Chính vì vậy, để giúp các em làm tốt kiểu bài tự sự có yếu tố miêu tả vàbiểu cảm, tôi đã rất trăn trở suy nghĩ và quyết định nghiên cứu sáng kiến: “Nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự
Trang 1UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI VIẾT VĂN TỰ SỰ CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU LỚP 8 THCS BẰNG CÁCH RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN
Bộ môn: Ngữ văn
Năm học 2014 – 2015
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: Nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự cho học sinh
trung bình, yếu lớp 8 THCS bằng cách rèn kĩ năng viết đoạn văn
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn 8 THCS
3 Tác giả:
Họ và tên: Ngô Thị Mây Nam (nữ): Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 14/10/1971
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng - Trường THCS Đồng LạcĐiện thoại: 0976701208
4 Đồng tác giả (nếu có): Không
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Đồng Lạc Điện thoại: 03203888078
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Học sinh, phòng học, lớp học đảm bảo theo quy định
8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014 – 2015
TÁC GIẢ
Ngô Thị Mây
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN
Trang 3TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Môn Ngữ văn trong chương trình THCS nói chung, phân môn Tập làmvăn nói riêng có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện các kĩ năng tạo lập vănbản một cách sáng tạo cho học sinh Rèn luyện kĩ năng viết văn tự sự là mộtvấn đề có khả năng lớn trong việc rèn luyện và tích hợp được các kĩ năngkhác như: dùng từ, đặt câu, cách sử dụng cấu trúc hội thoại trong mộtcuộc thoại, cách lập dàn ý, cách lựa chọn các chi tiết, sự việc tiêu biểutrong toàn bộ nội dung câu chuyện.Việc rèn luyện kĩ năng này cần phảithể hiện sự đổi mới trong phương pháp dạy học: tích hợp và tích cực giữacác chủ thể học sinh trong quá trình dạy học Đây là phương pháp đã đượcnhiều thầy cô lựa chọn và đề xuất các giải pháp Song các giải pháp đã nêu đaphần dành cho tất cả các đối tượng mà chưa chú ý nhiều đến đối tượng học sinhtrung bình, yếu Chính vì vậy, đối tượng học sinh trung bình yếu vẫn còn rấthạn chế trong việc viết đoạn văn và xây dựng văn bản tự sự
Học sinh trung bình, yếu lớp 8 mặc dù đã được rèn luyện kỹ năng làmbài văn tự sự từ lớp 6, lớp 7 (bài viết số 1), nhưng một thực tế đáng buồn là đại
đa số bài viết văn tự sự của các em chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, vẫn cònhiện tượng lạc đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề Đặc biệt, rấtnhiều em chưa biết viết đoạn văn tự sự, việc vận dụng đưa yếu tố miêu tả, biểucảm vào bài viết của mình vẫn còn rất lúng túng Thậm chí, có em không biếtviết đoạn văn và không biết đưa yếu tố miêu tả, biểu cảm vào chỗ nào trong bàiviết Chính vì vậy, để giúp các em làm tốt kiểu bài tự sự có yếu tố miêu tả vàbiểu cảm, tôi đã rất trăn trở suy nghĩ và quyết định nghiên cứu sáng kiến:
“Nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự cho học sinh trung bình, yếu lớp 8
THCS bằng cách rèn kĩ năng viết đoạn văn”.
Sáng kiến này được áp dụng trong các tiết dạy Tập làm văn 8 ở trườngTHCS Nội dung sáng kiến tập trung 2 vấn đề lớn:
- Hệ thống lí luận chung về đoạn văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả vàbiểu cảm
Trang 4- Một số giải pháp về rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự có kết hợpyếu tốt miêu tả và biểu cảm cho đối tượng học sinh trung bình, yếu.
