết trở nên nhàm chán, mệt mỏi.
3.2 Về phía học sinh:
Đối với học sinh lớp 1, hoạt động viết chiếm rất nhiều thời gian, học sinhchóng mệt mỏi Nếu giáo viên không tâm huyết với việc rèn chữ cho học sinhthì các tiết học viết sẽ bị xem nhẹ Học sinh thường có tâm lí viết cho xong.Các em viết thường không được nắn nót, không đúng quy cách, kích cỡ,khoảng cách giữa các chữ không đều Hiện tượng viết sai nét, sai chữ, hở nét,thừa nét, thiếu nét, thiếu dấu hoặc dấu đánh không đúng vị trí diễn ra thườngxuyên
Để nắm rõ hơn thực trạng học giờ tập viết, luyện viết của học sinh lớp 1,tôi đã tiến hành khảo sát học sinh tại hai lớp 1B và 1D ( Thời điểm khảo sát:tuần 5)
Đề bài (viết chữ cỡ vừa): e, v, b, h, i, a, n, m, đ, th, bé, lê, lò cò, đi đò, thỏ mẹ.
Kết quả thu được cụ thể như sau:
Qua kết quả thống kê trên có thể thấy chất lượng bài viết của học sinhchưa cao, còn 19.6 % bài chưa hoàn thành Trong đó, số học sinh hoàn thànhtốt ở cả hai lớp đều rất thấp Lớp 1D: 3 em= 13.6%; Lớp 1B: 4 em =13.7%
Ngoài khảo sát mức độ hoàn thành và chưa hoàn thành bài viết, tôi cònkhảo sát thái độ, hứng thú của học sinh trong giờ tập viết
Trang 8Kết quả như sau:
Lớp Sĩ số
Thích thú khihọc tập viết Bình thường
Mệt mỏi, không thíchhọc tập viết
luyện viết do nhiều nguyên nhân khác nhau: giờ học buồn tẻ, mỏi tay, mỏi mắt,bút gãy ngòi, thiếu bảng con và giẻ lau, ngồi viết gò bó, hay bị cô giáo chê, …
Vì vậy, tôi cho rằng việc chuẩn bị tốt về tâm lí cho học sinh, về đồ dùngdạy học và sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức phong phú, cuốn hút họcsinh sẽ tạo nên hiệu quả của mỗi giờ học viết
Qua kinh nghiệm từ những ngày đầu đứng lớp, bản thân luôn học hỏiđồng nghiệp về chuyên môn, cách rèn chữ cho học sinh Đến năm học này, tôiluôn trăn trở và tự nhận thấy mình cần làm như thế nào để nâng cao chất lượngchữ viết cho học sinh trong lớp mình phụ trách và những biện pháp đó có thểgiúp gì cho đồng nghiệp trong việc rèn chữ cho học sinh
Từ những thực trạng trên giúp đã giúp tôi mạnh dạn đề ra một số biệnpháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 1
4 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 1:
4.1 Thu hút sự chú ý của học sinh bằng đồ dùng trực quan:
* Thứ nhất: Tôi sử dụng đồ dùng trực quan trong phần giới thiệu bài Khác với phương pháp trước đây, ở phương pháp thử nghiệm này, tôi khôngviết trước bài lên bảng mà cho học sinh quan sát các hình ảnh trực quan để gợichữ ghi âm, chữ ghi vần, tiếng, từ ứng dụng (đưa hình ảnh đó lên máy)
Ví dụ 1: Khi dạy Tập viết Bài 12 (tập 1): i, a, bi, cá Tôi lần lượt đưa ra 2
hình ảnh sau cho học sinh quan sát:
Trang 9Hình 1 Hình 2
Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh đến chữ ghi âm,tiếng sẽ học trong bài đó Cụ thể:
+Quan sát hai bức tranh, con thấy gì?
+Hãy đoán xem bài hôm nay chúng ta viết âm gì,
trẻ em đỏ thắm
Trang 10* Thứ hai: Tôi sử dụng đồ dùng trực quan trong phần hướng dẫn họcsinh viết chữ.