Từ việc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về đoạn văn tự sự
có yếu tố miêu tả và biểu cảm, tôi đi vào hướng dẫn các em cách tìm hiểu đề,tìm ý và kĩ năng viết các đoạn văn trong bài văn tự sự Thông qua sáng kiếnnày cung cấp cho học sinh những giải pháp để các em biết tạo lập một văn bản
tự sự đúng và hay
Đây thực sự là những giải pháp có tính khả thi và có khả năng áp dụng
hiệu quả Sáng kiến “Nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự cho học sinh
trung bình, yếu lớp 8 THCS bằng cách rèn kĩ năng viết đoạn văn” được tôi
nghiên cứu và đúc rút thông qua dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, tham khảotài liệu và từ thực tế giảng dạy
Sau một thời gian áp dụng sáng kiến trên tôi thấy chất lượng bài viết củahọc sinh đã được nâng lên rõ rệt Đại đa số đối tượng học sinh trung bình, yếu
đã biết cách viết đoạn văn tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm Số lượng bàikhông đạt yêu cầu giảm, số lượng bài trung bình tăng lên rất nhiều và đã cómột số bài đạt điểm khá Đặc biệt, các em học sinh trung bình, yếu đã yêu thíchmôn Ngữ văn, tích cực chủ động tham gia các tiết học Ngữ văn, hăng hái xungphong lên bảng viết đoạn văn Từ đó ta có thể khẳng định rèn kĩ năng viếtđoạn văn cho học sinh là một phương pháp thực sự thiết thực, hiệu quả, phùhợp với xu thế dạy học hiện nay là phát huy năng lực sáng tạo của học sinh
Thông qua sáng kiến này tôi cũng đưa ra một số đề xuất với Sở, Phònggiáo dục, cần quan tâm chỉ đạo các nhà trường tích cực đổi mới phương phápdạy học, tổ chức nhiều chuyên đề về phương pháp dạy Tập làm văn Đồng thờicũng đề nghị các giáo viên dạy Ngữ văn phải luôn chú ý lựa chọn nội dung vàphương pháp giảng dạy thích hợp với từng đối tượng học sinh, chú ý nhiềuđến việc rèn kĩ năng viết đoạn trong tất cả các tiết dạy Tập làm văn để các em
có điều kiện phát huy khả năng sáng tạo của mình
Trang 5Môn Ngữ văn trong chương trình THCS nói chung, phân môn Tập làmvăn nói riêng có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện các kĩ năng tạo lập vănbản một cách sáng tạo cho học sinh Nhận thức rõ điều đó, các thầy cô giáo dãtích cực đổi mới phương pháp, tìm ra những cách dạy học mới và hay nhằmphát huy năng lực sáng tạo của các em
Văn tự sự là một trong 6 kiểu văn bản được dạy, học ở bậc Trunghọc cơ sở Phương pháp dạy phân môn Tập làm văn ở cấp THCS nói chung,dạy phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 8 nói riêng là dạy kĩ năng làm văntổng hợp vận dụng kiến thức của môn Ngữ văn và các môn học khác để tạo lậpvăn bản, trong đó phần Tập làm văn tự sự thể hiện tính tổng hợp, tính đồng tâmrất cụ thể Dạy Tập làm văn tự sự cho học sinh lớp 8 mức độ nâng cao hơn hẳn
ở lớp 6, lớp 7 Nếu phần Tập làm văn tự sự ở lớp 6, lớp 7 cung cấp kiến thứckhái quát về văn tự sự và chỉ yêu cầu học sinh biết tạo lập một văn bản tự sự cócốt truyện, nhân vật hợp lý thì phần Tập làm văn lớp 8 yêu cầu đưa thêm cácyếu tố miêu tả và biểu vào bài văn để bài văn thêm sinh động, hấp dẫn
Rèn luyện kĩ năng viết văn tự sự là một vấn đề có khả năng lớntrong việc rèn luyện và tích hợp được các kĩ năng khác như: dùng từ, đặtcâu, cách sử dụng cấu trúc hội thoại trong một cuộc thoại, cách lập dàn ý,cách lựa chọn các chi tiết, sự việc tiêu biểu trong toàn bộ nội dung câuchuyện Việc rèn luyện kĩ năng này cần phải thể hiện sự đổi mới trongphương pháp dạy học: tích hợp và tích cực giữa các chủ thể học sinh trong
Trang 6quá trình dạy học Đây là phương pháp đã được nhiều thầy cô lựa chọn và đềxuất các giải pháp Song các giải pháp đã nêu đa phần dành cho tất cả các đốitượng mà chưa chú ý nhiều đến đối tượng học sinh trung bình, yếu Chính vìvậy, đối tượng học sinh trung bình yếu vẫn còn rất hạn chế trong việc viết đoạnvăn và xây dựng văn bản tự sự.
Hơn nữa, năm học 2014 - 2015 này tôi được phân công giảng dạy mônNgữ văn lớp 8C với 100% học sinh trung bình, yếu Qua thực tế giảng dạy tôithấy các em học sinh lớp 8 mặc dù đã được rèn luyện kỹ năng làm bài văn tự sự
từ lớp 6, lớp 7 (bài viết số 1), nhưng một thực tế đáng buồn là đại đa số bài viếtvăn tự sự của các em chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, vẫn còn hiện tượng lạc
đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề Đặc biệt, rất nhiều em chưabiết viết đoạn văn tự sự, việc vận dụng đưa yếu tố miêu tả, biểu cảm vào bàiviết của mình vẫn còn rất lúng túng Thậm chí, có em không biết viết đoạn văn
và không biết đưa yếu tố miêu tả, biểu cảm vào chỗ nào trong bài viết Chính vìvậy, để giúp các em làm tốt kiểu bài tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm tôi đã
rất trăn trở suy nghĩ và quyết định nghiên cứu sáng kiến: “Nâng cao chất
lượng bài viết văn tự sự cho học sinh trung bình, yếu lớp 8 THCS bằng cách rèn kĩ năng viết đoạn văn”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự cho học sinh
trung bình yếu lớp 8 THCS bằng cách rèn kĩ năng viết đoạn văn” với mục
đích:
- Đối với giáo viên: giúp giáo viên củng cố kiến thức cơ bản mang tính
hệ thống cho đối tượng học sinh trung bình, yếu trong việc rèn kĩ năng làm bàivăn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm
- Đối với học sinh: giúp các em nắm vững về thể loại tự sự có kết hợp
yếu tố miêu tả và biểu cảm Từ đó, các em có học lực trung bình, yếu biết cáchdựng đoạn và viết được đoạn văn tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 7Với đề tài sáng kiến này, tôi tập trung nghiên cứu và dừng lại ở 2 vấn đề:
- Hệ thống lí luận chung về đoạn văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả vàbiểu cảm
- Một số giải pháp về rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự có kết hợpyếu tốt miêu tả và biểu cảm cho đối tượng học sinh trung bình, yếu
Qua việc nghiên cứu này cung cấp cho học sinh những giải pháp để các
em biết tạo lập một văn bản tự sự đúng và hay
Những giải pháp này chỉ áp dụng trong phạm vi văn bản tự sự trongchương trình Ngữ văn lớp 8
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Sáng kiến này được vận dụng vào thực tế các giờ dạy học Tập làm văntrong môn Ngữ văn 8 tại trường THCS
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu viết sáng kiến này tôi đã tiến hành cácphương pháp sau:
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Bao gồm các phương pháp:
Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp khái quát hoá các tài liệu có liên quan đến đề tài.
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Bao gồm các phương pháp:
1.4.2.1 Đọc, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc Dạy - học Ngữ
văn như:
-" Phương pháp dạy học Văn "- Giáo sư Phan Trọng Luận.
- "Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS" - GS.TS Trần Bá
Hoành
- “Kiến thức – kĩ năng cơ bản Tập làm văn trung học cơ sở ” – Huỳnh Thị
Thu Ba
- “Rèn luyện kĩ năng làm văn ở trường Trung học cơ sở” – Cao Bích Xuân
- “Dạy Tập làm văn Trung học cơ sở” – Vũ Đăng Tú.
- Các chuyên đề, các bài viết trên tạp chí KHXH
Trang 81.4.2.2 Dự giờ, thăm lớp học hỏi kinh nghiệm ở các đồng chí đồng
nghiệp có phương pháp giảng dạy tốt
1.4.2.3 Tiến hành khảo sát, thống kê và so sánh kết quả để xây dựng các
giải pháp cho phù hợp
2 Cơ sở lý luận của vấn đề
Môn Ngữ văn trong chương trình THCS nói riêng và trong nhà trườngnói chung có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh 4 kĩ năng: “nghe - nói - đọc -viết” Trong đó, phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp cácphân môn khác Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một vănbản, đó là bài nói, bài viết Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quantrọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy - chiếm lĩnh tri thức,trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp táctrong cuộc sống lao động Ngôn ngữ (dưới dạng nói - ngôn bản, và dưới dạngviết - văn bản) giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội.Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cầnthiết Để giúp các em học sinh trung bình, yếu tạo lập một văn bản cần cho các
em nắm được những lý thuyết chung về đoạn văn và đoạn văn tự sự có yếu tốmiêu tả và biểu cảm
2.1 Lý thuyết về đoạn văn
Như chúng ta đã biết, bài viết (văn bản) được cấu thành bởi các đoạn văntheo những phương thức và bằng những phương tiện khác nhau Dựng đoạnđược triển khai từ ý trong dàn bài Có thể đoạn văn là một ý hoặc nhiều ý vàcũng có thể một ý có nhiều đoạn Trong một đoạn văn thường có ba phần: mởđoạn, ý phát triển đoạn (thân đoạn) và kết đoạn