Khi hướng dẫn học sinh trong giờ tập viết, luyện viết, tôi đã ứng dụngcông nghệ thông tin để kích thích sự tò mò, hứng thú ở học sinh qua các nétchữ được thiết kế sẵn trên màn hình (Hoặc sử dụng phần mềm dạy Tập viết lớp1) Cho học sinh quan sát chữ mẫu, quy trình viết chữ ghi âm, chữ ghi vần hoặctiếng trên màn hình (sử dụng giáo án điện tử) kết hợp thuyết minh những điểmcần lưu ý: điểm đặt bút, dừng bút, nét nối, … giúp học sinh nắm được quy trìnhviết Điều đó, giúp các em tiếp cận với chữ ghi âm, chữ ghi vần, tiếng hoặc từ
sẽ viết một cách chính xác, rõ ràng hơn về khoảng cách, cấu tạo, độ cao, chiềurộng cũng như hào hứng hơn trong khi học
Trình tự thực hiện:
- Giáo viên giới thiệu chữ mẫu (trên màn
hình) yêu cầu học quan sát, nhận xét về cấu
tạo, độ cao, độ rộng các con chữ, …
- Giới thiệu quy trình viết chữ trên màn
hình
-HS quan sát chữ mẫu
- Nêu nhận xét
- HS theo dõi quy trình viết
Ví dục: Bài 93: oan, oăn, giàn khoan, tóc xoăn
Trang 11sinh Giáo viên sẽ đỡ vất vả hơn khi hướng dẫn viết Giáo viên không phải cặmcụi vừa viết mẫu trên bảng lớp vừa nêu quy trình viết như mọi khi mà chỉ cầnbấm máy là có quy trình viết chữ Còn học sinh thì được quan sát một cách đầy
đủ về quy trình viết, về khoảng cách, độ cao, chiều rộng và cách nối nét Khi
đó, học sinh đã nắm rõ cách viết và rất muốn được thể hiện chữ viết của mình,làm cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, sôi nổi hơn
4.2 Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh trong khâu giới thiệu bài và hướng dẫn viết cho học sinh:
Trong các tiết dạy tập viết, luyện viết, tôi luôn so sánh đối chiếu giữaphương pháp dạy học cũ và phương pháp dạy học mới để lựa chọn phươngpháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình, phù hợp với nội dungtừng tiết dạy trong khâu giới thiệu bài và hướng dẫn viết cho học sinh
* Trong phần giới thiệu bài :
Phương pháp cũ
GV chuẩn bị viết sẵn bài trên
bảng lớp (bảng phụ), gọi 1 - 2 học
sinh đọc toàn bộ bài đã viết trên
bảng Với cách giới thiệu như vậy,
tôi nhận thấy:
+ Ưu điểm: Giảm việc làm cho giáo
viên
+ Hạn chế: Vì biết bài viết trước nên
học sinh phân tán, ít tập trung
Phương pháp mới
Thu hút sự chú ý của HS bằngphương pháp trực quan Ví dụ khi giới
- Hai nét này có thể tạo thành chữ gì?
- Sau khi học sinh trả lời, giáo viên đưa
chữ mẫu n lên bảng - học sinh đọc "n"
+ Ưu điểm: Với phương pháp này, giáoviên không chỉ củng cố các nét cơ bản
mà ngay từ đầu đã xác định được trọngtâm của kiến thức thông qua việc giúphọc sinh tự phát hiện cấu tạo của conchữ
Trang 12* Trong phần hướng dẫn học sinh viết:
Phương pháp cũ
- Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi
để học sinh tự nhận xét cấu tạo, hình
dáng, kích thước của từng con chữ:
- Ví dụ: + Chữ n được viết bằng mấy
+ Cách viết chữ n như thế nào?
Sau đó giáo viên vừa viết chữ vừa
hướng dẫn cách viết Quy trình này
được thực hiện tương tự với chữ m,
và tiếng ứng dụng Sau đó học sinh
+ GV hỏi: Viết như vậy có được không?+ Tại sao (so sánh với chữ mẫu)
Giáo viên coi đó là những tình huốngcần cho học sinh tự nhận xét, so sánhvới chữ mẫu để học sinh thấy khoảngcách hợp lí giữa hai nét Từ đó đi tớithống nhất một cách viết đúng
- Khi hướng dẫn quy trình viết: giáoviên đưa ra chữ mẫu, cho HS quan sátlại quy trình viết chữ trên màn hình vàcuối cùng HS viết bảng con
- Học sinh được thực hành viết ngay chữvừa học trên bảng con Như vậy họcsinh sẽ tránh tất cả các trường hợp saikhi đã được nêu ở trên
- Giáo viên hướng dẫn HS nhận xét
Trang 13- Khi giáo viên vừa viết vừa hướng
dẫn đơn điệu sẽ hạn chế trong việc
bao quát lớp, còn học sinh ngồi
nghe, không có hứng thú
- Nếu giáo viên hướng dẫn viết liền
mạch cả bài rồi mới cho học sinh
viết Như vậy lượng kiến thức quá