Trong chương trình Ngữ văn lớp 8 ở bài “Xây dựng đoạn văn trong văn bản” đã cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về đoạn văn, Cụ thể trong ghi nhớ sách giáo khoa trang 36 đã nêu: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xưống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường
do nhiều câu tạo thành Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ
Trang 9ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường
đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn (hay còn gọi là câu chốt) Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp hay song hành
Để rèn luyện được kĩ năng viết đoạn văn, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩyêu cầu diễn đạt ý thành lời, thành đoạn, phải sử dụng các phương tiện ngônngữ sao cho phù hợp với ý của đoạn để hiệu quả biểu đạt cao hơn, đoạn văn cósức cuốn hút với người đọc hơn Kĩ năng dựng đoạn văn gắn với kĩ năng luyệnnói trên lớp Có như vậy việc triển khai ý thành đoạn cũng mới tiến hành được.Đây là những thao tác, những kĩ năng có khi thực hiện và rèn luyện đồng thờicùng một lúc
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác cần sử dụng các phương tiện liênkết để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng Có nhiều phương tiện liên kết trongđoạn văn như: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, cáccụm từ thể hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát…,và dùng câu nốitrong đoạn văn Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cáchhợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản
Như vậy, các phương tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nhưng đồng thờichúng cũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn Mặt khác,lại có những phương tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau nên cần lựachọn các phương tiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của người viết,với sự việc được phản ánh và tình huống giao tiếp cụ thể
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của họcsinh để phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của các em trong việcrèn luyện kĩ năng viết đoạn văn được tốt và làm nền tảng cho việc tạo lập cáckiểu văn bản trong chương trình
2.2 Đoạn văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm.
Trang 10Đoạn văn tự sự mang màu sắc của văn bản tự sự, tức là phải kể về người,
về việc, về hành động của các nhân vật Mỗi đoạn văn tự sự thường có một ýchính diễn đạt thành một câu gọi là câu chủ đề Các câu khác diễn đạt những ýphụ dẫn đến ý chính đó, hoặc giải thích cho ý chính, làm cho ý chính nổi lên.Các câu trong đoạn văn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về nội dung (cùnghướng về một vấn đề) và hình thức (các câu liên kết với nhau thông qua cácphương tiện liên kết)
Ở các văn bản tự sự, phương thức kể và tả kết hợp rất chặt chẽ Tả, kể vàbiểu cảm thường gắn bó với nhau Chẳng hạn nếu kể là chính thì miêu tả trongkhi kể nhằm làm cho sự việc kể thêm sinh động màu sắc, hình dáng, diện mạocủa nhân vật, sự việc hành động như hiện lên sống động trước mắt người đọc.Yếu tố biểu cảm xuất hiện trong khi kể giúp người viết thể hiện được rõ hơnthái độ, tình cảm của mình trước việc đó, buộc người đọc phải trăn trở nghĩ suytrước sự việc đang kể, ý nghĩa của chuyện kể càng thêm sâu sắc
Ví dụ 1: Tự sự kết hợp với miêu tả:
“Mặt lão đột nhiên co rúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc ”
( “Lão Hạc” – Nam Cao)
Ví dụ 2: Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm:
“ Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ? Giá em
có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ? Cuối cùng em đánh liều quẹt một que diêm Diêm bén lửa thật nhạy Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt….” (“Cô bé bán diêm” – An - đéc- xen)
3 Thực trạng của vấn đề:
Qua nghiên cứu tài liệu và thực tế dạy Ngữ văn bậc THCS tôi thấy, "Dạy Văn là dạy người", môn Ngữ văn vốn có chức năng và nhiệm vụ quan trọng
như thế, nhưng một thực tế rất đáng buồn là học sinh đang coi thường, lãng
quên, thậm chí không yêu thích môn Ngữ văn, đa số học sinh có tâm lí "Giỏi tự
Trang 11nhiên, coi thường xã hội" Bởi thế việc dạy Ngữ văn hiện nay gặp không ít khó
khăn Dạy Ngữ văn nói chung đã gặp rất nhiều khó khăn nhưng dạy các kiểubài trong phân môn Tập làm văn ở chương trình Ngữ văn 8 càng khó khăn hơn
vì hiện nay có quá nhiều sách tham khảo nhưng hầu như nặng về cung cấp líthuyết chung chung, hoặc in các bài văn mẫu Học sinh không được cung cấp,hướng dẫn phương pháp làm bài một cách cụ thể Trong quá trình làm bài các
em chỉ làm một việc đơn giản là: sao chép “xào xáo ”lại một số đoạn văn mẫu.
Do vậy dẫn đến học sinh lười suy nghĩ, không có chính kiến, thiếu chủ động,sáng tạo Có những em không biết làm một bài văn như thế nào, cứ đọc đề làviết mà không biết mình viết gì
Năm học 2014 - 2015 này tôi được phân công giảng dạy bộ môn Ngữ vănlớp 8C- đối tượng học sinh trung bình, yếu Trong quá trình giảng dạy tôi đã dựgiờ một số đồng chí, đồng nghiệp trong tổ, trong trường đồng thời tiến hànhkhảo sát chất lượng qua một số đề văn tự sự và có kết quả thống kê như sau:
3.1 Những việc đã làm được trong các tiết dạy Tập làm văn tự sự hiện nay
Do cấu trúc chương trình và sách giáo khoa được sắp xếp khá khoa học,lấy văn bản làm ngữ liệu chính cho cả ba phân môn nên hầu hết giáo viên đãlàm được yêu cầu tích hợp Nghĩa là khi dạy các tiết Tập làm văn về kiểu bài tự
sự giáo viên đã bám vào các Văn bản đã học để tổ chức cho học sinh nắm đượckhái niệm, cốt truyện, chi tiết, sự việc, ngôi kể, lời kể, nhân vật, các yếu tốmiêu tả, biểu cảm, đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm và yếu tố nghị luậntrong văn bản tự sự, đồng thời vừa soi sáng thêm một số kiến thức, kĩ năng cảm
Trang 12thụ tác phẩm văn học mà một tiết đọc - hiểu văn bản chưa có điều kiện đề cậptới hoặc đề cập chưa sâu.
Một số giáo viên đã quan tâm tới việc rèn luyện kĩ năng nhận diện, cáchviết từng đoạn văn tự sự cơ bản như đoạn mở bài, các đoạn thân bài đoạn kếtbài và cách đưa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận vào trong từng đoạnvăn Do đó các em đã phần nào phân biệt được đoạn văn tự sự có các yếu tốmiêu tả, biểu cảm, nghị luận khác với đoạn văn miêu tả biểu cảm hay nghịluận
Một số học sinh đã biết cách liên kết các đoạn văn một cách chặt chẽ,sáng tạo Nghĩa là thầy (cô) giáo đã phần nào phát huy được tính tích cực, chủđộng của học sinh, một trong những yêu cầu cơ bản của dạy học hiện đại
3.2 Một số việc chưa làm được trong các tiết dạy Tập làm văn tự sự cho học sinh lớp 8 THCS hiện nay
Bên cạnh những việc đã làm được trên, đối với kiểu bài tự sự, các emhọc sinh lớp 8 đã được làm quen từ bậc tiểu học và củng cố ở các lớp 6, lớp 7(qua bài viết số 1) nên khi dạy - học kiểu bài này giáo viên, học sinh thườngchủ quan chưa chú ý đúng mức đến việc rèn luyện kĩ năng viết từng đoạn văncho học sinh Vì vậy, bài văn của các em vẫn còn hiện tượng lạc đề, lệch đề dokhông chú ý đến việc tìm hiểu đề Đoạn văn trong bài thường sai quy cách,giữa các đoạn văn chưa có sự liên kết
Đặc biệt, qua số liệu thống kê kết quả khảo sát ở trên tôi thấy đối tượnghọc sinh trung bình, yếu chưa biết cách viết đoạn văn Các em còn rất lúng túngtrong việc hình thành kiến thức và kỹ năng viết đoạn văn tự sự có yếu tố miêu
tả và biểu cảm Thậm chí có em cả bài chỉ là một đoạn văn, không có bố cục,
có em viết được đoạn văn nhưng chỉ là đoạn tự sự thông thường có cốt truyện,nhân vật đơn điệu mà không có yếu tố miêu tả và biểu cảm Chính vì vậy, kếtquả của việc dạy học phân môn được coi là khó này trở nên khô khan, nhạtnhẽo, chưa đáp ứng được sự mong mỏi không chỉ của xã hội, của các bậc cha
mẹ học sinh mà còn của chính bản thân giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn
4 Các giải pháp thực hiện
Trang 134.1 Cách tìm hiểu đề, tìm ý
Để làm tốt bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm, cũng như cáckiểu bài khác, trước khi làm người viết phải trải qua năm bước (Tìm hiểu đề,tìm ý, lập dàn ý, viết bài văn, đọc và sửa lỗi trong bài viết) Tìm hiểu đề là đọc
kĩ đề bài để xác định đúng thể loại, nội dung yêu cầu và giới hạn của đề Tìm ý
là đặt ra những câu hỏi xoay quanh yêu cầu của đề để từ đó xây dựng và sắpxếp bố cục hợp lý cho bài viết Nhưng với đối tượng học sinh trung bình yếucác em thường bỏ qua bước này mà cứ đọc đề là làm ngay Chính vì vậy rấtnhiều em viết không đúng đối tượng, thậm chí còn lạc đề
Nắm được hạn chế của học sinh nên tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiệncác thao tác này thông qua việc trả lời các câu hỏi:
- Đề bài thuộc kiểu loại nào?