nhiều khiến cho học sinh mệt mỏi,
khó nhớ khi thực hành
bảng con, GV chữa bằng phấn màu (nếu
HS viết sai hoặc viết chưa đẹp)
* Học xong chữ n, giáo viên hướng dẫn học sinh viết chữ m bằng phương pháp
bắc cầu Thông qua trực quan cho họcsinh so sánh 2 chữ phát hiện ra điểmkhác biệt
- Thực hành dựa trên chữ n
* Sang phần tiếng ứng dụng: nơ, me Để
gây hứng thú cho trẻ, tôi sử dụng trựcquan để gợi tiếng, từ ứng dụng; giớithiệu chữ mẫu và quy trình viết (thựchiện theo biện pháp đã trình bày ở phần4.1)
Phần viết chữ ứng dụng, giáo viên cầnchú ý giúp học sinh vận dụng kĩ thuậtnối nét, rê bút, lia bút để viết đúng quytrình liền mạch, đúng khoảng cách Biện pháp trên đây áp dụng được cho tất cả các bài viết ở phần âm
Kết quả: Trong những giờ học tập viết, luyện viết, tôi đã vận dụngphương pháp dạy học phù hợp đối tượng như vừa nêu Tôi thấy học sinh tậptrung hơn, tích cực tập viết, viết chữ đúng mẫu, tỉ lệ học sinh viết sai còn rất ít
Sự thay đổi hợp lý các thao tác đã kích thích sự hào hứng ở các em, tránh chocác em những mệt mỏi, căng thẳng Còn giáo viên chỉ là người điều khiển nên
dễ bao quát lớp, nhận xét, giúp đỡ kịp thời cho học sinh và kiểm soát được kếtquả học tập của lớp Nhờ vậy giờ học trôi đi rất nhẹ nhàng và đạt hiệu quả caohơn
4.3 Kích thích sự phát triển ở học sinh, tạo lòng tự tin cho các em khi học viết.
Trang 14Tôi nhận thấy ở bất kỳ môn học nào cũng vậy, học sinh sẽ tích cực họchơn, chủ động hơn trong quá trình nhận thức khi các em không còn mặc cảmvới chính mình Thầy cô giáo chính là người sẽ giúp các em bằng cách: Tôntrọng sự tự phát hiện ở học sinh để gây lòng tự tin Tự tin để các em không chỉviết đúng mà cần phải viết nhanh, viết đẹp.
Trong giờ học viết, khi học sinh phân tích cấu tạo chữ, hay quan sát mẫu
để khái quát quy trình viết, sau khi nghe học sinh trả lời, dù học sinh yếu nhấttôi cũng cố "nhặt nhạnh" những ưu điểm rất nhỏ để kịp thời động viên Tôi thấyhọc sinh được động viên bao giờ cũng hứng thú học hơn và đó chính là độnglực thúc giục các em mạnh dạn, tiếp tục tìm tòi và sáng tạo
Ví dụ:
- Khi cho học sinh ghép các nét cơ bản để tạo ra chữ cái: Đây là thao tác
dễ thực hiện nhưng lại chứa đựng kiến thức trọng tâm (nhận biết cấu tạo chữ)
Do đó, tôi thường dành yêu cầu này cho học sinh nhận thức chậm hơn so vớicác bạn hoặc những học sinh có sức tập trung kém Mục đích là để trẻ thực hiệnđược yêu cầu Bên cạnh với lời khen của giáo viên, của các bạn, các em tự tinhơn ở chính mình, yêu thích môn học hơn
- Khi luyện viết bảng con: học sinh viết xong, giáo viên chọn một bàiđẹp nhất và 2 đến 3 bài cần sửa để hướng dẫn học sinh trong lớp quan sát, tìmlỗi sai của bạn bằng các gợi ý sau:
+ Con hãy chọn bài nào con cho là đẹp nhất
+ Vì sao con thích bài viết đó?
+ Các bài còn lại thì sao?
+ Hãy nêu cách sửa sai giúp bạn (sửa bài bằng phấn màu)
GV là người cuối cùng đưa ra kết luận và bổ sung thêm cách chữa lỗi màhọc sinh chưa nhận ra
Trang 15Tôi xác định, việc nhận xét bài, chỉ ra lỗi sai và chữa lỗi tay đôi với từnghọc sinh là công việc cần thiết và thường xuyên trong từng tiết học Giáo viêncần chữa tỉ mỉ, không bỏ qua bất kì lỗi nào từ hình dáng, kích thước con chữđến khoảng cách, vị trí các dấu Tôi đặc biệt chú ý tới cách nhận xét làm saovừa chỉ ra lỗi sai vừa nêu được biện pháp khắc phục vừa mang tính khích lệ,động viên, luôn chứa đựng tình cảm yêu quý học sinh để học sinh tự tin vàobản thân khi viết bài Tránh những lời lẽ nặng nề, miệt thị, gây căng thẳng, áplực cho học sinh để các em thêm yêu thích môn học và có ý thức cố gắng viếtmỗi ngày một tiến bộ.
Ví dụ: Một số lời nhận xét với bài viết của học sinh:
+ Đối với học sinh viết đúng, viết đẹp:
“ Bài viết đúng Nét chữ mềm mại Con thật đáng khen!”