- Nội dung yêu cầu kể về sự việc gì?
- Phạm vi, giới hạn của đề?
Sau đó, tiếp tục bằng hệ thống câu hỏi tôi hướng dẫn học sinh tìm ý cho đềbài để từ đó xây dựng dàn ý và viết bài
Ví dụ: Đề bài: Kể lại những kỉ niệm ngày đầu tiên đi học.
+ Bước 1: Tìm hiểu đề:
Yêu cầu học sinh đọc nhiều lần (thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề),lấy bút chì gạch chân những từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầudòng để làm cho nổi bật các yêu cầu của đề; xác định ba yêu cầu của đề:
- Kiểu bài: Tự sự hay miêu tả, biểu cảm?
- Nội dung: Yêu cầu kể về việc gì?
- Giới hạn của đề: Kể lại một kỉ niệm hay nhiều kỉ niệm trong ngày đầutiên đi học của em?
+ Bước 2: Tìm ý:
Để tìm ý cho đề bài trên, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi
và trả lời một số câu hỏi sau:
? Hoàn cảnh gợi nhớ lại kỷ niệm là gì?
? Đó là những kỷ niệm nào? Kỉ niệm vui hay buồn?
Trang 14? Kỉ niệm đó diễn ra ở đâu? Khi nào? Với ai? Mở đầu và kết thúc như thếnào? Có ý nghĩa gì?
Như vậy, tìm hiểu đề là suy nghĩ, định hướng, xác định nội dung sẽ viếttheo yêu cầu của đề Cụ thể là xác định nhân vật, sự việc, tình tiết, diễn biến,kết quả và ý nghĩa của truyện Nếu là truyện sáng tạo thì cần phải nghĩ về việcđặt tên truyện
Với việc xác định ý của đề tuỳ theo yêu cầu của đề bài mà giáo viênhướng dẫn cho học sinh cách xác định ý, lựa chọn ý cho bài viết Để làm sáng
tỏ yêu cầu của đề bài học sinh cần phải triển khai, trình bày nội dung cụ thể củađối tượng, tức là cần trả lời câu hỏi: Viết những gì? Viết như thế nào Với bàivăn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm, học sinh cần phải xác định đưa yếu
tố miêu tả, biểu cảm vào chỗ nào cho phù hợp
4.2 Rèn kĩ năng viết đoạn văn trong văn bản tự sự
Một bài văn tự sự thông thường gồm có ba phần: Mở bài, thân bài, kếtbài Mở bài và kết bài thường được viết thành một đoạn văn, còn phần thân bàigồm nhiều đoạn văn Với đối tượng học sinh trung bình yếu, trước tiên phảihướng dẫn các em cách viết từng đoạn mở bài, thân bài và kết bài
4.2.1 Cách viết đoạn Mở bài
Phần mở bài văn bản tự sự có nhiệm vụ giới thiệu nhân vật, tình huốngphát sinh câu chuyện, không gian, thời gian của câu chuyện Để viết được phần
mở bài phải hướng dẫn các em trả lời các câu hỏi: câu chuyện xảy ra ở đâu?Vào không gian nào? Câu chuyện có mấy nhân vật? Nhân vật chính là ai? Cũng
có lúc người ta bắt đầu từ một sự cố nào đó, hoặc kết cục câu chuyện, số phậnnhân vật, rồi ngược lên kể lại từ đầu
Với đối tượng học sinh trung bình, yếu ta chỉ nên hướng dẫn các em nhữngcách viết phần mở bài thật đơn giản để các em biết cách làm và tạo hứng thúhọc tập cho các em Thực tế với đối tượng học sinh lớp 8C tôi chỉ hướng dẫncác em 2 cách mở bài thật đơn giản là cách mở bài trực tiếp và cách mở bàigián tiếp
Trang 15* Cách mở bài giới thiệu trực tiếp: Giới thiệu trực tiếp nhân vật hay cốt
truyện mình định kể
Ví dụ: “ Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiên dịu, vua cha yêu thương hết mực, muốn kến cho con một người chồng thật xứng đáng”.
(“Sơn Tinh – Thủy Tinh”, Ngữ văn 6)
* Cách viết phần mở bài gián tiếp: là cách viết không đi thẳng vào vấn đề
mà có thể được bắt đầu bằng vài câu tả cảnh, tả thời khắc lúc đó để tạo bối cảnhcho chuyện:
Ví dụ: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường ”
(“Tôi đi học” – Thanh Tịnh, Ngữ văn 8) Hoặc nói đến kết quả sự việc rồi mới ngược lên kể lại từ đầu:
Ví dụ: “Các bạn! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy là mỗi lần tôi băn khoăn và ngậm ngùi Trong cuộc đời kháng chiến của tôi; tôi đã chứng kiến không biết bao nhiêu là cuộc chia tay, nhưng tôi chưa bao giờ lại xúc động như lần ấy…”
(“Chiếc lược ngà” – Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9)
Để rèn kĩ năng viết phần mở bài cho học sinh, trước hết đưa ra cho các
em các cách viết trong các văn bản tự sự đã học trong chương trình để các emtham khảo, sau đó hướng dẫn các em vận dụng những cách viết ấy để viết đượccác đoạn mở bài theo sự sáng tạo của mình
Cách làm này của tôi thực sự hiệu quả Chẳng hạn với đề bài bài viết sô 2:
Kể lại kỷ niệm đáng nhớ với một con vật nuôi mà em yêu thích, các em học sinh
lớp 8C đã vận dụng các cách mở bài trên và viết được nhiều cách mở bài trựctiếp hoặc gián tiếp một cách sáng tạo như sau:
- Cách mở bài trực tiếp:
Trang 16Miu là một chú mèo tam thể được cả nhà em yêu quý Nó đã gắn bó với em với rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất là một lần nó theo em đi chơi và bị lạc
(Bài làm của học sinh)
- Cách mở bài gián tiếp:
Tuổi thơ của ai cũng đều gắn bó với một con vật nhỏ mà họ yêu thích Có bạn thích chú mèo tam thể với bộ lông mượt như nhung, có bạn thích chú cún bông có màu lông trắng như tuyết Còn em, em thích nhất chú cún con – một con chó nhỏ mà bà ngoại đã tặng em hôm sinh nhật vừa rồi.
(Bài làm của học sinh)Như vậy, trong văn bản tự sự có nhiều cách mở đầu câu chuyện, điều đángquan tâm là phải mở đầu làm sao để thu hút sự quan tâm chú ý, tò mò, hấp dẫnđối với người đọc Hầu hết học sinh đều cảm thấy rất khó khăn khi viết đoạn
mở bài Bởi vì mở bài có lưu loát, trong sáng, hấp dẫn thì làm văn mới có cảmxúc, mới hay và thu hút người đọc Chính vì vậy, rèn luyện kĩ năng viết đoạn
mở bài cho học sinh là điều đáng quan tâm đối với mỗi giáo viên dạy Ngữ văn
4.2.2 Cách viết đoạn thân bài
Phần thân bài của bài văn tự sự gồm nhiều đoạn văn Mỗi đoạn văn làmột ý của bài Các đoạn trong phần này có thể được trình bày theo các trình tựnhất định Song vẫn có các cách viết khác Ở phạm vi đề tài này tôi chỉ tậptrung hướng dẫn học sinh viết đoạn văn tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm.Trước khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả vàbiểu cảm, giáo viên phải cho các em ôn lại và nắm được:
- Miêu tả là dùng ngôn ngữ (hay một phương tiện nghệ thuật khác) làm chongười nghe (người đọc, người xem) có thể thấy sự vật, hiện tượng, con người nhưđang hiện ra trước mắt
Yếu tố miêu tả trong bài văn tự sự làm cho sự việc, nhân vật đang kể thêmsinh động, màu sắc, hình dáng, diện mạo của sự việc, nhân vật được hiện lên cụ thể,
rõ nét hơn
Trang 17- Biểu cảm là bộc lộ những tình cảm, cảm xúc của bản thân trước sự vật, sựviệc, hiện tượng con người trong đời sống.
- Yếu tố biểu cảm giúp người viết thể hiện được rõ hơn thái độ tình cảm củamình trước sự việc đó, buộc người đọc phải trăn trở suy nghĩ
Sau khi giúp học sinh ôn lại, nắm được thế nào là yếu tố miêu tả và biểucảm trong bài văn tự sự, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu, lựa chọnviệc đưa yếu tố miêu tả và biểu cảm vào chố nào cho phù hợp
Với đối tượng học sinh trung bình, yếu, muốn các em viết được đoạn văn
tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm phải hướng dẫn thật tỉ mỉ, kỹ càng cácbước sau:
- Bước 1: Lựa chọn sự việc chính: (xác định rõ sự việc mình sẽ kể là sự
việc gì?
- Bước 2: Lựa chọn ngôi kể phù hợp (kể theo ngôi thứ nhất hay ngôi thứ
ba, xưng hô là gì? )
- Bước 3: Xác định thứ tự kể (Câu chuyện bắt đầu từ đâu, diễn ra như thế
nào và kết thúc ra sao?)
- Bước 4: Xác định các yếu tố miêu tả và biểu cảm sẽ đưa vào đoạn văn tự
sự Đây là bước quan trọng nhất, yêu cầu các em không phải chỉ quan sát đốitượng một cách kỹ càng để lựa chọn mà cần cả liên tưởng, tưởng tượng Vì sựliên tưởng, tưởng tưởng giúp tái hiện những đặc điểm, những trạng thái mà sựquan sát cụ thể sẽ không thể thực hiện được hoặc sẽ làm mất đi vẻ đẹp của sựviệc mình định kể Ở bước 4, với đối tượng học sinh trung bình, yếu, để các emxác định được yếu tố miêu tả và biểu cảm và đưa vào đoạn văn tự sự có yếu tố
miêu tả và biểu cảm cần nhắc lại cho các em các kiến thức trong bài “Xây dựng đoạn văn trong văn bản” để các em biết cách viết câu chủ đề và cách xây dựng
đoạn văn
- Bước 5: Viết thành đoạn văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm.
* Lưu ý: Yếu tố miêu tả và biểu cảm chỉ là yếu tố bổ trợ, phương thức
biểu đạt chính trong bài văn vẫn là tự sự
Trang 18Ví dụ trong Tiết 28- Ngữ văn 8: Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp
với miêu tả và biểu cảm, tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện đúng các bước
theo định hướng trên và tiết học đã rất thành công
Trước hết ở mục I, tôi cho học sinh lựa chọn sự việc và nhân vật Các em
có thể lựa chọn 1 trong 3 đề bài ở sách giáo khoa trang 83 Sau khi các em lựachọn nhân vật, sự việc tiến hành các bước tiếp theo là lựa chọn ngôi kể, thứ tự
kể và xác định các yếu tố miêu tả và biểu cảm sẽ đưa vào đoạn văn (trước khitiến hành lựa chọn sự việc cần cho các em nhắc lại thế nào là miêu tả, biểucảm)
Chẳng hạn các em lựa chọn sự việc: Một lần em đánh vỡ lọ hoa
- Bước 1: Sự việc em định kể là gì? (đánh vỡ lọ hoa).
- Bước 2: Ngôi kể: Em sẽ kể theo ngôi thứ mấy? Xưng hô là gì? (Ngôi thứ
nhất, xưng “em” hoặc “tôi”)
- Bước 3: Thứ tự kể: Em phải hình dung câu chuyện bắt đầu từ đâu? (Dọn
dẹp nhà cửa cuối năm; ngủ dậy muộn, vội vàng đi học; mời bạn đến nhà chơi,trong lúc đùa nhau vô tình làm vỡ lọ hoa ,), chuyện diễn ra thế nào? (kể lạidiễn biến câu chuyện), kết thúc ra sao? (câu chuyện kết thúc ra sao? Tâm trạngcủa em lúc đó thế nào? Em rút ra bài học gì? )
- Bước 4: Xác định yếu tố miêu tả và biểu cảm Sau khi các em xác định
được 3 bước trên, giáo viên tiếp tục định hướng để học sinh xác định yếu tốmiêu tả, biểu cảm và đưa vào đoạn văn Ví dụ em có thể hình dung và miêu tả
về lọ hoa (Lọ hoa hình dáng như thế nào? Đẹp ra sao? (yếu tố miêu tả), sau khiđánh vỡ lọ hoa thái độ, tâm trạng của em như thế nào? Em có suy nghĩ và rút rabài học gì? (yếu tố biểu cảm)
- Bước 5: Viết đoạn văn: Trên cơ sở những gợi ý trên, các em đã tiến hành
viết đoạn văn và nhiều em viết được đoạn văn tương đối tốt như:
Hôm chủ nhật vừa qua em cùng mẹ dọn dẹp nhà cửa Trong lúc dọn dẹp,
do sơ ý em đã đánh vỡ một lọ hoa Đó là một chiếc lọ hoa bằng thủy tinh pha
lê rất đẹp, đáy lọ trong suốt, miệng lọ xòe ra như bông hoa năm cánh Chiếc lọ hoa này là món quà mẹ em được tặng hôm 8-3 năm ngoái Nó rất có ý nghĩa